Viêm gan virut là một nhóm bệnh truyền nhiễm rất phố biến và nguy hiếm. Nhiễm virut viêm gan, đặc biệt nhiễm vi rút viêm gan B (VGB) là một vấn đề mang tính chất toàn cầu. Theo thống kê của tố chức Y tế thế giới (WHO), trên thế giới có khoảng hai tỷ người đã và đang bị nhiễm vi rút này và mỗi năm có khoảng 600.000 người chết do hậu quả của bệnh VGB 28. Cho tới nay, chưa có thuốc điều trị đặc hiệu bệnh VGB nên tiêm chủng vắc xin là biện pháp phòng bệnh hiệu quả
Trang 1BỘ Y TẾ BỆNH VIỆN PHONG - DA LIỄU TW QUỲNH LẬP
HỒ THỊ HƯƠNG
THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ
VỀ TIÊM VẮC XIN VIÊM GAN B CHO TRẺ
SƠ SINH CỦA CÁC BÀ MẸ SINH CON TẠI BỆNH VIỆN PHONG DA
LIỄU TRUNG ƯƠNG QUỲNH LẬP NĂM 2021
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
CẤP CƠ SỞ
Hoàng Mai, 2021
Trang 2BỘ Y TẾ BỆNH VIỆN PHONG - DA LIỄU TW QUỲNH LẬP
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
CẤP CƠ SỞ
THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ
VỀ TIÊM VẮC XIN VIÊM GAN B CHO TRẺ
SƠ SINH CỦA CÁC BÀ MẸ SINH CON TẠI BỆNH VIỆN PHONG DA
LIỄU TRUNG ƯƠNG QUỲNH LẬP NĂM 2021
Chủ nhiệm đề tài: Hồ Thị Hương Cộng sự: 1 Trần Quốc Khiêm
2 Chu Thị Diệu
Hoàng mai, 2021
Trang 3DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 4MỤC LỤC
Trang 5DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Trang 7ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm gan virut là một nhóm bệnh truyền nhiễm rất phố biến vànguy hiếm Nhiễm virut viêm gan, đặc biệt nhiễm vi rút viêm gan B (VGB) làmột vấn đề mang tính chất toàn cầu Theo thống kê của tố chức Y tế thế giới(WHO), trên thế giới có khoảng hai tỷ người đã và đang bị nhiễm vi rút này
và mỗi năm có khoảng 600.000 người chết do hậu quả của bệnh VGB [28].Cho tới nay, chưa có thuốc điều trị đặc hiệu bệnh VGB nên tiêm chủng vắcxin là biện pháp phòng bệnh hiệu quả [13]
Việt Nam nằm ở Châu Á là khu vực có sự lưu hành của HBsAg caonhất thế giới Tỷ lệ lưu hành HBsAg ở nước ta nằm trong khoảng từ 10-25%[9], [27], [31] Tỷ lệ nhiễm vi rút VGB mạn tính khoảng 8,8% ở phụ nữ và12,3% ở nam giới [28] Lây truyền từ người mẹ mang virút sang con là đườnglây truyền quan trọng của vi rút VGB, đặc biệt ở châu Á nơi tỷ lệ lây truyền virút VGB trong thời kỳ chu sinh chiếm 40% trong tống số những người mang
vi rút VGB mạn [34], do đó tiêm vắc xin VGB cho trẻ sơ sinh là chìa khóa đếgiảm gánh nặng bệnh tật liên quan đến VGB Tố chức y tế thế giới cũngkhuyến cáo rằng: tất cả trẻ sơ sinh cần được tiêm phòng VGB càng sớm càngtốt sau khi sinh, tốt nhất là trong vòng 24 giờ đầu tiên [28]
Được sự hỗ trợ của tố chức Liên minh toàn cầu về vắc xin và tiêmchủng (GAVI), vắc xin VGB được tiêm cho trẻ dưới 1 tuối tại tất cả cáchuyện ở Việt Nam từ năm 2003 [17] Tuy nhiên do ảnh hưởng từ các vụ trẻ tửvong sau tiêm vắc xin VGB vào năm 2007, tỷ lệ bao phủ liều sau sinh cácnăm sau đó rất thấp, từ 64,3% năm 2006 xuống 29% cuối năm 2007 [39],20% năm 2008 [44], 28% năm 2009 [48], 21,4% năm 2010 [17] Từ đó đếnnay ngành y tế đã có nhiều nỗ lực đế từng bước tăng tỷ lệ bao phủ vắc xinVGB trong 24h giờ đầu sau sinh trở lại như giai đoạn trước đây như tăngcường công tác chỉ đạo triến khai, kết hợp chặt chẽ y tế dự phòng và điều trị,
Trang 8tăng cường công tác truyền thông giáo dục sức khỏe [28] Năm 2011, tỷ lệ trẻtiêm vắc xin VGB liều sơ sinh là 63% và năm 2012 là 64% [48] Tuy nhiên,sau khi xảy ra vụ 3 trẻ tử vong sau tiêm vắc xin VGB liều sơ sinh tại Quảngtrị vào tháng 7/2013, tỷ lệ tiêm vắc xin này trên cả nước giảm xuống còn 44%năm 2013 [48].
