Đề án nhằm cải thiện tỷ lệ nhân viên y tế (NVYT) tự giác báo cáo sự cố y khoa (SCYK) tại Bệnh viện Bãi Cháy, từ mức hiện tại lên 20% so với năm trước. Việc này giúp nâng cao chất lượng quản lý sự cố và đảm bảo an toàn người bệnh. Giải pháp: Đào tạo và nâng cao nhận thức: Tập huấn NVYT về quy trình và tầm quan trọng của việc báo cáo SCYK. Phổ biến thường xuyên các quy định, quy trình liên quan. Ứng dụng công nghệ: Xây dựng phần mềm báo cáo SCYK, đơn giản hóa quy trình ghi nhận và phân tích sự cố. Tạo động lực báo cáo: Áp dụng khen thưởng đối với NVYT tự giác báo cáo. Quy định chế tài với các trường hợp không thực hiện báo cáo khi xảy ra SCYK nghiêm trọng. Giám sát và cải tiến: Tăng cường giám sát việc thực hiện báo cáo và tổ chức phân tích nguyên nhân gốc để rút kinh nghiệm. Kết quả: Tỷ lệ tự giác báo cáo SCYK tăng theo từng quý, đạt mục tiêu đề ra. Tỷ lệ NVYT nắm vững kiến thức về quản lý SCYK tăng từ 66% lên 96%. Cải thiện văn hóa an toàn, giảm thiểu sự cố y khoa tái diễn.
Trang 1SỞ Y TẾ QUẢNG NINH
BỆNH VIỆN BÃI CHÁY
NÂNG CAO TỶ LỆ NHÂN VIÊN Y TẾ TỰ GIÁC BÁO CÁO
SỰ CỐ Y KHOA TẠI BỆNH VIỆN BÃI CHÁY NĂM 2020
ĐỀ TÀI NCKH CẤP CƠ SỞ
Chủ nhiệm: Phạm Thu Hoài Thư ký: Trần Minh Phương
Quảng Ninh, năm 2020
Trang 27 1.1.1 Thực trạng báo cáo sự cố y khoa tại một số cơ sở 7
8 1.1.2 Thực trạng báo cáo sự cố y khoa tại bệnh viện Bãi Cháy 8
Trang 330 3.1 Tổng hợp sự cố y khoa trước và sau can thiệp 17
31 3.2 Kiến thức của NVYT về công tác quản lý sự cố y khoa 18
33 4.1 Thuận lợi trong quá trình triển khai nhiệm vụ KH&CN 19
34 4.2 Khó khăn trong quá trình triển khai nhiệm vụ KH&CN 19
38 Phụ lục 1 Phiếu điều tra kiến thức về báo cáo sự cố y khoa của
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 5ĐẶT VẤN ĐỀ
Sự cố y khoa là một trong những vấn đề có liên quan trực tiếp đến an toàn, chất lượng, điều trị, chăm sóc người bệnh Vấn đề này đang được cả thế giới đặc biệt quan tâm Những nguy cơ tiềm ẩn luôn tồn tại trong y tế, có thể gây ra các biến cố bất lợi đến sức khỏe cho người bệnh ở tất cả các khâu: từ chẩn đoán, điều trị, can thiệp thủ thuật, phẫu thuật đến theo dõi, chăm sóc…Việc bảo trì, vận hành và điều khiển trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật…cũng chứa đựng các yếu tố rủi
ro dẫn đến sự cố y khoa Ngoài ra, công tác tổ chức, quản lý, trình độ chuyên môn của đội ngũ thầy thuốc, nhân viên y tế…tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn đối với người bệnh Thực trạng này đã trở thành áp lực đối với cán bộ y tế và là thách thức không nhỏ đối với các nhà quản lý Trước áp lực và thách thức, đòi hỏi các cơ sở y tế cần không ngừng cải tiến, phải có những giải pháp hữu hiệu, thiết lập hành lang an toàn để giảm thiêu các sự cố y khoa và tối ưu hóa quy trình quản lý, chuyên môn, kỹthuật
