1 Blank Page Blank Page Blank Page 2 3 4 5Khí công học và y học hiện đại ngô gia hy Khí công học và y học hiện đại ngô gia hy Khí công học và y học hiện đại ngô gia hy Khí công học và y học hiện đại ngô gia hy
Trang 1
y
Trang 2Gido sự Ïhợc sĩ NũÔ GIÁ HY, _ BUI LUU YEM va NGO GIA LUONG
KHÍ CÔNG HOC
Y HOC HIỆN ĐẠI
(Tái bản có sửa chữa, bô sung)
Luyện Khí công tăng cường sức khỏe,
phòng bệnh và chữa bệnh
NHÀ XUẤT BẢN ĐỒNG NAI
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Khoa hoc khong bo bén: Khi céng vé phuong dién (go ra sức khỏe, rèn luyện con người, 0à huy động năng lượng của cơ thé sau khi thu hit năng lượng của
Uũ trụ, là một bộ môn khoa học còn nhiều bí ẩn
Tập sách Khí công và y học hiện đại xưối bản lân thứ ba này nhằm mục tiêu hệ thống hóa lại những hiểu biết hạn chế của chúng tôi uề Khí công uề
phương điện trên, đông thời hoàn chỉnh thêm những
từng cấp bậc một, lấy Điêu tức uà điều hòa Âm Dương làm căn bản Nội công là trọng tâm Khí công thượng thừa làm bước uươn tới, uới dụng ý hướng dân người tập bước dân từ thấp tới cao, tuyệt đối không nôn
Trang 5nóng Đừng quên rằng tập Khí công là tập suốt đời va
có trình tự, tự biểm soát uà tự điều chỉnh những sai
bệnh Khí công chủ yếu điều chỉnh những rối loạn cơ
năng của các cơ quan va không có tham uọng xóa Đó những tổn thương thục thể Đây là lãnh vue liên hệ tới con người uới muôn 0uàn điều chưa biết, nói gì đến hiểu Theo thiển ý, Khí công, trong đại đa số trường hợp chỉ là liệu pháp hỗ trợ đắc lực, chưa phối là liệu phóp trị bệnh tận gốc Vả chăng, uiệc chấn đoán bệnh một cách chính xác là bước đầu 0uô cùng quan trọng
va la co sở cho điều trị Chấn đoán sai, mà cú điều trị
là phản bhoa học, nếu hông muốn nói là hạt người
va giết người
Ngoài Y học, Khí công còn là cơ sở cho Võ thuật uới nhiều môn phái, trường phái Về lãnh uực này,
chúng tôi không dám lạm bàn Cũng như uậy, nhiều
bạn đọc thường đặt câu hỏi Thiên va Khí công có
bhác nhau không? Xin thưa lại một lần nữa: Thiên 0ò Khí công có nhiều điểm tương đồng, nhưng Thiên cao, Khí công thấp
Sơu cùng, tìm hiểu va khai thác năng luc cua con người đương là xu thế của thời đạt mà Khí công là
1 Khí công liệu pháp cũng không vượt khỏi được quy luật này
Trang 6một dạng năng lực tiềm dn nên chúng tôi đang tích
cực nghiên cứu theo phương hướng này sẽ trình bày
uới các bạn thành những chuyên đê
Lập ngôn, quả là một thách đố, nhưng nếu
không lập ngôn thì làm sơo đón nhận được những lời
chỉ dẫn để mù học hỏi Một lần nữa, sách nay viet ra
là để được trao đổi uò học hỏi Xin chân thành cam ta các bạn đọc trước uới lòng tin tưởng rằng: chúng tôi
sẽ duoc toal nguyén
NGO GIA HY
Trang 8PHAN |
CO SO CUA
KHI CONG
Trang 10_ khuôn viên đền chùa hay võ đường
Ngay ở thế kỷ này, cách đâu 50 năm, những bậc thầu về Khí công
cũng chỉ truyền đạt cho con trai hay một số người thân tín; do đó, đã có một thời Khí công được coi như một môn tập luyện thân bí
Ngoài ra, Khí công mà tập sai sẽ không mang lại kết quả, đôi khi còn
gây hại nên nhiều người không dám tập; vì vậy lại thêm phan cham phat
trién
Khí công lấy Kinh Dịch với nguyên lý Âm Dương, rồi sau đó là thuyết
Ngũ Hành làm cơ sở chính |
Trang 11KHÍ CONG HOC VA Y HọC HIỆN ĐẠI
Người sáng lập r ra Kinh Dịch là Vua Phục Hy (4477 - 4363 TCN) lập
ra Hà Đồ, Tiên Thiên Bát Quái và Trùng Quái với 64 quẻ; sau đó Đại Vũ ở thời nhà Hạ (2205 - 1766 TCN) lập ra Lạc Thư Hơn 1000 năm sau, dưới
đời nhà Chu (1100 - 22 TCN), Chu Văn Vương dùng văn tự để giải thích các
quẻ (thoán từ) và lập ra Hậu thiên Bát quái, rồi đến Chu Công Đán (Chu
Công) đặt ra hào từ hay tượng từ cho mỗi quẻ
Thoán từ và hào từ được trình bày rất cô đọng nhưng khó hiểu;
phổ biến vào đại chúng
Hình I-1 Hình ảnh động công dưới thời Tây Hán ở Trung Quốc, trong sách Khí
công bằng lụa đào thấy vào năm 1979
Vào những năm gan đây, người ta đã tìm thấy được những di tích
chú khảo trên đồng đen và những hình vẽ trên lụa, thực hiện vào thởi nhà
Chu, mô tả các động tác thể dục trị bệnh kết hợp với hơi thở (168 TCN)
Trang 12C6 86 DONG 9 CỦA KHI CONG
Bộ sách nổi tiếng vận dụng Âm Dương vào Y học là cuốn "Hoàng
Đế Nội Kinh" trong đó nói: "Âm Dương là đạo của Trời Đất, giềng mối của muôn vật, cha mẹ của biến hóa" lấy "sinh trưởng thu tàn" của bốn mùa làm
nguồn gốc bảo dưỡng mạng sống
Hoàng Đế Nội Kinh mang tên vua Hoàng Đế, một thủy tổ của Trung Quốc, sống vào khoảng 4670 năm trước đây, nhưng thực ra sách
không thể soạn thảo vào thời đó được,
vì chưa có văn tự Các học giả cho
rằng bộ sách này được viết vào thời
Tan - Han và do một tập thể hoàn
thành
Hoàng Đế Nội Kinh đề cập tới
Khí dưới nhiều nghĩa khác nhau; trong
đó có nghĩa chức năng của tạng-phủ;
phẩn bổ ích cho Khí công chính là
chương bàn về kinh mạch bệnh
Thuyết Ngũ hành dựa vào
nguyên lú Âm Dương của Thái cực lập
ra Thái cực động sinh Âm Dương, Âm
Dương biến hóa, Dương biến, Âm hợp
tuần tự sinh ra Ngũ hành: Thủy rôi
Hỏa, Mộc, Kim, Thổ
Ngũ hành phối hợp với vạn
vật và vận hành theo quy luật tương
sinh tương khắc để thúc day sự biến
hóa Dựa vào quy luật này, Khí công
lập ra một số phương pháp tập luyện
Trong quá trình phát triển,
giao lưu quốc tế, Khí công sau này
chịu ảnh hưởng của Phật giáo từ Ấn
Độ vào Trung Quốc và lập ra Dịch
Cân kinh, nên Khí công không tránh được ảnh hưởng của Yoga với phương ' pháp luyện Luân xa (Chakra) (Hình I-2)
Vì vậu, hiện thời có nhiều trường phái Khí công
Hình I-2 Đạt Ma Sư Tổ
Trang 13KHÍ CÔNG HỌC 9Â Ý HỌC HIỆN ĐẠI
NHỮNG TRƯỜNG PHÁIT KHÍ CÔNG
Có năm trường phái Khí công chính: trường phái Lão học, trường phái Phật học, trường phái Khổng học, trường phái y học, trường phái võ thuật
1- Trường phái Lão học
Lão tử (604-511T.C.N.) sống cùng thời với Không tử Không tử có công san định Kinh Dịch như đã nói trên, và từ những tư tưởng của người xưa, lập nên một thể giới quan và một nhân sinh quan dựa trên đức Nhân,
để xây dựng một trật tự xã hội trong cái thế Chiến quốc của thời phong
kiến Lão tử, trước cảnh điêu linh thống khổ của dân chúng, cũng lập nên
một học thuyết nhất quán: về vũ trụ và con người: "Sinh ra vạn vật không
phải là Trời mà là Đạo" "Có một vật do sự hỗn hỡp mà thành, vừa trống không, vừa yên lặng, đứng yên một mình mà không biến cải, trôi đi mọi nơi
mà không thôi, nó là mẹ đẻ của thiên hạ Ta không biết nó là gì, phải đặt
tên chữ cho nó là Đạo."