Trong những năm gần đây ngành Y tế đã có nhiều quan tâm đến loạibệnh này, việc triển khai tiêm viêm gan B <24 h đã được triển khai ở tất cảcác bệnh viện tuyến tỉnh, huyện, vì vậy đã đạt được 1 số kết quả bước đầu.trong 10 năm trở lại đây, trên 50% trẻ sơ sinh được tiêm vắc xin phòng viêmgan B, do vậy tỷ lệ nhiễm virus viêm gan đã giảm rõ rệt
Tuy nhiên, tỷ lệ tiêm vắc xin VGB liều sơ sinh thực tế có đúng như sốliệu báo cáo không?; Kiến thức về bệnh VGB và tiêm vắc xin VGB của phụ
nữ có con nhỏ ở đây như thế nào? Những yếu tố nào liên quan đến việc tiêmvắc xin cho trẻ sơ sinh? là những câu hỏi hiện vẫn đang chưa có câu trả lời rõ
ràng Xuất phát từ những vấn đề chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Thực trạng kiến thức, thái độ Về tiêm vắc xin viêm gan b cho trẻ sơ sinh của các bà mẹ sinh con tại bệnh viện phong Da liễu trung ương Quỳnh lập năm 2021” với hai mục tiêu:
1 Thực trạng kiến thức, thái độ về tiêm vắc xin viêm gan cho trẻ sơ sinh của các bà mẹ đến sinh tại bệnh viện Phong - Da liễu trung ương Quỳnh lập năm 2021
2 Tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ tiêm vắc xin Viêm gan B tại bệnh viện Phong – Da liễu trung ương Quỳnh lập năm 2021
Chương 1
Trang 9TỔNG QUAN 1.1. Tổng quan về bệnh viêm gan B và vắc xin viêm gan B
1.1.1. Bệnh viêm gan B
Bệnh viêm gan B: là bệnh do vi rút viêm gan B gây ra Người bị nhiễm vi rútviêm gan B có thể bị bệnh viêm gan B cấp tính hoặc không có dấu hiệu triệuchứng của bệnh nhưng trở thành người mang vi rút mạn tính suốt đời [3]
Những đứa trẻ bị lây nhiễm lúc sinh thông thường không có các biểuhiện nhưng 90% sẽ phát triển thành viêm gan mạn tính suốt đời Thôngthường trẻ nhiễm VGB không có tổn thương gan sau nhiều năm vì hệ thốngmiễn dịch không nhận ra nhiễm HBV cho tới khi trưởng thành (35 – 40 tuổi)[18]
Người bị nhiễm vi rút VGB có thể bị bệnh VGB cấp tính hoặc không có dấuhiệu triệu chứng của bệnh nhưng trở thành người mang vi rút mạn tính suốtcuộc đời [13]:
Viêm gan B (HBV) cấp tính: Một số (30% - 50%) sẽ có biểu hiệntrong một vài tháng đầu tiên (giai đoạn đầu tiên thể hiện viêm gan cấp tính).Nhiễm VGB cấp tính thông thường kéo dài từ 1 tới 3 tháng Biểu hiện viêmgan cấp có thể bao gồm: buồn nôn, nôn, ăn không ngon, sốt, mệt mỏi, đaubụng, gan to và vàng da Có một số trường hợp nhưng hiếm những biểuhiện rất nặng là viêm gan tối cấp có khả năng dẫn tới tử vong [18]
Trang 10Viêm gan B (HBV) mạn tính: Thông thường, người bị nhiễm VGBmạn tính không có biểu hiện trong rất nhiều năm và không biết mình bịnhiễm HBV Trong số những người bị mắc VGB, khoảng 20-25% người sẽ
có những vết sẹo (xơ gan) và ung thư gan Tổn thương gan xảy ra rất chậm,người bệnh cảm thấy vẫn khoẻ và khi phát hiện ra thường ở giai đoạn quámuộn cho điều trị Điều trị HBV kịp thời có thể dự phòng xơ gan và ungthư gan Tại Việt Nam, hầu hết mọi người không biết mình nhiễm HBV tớikhi được chẩn đoán xơ gan hoặc ung thư gan [18]
1.1.1.2. Đặc điểm dịch tễ học
Theo WHO, vùng lưu hành dịch VGB của các nước được chia thành
ba nhóm: vùng dịch lưu hành mạnh, vùng dịch lưu hành trung bình và vùngdịch lưu hành thấp:
+ Vùng dịch lưu hành mạnh có tỷ lệ HBsAg (+) >8% như Đông Nam
Á, Châu Phi, hầu hết các nước Trung Đông, vùng lưu vực sông Amazon, cácđảo thuộc khu vực Thái Bình Dương (trừ Australia và New Zealand)
+ Vùng lưu hành trung bình có tỷ lệ HBsAg (+) 2-8% như ở Nam Mỹ,Đông Âu
+ Vùng lưu hành thấp có tỷ lệ HBsAg (+) <2% như Úc, Bắc Mỹ, Tây