Tại Việt Nam một cuộc phỏng vấn 89 điều dưỡng cồn tác tại bệnh viện đa khoa khi vực Cai lậy cho thấy kết quả như sau: 148 sự cố liên quan đến chuyên khoa ngoại sản, 592 sự cố liên quan đến thuốc Và những nơi xảy ra sự cố nhiều nhất là khoa hồi sức cấp cứu, khoa sản hoặc khoa phẫu thuật với tỉ lệ từ 40% đến 50%, những nơi có cường độ lao động cao, hoặc được áp dụng kỹ thuật mới [2] Còn tại BVBC năm 2019, tổng số sự cố y khoa 271 sự cố, trong đó sự cố xảy ra
242 sự cố, sự cố y khoa sắp xảy ra 29 sự cố, 160 sự cố liên quan đến quy trình kỹ thuật, thủ thuật, kỹ thuật chuyên môn, 35 sự cố liên quan đến thuốc và dịch truyền Một số SCYK sẽ hữu ích nếu được công khai, phân tích để từ đó rút kinh nghiệm nhằm không lặp lại lần sau Tuy nhiên một rào cản rất lớn trong việc ghi nhận và báo cáo sự cố là bắt buộc và khiển trách, kỷ luật, sợ bị đổ lỗi, không muốn gặp rắc rối, không muốn đưa ra trước cuộc họp dẫn đến tâm lý ngại, lo sợ, muốn giấu giếm không dám báo cáo Xuất phát từ thực trạng trên chúng tôi thực hiện nghiên cứu “ Nâng cao tỷ lệ nhân viên y tế tự giác báo cáo sự cố y khoa tại bệnh viện Bãi Cháy năm 2020”
Trang 7Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Cơ sở thực tiễn
1.1.1 Thực trạng báo cáo sự cố y khoa tại một số cơ sở
Hiện nay, sự cố y khoa là một vấn đề đáng quan tâm không chỉ ở các nước phát triển mà còn ở các nước đang phát triển, đặc biệt là Việt Nam Một cuộc khảo sát tại Đan Mạch năm 2002 có trên 4.019 bác sĩ và điều dưỡng cho thấy thái độ đối với báo cáo sự cố y khoa, sai sót sự khác biệt lớn giữa các nhóm Nhóm bác sĩ không thích hoặc miễn cưỡng phải báo cáo là 34%, trong khi nhóm điều dưỡng là 21% Lý do không báo cáo là thói quen, lo sợ chú ý, nguy cơ bị khiển trách (Madsen và cộng sự 2006)
Một cuộc khảo sát 186 bác sĩ và 587 y tá ở Nam Úc cho thấy hầu hết các bác
sĩ và y tá (98,3%) biết rằng bệnh viện họ có một hệ thông báo cáo sự cố y khoa Y
tá biết làm thế nào để truy cập báo cáo chiếm tỉ lệ 88,3%, trong khi bác sĩ là 43%, đã từng hoàn thành một báo cáo ở y tá là 89,2% và bác sĩ là 64,4% và biết phải làm gì với báo cáo hoàn thành nhóm y tá cũng chiếm tỉ lệ cao hơn nhóm bác sĩ với tỉ lệ lần lượt là 81,9% và 49,7% Rào cản của việc ít báo cáo là do thiếu thông tin phản hồi chiếm tỉ lệ 57,7% ở nhóm y tá và 61,8% ở nhóm bác sĩ
Tại Vincent (1999) khi tiến hành khảo sát 42 bác sĩ khoa sản và 156 nữ hộ sinh tại 02 đơn vị sản khoa Hầu hết các nhân viên biết về sự cố và hệ thống báo cáo sự cố tại đơn vị Nữ hộ sinh báo cáo sự cố cao hơn so với bác sĩ và nhân viên báo cáo sự cố nhiều hơn lãnh đạo Nhưng nguyên nhân chính cho việc không báo cáo cũng là lo ngại bị đổ lỗi, khối lượng công việc cao và niềm tin (mặc dù vụ việc đã được chỉ định là phải báo cáo) Một khảo sát hồi cứu trên 250 bà mẹ và em bé tại 02 đơn vị sản khoa ở London nhằm đánh giá các sự cố được báo cáo cho thấy tỉ lệ các sự cố do nhân viên báo cáo là 23% và sự cố do nhân viên quản lý rủi ro phát hiện là 22%, còn lại 55% sự cố được xác định khi xem xét lại các trường hợp cần chú ý 48% sự cố y khoa nghiêm trọng được báo cáo, sự cố ít nghiêm trọng chiếm tỉ lệ 24% và sự cố chưa xảy ra chiếm 15% Bên cạnh đó, nhân viên chuyên trách