Đạo là gốc của van vật nhưng để vạn vật hình thành và tồn tại, phải nhờ Đức "Đạo sinh ra nó Đức nuôi nấng nó." Vũ trụ tuần hành không ngừng theo luật tự nhiên và luật mâu thuẫn, nhưng sau cùng vạn vật
lại trở về với Đạo "Ôi vạn vât trùng trùng đều trở về với cội nguồn của nó." (Đạo đức kinh) - - ˆ
Đạo của Lão Tử như vậy giống như Thái cực của Dịch Còn Đức là
Âm Dương sinh ra Ngũ hành và muôn vật Ngũ hành biến hóa nhưng sau
cùng cũng trở về với Thái cực Từ học thuyết Đạo Đức, Lão Tử lập ra chủ nghĩa Vô vi Vô vi ở đâu không có nghĩa là không làm mà là làm theo tự nhiên, nên mới nói rằng "Không làm mà không có cái gì là không làm",
"Làm mà không cậy công", “Thành công mà không Ở lại”
Ngược với học thuyết của Khống Tử lấy Nhân, Nghĩa, Lễ làm phương châm xử thế, Lão Tử cho rằng Nhân, Nghĩa, Lễ là hữu vi; "Mất
Đạo mới có Nhân, mất Nhân mới có Nghĩa, mất Nghĩa mới có Lễ"
"Đạo của Trời
Bot ché du
Bù chỗ thiếu "
Trang 14C6 86 DONG Y CUA KHi CONG Bot ché thiéu
hư vô, tức là Đạo "Bởi vì cái thể của Đạo là trống không, nhưng cái dụng
của nó thì vô tận", nên trở về với Đạo là bất diệt "Người đã sống được với
bẩm tính của mình, đồng thời với bản thể của Đạo, thì làm sao chết được,
Đạo nhiếp sinh của Lão Tử dựa vào thuật luyện đan
Luyện đan của Lão Tử là luyện ba huyệt Đan điền trên cơ thể, tức
là Đan điền Tinh, Đan điền Khí, Đan điền Thần
Tinh, Khí, Thần là ba phan của con người, nó trụ ở ba Đan điền trên cơ thể, tạo ra đời sống vật chất, tinh thần và tình cảm
Tinh là gốc của sinh trưởng gồm phần bẩm sinh do cha mẹ truyền lại trong bào thai và phần hấp thu sau này do ăn uống Khí là tinh hoa của
Trời Đất mà ta thu thập được và chu lưu khắp cơ thể Thần bao gồm ý thức, tư tưởng và tình cảm Giữa Tinh, Khí, Thần có mối quan hệ mật thiết hai chiều để duy trì sự sống và sức sống Tỉnh hóa Khí Nhưng Tỉnh cần có
Khí mới vận hành được Thần sinh ra từ Khí, nhưng sau cùng chính Thần
lại là chủ thể để vận dụng Tỉnh, Khí nên mới nói giữ được Thần thì sống, mất Thần thì chết Luyện đơn là luyện để làm chủ được Tỉnh, Khí, sau cùng luyện Thần là để hòa mình vào cảnh giới hư không
Bí quyết của phương pháp luyện Tỉnh, Khí, Thân là lấy tâm pháp
diệt ái dục, để Tỉnh đầy đủ, rồi từ đó Khí sung mãn và Thần vững vàng;
Than không còn dao động sẽ hòa đồng với vũ trụ
Còn phương châm xử thể thì có thé thu gọn vào một câu Đạo của Thánh nhân, làm mà không tranh” Câu này cũng là câu chót của Đạo Đức kinh _
Trong những người nối nghiệp Lão Tử, phải kể đến Trang Tử (300- 295T.C.N.), với cuốn Nam Hoa kinh Trang Tử nói là con người thật sự phải
thở đến gót chân - ý muốn nói phải biết thu hút Khí và thoát Khí từ bàn chân
Trang 15KHI CONG HOC VA Y HOC HIEN DAI
Trang Tử cũng quan niệm vạn vật là một, nên bình đẳng, luôn luôn
biến hóa do đó sống và chết chỉ là thay đổi hình thể Lự tương đối cũng chỉ phối mọi sự vật, nên ở cảnh nào phải vui với cảnh ấu, và trong đạo dưỡng
sinh, cần “72uận theo con đường giữa ” | |
Trang Tử cũng chủ trương hòa mình với vạn vật và thuận theo tự
nhiên bởi vì vạn vật là một "Git Tam cho diém dam, Khi cho diém tinh, thuận theo tinh tu nhiên của mọi vật mà không theo Ú riêng của mình, thi
thién ha tri vay."