và Bắc Âu, mốt số nước ở Nam Mỹ [36] Việt Nam nằm trong khu vực dịchlưu hành mạnh, tỷ lệ HBsAg (+) khoảng 15-20%, không có sự khác biệtgiữa các nhóm tuổi Một số nhóm có nguy cơ nhiễm cao là do nghề nghiệpnhư nhân viên y tế, hay nam giới có quan hệ tình dục với nam giới, tiêmchích ma túy, gái mại dâm, tù nhân [3]
1.1.1.3. Các đường lây truyền
Vi rút VGB lây truyền khi các tổn thương trên bề mặt da và niêm mạctiếpxúc với dịch tiết của cơ thể hoặc máu bị nhiễm vi rút Vi rút VGB có tảilượngcao nhất trong máu và dịch tiết từ vết thương Tải lượng virút thấp hơn
Trang 11trongtinh dịch, dịch tiết âm đạo và có rất ít trong nước bọt Vi rút VGBkhông lâytruyền qua không khí, thức ăn và nước uống Các đường lây truyềnchính của vi rút như sau:
Lây truyền vi rút từ mẹ sang con: Lây truyền từ mẹ sang con tronggiai đoạn mang thai và sinh đẻ là đường lây truyền chính ở nhiều nước trênthế giới đặc biệt là các nước có tỷ lệ lưu hành của vi rút VGB cao Lâytruyền có thể xảy ra quanh lúc chuyển dạ đẻ Lây truyền trong tử cung ítgặp, chỉ xảy ra từ 2-5% số lây truyền từ mẹ sang con Không có bằngchứng cho thấy vi rút có thể lây truyền qua việc cho con bú Nguy cơ lâytruyền từ mẹ sang con phụ thuộc vào sự tồn tại hay không của kháng nguyênHBeAg(+) và tải lượng vi rút cao trong máu mẹ Tỷ lệ lây truyền lên đến 70-90% nếu mẹ có HBeAg(+) và khoảng 5-20% nếu mẹ HBeAg(-) [53]
Lây truyền qua đường máu như: tiêm chích không an toàn, truyền máukhông an toàn: Tiêm truyền và truyền máu là nguồn lây truyền chính của virút VGB cũng như các vi rút khác (HIV, HCV ) ở nhiều quốc gia trướcđây do việc thực hành tiêm truyền không an toàn và không xét nghiệm sànglọc HbsAg khi lấy máu Ở một số quốc gia đang phát triển, một số bệnhnhân được tiêm bằng bơm tiêm và kim tiêm dùng lại chưa qua tiệt trùng.Khoảng 90% trong số 12 tỷ mũi tiêm hàng năm là không cần thiết Hầu hếtnhững bệnh nhân có chỉ định tiêm có thể sử dụng thuốc uống ở những cơ sởchăm sóc ban đầu Vi rút VGB có thể lây truyền qua máu, các sản phẩmmáu, bệnh phẩm có máu của người mang bệnh, kim tiêm không đảm bảo vôtrùng, dụng cụ tiêm chích,sử dụng chung kim xăm mình, kim châm cứu,dụng cụ phẫu thuật, dụng cụnha khoa bị nhiễm máu hoặc huyết thanh khôngđược khử trùng thích hợp [53]
Lây truyền qua quan hệ tình dục: Vi rút VGB có thể lây truyền quacon đường quan hệ tình dục Đường lây truyền này chiếm tỷ lệ cao trong
Trang 12những trường hợp nhiễm vi rút VGB mới ở trẻ vị thành niên và ngườitrưởng thành tại các nước có tỷ lệ lưu hành của vi rút VGB thấp Ở nhữngnước có tỷ lệ lưu hành của vi rút VGB cao lây truyền chủ yếu trong thời kỳtrẻ nhỏ [53].
1.1.2. Phòng bệnh
1.1.2.1. Phòng chủ động
Tiêm vắc xin viêm gan vi rút B cho tất cả trẻ em trong vòng 24h sausinh và các mũi tiếp theo lúc 2, 3 và 4 tháng tuổi theo chương trình tiêmchủng mở rộng
Tiêm vắc xin viêm gan vi rút B cho các đối tượng chưa bị nhiễmHBV Cần xét nghiệm HBsAg và anti-HBs trước khi tiêm phòng vắc xin
1.1.2.2. Phòng lây truyền từ mẹ sang con
Nếu mẹ mang thai có HBsAg (+): Tiêm vắc xin viêm gan vi rút B liều sausinh cho trẻ theo chương trình tiêm chủng mở rộng và phối hợp với tiêmkháng thể kháng HBV cho trẻ Nên tiêm cùng thời điểm nhưng ở hai vị tríkhác nhau Sau đó tiêm đầy đủ các liều vắc xin viêm gan vi rút B cho trẻtheo quy định của chương trình tiêm chủng mở rộng [4]
Nếu mẹ mang thai có HBV-DNA > 106 copies/ml (200.000 IU/mL):Dùng thuốc kháng vi rút (lamivudine hoặc tenofovir) từ 3 tháng cuối củathai kỳ Xét nghiệm lại HBV DNA sau sinh 3 tháng để quyết định ngừngthuốc hoặc tiếp tục điều trị nếu mẹ đủ tiêu chuẩn điều trị Theo dõi sátngười mẹ để phát hiện viêm gan bùng phát [4]
Trang 131.1.3. Vắc xin viêm gan B
