sự đổ vỡ trầm trọng các bộ phận của thị trường Tài chính tiền tệ kéo theo sự vỡ nợ của hàng loạt ngân hàng và tổ chức tài chính do sự sụt giảm nhanh chóng về giá tài sản mà kết quả cuối
Trang 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THỰC
PHẨM TP.HCM KHOA TÀI CHÍNH – KẾ TOÁN
MÔN: TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
BÀI TIỂU LUẬN
NHÓM 8
ĐỀ TÀI: CUỘC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH CHÂU Á NĂM 1997 BẮT NGUỒN TỪ THÁI LAN
VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM THỜI MỞ CỬA HỘI NHẬP KINH TẾ TOÀN CẦU.
Trang 2CHƯƠNG I: KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH LÀ GÌ 1
1 Khái niệm 1
2 Phân loại 1
a Khủng hoảng tiền tệ 1
b Khủng hoảng ngân hàng 1
c Khủng hoảng kép 1
d Khủng hoảng nợ nần 1
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CUỘC KHỦNG HOẢNG ĐÔNG NAM Á 1
I NGUYÊN NHÂN 1
1 Nền tảng kinh tế vĩ mô yếu kém 1
2 Các dòng vốn nước ngoài kéo vào 2
3 Những thay đổi bất lợi của kinh tế thế giới 3
4 Tấn công đầu cơ và rút vốn đồng loạt 3
II Diễn biến 4
1 Thái Lan 4
2 Philippines 10
3 Hong Kong 10
4 Hàn Quốc 11
5 Malaysia 11
6 Indonesia 12
III TÁC ĐỘNG ĐẾN CÁC NƯỚC KHÁC 12
1 Châu Á, Châu Âu, Châu Mỹ 12
2 Tác Động Tới Việt Nam 13
CHƯƠNG III: NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM 14
KẾT LUẬN 15
Trang 3CHƯƠNG I: KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH LÀ GÌ
1 Khái niệm
Khủng hoảng Tài chính là cuộc khủng hoảng ảnh hưởng đến các thị trường chứng khoán, trung tâm tiền tệ lớn, và giá cả của những tài sản khác sự đổ
vỡ trầm trọng các bộ phận của thị trường Tài chính tiền tệ kéo theo sự vỡ nợ của hàng loạt ngân hàng và tổ chức tài chính do sự sụt giảm nhanh chóng về giá tài sản mà kết quả cuối cùng của nó là sự đông cứng và bất lực của thị trường tài chính sự sụt giảm nghiêm trọng các hoạt động kinh tế
2 Phân loại
a Khủng hoảng tiền tệ
Là cuộc khủng hoảng tỷ giá hối đoái hay khủng hoảng cán cân thanh toán nổ ra khi hoạt động đầu cơ tiền tệ dẫn đến sự giảm giá một cách đột ngột của đồng nội tệ hoặc trường hợp buộc các cơ quan có trách nhiệm bảo
vệ đồng tiền của nước mình bằng cách nâng cao lãi suất hoặc chi ra một khối lượng lớn dự trữ ngoại hối
b Khủng hoảng ngân hàng
Là tính bất ổn của hệ thống ngân hàng bắt nguồn từ những thông tin bất cân xứng, là tình trạng khi một bên trong mối quan hệ kinh tế hay giao dịch
có ít thông tin về phía bên kia
c Khủng hoảng kép
Là khủng hoảng xảy ra khi khủng hoảng tiền tệ và khủng hoảng ngân hàng xảy ra đồng thời với nhau
d Khủng hoảng nợ nần
Là khủng hoảng xảy ra ở các nước đang phát triển vào thập kỉ 80 thế kỷ
XX Có nhiều khả năng đánh giá khả năng thanh toán nguồn vay nước ngoài của một quốc gia, trong đó chi tiêu quan trọng nhất là tỉ lệ giữa nguồn vốn vay nước ngoài cả gốc và lãi mà quốc gia đó trả trong một năm trên tổng kim ngạch xuất khẩu của quốc gia đó trong năm đó hoặc trong năm trước
đó Bình thường chỉ tiêu này nằm dưới 20%, nếu chỉ tiêu này lớn hơn 20% chứng tỏ lượng vốn vay nước ngoài của quốc gia đó quá lớn
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CUỘC KHỦNG HOẢNG ĐÔNG NAM Á
