Luận văn Giá trị văn hóa đình Trùng Thượng xã Gia Tân, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình đã giới thiệu một số kiến thức về đình làng Trùng Thượng trong không gian văn hóa xã Gia Tân; phân tích giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể đình Trùng Thượng.
Trang 1
BQ VAN HOA, THE THAO VA DULICH — BQ GIAO DUC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI vung sen
Hà Giang Nam
Giá trị văn hóa đình Trùng Thượng
xã Gia Tân, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình
Luận Văn Thạc Sĩ Văn Hóa Học
Hà Nội, 2016
Trang 2
TAO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI mm
Hà Giang Nam
Giá trị văn hóa đình Trùng Thượng
xã Gia Tân, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình
Phụ lục Luận Văn
Hà Nội, 2016
Trang 3
TRUONG DAI HQC VAN HOA HA NOL ——
Hà Giang Nam
Giá trị văn hóa đình Trùng Thượng
xã Gia Tân, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình
Chuyên ngành: Văn hoá học
Mã số: 60310640
Luận Văn Thạc Sĩ Văn Hóa Học
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Văn Tiền
Hà Nội, 2016
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng
dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Văn Tiến Những nội dung trình bảy trong
luận văn là kết quả nghiên cứu của tôi, đảm bảo tính trung thực và chưa từng
được ai công bố dưới bất kỳ hình thức nào Những chỗ sử dụng kết quả nghiên cứu của người khác, tôi đều trích dẫn rõ ràng Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà trường về sự cam đoan này
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Hà Giang Nam
Trang 5MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
1.1 Tong quan về xã Gia Tân 15
1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 15
1.2 Lịch sử xây dựng và quá trình tồn tại của đình Trùng Thượng 27
1.2.1 Lịch sử nhân vật được thờ 27 1.2.2 Niên đại, quá trình tồn tai va phát triển của di tích 34
2.3 Hệ thống các di vật đình Trùng Thượng, %4
2.3.2 Di vật bằng chất liệu giấy : 60
2.3.3 Di vật bằng chất liệu khác 63
Trang 62.4 Báo tồn và phát huy giá trị văn hóa vật thể đình Trùng Thượng 65
2.4.1 Thực trạng các kiến trúc, nghệ thuật đình Trùng Thượng, 65
2.4.2 Một số giải pháp bảo tồn giá trị di tích đình Trùng Thượng 67
Tiểu kết Chương 2 — sone 1
Chương 3: GIÁ TRỊ VĂN HÓA PHI VẬT THÊ ĐÌNH TRÙNG THƯỢNG 72
3.1 Lễ hội đình Trùng Thượng ¬ 72 3.1.1 Không gian và thời gian diễn ra lễ hội 12
3.1.2 Công việc chuẩn bị cho lễ hội cesses " 73 3.1.3 Diễn trình lễ hội 76
3.1.4 Các trò chơi đân gian trong lễ hội 80
3.2 Lễ hội đình Trùng Thượng trong đời sống văn hoá cộng đồng 8Š 3.3 Thực trạng và các giải pháp bảo tồn giá trị văn hóa ở lễ hội đình
3.3.1 Đánh giá thực trạng của lễ hội 88
3.3.2 Bảo tổn, khai thác và phát huy giá trị văn hóa ở lễ hội đình Trùng
Trang 7DANH MUC CAC CHU VIET TAT
Trang 81 Ly do chon dé tai
Di tích lịch sử văn hóa là nơi ghi dấu những công sức, tài nghệ, ý đồ của cá nhân hay tập thể con người trong lịch sử để lại, là quá trình kết tỉnh tài