Vi rút VGB đã được phát hiện vào năm 1965 bởi tiến sĩ BaruchBlumberg Ông và cộng sự là tiến sĩ Irving Millman tìm thấy trong mẫuhuyết thanh người bản xứ Australia có một kháng nguyên phản ứng đặc hiệuvới một loại kháng thể của bệnh nhân người Mỹ bị Hemophilia nên ban đầu
nó được gọi là kháng nguyên Au (ngày nay gọi là kháng nguyên bề mặtVGB hay HBsAg) [37] Thế hệ vắc xin đầu tiên là được điều chế từ huyếttương người và hiện tại được sản xuất thông qua DNA tái tổ hợp [37]
Sự an toàn của vắc-xin VGB được nghiên cứu thường xuyên kể từ lầnđầu đưa vào sử dụng Vắc-xin có một số tác dụng phụ nhỏ và phổ biến,chẳng hạn như đau tại chỗ tiêm và sốt kéo dài dưới một ngày Cũng như tất
cả các loại vắc-xin, vắc-xin VGB có thể gây ra phản ứng dị ứng ngắn hạnđược gọi là phản ứng quá mẫn (phản vệ) Ước tính xảy ra một lần trongmỗi 1,1 triệu liều tiêm vắc-xin phòng VGB Mặc dù đã có rất nhiều nghiêncứu dài hạn, vẫn chưa có bằng chứng nào cho thấy các tác dụng có hạinghiêm trọng và lâu dài liên quan đến nguyên nhân do tiêm phòng VGB [5].Vắc xin chủng ngừa VGB bắt đầu triển khai vào năm 1981 tại Mỹ.Việc tiêm phòng vắc xin VGB thường kỳ cho mọi trẻ sơ sinh bắt đầu từ năm
1992 Hàng trăm triệu người đã được tiêm vắc xin VGB làm ngăn chặn hơn95% các ca lây nhiễm [5]
Vắc-xin VGB sử dụng tại Việt Nam được sản xuất theo công nghệ tái
tổ hợp DNA Thành phần của vắc xin bao gồm các thành phần protein của virút VGB giúp hệ thống miễn dịch của cơ thể nhận biết và đáp ứng với khảnăng nhiễm vi rút VGB Vắc xin này không chứa vi rút VGB do đó khônggây nhiễm bệnh Việc cấp phép cho vắc xin được thực hiện bởi cơ quanquản lý của quốc gia, tại Việt Nam là Viện Kiểm định Vắc xin và sinh phẩm
Y tế Cơ quan này kiểm tra các quy trình sản xuất để đảm bảo rằng các hoạt
Trang 14động sản xuất hiện nay tuân thủ đúng quy trình Chỉ những loại vắc xin đượccấp phép mới được chương trình tiêm chủng sử dụng Để đảm bảo an toàn,vắc xin tiếp tục được theo dõi rất chặt chẽ, kể cả quá trình cấp phép vàtrong quá trình sử dụng [5].
Tất cả các loại vắc xin được sử dụng trong Chương trình quốc gia vềTiêm chủng mở rộng của Việt Nam phải đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng và
an toàn quốc tế Vắc xin VGB được sản xuất trong nước bởi Công ty Vắcxin và Sinh học số 1 Vắc xin đạt tiêu chuẩn chất lượng theo quy định của
Bộ Y tế và đã được sử dụng từ năm 1997 tại Việt Nam Ngoài ra, mỗi lô vắcxin sản xuất ra cũng được Viện Kiểm định Vắc xin và Sinh phẩm Y tế Quốcgia tại Việt Nam cấp phép sử dụng, có nghĩa là nó phải được kiểm tra chấtlượng và tăng cường độ an toàn một lần nữa trước khi được đưa vào sử dụng[5]
1.1.4. Sự cần thiết tiêm phòng vắc xin viêm gan trong 24 giờ đầu sau sinh
Theo khuyến cáo của WHO, trẻ sơ sinh cần được tiêm chủng phòngbệnh VGB trong vòng 24 giờ đầu sau khi sinh Khuyến cáo này dựa trênnhững bằng chứng mạnh nhất hiện có và thông qua tham vấn với cácchuyên gia toàn cầu [5] Viêm gan B lưu hành tại Việt Nam với hơn 10%-12% phụ nữ mang thai bị nhiễm vi rút VGB mãn tính Lây truyền bệnh
từ mẹ sang con là đường lây quan trọng dẫn đến tỷ lệ nhiễm vi rút VGBmãn tính cao tại Việt Nam Trẻ sơ sinh bị nhiễm vi rút VGB không có triệuchứng nhưng 90% có thể bị mạn tính lâu dài Chính vì vậy, việc cung cấpvắc xin VGB trong vòng 24 giờ sau sinh rất quan trọng để ngăn ngừa lâytruyền từ mẹ sang con [5]
Việc tiêm vắc xin liều sơ sinh thực hiện càng sớm thì hiệu quả phòngngừa bệnh càng cao Mũi tiêm trong 24 giờ sau sinh có khả năng phòngđược 85-90% các trường hợp lây truyền từ mẹ sang con Hiệu quả phòng
Trang 15ngừa sẽ giảm dần theo thời gian sau sinh và không còn hiệu quả phòng ngừanếu tiêm sau 7 ngày [13].