Trang 8quản lý rủi ro xác định thêm 16% sự cố nghiêm trọng không được báo cáo (Stanhope và cộng sự, 1999)
Tại Việt nam, một cuộc phỏng vấn 271 nhân viên, số liệu thống kê cho thấy 20,9% có hành vi đúng về báo cáo sự cố y khoa ở nhân viên, 39% đã từng báo cáo
từ 1 sự cố trở lên, kiến thức chung về báo cáo sự cố chỉ đúng 12%, hầu hết nhân viên phải thông qua ban lãnh đạo khoa trước khi báo cáo, không biết ai là người báo cáo và phải gửi báo cáo về đâu Đa số nhân viên ủng hộ báo cáo sự cố là 68,3%, tuy nhiên vẫn còn rất nhiều người lo sợ khi tham gia báo cáo 60,9%, trong đó sợ bị kỷ luật, sợ phải hội họp là nổi trội hơn cả, nhóm kỹ thuật viên có thái độ lo sợ cao hơn bác sĩ Khi xảy ra sự cố 21,6% nhân viên tin rằng sẽ báo cáo các trường hợp sự cố xuýt xảy ra, 16,6 sẽ báo cáo các sự cố do sai biệt và 27,7% sẽ báo cáo các trường hợp sự cố đặc biệt nghiêm trọng Sau khi phân tích mối liên quan bằng phép kiểm chi bình phương và test chính xác fisher nhận thấy các nhóm thái độ về quy trình, thái độ lo sợ và niềm tin báo cáo có ảnh hưởng đến hành vi báo cáo [3]
1.1.2 Thực trạng báo cáo sự cố y khoa tại bệnh viện Bãi Cháy
Bệnh viện Bãi Cháy trực thuộc Sở Y tế tỉnh Quảng Ninh là bệnh viện đa khoa hạng I tuyến tỉnh, quy mô 1.000 giường bệnh Với mô hình chăm sóc toàn diện ở các khoa lâm sàng trong toàn bệnh viện, công tác chăm sóc người bệnh đã có một số cải thiện đáng kể Mỗi ngày bệnh viện tiếp nhận 1.300 người bệnh đến khám và điều trị nội trú 500 người bệnh Với tình trạng quá tải và áp lực công việc cao nên việc xảy ra những sự cố không mong muốn là điều khó tránh khỏi cho cả thầy thuốc và nạn nhân, đặc biệt đối với người bệnh phải gánh chịu hậu quả về mặt sức khỏe, thậm chí tử vong Trong năm 2019, tổng số sự cố y khoa bệnh viện Bãi Cháy ghi nhận được 271 sự cố, trong đó sự cố đã xảy ra có 242 sự cố, sự cố sắp xảy ra có 29 sự cố, 160 sự cố liên quan đến quy trình kỹ thuật, thủ thuật, kỹ thuật chuyên môn, 35 sự cố liên quan đến thuốc và dịch truyền Tuy nhiên, có nhiều sự
cố y khoa không được ghi nhận và không được tìm hiểu gây ảnh hưởng đến cả người bệnh và thầy thuốc nhất là thiệt hại về sức khỏe và tính mạng của người bệnh, nguyên nhân do:
- Tâm lý ngại, sợ hãi, lo lắng trách nhiệm:
Trang 9+ Lo lắng bị để ý
+ Lo lắng bị kỷ luật
+ Sợ đồng nghiệp trách móc
+ Sợ bị đổ lỗi
+ Không muốn bị đưa ra trong cuộc họp
+ Không muốn gặp rắc rối
- Công tác giám sát chưa được chú trọng
- NVYT chưa hiểu rõ quy trình báo cáo sự cố y khoa
- Chưa hiểu được tầm quan trọng của việc báo cáo SCYK
Cần xác đinh được tầm quan trọng của hệ thống báo cáo SCYK nhất là việc tự giác báo cáo sự cố y khoa của nhân viên y tế nhằm xây dựng một môi trường an toàn cho công tác khám chữa bệnh tại bệnh viện, góp phần chủ động phòng ngừa những sự cố, sai sót lặp lại