năng, trí lực sáng tạo để trở thành những bằng chứng trung thành, xác thực, cụ
thể nhất về lịch sử bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc Ở đó chứa đựng tắt cả những gì thuộc về truyền thống dân tộc tốt đẹp, về kĩ năng, kĩ xảo của con người Các di tích lịch sử văn hóa tiềm ản dưới vẻ rêu phong, cổ kính đồng thời cũng là một bảo tàng sống về kiến trúc điêu khắc, trang trí và cả phong,
tục cổ truyền, tín ngưỡng của người Việt Chúng đã là những di sản quý giá không chỉ của một địa phương, một dân tộc mà còn là tải sản của toàn nhân
loại Mỗi di tích lịch sử văn hóa tồn tại không chỉ là công trình kiến trúc,
những tác phẩm nghệ thuật có giá trị mà bên cạnh đó còn mang trong mình những hơi thở của thời đại, những phong tục tập quán, những tín ngưỡng dân
gian Những di tích ấy sẽ trở nên có ý nghĩa nếu ta đi sâu vào nghiên cứu,
phân tích, bóc tách các lớp văn hóa chứa đựng trong đó để phẩn nào hiểu rõ
hơn về cội nguồn văn hóa dân tộc, để biết lựa chọn khai thác cũng như bảo tồn, phát huy những tỉnh hoa truyền thống đạo đức, thuần phong mỹ tục, lấy
đó làm nền tảng xây dựng một nên văn hóa Việt Nam vừa mang dư âm cô
truyền, vừa mang màu sắc hiện đại
Di tích nói chung và di tích lịch sử - văn hóa nói riêng là tài sản quý giá trong kho ting di san văn hóa dân tộc, là nguồn sử liệu quan trọng cho những
người đương đại nhận thức về quá khứ, nắm bắt được hiện tại và dự đoán trước
tương lai Đồng thời nó cũng là những chuẩn mực giá trị để các dân tộc trên thế giới kiểm chứng, đánh giá về lịch sử, văn hóa của nhân loại Đi khắp đất nước Việt Nam ở đâu chúng ta cũng bắt gặp những hình ảnh của những ngôi đình, đền, chùa Trong số đó, đình chính là nơi hội tụ các yếu tố, giá trị văn hóa
Hình ảnh những ngôi đình vốn rất đỗi thân quen với mỗi người dân Việt Nam.
Trang 9Đình làng - một mảnh hỗn quê, một nét đẹp của xĩm làng Việt Nam, từ lâu đã
in vào tâm khảm mỗi con người và tộ sáng trong những áng thơ văn:
Hơm qua tát nước đầu đình
Để quên chiếc áo trên cành hoa sen
Đã từ rất lâu rồi, khi nĩi đến văn hố làng - nét văn hố của nơng thơn
Việt Nam, chúng ta liên tưởng ngay tới những hình ảnh rất đặc trưng, làm nên
biểu tượng của làng quê Đĩ là những hình ảnh của “cây đa, bến nước, sân
đình, bụi tre, vườn cây, ao cá "
Đình làng là một di tích trong loại hình di tích lịch sử văn hĩa Việt Nam Dinh làng là một nét đẹp và đặc trưng của văn hĩa nơng thơn Đình làng
là hình ảnh thân quen, gắn bĩ với tâm hồn của mọi người dân Việt, là nơi chứng kiến những sinh hoạt, lề thĩi và mọi di thay trong đời sống xã hội của
làng quê Việt Nam qua bao thế kỷ Ngơi đình trang trọng và thiêng liêng, nĩ
gần như đại diện, là biểu tượng của quyền lực làng xã Nhưng đình làng lại là nơi tụ họp mọi người trong mọi sinh hoạt chung, vốn rất cần cho cuộc sống
Đình Trùng Thượng là một di tích lịch sử văn hĩa tiêu biểu, đặc sắc của
tỉnh Ninh Binh Nơi đây cịn lưu giữ được nhiễu nét kiến trúc, điêu khắc cỗ độc đáo cho dù đã trải qua sự tàn phá của chiến tranh cũng như những biến đơng của lịch sử Chính vì vậy, ngơi đình đã được Bộ Văn hĩa - Thơng tin