2- Trường phái Phat hoc
Phật giáo cũng quan niệm vạn vật đồng nhất thể, và mọi người đều
có tâm Phật; con người bị ràng buộc vào 12 nhân duyên nên mới sinh nghiệp và chịu luân hỏi, theo luật nhân quả Tu Phật là diệt thất tình, và tập luyện Trí Huệ bát nhã Ba La Mật, đạt tới vô niệm, vô tưởng, vô trụ, tức là tâm vô sai biệt, tâm bình đẳng như như
Một phương pháp để đạt được mục tiêu này là quán giống như
dhyana clia Yoga va Thién định, bát nhã vô niệm
Ở Trung Quốc, vào đời nhà Lương, Đạt ma Sư tổ (525 TCN) soạn
Dịch Cân Kinh và lập ra phái võ thuật Thiếu Lâm (337 TCN) và phổ bién phương pháp Thiền Sau này, dưới đời nhà Tống (1104 - 1142), xuất xứ từ
Dịch Cân Kinh có những môr: võ thuật như Thập nhị đoạn cẩm" và "Bát đoạn cẩm", Ngũ cam hí" tương tự như Ngũ cầm hi của Hoa Đà; Ngũ cầm của Hoa Đà là hổ, gấu, nai, hầu và hạc
3- Trường phái Không học:
Không Tử (khoảng 500 năm TCN) và Mạnh Tử (khoảng 300 năm
TCN) lập ra thuyết Nhân Nghĩa và Đạo trung dung trong xử thế Riêng vẻ -
Khí công người tap luyện phải làm chủ được tư tưởng, và có đức độ Sau này, những thi sĩ nổi tiếng như Lý Thái Bạch, Tô Đông Pha, Bạch Cư Dị, Thân Tôn Trung cũng lấy Khí công để rèn luyện tâm trí
4- Trường phái y học:
Trong y học Trung Quốc, có hai phương pháp nghiên cứu:
thương pháp Ngoại tượng giải phẫu, tức tìm hiểu cơ thể con người bằng phẫu tích, hay bằng các nghiên cứu vật lý như y học hiện đại tại các
Trang 16CỚ SỞ ĐÓNG ¥ CUA KHi CONG
Phương pháp Nội thị công phu, trong đó học giả bằng nội quan, tự nhận xét những biến động của cơ thể trong mối tương quan với ngoại cảnh Chính qua phương pháp thứ hai này mà người xưa khám phá ra Khí, Khí ở trong cơ thể cũng như ở ngoài cơ thể, rồi dựa vào Kinh Dịch và thuyết Âm
Dương quân bình với thuyết Ngũ hành sinh khắc mà xây dựng Khí công
trong điều trị
về sự liên quan giữa Khí và tự nhiên; và cuốn 7 lac ludn", mé ta su tuan
hoàn của Khí trong cơ thể và là căn bản cho khoa châm cứu
Dưới đời nhà Tùy và nhà Đường (581 - 907 SCN) có:
- Sảo Nguyên Phương, soạn ra cuốn "Chư bệnh, nguyên hậu luận”,
mà có thể coi như là cuốn bách khoa về các phương pháp luyện Khí (260
phương pháp)
- Tôn Tử Mạc, trong cuốn "Thiên Kim Phương", dùng 6 tiếng phát
âm liên hệ tới phủ tạng để vận khí và hướng dẫn 49 cách xoa bóp
thở và dược thảo để điều trị những rối loạn lưu thông của Khí
Dưới thời nhà Tống, Kim, Nguyên (960 - 1368 SCN) có nhiều công trình quý giá về Khí công, như cuốn:
- "Dưỡng sinh quuết" của Trưởng An Đạo, bàn về tập luyện Khí
- "Nhu môn thị sự" của Trưởng Tử Hòa, nói về cách dùng Khí công
điều trị ngoại thương
- "Lan thất bí tàng" của Lự Quả, luận về cây cỏ điều trị nội thương
- "Cách trí dư luận" của Chu Đan Khuê, trình bày cơ chế trị bệnh
_ bằng Khí công Cũng nên nhắc lại là chính dưới thời nhà Tống (960 - 1279
SCN) mà Trương Tam Phong lập ra Thái Cực Quyên
'Rồi vào năm 1026 SCN, Vương Duy Nhất đúc tượng đồng thau, trên
đó vạch ra các kinh mạch và đục lỗ huyệt để học châm cứu cho dễ và có hệ
Dưới thời nhà Minh và nhà Thanh (1368 - 1911 SCN), phai kể tới:
- Cuốn "Kỳ kinh bát mạch khảo" của Lý Thì Trân, luận về liên hệ giữa Khí và kinh mạch
Trang 17KHI CONG HOC VA Y HOC HIEN DAI
- Cuốn "Bảo thân bí yếu" của Tào Nguyên Bạch, luận về động công
va tinh công
- Cuốn "Dưỡng sinh phụ ngữ" của Trần Kế Như, luận về Tỉnh - Khi -
Thần, và hướng dẫn phương pháp tiết dục để tồn tỉnh
- Cuốn "Y phương tập giới" của Uông Tần Yêm, tổng hợp những kinh sách nói về Khí công
9- Trường phái võ thuật:
Khí công bắt đầu được áp dụng từ năm 200 TCN vào võ thuật; khi
đã có kiến thức vững chắc về Khí, vận khí vào đường kinh mạch, phát khí và truyền khí
Nói tới Khí công trong võ thuật, phải nghĩ ngay tới Thiếu Lâm võ thuật, và Thái Cực Quyên Thiếu Lâm võ thuật xuất phát từ Dịch Cân Kinh của Đạt Ma Sư Tổ Cũng từ Dịch Cân Kinh, có Ngũ cầm hí (hổ, báo, rồng, hạc, rắn) và nhất là Thiết bố sam
Thiết bố sam là một phương pháp tập luyện làm cho thân thể thành mình đồng da sắt Thiết bố sam rất phổ biến ở Trung Quốc từ năm 1000
TCN
Cơ thể có ba lớp: lớp nội tạng, lớp cân-gân-cốt và lớp cơ được bao bọc bởi da Cân bao bọc các cơ quan như tim có tâm bào, và có công dụng che chở, nuôi dưỡng, tái sinh Thiết bố sam Khí công là phương pháp tập luyện để phát triển và vận khí trong Cân và trong gân cốt Riêng trong xương, Khí có công dụng tái sinh tủy xương và từ đó sinh ra huyết câu Đối với Phủ tạng, để phát triển tối đa Khí trong Cân, nên tập theo giờ vận chuyển của các Kinh liên hệ |
Thái cực quyền của Trương Tam Phong (Hình I-3) kết hợp chặt chẽ giữa Khí công và các động tác mà căn bản là luật biến động của Âm Dương
trong Thái cực đồ Thái cực quyền có nhiều chiêu thức với vào khoảng 108 thế, và được giữ bí mật cho tới thế kỷ 19 mới được Dương Lộ Thiên (1780 -
1873), học trò của Trần Phương Hưng, phổ biến ra ngoài Sau này, Ngô Giảm Tuyến lập ra một phái riêng (Ngô phái) thịnh hành ở Hồng Kông, Singapore, Mã Lai Rồi Dương Trung Phủ (1883 - 1935) lập ra Dương gia Thái cực quyền (Tai Chi) được ưa chuộng ở Âu châu, Bắc Mỹ châu
Ngoài ra, tướng Nhạc Phi ở triều đại Nam Tống đã lập ra nhiều
Trang 18-_ CỚ SỞ ĐÔNG 3 CỦA tHÍ CÔNG Phương pháp Nội thị công phu, trong đó học giả bằng nội quan, tự nhận xét những biến động của cơ thể trong mối tương quan với ngoại cảnh
Chính qua phương pháp thứ hai này mà người xưa khám phá ra Khí, Khí ở
trong cơ thể cũng như ở ngoài cơ thể, rồi dựa vào Kinh Dịch và thuyết Âm
Dương quân bình với thuyết Ngũ hành sinh khắc mà xây dựng Khí công trong điều trị
Hai cuốn sách có bàn nhiều tới Khí công là: cuốn 'h/ hóa luận”, nói
về sự liên quan giữa Khí và tự nhiên; và cuốn "Kinh Jac ludn", m6 ta su tuan
hoàn của Khí trong cơ thể và là căn bản cho khoa châm cứu
— Dưới đời nhà Tùy và nhà Đường (581 - 907 SCN) có:
- Sảo Nguyên Phương, soạn ra cuốn "Chư bệnh, nguyên hậu luận",
mà có thể coi như là cuốn bách khoa về các phương pháp luyện Khí (260 phương pháp)
- Tôn Tử Mạc, trong cuốn "Thiên Kim Phương, dùng 6 tiếng phát
âm liên hệ tới phủ tạng để vận khí và hướng dẫn 49 cách xoa bóp
thở và dược thảo để điều trị những rối loạn lưu thông của Khi
Dưới thời nhà Tống, Kim, Nguyên (960 - 1368 SCN) có nhiều công trình quý giá về Khí công, như cuốn:
- "Dưỡng sinh quyết" của Trưởng An Đạo, bàn về tập luyện Khí công | |
_~ "Nhu môn thị sự" của Trưởng Tử Hòa, nói về cách dùng Khí công điều trị ngoại thương |
- "Lan thất bí tàng" của Lý Quả, luận về cây cỏ điều trị nội thương
~ "Cách trí dư luận" của Chu Đan Khuê, trình bày cơ chế trị bệnh
_ bằng Khí công Cũng nên nhắc lại là chính dưới thời nhà Tống (960 - 1279
SCN) ma Truong Tam Phong lập ra Thái Cực Quyên
Rồi vào năm 1026 SCN, Vương Duy Nhất đúc tượng đồng thau, trên
đó vạch ra các kinh mạch và đục lỗ huyệt để học châm cứu cho dễ và có hệ thống
Dưới thời nhà Minh và nhà Thanh (1368 - 1911 SN), phải kể tới: ©
- Cuốn "Kỳ kinh bát mạch khảo" của Lý Thì Trân, luận về liên hệ
giữa Khí và kinh mạch :
Trang 19KHÍ CÔNG HỌC VÀ 9 HỌC HIỆN ĐẠI
- Cuốn "Bảo thân bí yếu" của Tào Nguyên Bạch, luận về động công
va tinh công
Thân, và hướng dẫn phương pháp tiết dục để tồn tinh
- Cuốn "Y phương tập giới" của Uông Tản Yêm, tổng hợp những kinh sách nói về Khí công
9- Trường phái võ thuật:
Khí công bắt đầu được áp dụng từ năm 200 TCN vào võ thuật; khi
đã có kiến thức vững chắc về Khí, vận khí vào đường kinh mạch, phát khí và truyền khí
Nói tới Khí công trong võ thuật, phải nghĩ ngay tới Thiếu Lâm võ
thuật, và Thái Cực Quyên Thiếu Lâm võ thuật xuất phát từ Dịch Cân Kinh của Đạt Ma Sư Tổ Cũng từ Dịch Cân Kinh, có Ngũ cầm hí (hổ, báo, rồng, hạc, rắn) và nhất là Thiết bố sam
Thiết bố sam là một phương pháp tập luyện làm cho thân thể thành mình đồng da sắt Thiết bố sam rất phổ biến ở Trung Quốc từ năm 1000
TCN
Co thể có ba lớp: lớp nội tạng, lớp cân-gân-cốt và lớp cơ được bao bọc bởi da Cân bao bọc các cơ quan như tim có tâm bào, và có công dụng
che chở, nuôi dưỡng, tái sinh Thiết bố sam Khí công là phương pháp tập
luyện để phát triển và vận khí trong Cân và trong gân cốt Riêng trong xương, Khí có công dung tái sinh tủy xương va từ đó sinh ra huyết câu Đối với Phủ tạng, để phát triển tối đa Khí trong Cân, nên tập theo giờ vận chuyển của các Kinh liên hệ
Thái cực quyền của Trương Tam Phong (Hình I-3) kết hợp chặt chẽ giữa Khí công và các động tác mà căn bản là luật biến động của Am Dương trong Thái cực đồ Thái cực quyền có nhiều chiêu thức với vào khoảng 108 thế, và được giữ bí mật cho tới thế kỷ 19 mới được Dương Lộ Thiên (1780 - 1873), học trò của Tran Phuong Hung, phổ biến ra ngoài Sau này, Ngô
Giảm Tuyến lập ra một phái riêng (Ngô phái) thịnh hành ở Hồng Kông,
Singapore, Mã Lai Rồi Dương Trung Phủ (1883 - 1935) lập ra Dương gia Thái cực quyền (Tai Chi) được ưa chuộng ở Âu châu, Bắc Mỹ châu
Ngoài ra, tướng Nhạc Phi ở triều đại Nam Tống đã lập ra nhiều
Trang 20CƠ SỞ ĐÔNG Ÿ CỦA KHÍ CÔNG
là Bát đoạn cẩm; cũng nổi tiếng vào thời đó có phái Nga Mi tại vùng Tứ
Xuyên phát triển Hồ bộ công và Thập nhị thế
Đã có một thời, Khiếu hóa
công, là môn võ thuật của những nhà
hành khất, được nhiều người tập
luyện nhưng réi bi tan lui dan
Dưới đây là một số phương
pháp tấn công của Khí công võ thuật
a) Điểm huyệt
Có tất cả 108 huyệt mà có
thể điểm để đánh bại đối phương,
trong đó có 36 huyệt chính và 12
huyệt trọng yếu mà điểm mạnh có thể
gâu tổn thương nặng hay tử vong, với
điều kiện là điểm đúng giờ vận chuyển
của kinh mạch liên hệ, như huyệt
Thái dương liên hệ tới Kinh vị vào giờ
vào Thái dương có thể làm bế động Hình I-3 Trương Tam Phong
hoặc làm bệnh nhân ngất nếu đánh nhẹ
- Làm tổn thương một cơ quan Trong "Khí quan đả", đánh mạnh vào vùng tùng mặt trời làm tim bị kích ngất, có thể đưa đến tử vong; đánh
mạnh vào vùng gan có thể làm vỡ gan |
Trang 21
KHI CONG HOC VÀ 9 HỌC HIỆN ĐẠI
_ ~ Làm Khí đình trệ tại một vùng của cơ thể và gây tổn thương nặng dần Thí dụ, đánh mạnh vào các huyệt của Đốc mạch có thé làm giảm chức năng của cơ quan liên hệ
Một số huyệt, khi bị chấn thương, chỉ làm tê liệt vùng liên hệ như huyệt Thiếu hải (T 3) &phia trong khép khuyu tay
b)Bémach
Bế mạch là một loại điểm huyệt bằng cách đánh mạnh hay bóp chặt
vào một số huyệt ở cổ, gần động mạch cảnh, làm máu không lên não được
và đối phương bị ngất Ấn nhẹ có mức độ vào vùng này chỉ làm cho đối
Hiện thời có vào khoảng 2000 phương pháp tập Khí công mà có thể hệ thống hóa thành Ngoại đan và Nội đan Nhưng trên thực tế, ranh giới giữa hai loại này không - hoàn toàn khép kín và các trường phái Khí công trình bày ở trên thường: tập luyện cả hai Dù sao vẫn có thể cho rằng trường phái võ thuật, trong đó có Thiếu Lâm phái, thiên về Ngoại đan, còn Lão học
và Phật học thiên về Nội đan
1- Ngoại ‹ đan Khí công hay Ngoại công
Ngoại đan có Ngoại đan động và Ngoại đan tĩnh Nhưng cả hai đều dựa vào các động tác; động tác liên tạc trong thế liên hoàn là Ngoại dan động; động tác riêng rẽ được duy trì trong một thời gian như thế "ôm cây" là Ngoại đan tĩnh Dịch Cân Kinh của Đạt Ma Sư Tổ là Ngoại đan Khí công và chủ yếu có 12 thế tĩnh và 12 thế động
Võ thuật Thiếu Lâm tự cũng thuộc về Ngoại đan Khí công
Bát đoạn cẩm, sáng lập vào thời kỳ 960 + 1279 SCN cũng là Ngoại
đan Khí công, và hiện thời được phổ biến rộng rãi tại Trung Quốc
Trang 22_ CƠ SỞ ĐÔNG Ÿ CỦA KHÍ CÔNG
Ngoại đan chú trọng vào vận khí tới cơ bắp, để luyện cho cơ thể
không có gì xâm phạm được kể cả gươm giáo, cho nên người tập lão luyện
có thể đi trên cột sắt, đập vỡ một tảng đá bằng quả đấm hay đâu Một phương pháp tập luyện là nằm ngửa giữa hai chiếc ghế, một đỡ hai bàn chân, một đỡ đầu, trong tư thế thư giãn 7
2- Noi dan Khi công hay Nội công
Nội đan Khí công chủ trương tụ Khí vào Đan điền rồi dùng ý vận khí vào các kinh mạch hay tới một vùng của cơ thể Điển hình của | NGI dan Khi công là luyện Tiểu chu thiên và Đại chu thiên
— Trường phái Khí công Lão học và Phật học thuộc về Nội đan Khí
công Thái cực quyên của Trương Tam Phong (thế kỷ 17) có gốc là Nội đan Thái cực quyền có quan hệ chặt chẽ với Khí công và cũng có mục tiêu vận khí và tăng cường nội lực Một số tác giả khuyên nên vừa tập Thái cực quyền
vừa tập Khí công, vì Thái cực quyên trợ giúp vận khí bằng những động tác
xuất phát từ các quụ luật Am-Duong trong Thái cực Hiện thời có trường phái kết hợp chặt chẽ giữa Thái cực quuền với Khí công gọi là Tai chỉ Khi công như đã nói ở trên.!