1 Nền tảng kinh tế vĩ mô yếu kém
Thái Lan và một số nước Đông Nam Á đã cố gắng thực hiện cái mà -các nhà kinh tế gọi là Bộ ba chính sách không thể đồng thời Họ vừa cố định giá trị đồng tiền của mình vào Dollar Mỹ, vừa cho phép tự do lưu chuyển vốn (tự do
Trang 4hóa tài khoản vốn) Kinh tế Đông Nam Á tăng trưởng nhanh trong thập niên
1980 và nửa đầu thập niên 1990 đã tạo ra sức ép tăng giá nội tệ Để bảo vệ tỷ giá cố định, các ngân hàng trung ương Đông Nam Á đã thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng Kết quả là cung tiền tăng gây ra sức ép lạm phát Chính sách
vô hiệu hóa (sterilization policy) đã được áp dụng để chống lạm phát vô hình chung đẩy mạnh các dòng vốn chảy vào nền kinh tế
Vào giữa thập niên 1990, Hàn Quốc có nền tảng kinh tế vĩ mô tương đối tốt ngoại trừ việc đồng Won Hàn Quốc không ngừng lên giá với Dollar Mỹ trong thời kỳ từ sau năm 1987 Điều này làm cho tài khoản vãng lai của Hàn Quốc suy yếu vì giá hàng xuất khẩu của Hàn Quốc trên thị trường hàng hóa quốc tế tăng Trong hoàn cảnh đó, Hàn Quốc lại theo đuổi một chế độ tỷ giá hối đoái neo lỏng lẻo và chính sách tự do hóa tài khoản vốn Vì thế, thâm hụt tài khoản vãng lai được bù đắp lại bằng việc các ngân hàng của nước này đi vay nước ngoài mà phần lớn là vay nợ ngắn hạn và nợ không tự bảo hiểm rủi ro
Năm 1994, nhà kinh tế Paul Krugman của trường đại học Princeton, (lúc đó còn ở MIT), cho đăng bài báo tấn công ý tưởng về "thần kỳ kinh tế Đông Á".Ông ta cho rằng: Sự tăng trưởng kinh tế của Đông Á, trong quá khứ, là do kết quả của đầu tư theo hình thức tư bản, dẫn tới sự tăng năng suất lao động Trong khi đó, năng suất tổng nhân tố lại chỉ được nâng lên ở một mức độ rất nhỏ, hoặc hầu như giữ nguyên Krugman cho rằng việc chỉ tăng trưởng năng suất tổng nhân tố không thôi, mà không cần đầu tư vốn, đã có thể mang lại sự thịnh vượng dài hạn Krugman có thể được nhiều người coi như một nhà tiên tri sau khi khủng hoảng tài chính lan rộng, tuy nhiên chính ông ta cũng đã từng phát biểu rằng ông ta không dự đoán cơn khủng hoảng hoặc nhìn trước được chiều sâu của nó
2 Các dòng vốn nước ngoài kéo vào
Chính sách tiền tệ nới lỏng và việc tự do hóa tài chính ở Mỹ, châu Âu và Nhật Bản cuối thập niên 1980 đã khiến cho tính thanh khoản toàn cầu trở nền cao quá mức Các nhà đầu tư ở các trung tâm tiền tệ nói trên của thế giới tìm cách thay đổi danh mục tài sản của mình bằng cách chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài Trong khi đó, các nước châu Á lại thực hiện chính sách tự do hóa tài khoản vốn Lãi suất ở các nước châu Á cao hơn ở các nước phát triển Chính vì thế, các dòng vốn quốc tế đã ồ ạt chảy vào các nước châu Á
Ngoài ra, những xúc tiến đầu tư của chính phủ và những bảo hộ ngầm của chính phủ cho các thể chế tài chính cũng góp phần làm các công ty ở châu Á bắt chấp mạo hiểm để đi vay ngân hàng trong khi các ngân hàng bắt chấp mạo hiểm để đi vay nước ngoài mà phần lớn là vay nợ ngắn hạn và nợ không tự bảo hiểm rủi ro (Hiện tượng thông tin phi đối xứng dẫn tới lựa chọn nghịch và rủi
ro đạo đức.)