(nay là Bộ Văn hĩa Thê thao và Du lịch) xếp hạng di tích lịch sử văn hĩa cấp quốc gia theo quyết định số 09-VH/QĐ ngày 28 tháng 07 năm 2001
Tuy mang trong mình những giá trị văn hĩa, nghệ thuật đặc sắc, song
cho đến nay di tích này vẫn chưa cĩ một cơng trình chuyên khảo nào viết một cách đầy đủ và chỉ tiết Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, tác
gid xin chon dé tai: “Gid tri văn hĩa đình Trùng Thượng, xã Gia Tân,
Trang 10Đã có một số công trình nghiên cứu giới thiệu về di tích nhưng mới chỉ dừng
lại ở mức độ khái quát mà chưa đi sâu vào làm sáng tỏ những giá trị đặc sắc
của di tích đình Trùng Thượng Dưới đây là tập hợp và thống kê bước đầu về
tình hình nghiên cứu đình Trùng Thượng
Trong quyên “Địa chí văn hóa Dân gian tỉnh Ninh Bình” Nhà xuất bản
Thế Giới năm 2004, tác giả Trương Đình Tưởng, các di tích trên địa ban tinh cũng được thống kê, lập danh sách tên, địa điểm nhằm giới thiệu tới đông đảo quần chúng, trong đó có đình Trùng Thượng, xã Gia Tân
Trong cuốn “Đất và người Ninh Bình” - Nhà xuất bản văn hóa Thông
Tin 2011 - Lã Đăng Bật, đình Trùng Thượng cũng đã được nhắc tới trong bài viết về trung tu, bảo vệ các di tích trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
Năm 2012, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Ninh Bình đã lập “//ỏ sơ
di tích đình Trùng Thượng ” trong đó có giới thiệu về di tích bao gồm các nội dung cơ bản như tên gọi di tích, địa điểm phân bố và đường tới di tích, sự kiện - nhân vật lịch sử liên quan tới di tích, khảo tả di tích, liệt kê một số di
vật tiêu biểu, các phương án bảo tồn và sử dụng di tích Tuy nhiên, do giới
hạn của một bộ hồ sơ di tích cho nên những thông tin được nêu ra ở đây vẫn mang tính khái quát, liệt kê, chủ yếu là miêu tả mà chưa đi sâu vào đánh giá
một cách cụ thể, chỉ tiết về các giá trị văn hóa vật thê cũng như phi vật thể của
di tích Đặc biệt là mối tương quan giữa di tích với các di tích khác trong vùng cũng như tác động của di tích đến đời sống của cộng đồng cư dân địa
phương còn chưa được để cập cu thé trong hỗ sơ
Trang 11“Trên các trang thông tin điện tử về du lịch tỉnh Ninh Bình, di tích đình
Trùng Thượng được nhắc tới như | di tích đẹp cho khách du lich thăm quan
Ngoài ra, chúng ta có thể kế đến một số công trình như: “Đình Việt Nam” của Hà Văn Tắn, hay “Dinh làng miền Bắc” của Lê Thanh Đức - đây là những tài liệu nghiên cứu có tính chất chuyên khảo về đình làng ở Việt Nam
từ lịch sử hình thành,
én trúc, điêu khắc, lễ hội Ngoài phần chuyên khảo,
công trình này còn giới thiệu một số ngôi đình làng tiêu biểu
Một số ngôi đình làng lại được nghiên cứu trên một phương diện cụ thể như “Tín ngưỡng Thành Hoàng Việt Nam” của Nguyễn Duy Hinh là công trình nghiên cứu chuyên sâu về đình làng nhưng tác giả tập trung cho hướng tiếp cận tín ngưỡng thờ thần tại đình Ling “Trang trí rong mĩ thuật truyền thống của
người Việt” của tác giả Trần Lâm Biền, là tài liệu nghiên cứu về mỹ thuật dân gian Việt Nam.Trong tài liệu này, tác giả cũng dành nhiều trang viết cho việc