So sánh với Ngoại đan thì Nội đan có những ưu điểm cũng như nhược điểm Nhược điểm của Nội đan là đòi hỏi thời gian tập luyện dài hơn; cần sự kiên trì, tĩnh tâm, và có người chỉ dẫn để tránh những sai lầm có thể gây ảnh hưởng tai hại Ưu điểm của Nội dan là tăng cường nội lực mạnh hơn, luyện Khí tụ ở Đan điền để tùy nghỉ sử dụng : nói
SỰ PHAT TRIEN CUA KHÍ CÔNG HIỆN NAY
Tại Trung Quốc hiện nay, Khí công là một bộ môn đang được nghiên cứu sâu rộng trong ngành Y Huê Kỹ là nước thứ hai đang cho phát triển mạnh Khi công tại nhiều Viện khoa học nhờ sự cộng tác của cộng đồng người Hoa tại các thành phố lớn như New York (Viên Sinh lý học và Tâm lý học),
Boston, Chicago, San Francisco, Los Angeles, Đại học Califoria
' Mantak and Chia
Grounding and Tai Chi Chi Kung II:
Awaken Healing Light of the Tao :
Healing Tao Books, New York ed 1994:288
Trang 23
“KHÍ CÔNG HỌC VÀ 9 HỌC HIỆN ĐẠI
Khí công cũng đã bắt đầu được phổ biến và nghiên cứu tại Pháp,
Đức, Anh, Thụy Sĩ, Ý, Tây Ban Nha Ở Pháp, Nguyễn Văn Nghị là một
trong những nhà châm cứu học viết về Khí công P.H.Ling (1813) dựa vào
thuyết Tỉnh - Khí - Thần để lập ra vũ thuật Thụy Điển Thuyết này được Cibot (1779) phổ biến ở Châu Âu |
Riêng tại Đông NamÁ, Khí công được nhiều người tập luyện tại Thái
Lan, Singapore, Việt Nam |
Khí công là nguồn gốc của những môn võ thuật Nhật Bản hiện thời nhu Judo, Karatedo, Aikido, Kendo, trong đó từ 'Do' có nghĩa là Đạo Điểm chính để thành công là luyện Đan điền (Hara) bằng cách tập thở bụng và tập _trung tư tưởng; khi Khí đã tích tụ ở Đan điền thì người luyện Khí công có thể huy động Khí vào các kinh mạch, nhất là Nhâm Đốc mạch dé luyén vòng Am
- Duong Tiểu chu thiên hay Đại chu thiên, hay tới một vùng nào đó của cơ
thể như tau chân để tấn công hay đỡ đòn
Trong các tác giả đã có công phổ biến rộng rãi Khí công hiện nay, phải kế đến Mantak Chia, một người Huê Kỳ gốc Thái Lan Dưới đây là
“Đánh “hức lực liệu pháp qua Đạo “(1983) nhấn mạnh vào việc luyện
Tiểu chu thiên, coi như là một bí truyền của Trung Quốc từ trước đến nay
Tái bản có soạn lại năm 1994
"Thiết bố sam Khí công" trình bàu cách tăng cường áp lực Khí trong
cân cơ, vận khí trong xương
'Luyén duc luc nam", "Luyén dục kc nữ luận bàn về phương pháp
tiết dục và nhất là giao hợp mà không phóng tỉnh ở người nam, mà vẫn có cực khoái cảm
Phương pháp xoa bóp" trình bàu cách xoa bóp các cơ quan để duụ
CAC MON KHI CONG DAC BIET
A) KHi CONG AM, DUONG PHAP
4+ Khí công Dương pháp
Lấy Khí Dương, tức Khí nóng của môi trường bên ngoài làm cơ sở _ tập luyện, với mục tiêu làm tăng Dương Khí trong cơ thể Khí công Dương
Trang 24CƠ SỞ DONG Y CUA KHI CONG
Thai duong cong: tập luyện dưới ánh mặt trời buổi chiều rồi buổi sáng, buổi trưa
Hoả nhiệt công: tập luyện bên cạnh lửa hay trên vật nóng
2- Khí công Âm pháp
Lấu Khí lạnh Âm của môi trường làm cơ sở tập luyện
Thái âm công: tập luyện dưới ánh mặt trăng
Hàn thạch công: tập luyện ở nơi lạnh như trong hang đá, trên tuyết hay tập luyện lúc có tà khí lục dâm
B) CÁC MON CONG PHU DAC DỊ
Công phu đặc dị là Khí công có hay không kết hợp với nội công;
dưới đây là một số môn chính
1- Chỉ công
Luyện phát Khí qua đầu ngón tay, thường là bằng ngón trỏ phải như phương pháp Nhất dương chỉ, Kim cương chỉ, Đàn chỉ Thần công, Long trảo công, Bạt sơn công, Điểm thạch công Môn phẫu thuật bằng tay ở
Philippines thuộc về chỉ công
2- Chưởng công
Là phát Khí từ lòng bàn tay qua huyệt Lao cung Chưởng công có nhiều phương pháp tập luyện như Âm Dương công, Âm Dương chưởng công, Chu sa chưởng, Quan âm chưởng, Dương chưởng công, Âm chưởng công, Cương chưởng công, Nhu chưởng công, Đàn tử quyên, Trúc điệp chưởng |
3- Miêu công
Là phát Khí qua huyệt Ấn đường để chi phối đối phương Tập môn này phải có tâm đạo
4- Thần công
Tập luyện để có khả năng siêu việt như khính thân (phi hành công),
tàng hình Huyệt tập trung là huyệt Bách hội
YOGA VÀ KHÍ CÔNG
Bản về lịch sử Khí công, không thể bỏ qua Yoga Khí công đã được
phát triển lâu đời ở Trung Quốc nhưng, đừng quên rằng Đạt Ma Sư Tổ là
Trang 25' KHÍ CÔNG HỌC VÀ 9 HỌC HIỆN ĐẠI
người Ấn Độ sang Trung Quốc thuyết pháp và lập ra phái Thiếu Lâm tự như
đã trình bày ở trên
A) CÁC TRƯỜNG PHÁI
Yoga có nhiều trường phái; các trường phái chính là:
1- Hatha Yoga |
-Ha là mặt trời, sức mạnh chủ động, tích cực, ám chỉ nam tính
Tha là mặt trăng hay sức mạnh thụ động, tiêu cực, ám chỉ nữ tính
Yoga là kết hợp
Vậy Hatha Yoga la luyén tap để lập quân bình giữa hai yếu tố đối lập
là Ha và Tha, tích cực và tiêu cực, tương tự như Âm và Dương trong Thái cực
— Để đạt được mục tiéu nay, Hatha Yoga ding hoi thé va tu thé dé kiém soat toan bộ Các cơ quan và tâm trí, và làm tăng cường sức khỏe Hatha Yoga được ưa chuộng ở Châu Âu |
2- Laya Yoga (4 phai)
Đặt nặng vấn đề kiểm soát nội tâm và có mục tiêu hòa mình với
Trang 26C6 $6 DONG Y CUA KHI CONG
d) Samadhi Yoga:
Chủ vẻ tập luyện tập trung tư tưởng và quán cao độ để tiến tới trực giác sáng tạo bằng Định Huệ |