1.2. Thực trạng tiêm vắc xin viêm gan B trên thế giới và tại Việt Nam
1.2.1. Trên thế giới
Ảnh hưởng của vắc xin VGB được phát hiện sớm nhất bởi Krungman
và cộng sự vào cuối những năm 1960 [32] Tính từ năm 1982 cho đến nay,
đã có hơn 2 tỉ liều lượng vắc xin ngừa VGB sử dụng trên toàn cầu Nhiềunghiên cứu cho thấy hiệu quả của vắc xin lên đến 95% và đã góp phần lớnvào việc phòng chống VGB trên thế giới Theo báo cáo của WHO, đến năm
2012 có 183 quốc gia trên thế giới đã tiêm vắc xin VGB cho trẻ em trongchương trình tiêm chủng và 79% trẻ em đã được tiêm Đây là tỷ lệ tăngnhanh nếu so sánh với năm 1992 chỉ có 31 quốc gia và là năm Hội đồng Y
tế Thế giới thông qua biểu quyết khuyến nghị tiêm vắc xin phòng chốngVGB toàn cầu Cũng trong năm 2012, có 94 quốc gia đã thực hiện tiêm vắcxin VGB cho trẻ sơ sinh [49]
Ở Đài Loan, chương trình tiêm vắc xin ngừa VGB được triển khai toànquốc từ năm 1984.Đây là một trong những nước thành công nhất trong việcphòng ngừa bệnh này.Chỉ trong vòng 10 năm sau khi triển khai chương trình
tỷ lệ trẻ em mới sinh mắc VGB giảm từ 10% xuống 1% Trong thời giannày, tỷ lệ ung thư gan ở trẻ em giảm gần 50% [42, 43]
Tỷ lệ tiêm phòng liều sơ sinh trên toàn thế giới năm 2006 là 27% 71%) Đối với những nước có tỷ lệ người nhiễm VGB cao (>8%) thì có 36%trẻ em được tiêm phòng liều sơ sinh, những nước có tỷ lệ người nhiễm thấp
(3%-có 20% trẻ được tiêm [38] Ở một số quốc gia như Hoa Kỳ, Mexico, Cubamặc dù là vùng lưu hành viêm gan ở mức thấp, đường lây truyền từ mẹsang con không phải là chủ yếu, nhưng tỷ lệ tiêm vắc xin VGB liều sơ
Trang 16sinh năm 2013 cũng ở mức 72% (Hoa Kỳ), 82% (Mexico), 99% (Cuba) [48].Theo đánh giá của Hội đồng Tiêm chủng của Tổ chức y tế thế giới thì tỷ lệbao phủ toàn cầu tiêm phòng vắc xin VGB cho trẻ sơ sinh năm 2011 vẫn cònthấp, chỉ chiếm 26% số trẻ [30].
1.2.2. Tại Việt Nam
Theo ước tính của WHO, Việt Nam được coi là một nước có tỷ lệnhiễm virút VGB cao (>8%) [3] Dựa trên dân số trung bình và tỷ suất sinhthô của Việt Nam năm 2009 [1], số trẻ sinh ra hàng năm sẽ khoảng1.500.000 trẻ Như vậy với tỉ lệ 3-5% trẻ bị nhiễm VGB từ mẹ tại thời điểmsinh [50], nếu không trẻ nào được tiêm vắc xin VGB liều sơ sinh, ước tínhhàng năm sẽ có khoảng từ 4.500-7.500 trẻ có nguy cơ nhiễm vi rút VGB.Vắc xin phòng lao, bại liệt và vắc xin VGB mũi 2, 3, 4 là để phòngphơi nhiễm trong tương lai Tuy nhiên vắc xin VGB sơ sinh cần được tiêmcàng sớm càng tốt để bảo vệ trẻ sơ sinh đã phơi nhiễm với virút ngay khisinh [15] Việt Nam là nước thuộc vùng bệnh lưu hành ở mức cao do đóviệc tiêm vắc xin VGB ngay trong vòng 24 giờ không chỉ phòng lây truyền
từ mẹ sang con mà còn lây ngang từ môi trường xung quanh, người thân,người chăm sóc [15]
Vắc xin VGB bắt đầu được triển khai thí điểm trong chương trìnhTCMR từ năm 1997 tại những vùng nguy cơ cao của bệnh Từ năm 2003,được sự hỗ trợ của GAVI, vắc xin VGB được triển khai trên toàn quốc chotrẻ < 1 tuổi trong tiêm chủng thường xuyên với 100% số huyện trên toànquốc được bao phủ [21] Buổi tiêm chủng thường xuyên được tổ chức định
kỳ hàng tháng và mỗi tháng chỉ tổ chức tiêm trong 1- 3 ngày cố định.Tuyến xã là tuyến tiêm tất cả các vắc xin trong chương trình tiêm chủng mởrộng cho đối tượng trẻ em và phụ nữ có thai/nữ trong độ tuổi sinh đẻ Tạimỗi xã có thể có một hoặc nhiều điểm tiêm chủng [8]:
Trang 17+ Ở hầu hết các xã, điểm tiêm chủng cố định tại trạm y tế xã là hìnhthức cơ bản nhất, tại các xã này buổi tiêm chủng được tổ chức vào một ngàyhoặc một số ngày cố định trong tháng Riêng vắc xin viêm gan B, do khuyếncáo của chương trình là tiêm trong vòng 24 giờ đầu sau khi sinh nên liều sơsinh được các trạm y tế thực hiện bất cứ khi nào có trẻ được sinh ra Ởnhững vùng đồng bằng, điều kiện giao thông thuận tiện, không quá xa,người dân dễ dàng tiếp cận với dịch vụ y tế, mỗi xã chỉ có một điểm tiêmchủng tại trạm y tế [8]
+ Ở một số xã có địa bàn rộng hoặc đi lại khó khăn điểm tiêm chủngngoài trạm có thể được tổ chức hàng tháng, định kỳ hoặc trong các đợt chiếndịch Mỗi điểm tiêm chủng ngoài trạm thực hiện tiêm chủng cho một cụmcác thôn gần nhau Điểm được chọn là thôn nằm ở trung tâm của cụm Cáchthức tổ chức này giúp người dân dễ tiếp cận với dịch vụ tiêm chủng hơn,làm tăng tỷ lệ tiêm chủng tại các vùng khó khăn, đặc biệt ở vùng miền núi,vùng sông nước Điểm tiêm tại các trường học thường được nhắc tới trongcác đợt triển khai tiêm chủng chiến dịch cho đối tượng trong độ tuổi đi học[8]