thuộc loại này có thể kể đến như “Điều khắc trên kiến trúc
Sự lược thuật nêu trên đây chưa thể khái quát hết được các công trình
đã nghiên cứu về đình Trùng Thượng Nhưng thông qua một số tư liệu trên có
thể thấy rằng, hẳu hết các nghiên cứu đó mới chỉ dừng lại ở mức độ khái quát,
mang tính liệt kê hoặc miêu tả từng giá trị đơn lẻ của di tích chứ chưa đi sâu vào nghiên cứu đình Trùng Thượng một cách toàn diện về các mặt giá trị vật thể cũng như phi vật thể của di tích dưới góc độ Văn hóa học Tuy nhiên,
những kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước sẽ là nguồn tư liệu hết sức quý báu để tác giả luận văn tiếp thu, kế thừa và vận dụng nhằm giải quyết
mục đích nghiên cứu đã đặt ra
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trang 12Hệ thống lại các nguồn tài liệu; kết hợp với khảo sát, nghiên cứu thực
tiễn để đánh giá về giá trị văn hóa vật thé cũng như giá trị văn hóa phi vat thé
của di tích Xác định vị trí của ngôi đình trong đời sóng văn hóa cộng đồng cư dân làng Tuy Hồi Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần bao tồn và phát huy giá trị của di tích trong đời sống xã hội
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng hợp và phân tích các công trình nghiên cứu về đình Trùng
Thượng của các tác giả đã viết từ trước tới nay để kế thừa và giải quyết mục tiêu của đề tài
~_ Nghiên cứu đình Trùng Thượng trong không gian văn hóa xã Gia Tân + Tim hiểu lịch sử xây dựng, quá trình trùng tu, tôn tao di tích
+ Tìm hiểu về những sự kiện, nhân vật liên quan đến di tích
~_ Xác định giá trị di tích trên hai phương diện:
+ Giá trị văn hóa vật thể thông qua các nội dung cơ bản như giá trị kiến trúc, điêu khắc và hệ thống di vật
+ Giá trị văn hóa phi vật thẻ thông qua lễ hội đình Trùng Thượng và
các sinh hoạt văn hóa - tôn giáo, tín ngưởng của cộng đồng cư dân địa
phương, tập trung sâu hơn nghiên cứu lễ hội đình Trùng được xác định là giá
trị văn hoá phi vật thể tiêu bid
~ Đặt ngôi đình Trùng Thượng trong mối tương quan với các di tích
tôn giáo khác nằm xung quanh
~_ Đánh giá thực trang di tích và đưa ra một số giải pháp góp phần bảo
tồn, phát huy giá trị di tích trong giai đoạn hiện nay
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn tập trung nghiên cứu đình Trùng Thượng với các giá trị văn
hóa vật thể (các công trình kiến trúc, điêu khắc, di vật ) và giá trị văn hóa
Trang 13phi vật thể (tín ngưỡng, lễ hội ) gắn liền với di tích;
5 Phương pháp nghiên cứu
~ Phương pháp nghiên cứu liên ngành văn hóa học: sử học, dân tộc học, kiến trúc học, mỹ thuật học
~_ Phương pháp so sánh, đối chiếu
~ Phương pháp khảo sát điền đã: quan sát, đo vẽ, chụp ảnh, miêu tả,
thống kê
~_ Phân tích, tổng hợp tư liệu, tìm hiểu các đã được xác định trên
cơ sở các nguồn tư liệu đã thu thập cùng với những giá trị còn lại của di tích
và lễ hội dé so sánh, phân tích, đối chiếu
6 Đóng góp của luận văn
Xác định niên đại xây dựng và những lần trùng tu, sửa chữa của đình