B) CAC CAP BAC CUA YOGA -
Yoga thường được tập luyện theo 8 cấp bậc dưới đây:
1- Yama:
Tập luyện: Có đạo đức, không giết người, chân thật, không ăn cắp,
tiết dục, tâm địa trong sạch
2- Niyama: \/
Tập luyện: Sông điêu độ, đơn | | a
giản, kiên trì tập luyện, tin tưởng vào S 5 7
tĩnh Hỏa xa Kundalini, để khai thông o> | —_ <1
các Luân xa hình hoa sen (Hình I-4) — 3A " 8B
7 Sahasrara (1000 cánh) - a Hình I-4 Các chakra (luân xa)
mà mở rộng làm cảm thông - trong Yoga ˆ
với Thượng đế
Trang 27KHI CONG HOC VA Y HOC HIEN ĐẠI
Yoga quan niệm trong người có cái cực Dương là Vishncu trụ tại sọ
não, và cái cực Âm là Kundalini trụ tại đốt sống cùng của cột sống Giữa hai
trung tâm này là những Luân xa, tức Chakra tích tụ Prana, tức Khí Mục đích của Yoga là tập luyện dé Kundalini tién lén theo đường tủy sống _ Sashumna) qua các Luân xa và hợp nhất với Vishnou Khi đó, con người
nhận biết được tự bản thân và đạt được hoàn thiện tột bực
Yoga cũng như Khí công quan niệm Khí hay Prana là một chất vô hình sinh ra năng lượng và là cơ sở của sự sống, mà những rối loạn hay suy
giảm là đầu mối của bệnh tật Prana tức Khí (ether) có ở khắp nơi trong vũ
trụ, cũng như ở trong thân thể mà có thể lấy ý điều khiển được Một nguồn
cung cấp Prana cho co thé là phổi Phối thu hút khí trời, trong đó có
Prana, bởi vậu làm chủ được hơi thở là căn bản của Yoga, giống như Khí
công
Trang 28C6 86 DONG 39 CỦA KHÍ CÔNG
Yoga cũng như Khí công đều dùng ý dẫn Khí, nhưng Yoga đặt nặng sự phụ giúp của tư thế, của những vận động cơ trong trạng thái thư giãn
Yoga cũng có (như trong động công của Khí công) những động tác bắt chước các thú vật như:
* Tư thế con cò (Padahastâsana)
* Tư thế rắn hổ mang (Bhujangasana)
* Tư thế con công (Mavôrâsana)
* Tư thế con cá (Matsuâna)
Những tư thế này làm ta liên tưởng đến Ngũ cẩm hí của Hoa Đà Khí trong Khí công vận hành theo quy luật Âm Dương và Ngũ hành của Dịch Lý Hatha Yoga bao hàm từ Ha là mặt trời ám chỉ Dương, Tha là mặt trăng ám chỉ Âm, nhưng không đi sâu vào triết lý của Am
Dương Yoga không đề cập đến khái niệm Ngũ hành với những quy luật để
nương vào đó tập luyện và điều trị bệnh
Khí trong Khí công vận hành theo kinh mạch và lạc Yoga cũng nói tới nadi, tức kinh mạch mà con số lên tới 200.000 - 300.000, trong đó có
10 - 14 nadi chính, với ba nadi quan trọng nhất là lda, Pingala nằm ở hai
bên tủy sống, và Sushumna nằm ở giữa Con đường vận hành chính của Prana là Sushumna mà trong đó có các Luân xa Khí công vận khí chủ yếu theo kinh mạch qua các huyệt, mà vòng chính là Tiểu chu thiên, tức Nhâm
Đốc mạch Yoga vận khí chủ yếu theo đường Sushumna
Trong phương pháp tập luyện, Khí công và Yoga đều lấy ú Asana
(điều thân), Pranagana (điều tức) và Ekagrata (điều tâm hay tập trung tư
tưởng) làm căn bản Vì vậy một số tác giả quan niệm chính Lão Tử đã
mượn những nguyên tắc căn bản này, rồi phối hợp với Kinh Dịch để xây
dựng Khí công
Khí công chủ trương thở bằng cơ hoành và bụng là chính, thở nhẹ nhàng, êm dịu, ngoại trừ trong cách thở nội lực có hít sâu và nín hơi lâu
Yoga vận dụng cả thở bụng để tăng hoạt tính của phần đáy phổi, lẫn thở
hai bên sườn để tăng hoạt tính của phần giữa phối, và thở vai để thông khí
phần đỉnh phổi Tùy trường hợp sẽ thở từng phần một hay thở toàn diện, nhưng dù thở ở phân nào, vẫn phải có nhịp điệu, giống như trong Khí
công
Trang 29KHI CONG HOC VAY HOC HIEN DAI
Trong điều tức, Yoga nhấn mạnh vào việc kéo dài thời gian ngưng
thở sau mỗi lần hít thở sâu Hít vào sâu tích lũy Prana Nín hơi là giữ thăng
bằng giữa Âm (hít vào) và Dương (thở ra)
Nin hoi con giúp rửa sạch đến tận đáy những phế nang nhỏ nhất và
từ đó đào thải những cặn bã còn tổn đọng trong máu, và gián tiếp tăng cường chức năng của toàn thể phủ tạng
THÁI CỰC QUYỀN VÀ KHÍCÔNG
Thái cực quyên của Truong Tam Phong lấy tính chất của Âm Dương làm cơ sở Mỗi động tác, mỗi thế, kế cả thế "Chuẩn bị" và thế "Khởi thức", đều dựa vào quy luật Âm Dương vận hành Thế "Vân thu" là phác họa của Thái cực đồ bằng cách xoay tròn hai ta |
_ Quy luật Âm Dương đối kháng nhưng kết hợp cũng được nhận thấy
trong cách vận dụng ' chân thực - chân hư" „ Khai hợp hai tay dé chuyén tu thé nay sang tu thé khác
Phương pháp tập luyện dựa theo một số nguyên tắc căn bản như: hơi thở đều và nhịp nhàng, lưỡi đặt trên vòm miệng để khép vòng Âm Dương, dựng Ú bất dụng lực: dé dat duoc thanh than trong động tác, "Ey
_ Từ những nhận định trên, có thể nói:
-_ Thái cực quyên là Động công đã được hệ thống hóa; những động tác đều có mục tiêu vận khí theo vòng Đại chu thiên hay trên những cụm kinh mạch Âm Dương hoặc vào tạng - phủ Cụ thể nhất là lấu eo làm trục để xoay minh : va kết hợp với vận động chân tau l luyện Đới mạch và vận khí vào các
kinh - |
Do đó, 'chúng tôi thiết nghĩ Khí công và Thái CỰC quyên có thể phối hợp \ với nhau trong một buổi tập trên một mức độ nảo đó
Trang 30CỚ SỞ ĐÔNG Ý CỦA KHÍ CÔNG
MỤC II