1.1.3 Lựa chọn vấn đề cải tiến chất lượng
Dựa trên thực trạng báo cáo sự cố của nhân viên y tế tại bệnh viện, chúng tôi quyết định lựa chọn vấn đề “Nhân viên y tế chưa tự giác báo cáo sự cố y khoa tại Bệnh viện Bãi Cháy năm 2020” để tiến hành can thiệp, cải tiến
1.2 Cơ sở pháp lý
- Quy trình quản lý sự cố y khoa (ban hành theo Quyết định số BVBC ngày 20/04/2018 của bệnh viện Bãi Cháy)
77/QĐ Quy định quản lý sự cố y khoa (ban hành theo Quyết định số 161/QĐ77/QĐ BVBC ngày 25/04/2019 của bệnh viện Bãi Cháy)
161/QĐ Quy định phòng ngừa sự cố y khoa (ban hành theo quyết định số 167/QĐ161/QĐ BVBC ngày 05/08/2018 của bệnh viện Bãi cháy)
167/QĐ Phiếu điều tra kiến thức về báo cáo sự cố y khoa của nhân viên y tế (phụ lục 1)
Trang 10Chương 2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 2.1 Phương pháp nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Tiêu chuẩn lựa chọn: Tất cả các sự cố y khoa được ghi nhận
- Tiêu chuẩn loại trừ: Các sự cố không phải là sự cố y khoa: ADR, sự cố không liên quan đến nhân viên y tế…
2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 01/2020 đến tháng 09/2020
- Địa điểm nghiên cứu: Tại bệnh viện Bãi Cháy
2.1.3 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu chuỗi thời gian trước - sau
2.1.4 Cỡ mẫu
Toàn bộ mẫu phiếu báo cáo được ghi nhận
2.1.5 Phương pháp thu thập số liệu
- Tổng hợp số liệu qua phiếu báo cáo sự cố y khoa của nhân viên y tế bệnh viện Bãi Cháy
2.1.6 Công cụ thu thập số liệu
- Phiếu báo cáo sự cố y khoa của nhân viên y tế bệnh viện Bãi Cháy
2.1.7 Chỉ số và phương pháp tính
Tên chỉ số Tỷ lệ nhân viên y tế tự giác báo cáo sự cố y khoa
Lĩnh vực áp dụng Bệnh viện Bãi Cháy
Đặc tính chất lượng An toàn
Thành tố chất lượng Đầu ra
Lý do lựa chọn
Sự cố y khoa là những vấn đề khó tránh khỏi và nhiều khi nằm ngoài tầm kiểm soát Khi sự cố y khoa không mong muốn xảy ra không những sẽ ảnh hưởng đến thầy thuốc mà còn đến cả người bệnh, đặc biệt người bệnh phải gánh chịu hậu quả về mặt sức khỏe, thậm chí tử vong Báo cáo sự cố
y khoa giúp đưa ra các khuyến cáo phòng ngừa,
Trang 11Tên chỉ số Tỷ lệ nhân viên y tế tự giác báo cáo sự cố y khoa
tránh tái diễn sự cố y khoa để nâng cao chất lượng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh, an toàn cho người bệnh
Phương pháp tính
Tử số (Tổng số phiếu báo cáo SCYK năm 2020 - Tổng số phiếu báo cáo SCYK năm 2019) x 100%
Nguồn số liệu Phiếu báo cáo sự cố y khoa của nhân viên y tế
Thu thập và tổng hợp số
liệu
Tổng hợp sự cố y khoa được báo cáo (trừ những sự cố không phải sự cố y khoa)
Giá trị của số liệu Độ chính xác và độ tin cậy trung bình
2.1.8 Tiêu chuẩn đánh giá
Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là những nhân viên y tế đang công tác tại bệnh viện Bãi Cháy Hiện tại, nhân viên y tế bệnh viện Bãi Cháy đang thực hiện quy định quản lý sự cố y khoa theo Quyết định số 161/QĐ-BVBC ngày 25/04/2020 của bệnh viện Bãi Cháy