“Trùng Thượng, để góp phần vào việc tu bổ, tôn tạo chính xác hơn trong thực tại Xác định giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của đình Trùng Thượng, góp phần nghiên cứu đình làng ở tỉnh Ninh Bình nói riêng và Đình làng Việt Nam nói chung
“Trên cơ sở thực trạng của đình Trùng Thượng, bước đầu đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị của đình Trùng Thượng trong giai đoạn
hiện nay, khẳng định vị trí của đình Trùng Thượng trong đời sống văn hóa của cộng đồng cư dân nơi đây và nhân dân nói chung
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn được chia làm 3 chương:
Trang 14Chương 1: Đình Trùng Thượng trong không gian văn hóa xã Gia Tân Chương 2: Giá trị Văn hóa vật thể đình Tràng Thượng
Chương 3: Giá trị Văn hóa phỉ vật thễ đình Trùng Thượng
Trang 15Chương I
ĐÌNH TRÙNG THƯỢNG
TRONG KHÔNG GIAN VĂN HÓA XÃ GIA TÂN
1,1 Tổng quan về xã Gia Tân
1.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Trong quá trình tồn tại và phát triển, mỗi di tích lịch sử văn hóa đều có mối quan hệ mật thiết với một địa danh cùng với những con người cụ thể
Mảnh đất ấy, những con người ấy là những nhân chứng không thể thiếu được cho sự hiện diện của di tích Vì lẽ đó, để tìm hiểu một cách toàn diện về di tích với những thăng trằm, hưng vong của nó chúng ta không thể không đề cập đến mảnh đất, con người, nơi từ đó di tích được sinh ra và nuôi dưỡng
trong suốt tiến trình lịch sử
‘Theo tài liệu lịch sử địa danh Gia Viễn xưa có tên là phủ Thiên Quan thuộc trấn Thanh Hoa Ngoại (sau đổi thành tran Thanh Binh, gọi là tỉnh Hà Nam Ninh (Cũ) nay tách ra 3 tỉnh: Hà Nam, Nam Định, Ninh Binh) Noi day
có câu “của Thiên Quan, hoàn Đề Viến”, có nghĩa là Đề và Viến là hai trung
tâm thương mại của vùng Gia Viễn) Huyện Gia Viễn được các triều đại
phong kiến lập ra năm 669 với tên gọi đầu tiên là Như Viễn, sau đồi thành An
Viễn Đến đời nhà Trần, theo tài liệu năm 1802 huyện Gia Viễn có 12 tổng gồm: Kỳ Vĩ, Trường Yên, Lê Xá, Đa Giá, Trì Hồi, Đại Hữu, Thanh Quyết, La
Mai, Vân Trình, Quán Vinh, Uy Viễn, Viên Đăng
'Năm 1953-1954 huyện Gia Viễn có 28 xã gồm: Gia Phong, Gia Minh,
Gia Lạc, Gia Sinh, Gia Hoà, Gia Vân, Gia Trấn, Gia Thanh, Gia Tân, Gia Xuân, Gia Tiền, Gia Thắng, Gia Phương, Gia Thịnh, Gia Phú, Gia
'Vượng, Gia Lập, Gia Sơn, Gia Lâm, Gia Thủy, Gia Tường, Gia Hung, Gia Ninh, Gia Trung, Trường Yên, Xích Thổ, Liên Sơn 39, tr21]
Ngày 27 tháng 4 năm 1977 huyện Gia Viễn hợp nhất với huyện Nho
Quan thành huyện Hoàng Long, thuộc tỉnh Hà Nam Ninh Ngày 9
Trang 16tháng 4 năm 1981, tách huyện Gia Viễn khỏi huyện Hoàng Long; tách các xã Gia Lâm, Gia Tường, Gia Thuỷ, Xích Thổ nhập vào huyện Nho Quan và từ đó huyện Gia Viễn có 20 xã, trụ sở huyện đóng ở xã Gia Vượng Ngày 1 tháng 4 năm 1986, thành lập thị trấn
Me, huyện lj với diện tích 89,3 hee ta, 3.297 nhân khẩu [39, tr22]
Xã Gia Tân nằm ở phía đông huyện Gia Viễn, phía Bắc giáp xã Gia
Lập và Gia Xuân, phía Đông giáp xã Gia Trấn, phía Nam giáp xã Ninh Giang
và Trường Yên (huyện Hoa Lư), phía Tây giáp xã Gia Thing va Gia Tiến Có
2 con đường để đi tới xã Gia Tân, đó là