Theo Chương trình tiêm chủng quốc gia tại Việt Nam, hiện nay lịchtiêm chủng ngừa bệnh VGB có 3 hoặc 4 mũi [17] Những trẻ vì một số
lý do y khoa không thể tiêm chủng mũi 1 thì không nhất thiết phải tiêmmũi 1 này sau 7 ngày tuổi vì lúc đó cũng không còn tác dụng bảo vệ sớm,hiệu quả phòng ngừa giảm dần theo từng ngày và không đạt được nếu tiêmsau 7 ngày [13]
1.3. Thực trạng tiêm vắc xin viêm gan B trên thế giới và tại Việt Nam
1.3.1. Trên thế giới
Ảnh hưởng của vắc xin VGB được phát hiện sớm nhất bởi Krungman
và cộng sự vào cuối những năm 1960 [32] Tính từ năm 1982 cho đến nay,
Trang 18đã có hơn 2 tỉ liều lượng vắc xin ngừa VGB sử dụng trên toàn cầu Nhiềunghiên cứu cho thấy hiệu quả của vắc xin lên đến 95% và đã góp phần lớnvào việc phòng chống VGB trên thế giới Theo báo cáo của WHO, đến năm
2012 có 183 quốc gia trên thế giới đã tiêm vắc xin VGB cho trẻ em trongchương trình tiêm chủng và 79% trẻ em đã được tiêm Đây là tỷ lệ tăngnhanh nếu so sánh với năm 1992 chỉ có 31 quốc gia và là năm Hội đồng Y
tế Thế giới thông qua biểu quyết khuyến nghị tiêm vắc xin phòng chốngVGB toàn cầu Cũng trong năm 2012, có 94 quốc gia đã thực hiện tiêm vắcxin VGB cho trẻ sơ sinh [49]
Ở Đài Loan, chương trình tiêm vắc xin ngừa VGB được triển khai toànquốc từ năm 1984.Đây là một trong những nước thành công nhất trong việcphòng ngừa bệnh này.Chỉ trong vòng 10 năm sau khi triển khai chương trình
tỷ lệ trẻ em mới sinh mắc VGB giảm từ 10% xuống 1% Trong thời giannày, tỷ lệ ung thư gan ở trẻ em giảm gần 50% [42, 43]
Tỷ lệ tiêm phòng liều sơ sinh trên toàn thế giới năm 2006 là 27% 71%) Đối với những nước có tỷ lệ người nhiễm VGB cao (>8%) thì có 36%trẻ em được tiêm phòng liều sơ sinh, những nước có tỷ lệ người nhiễm thấp
(3%-có 20% trẻ được tiêm [38] Ở một số quốc gia như Hoa Kỳ, Mexico, Cubamặc dù là vùng lưu hành viêm gan ở mức thấp, đường lây truyền từ mẹsang con không phải là chủ yếu, nhưng tỷ lệ tiêm vắc xin VGB liều sơsinh năm 2013 cũng ở mức 72% (Hoa Kỳ), 82% (Mexico), 99% (Cuba) [48].Theo đánh giá của Hội đồng Tiêm chủng của Tổ chức y tế thế giới thì tỷ lệbao phủ toàn cầu tiêm phòng vắc xin VGB cho trẻ sơ sinh năm 2011 vẫn cònthấp, chỉ chiếm 26% số trẻ [30]
1.3.2. Tại Việt Nam
Theo ước tính của WHO, Việt Nam được coi là một nước có tỷ lệnhiễm virút VGB cao (>8%) [3] Dựa trên dân số trung bình và tỷ suất sinh
Trang 19thô của Việt Nam năm 2009 [1], số trẻ sinh ra hàng năm sẽ khoảng1.500.000 trẻ Như vậy với tỉ lệ 3-5% trẻ bị nhiễm VGB từ mẹ tại thời điểmsinh [50], nếu không trẻ nào được tiêm vắc xin VGB liều sơ sinh, ước tínhhàng năm sẽ có khoảng từ 4.500-7.500 trẻ có nguy cơ nhiễm vi rút VGB.Vắc xin phòng lao, bại liệt và vắc xin VGB mũi 2, 3, 4 là để phòngphơi nhiễm trong tương lai Tuy nhiên vắc xin VGB sơ sinh cần được tiêmcàng sớm càng tốt để bảo vệ trẻ sơ sinh đã phơi nhiễm với virút ngay khisinh [15] Việt Nam là nước thuộc vùng bệnh lưu hành ở mức cao do đóviệc tiêm vắc xin VGB ngay trong vòng 24 giờ không chỉ phòng lây truyền
từ mẹ sang con mà còn lây ngang từ môi trường xung quanh, người thân,người chăm sóc [15]
Vắc xin VGB bắt đầu được triển khai thí điểm trong chương trìnhTCMR từ năm 1997 tại những vùng nguy cơ cao của bệnh Từ năm 2003,được sự hỗ trợ của GAVI, vắc xin VGB được triển khai trên toàn quốc chotrẻ < 1 tuổi trong tiêm chủng thường xuyên với 100% số huyện trên toànquốc được bao phủ [21] Buổi tiêm chủng thường xuyên được tổ chức định
kỳ hàng tháng và mỗi tháng chỉ tổ chức tiêm trong 1- 3 ngày cố định.Tuyến xã là tuyến tiêm tất cả các vắc xin trong chương trình tiêm chủng mởrộng cho đối tượng trẻ em và phụ nữ có thai/nữ trong độ tuổi sinh đẻ
Trang 20Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu là các bà mẹ sinh con tại bệnh viện Phong Daliễu trung ương Quỳnh lập trong thời gian nghiên cứu
Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng
Các bà mẹ sinh con tại bệnh viện bệnh viện Phong Da liễu trungương Quỳnh lập
Tiêu chuẩn loại trừ:
Những bà mẹ sinh con ở các bệnh viện khác chuyển đến
Bà mẹ không đồng ý tham gia nghiên cứu
Những bà mẹ câm, điếc không có khả năng trả lời
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: Tháng 3/2021- 10/2021
Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện Phong Da liễu trung ương Quỳnhlập