Vì vậy, tiêu chuẩn đánh giá là nhân viên y tế tự giác báo cáo sự cố y khoa xảy ra tại bệnh viện Bãi Cháy
* Tiêu chuẩn đánh giá kiến thức: Điểm tối đa: 10 điểm
Mỗi câu trả lời đúng được: 1 điểm Đạt: 5 - 10 điểm
Mỗi câu trả lời sai: 0 điểm Không đạt: < 5 điểm
2.2 Phân tích nguyên nhân
Chúng tôi tiến hành thảo luận, phân tích nguyên nhân theo sơ đồ khung xương cá, như sau:
Trang 12Phòng QLCL
Tỷ lệ NVYT tự giác báo cáo sự cố y khoa còn thấp
Chưa hiểu hết được tầm quan trọng của việc báo cáo SCYK
Chưa được phổ biến thường xuyên về
các quy định, quy trình SCYK
Ý thức tự giác báo cáo chưa cao
Chưa tổ chức phân tích, tìm nguyên nhân gốc dễ
Tâm lý lo sợ trách nhiệm
Trang 132.3 Lựa chọn giải pháp
Từ các nguyên nhân gốc rễ, chúng tôi đã đưa ra giải pháp, phương pháp thực hiện, sử dụng phương pháp chấm điểm hiệu quả và khả thi để lựa chọn giải pháp cải tiến, kết quả như sau:
Nguyên nhân
gốc rễ Giải pháp
Phương pháp thực hiện
Hiệu quả Thực thi
Tích
số (HQ
* TT)
Lựa chọn
Nhân viên y tế
NVYT chưa hiểu
được tầm quan
trọng của việc
báo cáo SCYK
Xây dựng phần mềm báo cáo sự
cố y khoa
Xây dựng nội dung báo cáo sự cố y khoa bằng phần mềm
Phổ biến các quy trình, quy định báo cáo SCYK
Lãnh đọa khoa tăng cường phổ biến các quy định, quy trình báo cáo SCYK cho NV trong khoa
Không chọn
Ý thức tự giác
báo cáo của nhân
viên y tế chưa
cao
- Áp dụng quy chế khen thưởng
- Áp dụng hình thức khen thưởng đối với trường hợp báo cáo tự
nguyện
- Chế tài đối với trường hợp xảy ra sự cố y khoa nghiêm trọng nhưng không báo cáo
Tăng cường giám sát,
Không chọn Chưa tổ chức
phân tích, tìm
nguyên nhân gốc
dễ
Tổ chức phân tích tìm nguyên nhân gốc dễ để rút kinh nghiệm
- Lên thông báo tổ chức phân tích tìm nguyên nhân gốc dễ
2.4 Kế hoạch can thiệp
2.4.1 Kế hoạch hoạt động chi tiết
Trang 14Phương pháp Các hoạt động Thời gian
thực hiện Người thực hiện Người phối hợp
Mở lớp tập huấn công tác
quản lý sự cố y khoa (Quy
trình, quy định) cho tất cả
nhân viên y tế trong bệnh
viện
Xây dựng phần mềm báo cáo
SCYK
Xây dựng nội dung báo cáo sự cố y khoa bằng
Phân tích tìm nguyên nhân
gốc dễ
Tổ chức phân tích tìm nguyên nhân gốc dễ, phản
Áp dụng quy chế khen
Trang 152.4.2 Kế hoạch thực hiện theo thời gian
TT Nội dung công việc thực hiện Người Thời gian thực hiện Thời gian bắt đầu
Thời gian thực hiện
Người giám sát T2 T3 T4 T5 T6 T7 T8 T9
6 Tổ chức phân tích tìm nguyên nhân gốc dễ,
Thường xuyên
Tháng 03/2020
7
- Áp dụng hình thức khen thưởng đối với
trường hợp báo cáo tự nguyện
- Chế tài đối với trường hợp xảy ra sự cố y
khoa nghiêm trọng nhưng không báo cáo
xuyên
Tháng 03/2020
Trang 162.5 Kế hoạch theo dõi và tổng hợp
2.5.1 Thời gian tổng hợp
- Trước can thiệp: Từ tháng 01/2019 đến hết tháng 09/2019
- Sau can thiệp: Bắt đầu tháng 01/2020 đến hết tháng 09/2020
2.5.2 Phương pháp tổng hợp: Tổng hợp dựa trên phiếu báo cáo sự cố y
khoa của nhân viên y tế từ tháng 01/2020 đến tháng 09/2020