Đường bộ: từ thành phố Ninh Bình, du khách theo đường quốc lộ 1A di
từ Hà Nội đến ngã ba Gián Khẩu rẽ vào quốc lộ 12 và đi khoảng 10 km, rẽ
trái 2 km là đến di tích
Đường thủy: từ thành phố Ninh Bình du khách có thé đi ca nô theo
én ngã ba Gian, noi gặp nhau giữa sông Day và sông Hoàng
dòng sông Đáy,
Long, rẽ trái vào sông Hoàng Long 2km nữa là đến di tích
“Theo các truyền thuyết và văn bia còn lưu lại, các làng, xã thuộc Gia Tân
là vùng đất cổ, sớm có người sinh sống Đến thé ky X các làng, xã ở khu vực này đã tương đối đông đúc, thuộc động Đại Hoàng - huyện Gia Viễn ngày nay Thực tế cho thấy suốt vùng văn hóa Hoa Lư thường bị ngập lụt, khó có thể thích ứng với việc xây dựng, nhưng Gia Tân đã không bị hạn đó Vi thé noi day
sớm trở thành mảnh đất tụ linh, tạo điều kiện cho sự phát triển văn hóa
Trước cách mạng tháng 8 năm 1945, đơn vị hành chính dưới cấp
huyện là tổng rồi đến xã Năm 1937, huyện Gia Viễn có 11 tổng,
trong đó tổng Tri Hối gồm 8 xã: Tri Hối, Lạc Hối, Thuần Thiệu,
Tùy Hồi, Gián Khâu, Thiệu Hối, Lãng Vân và Xuân Đài Trong xã Trí Hối thì có 3 thôn: Vân Thị, Sảo Long và Đồng Mỹ
Sau năm 1945, thực hiện sắc lệnh của Chính phủ, kế hoạch của Ủy
ban kháng chiến hành chính tỉnh và huyện, thành lập xã Gia Tân
Trang 17
bao gồm 9 thén: Sao Long, Xuân Đài, Đồng Mi, Lãng Nội, Lãng Ngoại, Vân Thị, Tùy Hồi, Thiện Hồi và Thuần Thiệu [14, tr.20] Hiện nay xã Gia Tân có diện tích là 7.939 ha, gồm 7 xóm: Tân Hồi, Hải
Nam, Trung Chính, Đông Thượng, Hòa Bình, Hoàng Long, Thanh Long Địa hình xã Gia Tân tương đối bằng phẳng, đất đai mẫu mỡ do phù sa của sông Đáy và sông Hoàng Long bồi đắp Trong tổng diện tích đất tự nhiên thì nông nghiệp chiếm 458,9 ha, đất chưa sử dụng, sông suối và núi đá
chiếm 80,7 ha, còn lại là đất ở Do đất đai mầu mỡ nên nhân dân xã Gia Tân
chủ yếu làm nghề nông với cây lúa nước là cây trồng chủ đạo, bên cạnh đó thì nhân dân nơi đây còn trồng thêm các loại hoa mầu vơi thu nhập tương đối cao như: rau xanh, đỗ tương, lạc, Ngoài thời gian nông vụ ra, nhân dân còn làm thêm các nghề thủ công như: thêu, đan lát, nghề mộc, rèn Nhưng, những năm gần đây do công cuộc xây dựng đất nước theo hướng công nghiệp
hóa - hiện đại hóa thì có một số diện tích đất nông nghiệp đã được tỉnh chuyển đổi thành các khu công nghiệp và xy dung ha ting cơ sở cho các trụ
sở làm việc của Nhà nước và các doanh nghiệp
1.1.2 Cứ dân
Ninh Bình nằm ở vùng giao thoa giữ các khu vực: Tây Bắc, đồng bằng Sông Hồng và Bắc Bộ Với vị trí đó, giúp cho Ninh Bình trở thành vùng đất của một nền văn hóa năng động mang đặc trưng khác biệt trên nền tảng văn minh sông Hồng Ninh Bình cũng là vùng đất phù sa cô ven chân núi có con
người cư trú từ rất sớm Các nhà khảo cổ học đã phát hiện trằm tích có xương răng đười ươi và các động vật trên cạn ở Núi Ba (Tam Điệp) thuộc sơ kỳ đồ
đá cũ, động Người Xưa (Cúc Phương) và một số hang động ở Tam Điệp, Nho Quan có di chỉ cư trú của con người thời văn hóa Hòa Bình Sau thời kỳ văn