Trang 53 Những thay đổi bất lợi của kinh tế thế giới
Nhật Bản, một trong những thị trường xuất khẩu lớn nhất của các nước châu
Á bị trì trệ từ đầu thập niên 1990 Nhân dân tệ được định giá thấp so với Dollar
Mỹ từ năm 1994 cùng nhiều nhân tố khác làm cho hàng xuất khẩu của Trung Quốc rẻ hơn so với hàng xuất khẩu cùng loại của Đông Nam Á Trong khi đó, nền kinh tế của Mỹ đang được khôi phục lại sau tình trạng suy thoái đầu những năm 1990, Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ dưới sự lãnh đạo của Alan Greenspan bắt đầu nâng lãi suất của Mỹ lên để ngăn chặn lạm phát Việc này làm cho Mỹ trở thành một thị trường hấp dẫn đầu tư hơn so với các nước ở Đông Á, và do
đó hấp dẫn những luồng vốn đầu tư ngắn hạn thông qua lãi suất ngắn hạn cao
và làm tăng giá đồng Đô La Mỹ Và do đồng tiền của các nước Đông Nam Á được neo vào Dollar Mỹ, nên xuất khẩu của các nước này trở nên kém cạnh tranh Từ mùa Xuân năm 1996, tăng trưởng trong xuất khẩu của Đông Nam Á giảm xuống một cách nhanh chóng, làm suy yếu tài khoản vãng lai của họ
4 Tấn công đầu cơ và rút vốn đồng loạt
Nguyên nhân trực tiếp của khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997 là những cuộc tấn công đầu cơ và việc rút vốn đồng loạt khỏi các nước châu Á Những nguyên nhân sâu xa nói trên rồi cũng bộc lộ Thị trường bất động sản của Thái Lan đã vỡ Một số thể chế tài chính bị phá sản Người ta không còn tin rằng chính phủ đủ khả năng giữ nổi tỷ giá hối đoái cố định Khi phát hiện thấy những điểm yếu chết người trong nền kinh tế của các nước châu Á, một số thể chế đầu cơ vĩ mô đã tiến hành tấn công tiền tệ châu Á Các nhà đầu tư nước ngoài đồng loạt rút vốn ra
Một nguyên nhân trực tiếp nữa của khủng hoảng là năng lục xử lý khủng hoảng yếu kém Nhiều nhà kinh tế cho rằng khi mới bị tấn công tiền tệ, đáng lẽ các nước châu Á phải lập tức thả nổi đồng tiền của mình chứ không nên cố sức bảo vệ tỷ giá để đến nối cạn kiệt cả dự trữ ngoại hối nhà nước mà lại càng làm cho tấn công đầu cơ thêm kéo dài
Ngoại trưởng 10 nước ASEAN lúc đó tin rằng, việc liên kết các hệ thống tiền tệ chặt chẽ là một nỗ lực thận trọng nhằm củng cố vững chắc các nền kinh tế ASEAN Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN lần thứ 30 diễn ra tại Subang Jaya, Malaysia đã thông quan một Tuyên bố chung vào ngày 25 tháng 7 năm 1997 nêu rõ mối quan ngại sâu sắc và kêu goi các nước ASEAN cần hợp tác chặt chẽ hơn nhằm bảo vệ và tăng cường lợi ích của ASEAN trong giai đoạn này Ngẫu nhiên là trong cùng ngày này, các Ngân hàng Trung ương của hầu hết các nước chịu tác động của khủng hoảng đã gặp nhau tại Thượng Hải trong Hội nghị cấp cao Đông Á Thái Bình dương EMEAP, và thất bại trong việc đưa ra một biện pháp dàn xếp cho vay mới Trước đó một năm, Bộ trưởng Tài chính của các nước này cũng đã tham dự Hội nghị Bộ trưởng Tài chính APEC lần thứ 3 tại Kyoto, Nhật Bản vào ngày 17 tháng 3 năm 1996, và theo như Tuyên bố chung,