KHÍ VÀ CÁC LOẠI KHÍ
Khí là một chất vô hình, mà khoa học, cho tới giờ chưa xác định được bản chất và chỉ phát hiện được những hiện tượng của nó Khí ở trong
khắp hoàn vũ, và trong con người, các học giả Tây Au gọi là Năng lượng sinh tồn (énergie vitale) Thật ra, năng lượng chỉ là biểu hiện của Khí, cũng như ion và tia hồng ngoại mà một số tác giả cho là Khí Con người có khả năng thu hút ngoại Khí, tức là Khí ở ngoài trời và trong lòng đất, và tăng
cường nội Khí vận chuyến trong co thé để bảo vệ và tạo sức, từ đó phòng
Dé dat duoc muc tiéu nay, phai tap luyén thu Khi va van Khi trén co
sở khoa học, một công việc đòi hỏi thời gian và sự gắng sức liên tục, nói một
UN *%
-_ Hình I-5 Diễn biến của chiết tự ''Khí"' qua các thời đại
Trang 31
tKKHÍ CÔNG HỌC VÀ 9 HOC HIEN DAI
PHAN LOAI KHI
Khí chỉ có một nhưng từng góc độ, vẫn có thể phân loại để dễ nhận
A) PHAN LOAI KHi THEO NGUON GOC
Theo nguén gốc, có Khí Tiên thiên, tức Khí trước khi ra đời, và Khí
Hậu thiên, tức Khí sau khi ra đời Trong Khí Tiên thiên có Nguyên Khí và
Tông Khí; trong Khí Hậu thiên có Thiên - Địa Khí và Thủy Cốc Khí (Bảng 1)
I- TIÊN THIÊN KHÍ |
1- Nguyên Khí , Nguyên Khí là Khí Tiên thiên do Dương (tinh trùng) của cha va Am (noãn sào) của mẹ kết hợp lại và truyền cho Nó có trước khi hình thành bào
thai, nên mang tính chất di truyền và nằm trong gene Nguyên Khí yéu sé
Trang 32CỚ SỞ ĐÔNG 3 CỦA KHÍ CÔNG
của bào thai, và của thai nhi sau này; nó là động cơ thúc đẩy con người phat triển và một khi khô cạn sẽ gây tử vong; nói một cách khác là Nguyên Khí
ảnh hưởng tới sự sống chết của thai nhi, hay sự chết yếu của một trẻ em
Huyệt trụ của Nguyên Khí là Mệnh môn Mệnh môn cũng là huyệt trụ của Tông Khí hay Khí bẩm sinh, một Khí Tiên thiên khác do mẹ truyền
cho trong thời kỳ mang thai qua nhau và cuống rốn
Đường vận chuyến chính của Nguyên Khí là Xung mạch Xung mạch khởi phát từ Thận rồi chạy xuống Hội âm để phối hợp với Nhâm mạch và
Đốc mạch
Từ Hội âm, Xung mạch chia làm hai nhánh chạy song hành hai bên đường giữa bụng và nhập vào kinh Thận để lên ngực, mặt và đâu Trường phái Lão Tử quan niệm Xung mạch chỉ có một và chạy từ Hội âm lên bụng, ngực, mặt, đầu theo đường chính giữa (Nadi của Yoga) trong đó Hỏa xà Kiundalini yên ngủ
Một con đường vận hành thứ hai của Nguyên Khí là Tam tiêu, và từ kinh này, Nguyên Khí được vận chuyển ra ngoài da và vào 12 kinh
Nguyên Khí bị suy giảm trong một số trường hợp sau đâu:
* Nguyên Khí yếu từ lúc mới sanh như đã trình bày ở trên
* Mắc bệnh mạn tính hau nặng như ung thư,lao _
Nguyên Khí đóng một vai trò liên quan đến việc sinh tinh trùng cũng như noãn Dâm dục quá độ làm hao mòn Nguyên Khí đưa đến suy nhược, chóng già Trường phái Lão Tử chú trọng tới việc luyện co bóp hậu môn để không cho phóng tỉnh trong lúc giao hợp là cốt để giữ Nguyên Khi
Tập luyện thở Thận và thở Mệnh môn tăng cường Nguyên Khí cũng như Tông Khi
2- Tông Khí
Tông Khí là Khí Tiên thiên do mẹ truyền cho thai qua nhau và cuống
rốn Tông Khí mạnh hay yếu tùy thuộc rất nhiều vào sức khỏe của người mẹ
trong suốt thời kỳ mang thai
Huyệt Mộ của Tông Khí cũng là Mệnh môn
II- HẬU THIÊN KHÍ
Hậu thiên Khí có Thiên - Địa Khí và Thủy cốc Khi
Trang 33KHI CONG HOC VA Y HOC HIEN DAI
1- Thiên - Địa Khí
a) Thiên Khí
Thiên Khí là Khí thu hút từ Khí trời, qua bốn cửa ngõ tự nhiên là
mũi, hậu môn và hai bàn tay với huyệt Lao cung Những nhà Khí công điêu
luyện có thể thu hút Thiên Khí qua làn da của cơ thể |
b) Dia Khi
Địa Khí được hút thu qua bàn chân, Địa Khí mang nhiều ion(+), còn Thiên Khí mang nhiều ion(-)
Địa Khí gồm có Thổ Khí và Thủy Khí Tư thế bán già hay kiết già có
bề mặt của hạ bộ chạm với đất tương đối rộng nên giúp hấp thu được nhiều
Địa Khí |
2- Thủy Cốc Khi
Thủy Cốc Khí do tiết thực hàng ngày mang lại và có tác dụng chủ yếu là dinh dưỡng Gọi là Thủy Khí nhưng đây là Khí của tất cả các loại am thực mang vào cơ thể để duy trì các chức năng sinh tồn
T Vị là tạng phủ của Thủy Cốc Khí
Bang 1 PHAN LOAI KHf THEO NGUON GOC
Khí Tiên thiên |
; ` Thận Mệnh môn Nguyên Khí (di truyền)
Phế Thân khuyết Thiên - Địa Khí |
Thủy Cốc Khí Ty - Vi Than khuyét
B) PHAN LOAI KHi THEO AM DUONG VA NGU HANH
Theo Âm Dương, có Âm Khí và Dương Khí Theo Ngũ hành có Mộc
Khí, Hỏa Khí, Thổ Khí, Kim Khí và Thủy Khí, tức Ngũ hành Khi
Âm Khí và Dương Khí là cơ sở cho mọi sự vật
Ngũ hành Khí là Khí của ngũ tạng, mang tính chất của ngũ hành với quy luật khắc sinh
Trang 34CƠ SỞ ĐÔNG Ÿ CỦA KHÍ CÔNG
C) PHÂN LOẠI KHÍ THEO TÍNH CHẤT
1- Chân Khí
Chân Khí là Khí có hoạt tính cơ năng luân lưu trong kinh mạch mà Lãn Ông gọi là Doanh Khí hay Vị Khí, vì VỊ có chức năng chuyển hóa thức
ăn, thức uống thành Khí nuôi dưỡng cơ thể
Chân Khí còn do Khí Tiên thiên và Khí Hậu thiên tạo thành
Vận Khí và luyện nội lực là luyện Chân Khí Xem Chương 7 và 8) 2- Tà Khí -
Tà Khí là khí không trong sạch, còn n gọi là Lục dâm hay Lục khí Lục khí gồm có
_#) Ba Khí Dương là:
Hàn Khí thuộc Thủy