hóa Hòa Bình, vùng đồng bằng ven biển Ninh Bình là nơi cư trú của con người thời đại đồ đá mới Việt Nam Di chỉ Đồng Vườn (Yên Mô) đã được định niên đại muộn hơn di chỉ Gò Trũng Cư dân cô di chỉ Đồng Vườn đã
Trang 18Yén M6 c6 hé Yén Thắng, Kim Sơn có Nhà thờ đá Phát Diệm Không có
được những di tích, danh lam lớn như các huyện khác nhưng huyện Gia Viễn
vẫn mang trong mình một nét đẹp riêng với các nghề truyền thống Là một huyện hội tụ nhiều tiềm năng phát triển kinh tế trong tương lai
Như trên đã nói thì Xã Gia Tân là một vùng đất cô, cư dân tới đây sinh sống từ rất sớm Cho nên dân cư làng Tùy Hồi mang đầy đủ những đặc trưng của người Việt cổ, về các phương diện như: quá trình hình thành, đời sống sản xuất, phong tục tập quán, tín ngưỡng Với loại hình kinh tế nông nghiệp lúa nước, nhưng mang đặc thù của nền sản xuất quy mô nhỏ, có tính chất tự cung tự cấp, chăn nuôi nhỏ và săn bắt Chính vì vậy mà phong tục tập quán nơi đây ít nhiều có sắc thái riêng trong bối cảnh nền nông nghiệp lúa nước
“Trước đây dân cư làng Tùy Hối chủ yếu thuộc thành phần nông nghiệp,
có một số ít gia đình đóng thuyền theo nghề buôn bán với các vùng dọc trên hai con sông Đáy và sông Hoàng Long, từ đó trong làng xuất hiện thêm tầng lớp tiểu thương nhỏ
Những năm gần đây thì cơ cấu dân cư có sự thay đổi do công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa Những khu công nghiệp đã mọc lên như khu xỉ măng The Vissai, Gỗ Tài Anh, Ô tô Thành Công, May Bao bì đã làm cho
diện tích đất nông nghiệp của làng bị thu hẹp Việc này đồng nghĩa với sự hình thành một tầng lớp mới, đó là tằng lớp công nhân, phục vụ cho các khu
công nghiệp trên
Bên cạnh sự phát triển công nghiệp thì Gia Viễn cũng là một điểm du
lịch hấp dẫn và thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước trong những năm
gần đây Với những khu du lịch Tâm linh Chùa Bái Đính cũ và mới, khu du lich sinh thái Vân Long, khu suối nước nóng Canh Gà - Vân Trình, cũng góp phẩn làm thay đổi cơ cấu dân cư nơi này Để đáp ứng dịch vụ du lịch những người dân nơi đây đã làm thêm nghề mây tre đan, thêu, tạo nên những
sản phẩm quà tặng bán cho du khách mọi nơi
Trang 19'Hiện nay cơ cấu dân cư làng Tùy Hồi đã có sự thay đổi rất nhiều so với
trước đây Những người làm nông nghiệp chiếm 60%, những người làm công nhân chiếm 20%, còn lại là tiểu thương, trí thức như: học sinh, sinh viên,
công chức, tắt các đang góp phần làm quê hương ngày một giàu đẹp
1.1.3 Kinh tế
Gia Tân là vùng đắt rất có tiềm năng phát triển Con người nơi đây rất thân thiện, mến khách, giàu tỉnh cảm đời sống kinh tế của cư dân làng Tay Hồi ngày nay, đặc biệt sau đôi mới có nhiều thay đôi rõ rệt
Làng Tùy Hối là một vùng đất có quá trình lịch sử hình thành từ lâu đời
lại nằm trong tiểu vùng châu thổ của các con sông cổ như sông Đáy và sông
Hoàng Long, với bàn tay kiến tạo, sự cần cù chăm chỉ lao động của con người
nên đất đai nơi đây sớm được ổn định, đó là điều kiện thuận lợi dé cư dân
kinh tế
nông nghiệp nhanh chóng bắt tay vào sản xuất và phát t
Cùng với sự phát triển của các làng xã ở nông thôn nói chung thì
Tùy Hồi trong quá trình phát triển kinh tế - văn hóa là sự kết hợp