Trang 6các bên đã không thể nhân đôi được Quỹ tài chính phục vụ cho Hiệp định chung về cho vay và Cơ chế Tài chính trong tình trạng khẩn cấp Vì vậy, cuộc khủng hoảng có thể xem như một thất bại trong việc xây dựng năng lực phù hợp kịp thời, thất bại trong việc ngăn chặn sự lôi kéo tiền tệ
Một số nhà kinh tế lại chỉ trích chính sách tài chính thắt chặt của IMF được áp dụng ở các nước xảy ra khủng hoảng càng làm cho khủng hoảng thêm trầm trọng
1 Thái Lan
Từ năm 1985 đến năm 1995, kinh tế Thái Lan tăng trưởng với tốc độ bình quân hàng năm là 9% Cuối năm 1996, báo cáo Triển vọng Kinh tế Thế giới của IMF
đã cảnh báo nền kinh tế Thái Lan tăng trưởng quá nóng và bong bóng kinh tế
có thể không giữ được lâu Cuối năm 1996, thị trường chứng khoán Thái Lan bắt đầu có sự điều chỉnh Cả mức vốn hóa thị trường vốn lẫn chỉ số thị trường chứng khoán đều giảm đi
Ngày 14 tháng 5 và ngày 15 tháng 5 năm 1997, đồng baht Thái bị tấn công đầu
cơ quy mô lớn Ngày 30 tháng 6, thủ tướng Thái Lan Chavalit Yongchaiyudh tuyên bố sẽ không phá giá baht, song rốt cục lại thả nổi baht vào ngày 2 tháng
7 Baht ngay lập tức mất giá gần 50% Vào tháng 1 năm 1998, nó đã xuống đến mức 56 baht mới đổi được 1 dollar Mỹ Chỉ số thị trường chứng khoán Thái Lan đã tụt từ mức 1.280 cuối năm 1995 xuống còn 372 cuối năm 1997 Đồng thời, mức vốn hóa thị trường vốn giảm từ 141,5 tỷ USD xuống còn 23,5 tỷ USD Finance One, công ty tài chính lớn nhất của Thái Lan bị phá sản Ngày
11 tháng 8, IMF tuyên bố sẽ cung cấp một gói cứu trợ trị giá 16 tỷ dollar Mỹ cho Thái Lan Ngày 20 tháng 8, IMF thông qua một gói cứu trợ nữa trị giá 3,9
tỷ dollar
a) Các tiền đề và cơ chế hình thành cuộc khủng hoảng
Thái Lan bắt đầu thời kỳ công nghiệp hóa đất nước từ năm 1961, khi bắt đầu kế hoạch phát triển năm năm lần thứ nhất Tốc độ tăng trưởng GDP trong thập niên 60 khoảng 8%/năm, trong thập niên 70 khoảng 7%/năm và trong thập niên 80 khoảng 8%/năm Tổng sản phẩm nội địa theo đầu người tăng từ mức 440 USD năm 1995 lên
3012 USD năm 1996 Nông nghiệp chiếm tỷ trọng 39% trong nền kinh tế vào năm 1961 giảm xuống còn 26,7% năm 1976 và chỉ còn 10,4% năm 1996 Giá trị xuất khẩu theo đầu người đạt 630 USD/ người năm 1991 đã tăng lên 1177 USD/Người năm 1996
Trang 7Như vậy, nhìn vào tốc độ tăng trưởng GDP của Thái Lan suốt hơn ba thập kỷ từ
1961 đến 1996, ta thấy rất đáng yên tâm, vì tốc độ GDP bình quân hàng năm luôn từ 7% đến 8% Thái Lan lúc này được cả thế giới khâm phục và ví như một con hổ của châu Á
b) Các doanh nghiệp kinh doanh ngày càng kém hiệu quả
Tăng trưởng GDP ở mức cao, kéo dài nhiều thập kỷ, cộng với lãi suất tiết kiệm trong nước cao (bình quân tại thời điểm bấy giờ là 16,3%, trong khi ở Mỹ là 7,6%) và tỷ giá hối đoái gần như cố định đã tạo nên một môi trường kinh doanh hấp dẫn với các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là đầu tư tài chính, cho vay ngắn hạn và tín dụng thương mại Như vậy, các doanh nghiệp trong nước, nếu vay vốn trực tiếp từ các ngân hàng, công ty nước ngoài như Mỹ thì chỉ chịu lãi suất khoảng ½ lãi suất vay trong nước Nếu các doanh nghiệp tận dụng khả năng sử dụng vốn bên ngoài này không quan tâm thực sự đến hiệu quả sử dụng vốn vay thì hiệu quả kinh tế sẽ giảm, dù tổng giá trị sản lượng có thể tăng