2.3 Thiết kế nghiên cứu.
Áp dụng thiết kế nghiên cứu cắt ngang
n: Là cỡ mẫu nghiên cứu
p: Tỷ lệ từ nghiên cứu trước
Trang 21 : Khoảng sai lệch tương đối mong muốn giữa tham số mẫu vàtham số quần thể
Z(1-α/2): Là khoảng tin cậy phụ thuộc mốc ý nghĩa thống kê
Ta có : Z(1-α/2) = 1,96 với α = 0,05 Chọn d= 0,05
p=0,82 (Tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đạt về tiêm vắc xin VGB chotrẻ sơ sinh theo nghiên cứu thử)
Thay vào công thức ta được n= 227
Cách chọn mẫu: Áp dụng chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống
- Trong khoảng thời gian từ tháng 3/2021 – 10/2021 có 301 sản phụ sinhcon tại bệnh viện Như vậy hệ số K = 301/207 = 1,3 Như vậy, hệ số Klàm chẵn xuống =1 Cứ sau 1 sản phụ đến sinh tại bệnh viện sẽ chọn 1sản phụ để phỏng vấn kiến thức, thái độ về tiêm vắc xin VGB cho trẻ sơsinh đến khi đủ cỡ mẫu thì dừng lại
2.5 Biến số, chỉ số nghiên cứu.
Tên biến Định nghĩa biến Loại biến Phương pháp thu
Định danh Bộ câu hỏi phỏngvấn
Nơi sinh con Nơi mà bà mẹ sinh con
(trẻ trong diện điều tra)
là nơi nào: BV tuyến
TW, tuyến tỉnh, tuyếnhuyện, hay TYT, phòngkhám đa khoa khu vực,
y tế tưnhân, hay sinh tại nhà
Định danh Bộ câu hỏi phỏngvấn
Trang 22chính của bà mẹ
Công việc đang làm của
bà mẹ cho thu nhập caonhất
Định danh Bộ câu hỏi phỏngvấn
Cách sinh Bà mẹ sinh con là đẻthường hay đẻ mổ. Nhị phân Bộ câu hỏi phỏng
Liên tục Bộ câu hỏi phỏng vấn
Số tuần tuổi của
thai đến lúc sinh
Tính từ ngày đầu kỳ kinhcuối đến khi sinh Liên tục
Bộ câu hỏi phỏng vấn
Cân trẻ Trẻ có được cân lúc mới
sinh Nhị phân Bộ câu hỏi phỏng vấnCân nặng lúc sinh
Trẻ sinh ra cân nặng được
bao nhiêu gam?
Liên tục
Bộ câu hỏi phỏng vấn
Tiêm phòng vắc xin VGB liều sơ sinh cho trẻ
Tiêmvắc xin VGB
sơ sinh Bé đã được tiêm VXVGB
liều sơ sinh hay chưa
Nhị phân Bộ câu hỏi phỏng
vấn
Sổ tiêm chủng TYTThời gian tiêm Khoảng thời gian từ lúc
được sinh ra đến lúc tiêm là bao lâu
Định danh Bộ câu hỏi phỏngvấn
Định danh Bộ câu hỏi phỏng vấnKhả năng lây
truyền Bệnh VGB có lây truyềnkhông Định danh Bộ câu hỏi phỏng vấn
Trang 23Bệnh VGB có lây
truyền từ mẹ sang
con
Bệnh VGB có thể lâytruyền từ mẹ sang conkhông
Định danh Bộ câu hỏi phỏng vấnBiến chứng của
bệnh
Biến chứngcủa bệnhVGB là gì Định danh Bộ câu hỏi phỏng vấnCách phòng bệnh
VGB
Các cách phòngbệnh VGB là gì?
Định danh Bộ câu hỏi phỏng vấn
Kiến thức tiêm phòng VXVGB sơ sinh
Thăm khám trước
tiêm vắc xin
VGB?
Trẻ có cần được thăm khám trước khi tiêm vắcxin VGB liều sơ sinh?