Táo Khí thuộc Kim
Hoả Khí thuộc Tướng Hỏa
- Trong luyện tập khí công cần lựa đhọn nơi không có lục dâm
| Lục khí chịu sự chi phối của Ngũ hành Kim, Mộc, Thủy, Thổ, Hỏa
Ngũ hành vận chuyển trong ngày theo nhịp sinh học: giờ Mão thuộc Mộc, giờ Ngọ thuộc Hỏa, giờ Dân thuộc Kim, giờ Tú thuộc Thủy Do đó, tập Khí
Trang 35KHI CONG HOC VA Y HOC HIEN DAI
công vào những giờ Mão, Ngọ, Dân, Tú có mục tiêu luyện theo nhịp của Ngũ vận, lục Khí và đồng thời giúp cơ thể hình thành những phản xạ thích
ứng với sự thay đổi của môi trường
Trong Đông y có môn Y dịch Lục Khí, dựa vào sự vận hành của
Lục Khí trong mối liên hệ với Ngũ hành và Lục phủ để chẩn đoán và điều
trị
D) PHẪN LOẠI KHÍ THEO CHUC NANG
Theo chức năng, có Vinh Khí và Vệ Khí Vinh Khí nuôi dưỡng, Vệ
Khí che chở; hai loại Khí này kết hợp để bảo vệ sức khỏe
1- Vinh Khí
Vinh Khí luân lưu trong các kinh mạch Vinh Khí mạnh hay yếu tùy thuộc vào tiết thực Tiết thực quá độ hay nhiều chất mỡ, gia vị, uống rượu làm loãng Vinh Khí Tiết thực quá thiếu làm giảm lực của Vinh Khi
Huuệt mộ của Vinh Khí là Thần Khuyết Xoa bóp vùng Tùng mặt
Vinh Khí có chức năng tương tự như oxygen, nhung vé ban chất thì khác hẳn
Vinh Khí đảm bảo chức năng của các tạng đặc và rỗng Mỗi cơ
quan biến hóa Vinh Khí thành Khí đặc hiệu phù hợp với chức năng, do đó,
mới nói Can Khí, Tâm Khí, Phế Khí, Thận Khí, Tỳ Khi
Phế Khí chủ bì mao, thuộc Kim; Tâm Khí chủ huyết mạch, thuộc Hỏa; Can Khí chủ cân (màng gân), thuộc Mộc, Tù Khí chủ bắp thịt, thuộc
Thổ; Thận Khí chủ xương, thuộc Thủy
2- Vệ Khí
Vệ Khí không đi theo kinh mạch, mà đi vào khoảng giữa da thịt tức phân ngoại mạch Vệ Khí bốc mạnh nên có thể khuếch tán vào các vùng vộng, ở khoang ngực bụng Thở bằng cơ hoành trong Khí công, và nhất là trong thở trong nội công có công dụng giúp Vệ Khí khuếch tán và luân lưu
Trang 36CƠ SỞ ĐÔNG 3 CỦA KHÍ CÔNG
Vệ Khí có chức năng bảo vệ cơ thể chống lại những tà Khí, những thay đổi của thời tiết để điều hòa thân nhiệt
Vệ Khí còn giúp cơ thể chống nhiễm trùng, tức tham gia vào hệ
thống miễn dịch
KHÍ VÀ HUYẾT
Thế là cơ quan chủ Khí, Thận là cơ quai chúa Phí, Tâm là co quan
chi Huyét, Can [4 co quan chifa Huyét" (Lan Ong)
Bàn về Khí, không thể không nói tới Huyết Giữa Khí và Huyết có
mối liên hệ khăng khít, với Khí là Tướng soái Khí vận hành thì Huyết cũng
vận hành theo Khí ngưng thì Huyvết cũng đứng lại Khí bị trì trệ thì Huyết
Nói thế để xác định là tập luyện vận Khí trong Khí công là khai thông huyết mạch
KHI VA THAT TINH
"Tram bénh sinh ra déu do Khi" (Lan Ong)
Một trong những nguyên nhân làm rối loạn Khí và từ đó gây bệnh là
thất tình vì:
Gian quá làm Khí nghịch lên
Bi at lam Khí tiêu tan
Sợ hãi làm Khí không lưu hành được
Lo nghĩ làm Khí kết lại
Xóa bỏ hay làm dịu thất tình trong tập luyện Khí công để Tâm bình
là ngăn chặn sự rối loạn Khí
Hay hơn nữa là:
Biến giận thành than tinh
Bì ai thành vur tuoi,
Sợ hãi thành can trường,
Lo nghĩ thành thanh thản
thi Khí sẽ lưu thông và giúp mình dễ hơn với mọi người Đây cũng là
mục tiêu của Khí công
Trang 37_ KHÍ CÔNG tHIỌC VÀ 9 HỌC HIỆN ĐẠI
_ TINH-KHÍTHÂN
QUAN NIEM KINH DIEN
A) ĐAN ĐIỀN VÀ CÁC ĐAN ĐIỀN THƯỢNG, TRUNG,
Quan Nguyén (MN4)
Trang 38CỚ SỞ ĐÔNG ¥ CUA KHÍ CÔNG
Đan điền sau Đan điền trước *_
Hình I-8 Vị trí của Đan điền giữa đối chiếu với Đan điền trước (Thân khuyết) và
Đan điền sau (Mệnh môn)
B) CÁC ĐAN ĐIỀN THƯỢNG, TRUNG, HẠ (nh L9)
Trang 39KHI CONG HOC VA Y HOC HIEN DAI
Bang 2 VI TRI CUA CAC DAN DIEN
WANG PEISHING Ấn đường Thần khuyết Hội âm
(1986) Vùng tuyến yên | (sau rốn)
WANG MINH WU Ấn đường Khí hải Hội âm
Hầu hết các tác giả cho rằng Đan điền thượng ở tại vùng huyệt Ấn
đường, liên thông với vùng tuyến yén trong não, đối chiếu ở đỉnh đầu với Bách hội
2- Đan điền trung
Tùy theo tác giả, Đan điền trung được đặt tại vùng:
Trang 40CỚ SỞ ĐÔNG Ÿ CỦA KHÍ CÔNG
* Huyét Than khuyét (MN6)
* Huyét Khi hai (MN4)
3- Dan dién ha
Đại đa số tác giả quan niệm rằng Đan điền hạ ở vùng huyệt Quan
nguyên (MN4) Nhưng một số tác giả khác cho rằng Đan điền hạ đóng thấp hơn nữa-ở huyệt Hội âm (MN1}+-hay đóng cao hon-é huyét Khi hai (MN6)
Bảng 2 là bảng phân phối vị trí của các Đan điền thượng, trung, hạ
dục Bến dạng Tỉnh này không phải là bốn loại Tỉnh riêng biệt, mà là bốn
dạng của Tỉnh duy nhất do biến hóa mà thành; chúng nương vào nhau và chuyển từ dạng này sang dạng kia
Nguồn gốc của Tỉnh Tiên thiên là từ Dương của cha và Âm của mẹ
hợp lại và được hình thành đầu tiên khi thụ thai, vì vậu Tỉnh là cội rễ của sự sống
Tỉnh Tiên thiên có hai chức năng:
a) Duy tri tinh chat di truyền của gene ADN
b) Bao dam su sinh san của giao tử, cũng như sự phát triển của phái tính thứ phát
Tỉnh Hậu thiên có công dụng bù đắp cho sự tiêu thụ Tỉnh Tiên thiên Đan điền Tỉnh còn gọi là Đan điền hạ đóng ở vùng Quan nguyên
Sách Hoàng Đế Nội Kinh cho rằng Tinh tích tụ ở Thận, điều nay
— đễ hiểu vì Thận ở đây gồm cả cơ quan sinh dục, trong đó có tỉnh hoàn va
buông trứng