Một điểm đặc biệt ở Thái Lan là trong giai đoạn 1991-1996, đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào Thái Lan chiếm tỷ trọng rất nhỏ so với đầu tư tài chính (gián tiếp) và sử dụng vốn vay ngắn hạn của nước ngoài Tổng đầu tư trực tiếp thời kỳ này là 11,791 tỷ USD, tổng đầu tư trực tiếp thuần là 2,857 tỷ USD, do vậy tổng đầu tư gián tiếp thuần là 8,844 tỷ USD Trong khi đó, tổng đầu tư tài chính thuần (cổ phần, trái phiếu) là 16,4 tỷ USD, và tổng vay ngắn hạn thuần là 60,4 tỷ USD Như vậy, trong tổng số vốn nước ngoài thuần đã đổ vào Thái Lan thời kỳ 1991 -1996 là 85,293 tỷ USD thì đầu tư trực tiếp chỉ chiếm 10,36% (8,844 tỷ USD), đầu tư gián tiếp 19,23% (16,404 tỷ USD) và tín dụng, vay ngắn hạn tới 70,4% Việc sử dụng tới gần 90% tổng đầu tư tài chính thuần và tín dụng ngắn hạn sẽ tạo áp lực tài chính rất lớn lên các công ty, vì phải trả lãi thường xuyên
và bằng ngoại tệ, hậu quả là nếu quản lý kinh doanh không tốt thì hiệu quả sản xuất kinh doanh của các công ty sẽ thấp Và thực tế, tỷ suất thu hồi hay tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA) bình quân của các doanh nghiệp đã giảm từ 8%/năm vài năm 1991 xuống chỉ còn 1%/năm vào năm 1996 Trong một nền kinh tế mà lãi suất cho vay là 16,3%/năm còn hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là 1%/năm thì rõ ràng đã đang tích lũy nguy
cơ khủng hoảng “phá sản doanh nghiệp”
Trang 8Bảng 5: Số liệu nền kinh tế Thái Lan giai đoạn 1991 - 1998
Nhập khẩu (tỷ USD) -34.2 -36.2 -40.1 -48.2 -63.4 -60.9 -55.1 -40.6
Cán cân Thương mại (Tỷ
Cán cân tài khoản vãng lai
Cán cân tài khoản vốn (tỷ
Tổng(91-96)=-85.29 Đầu tư trực tiếp thuần (tỷ
Tổng(91-96)=8.844 Đầu tư tài chính thuần (cổ
phiếu, trái phiếu, tỷ USD) -0.08 0.92 5.45 7.48 4.18 5.54 4.36
Tổng(91-96)=16.4 Đầu tư khác thuần (tỷ USD) 9.99 6.58 3.47 8.81 16.6 14.5 23.5 Tổng(91-96)=60.04
Nợ nước ngoài (tỷ USD) 35.99 39.61 45.84 60.99 65.0 49.0 97.0
Dự trữ ngoại tệ (tỷ USD) 18.4 21.2 25.4 30.3 37.0 38.7 23.0 29.5
Đầu tư cố định tính bằng %
c) Ngân hàng kinh doanh ngày càng kém hiệu quả
Trước nhu cầu vốn của các doanh nghiệp và do có phần thiếu kiểm soát hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp đi vay nên các ngân hang và các công ty tài chính Thái Lan đã rất tích cực vay nợ từ nước ngoài để tài trợ cho doanh nghiệp trong nước Tổng số
nợ nước ngoài của hệ thống ngân hang Thái Lan so với cung tiền đã tăng từ 2,8% năm
1991 lên 28,69% năm 1996 Tổng số nợ nước ngoài so với tổng số tài sản nước ngoài mà
hệ thống ngân hàng đang có tăng từ 171% năm 1991 lên 694% năm 1996 Trong cùng thời gian này, tỷ lệ lợi nhuận trên tài sản ROA của hệ thống ngân hang thái lan đã giảm
Trang 9chỉ còn 0,99%/năm Rõ ràng, Thái Lan đang tích lũy nguy cơ khủng hoảng thứ hai “phá sản các ngân hàng”