Định danh Bộ câu hỏi phỏng vấn
Thời gian tiêm
vắc xin liều sơ
sinh tốt nhất
Thời gian tiêm VXVGBliều sơ sinh tốt nhất là tại thời điểm khi trẻ được 1 tháng tuổi; Khi trẻ được 2
tháng tuổi; Trong 24 giờ
đầu sau sinh hay thời gian
khác
Định danh Bộ câu hỏi phỏng vấn
Phản ứng sau tiêm
có thể gặp
Các phản ứng sau tiêm VXVGB có thể gặp phải: Đau tại chỗ tiêm, Sốt, Sốc
phản vệ
Định danh Bộ câu hỏi phỏng vấn
Thời gian theo
dõi sau tiêm
Thời gian theo dõi tối thiểu tại điểm tiêm khoảng bao lâu: Về ngay được, 30 phút,
Định danh Bộ câu hỏi phỏng vấn
Tiền sử sức khỏe mẹ và người thân trong gia đình
Trang 24Xét nghiệm VGB Xét nghiệm VGB Nhị phân Bộ câu hỏi phỏng vấnKết quả xét
nghiệm Kết quả xét nghiệm Nhị phân Bộ câu hỏi phỏng vấn
Tác động của dư luận xã hội
Vụ phản ứng/tai
biến sau tiêm VX
VGB
Bà mẹ đã từng nghe đếncác vụ phản ứng/tai biến sau tiêm VXVGB chưa
Nhị phân Bộ câu hỏi phỏng vấn
Biết thông tin
trước hay sau QĐ
tiêm cho bé
Nếu đã được nghe thôngtin thì trước hay sau khi quyết định việc tiêm hay
không tiêm cho trẻ
Nhị phân Bộ câu hỏi phỏng vấn
2.6 Công cụ và phương pháp thu thập thông tin
2.6.1 Công cụ thu thập thông tin
Bộ công cụ được sử dụng trong nghiên cứu là bộ công cụ được nhómtác giả biên soạn dụa vào một số nghiên cứu và các tài liệu Nhóm nghiên cứuphỏng vẩn thử trước khi đưa vào sử dụng thực tế
2.6.2 Phương pháp thu thập thông tin
Phương pháp thu thập thông tin được sử dụng là: Điều tra viên sử dụng
bộ câu hỏi có sẵn phỏng vấn trực tiếp bà mẹ sau sinh tại khoa Ngoại Sản
2.7 Tiêu chuẩn đánh giá
Kiến thức chung về bệnh VGB bao gồm 5 câu hỏi từ E1-E5, kiến thức
về tiêm phòng vắc xin VGB sơ sinh gồm 6 câu từ F1 đến F5 Dựa vào kếtquả trả lời các câu hỏi phỏng vấn của đối tượng nghiên cứu, theo thangđiểm để tính điểm và đánh giá kiến thức theo 2 mức: đạt và không đạt (phụlục 2)
Điểm tối đa cho phần đánh giá kiến thức về bệnh VGB là 12 điểm, đốitượng nghiên cứu trả lời dưới 8 điểm là không đạt, trả lời từ 8 điểm trở lên
là đạt
Trang 25Điểm tối đa cho phần đánh giá kiến thức về về tiêm phòng vắc xinVGB là 8 điểm, đối tượng nghiên cứu trả lời dưới 6 điểm là không đạt, trảlời từ 6 điểm trở lên là đạt.
2.8 Xử lý và phân tích số liệu
Số liệu định lượng được nhập bằng phần mềm Epi Data, làm sạch vàphân tích bằng phần mềm SPSS 16.0 Khoảng tin cậy được lựa chọn là95%
Các chỉ số nghiên cứu về thông tin chung của bà mẹ và trẻ, tỷ lệ tiêmvắc xin VGB sơ sinh của trẻ, tiền sử sức khỏe mẹ và người thân trong giađình, môi trường, dịch vụ y tế, kiến thức của bà mẹ được thống kê và tínhtoán theo tần số và tỷ lệ %
Kiểm định khi bình phương với mức ý nghĩa α=5% được dùng để sosánh tỷ lệ tiêm vắc xin VGB liều sơ sinh giữa các nhóm yếu tố thông tinchung về bà mẹ và trẻ, kiến thức về bệnh VGB và vắc xin VGB liều sơ sinhcủa bà mẹ, tiền sử sức khỏe mẹ và người thân
2.9 Sai số và cách khắc phục sai số
Số liệu bị thiếu hoặc nhập sai trong quá trình nhập liệu: tiến hành nhập
liệu cẩn thận, tránh tối đa sai số trong quá trình nhập
Đối tượng nghiên cứu khó hiểu hoặc không hiểu đúng câu hỏi: thiết kếcẩn thận bộ câu hỏi, giải đáp thắc mắc tại chỗ hoặc để lại địa chỉ liên hệ đểđối tượng có thể được giải đáp nếu cần thiết
2.10 Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu được Hội đồng đánh giá đề cương của Hội đồng Đạo đứcbệnh viện Phong - Da liễu TW Quỳnh lập thông qua trước khi triển khai nghiên cứu
Bộ câu hỏi không có các vấn đề nhạy cảm, riêng tư không ảnh hưởngđến tâm lý và sức khoẻ của đối tượng nghiên cứu Trước khi trả lời đối tượng