d) Quốc gia tiến đến bờ vực mất khả năng thanh toán
Trong suốt các năm 1991-1996, cán cân thương mại của Thái Lan luôn bị thâm hụt, tổng cộng là 35,26 tỷ USD Thâm hụt tài khoảng vãng lai năm 1996 tới 14,7 tỷ USD Một lý do của tình trạng này là do xuất khẩu bị kìm hãm, nhập khẩu được khuyến khích khi tỷ giá danh nghĩa gần như cố định (25 Baht/USD), lạm phát trong nước cao hơn so với ở Mỹ (5% so với 3%) làm cho đồng Baht bị lên giá so với đồng USD Để bù đắp khoản thâm hụt cán cân thương mại 35,26 tỷ USD và để có vốn đầu tư với mức 40% GDP mỗi năm thì con đường không tránh khỏi là phải vay tiền nước ngoài (từ các ngân hàng, doanh nghiệp, nhà đầu tư tài chính, chính phủ các nước…) Vì vậy, nợ nước ngoài của Thái Lan không ngừng tăng từ 35,99 tỷ USD năm 1991 lên 89 tỷ USD năm 1996, gấp 2,47 lần trong vòng 5 năm và bằng 54% GDP Mặc dù số nợ này được dung để tăng
dự trữ Quốc gia, từ 18,4 tỷ USD năm 1991 lên 38,7 tỷ USD năm 1996, song do đầu tư tài chính và tín dụng chiếm tới 90% tổng vốn đầu tư từ nước ngoài hàng năm, nên số nợ ngắn hạn chiếm tỷ trọng tới 67% tổng số nợ nước ngoài năm 1995 và 51% năm 1996, và
nợ ngắn hạn năm 1995 và 1996 gấp gần 1,18 lần dự trữ ngoại tệ quốc gia Tức là Thái Lan đã mất khả năng thanh toán nợ nước ngoài từ năm 1995 Nếu như các nhà đầu tư Thái Lan cũng phải thả nổi đồng Baht, thì chính họ sẽ bán cổ phiếu, trái phiếu, đòi nợ ngắn hạn, đổi từ tiền Baht ra USD, làm tăng cầu ngoại tệ đột ngột Kết quả là tỷ giá hối đoái sẽ tăng, dự trữ ngoại tệ cạn kiện, nguy cơ mất khả năng thanh toán của quốc gia sẽ ngày càng cao Đến tháng 6 năm 1997, nợ nước ngoài ngắn hạn đã bằng 1,5 lần dự trữ ngoại tệ của Thái Lan
Tóm lại, cuối năm 1996 và đầu năm 1997, ở Thái Lan đã xuất hiện đầy đủ 4 nguy
cơ khủng hoảng ở mức cao, có thể tóm tắt trong mô hình:
Trang 10Sơ đồ 1: Các tiền đề và cơ chế khủng hoảng kinh tế - tài chính ở Thái lan 1997:
e) Sự bùng phát của cuộc khủng hoảng
Khi đã xuất hiện 4 nguy cơ khủng hoảng những người có đủ thông tin về các nguy
cơ này tất sẽ lo lắng và việc lo sợ các ngân hàng và tổ chức tài chính phá sản sẽ thúc đẩy
họ rút tiền ra khỏi các tổ chức này Lo sợ tỷ giá hối đoái tăng, đồng tiền Baht mất giá sẽ khiến họ đổ xô đi mua USD, làm cầu USD tăng
Tích lũy nguy cơ
khủng hoảng
Doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu quả, tỷ suất lợi nhuận 1%/năm
Ngân hàng, công ty tài chính kém hiệu quả, tỷ suất lợi nhuận 0,99%/
năm
Tỷ giá hối đoái gần như cố định
(25,34 bath/USD), đồng Baht bị lên
giá 25%, thâm hụt tài khoản vãng lai
14,7 tỷ
Nguy cơ Quốc gia mất khả năng
thanh toán 1996: Nợ nước ngoài
ngắn hạn: 45,7 tỷ USD, dự trữ
ngoại tệ: 38,7 USD, thâm hụt tài
khoản vãng lai 14,69 tỷ USD
Nội tệ mất giá nhanh từ 3.1997
Các nhà đầu tư nước ngoài rút vốn và đổi
ra ngoại tệ
Người dân rút tiền tiết kiệm, mua ngoại tệ, vàng
Ngân hàng, Công
ty tài chính phá
Doanh nghiệp phá sản hàng loạt Khủng hoảng
Tác động nhanh
từ 3/1997
Tác động chậm từ 12-1997
Tác động nhanh từ 1/1997
1
2
3 4