hài hòa giữa nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp Đây
là kết cầu kinh tế quan trọng đối với mỗi làng quê, bởi nó không chỉ
góp phần ôn định cuộc sống của người dân mà còn tạo nên mối giao lưu kinh tế - văn hóa giữa các làng [14, tr25]
'VỀ trồng trọt, theo lời kể của các cụ cao niên, từ xưa tới nay thì nơi đây
có hình thức canh tác hai vụ lúa và một vụ màu: vụ lúa đông xuân và hè thu;
xen canh trồng màu xuân hè (lạc, khoai lang, đỗ ) Tuy nhiên năng suất cây
trồng không cao Cụ thể, lúa mùa cho năng suất trên dưới 1 tạ/sào, lúa nếp
cho năng suất từ 70 - 80kg/sào
Về chăn nuôi, cũng như hầu hết các xã thôn Việt Nam khác không trở
Trang 20'Bên cạnh làm nông nghiệp thì người dân làng Tùy Hồi còn làm thêm nghề thêu, mây tre đan Đây là nghề theo thời vụ và làm vào những lúc nông nhàn
Ngoài ra còn có nghề buôn vật liệu xây dựng dọc trên con sông Hoàng
Long Hiện nay trong làng còn vài hộ làm nghề này với quy mô nhỏ
1.1.4 Văn hóa xã hội
1.1.4.1 Cơ cấu tổ chức làng xã trước năm 1943 và hiện nay
Trước Cách mạng Tháng Tám 1945, cũng như nhiều làng quê khác,
ngoài các dòng họ, cơ cấu tổ chức của làng Tùy Hối xã Gia Tân còn gồm các
xóm, giáp, hội đồng kỳ mục, chức dịch và các phường hội
Xóm là đơn vị cộng cư của vài chục hộ gia đình nông dân có quan hệ king giễng là chủ đạo, kết hợp với quan hệ huyết thống, nhiều trường hợp có quan hệ hôn nhân Xóm làm nhiệm vụ cắt cử tuần phiên để bảo vệ an ninh trong làng Các nam giới từ 16 - 50 tuổi nếu không phải là lý dịch, chức sắc, tộc biểu và không có ngôi thứ ở đình, không bị bệnh tật, đều có trách nhiệm tuần phòng theo
lượt, mỗi lần là một năm Khi cắt đến lượt người nào phải đi tuần mà không đi được thì phải mượn người thay nếu không thì phải nộp 10 đồng xung công Trường hợp khẩn cấp, như hộ đê, cứu hỏa, hoặc việc quan cần kíp, có thẻ điều động thêm người gọi là tuần phụ (tráng tuần), từ 14 - 45 tuổi ra làm canh tuần
Giáp là tổ chức của nam giới trong làng, mỗi giáp gồm các thành viên
của nhiều dòng họ khác nhau Nếu như xóm và ngõ được lập nên một cách tự
nhiên theo địa vực cư trú thì giáp phải được tạo nên từ một địa vực với những
mối liên hệ chung của một số người, có thể là cùng một dòng họ, song có thê
la từ nhiều đồng họ khác nhau trong phạm vi làng xã Trong nội bộ giáp được phân biệt 3 lớp tuổi chủ yếu
~ Từ nhỏ đến 18 tuôi: ty ấu
~ Từ 1§ đến 49 tuôi: đỉnh tráng
~ Từ 50 tuôi trở lên: lão
Trang 21Ở làng đã là đàn ông thì phải có chân trong hàng giáp để tham dự mọi sinh hoạt của làng Còn nếu không thuộc phe giáp nào thi gọi là dân ngụ cư
Do vậy, một gia đình khi sinh con trai, bố đứa bé phải biện một lễ mọn (chục tru, chai rượu nhỏ và món lệ phí nhỏ) trình giáp của mình, để xin cho đứa bé được vào giáp Kế từ ngày ghỉ tên, đứa bé trở thành một thành viên của giáp,
có thể theo cha đến cỗ bản va không phải đóng góp như người lớn
Khi tròn 18 tuôi, gia đình chú bé phải làm lễ trình giáp một lần nữa Đây
là buổi lễ công nhận chính thức chú là một trai đỉnh trong hàng giáp vừa có
quyền lợi, vừa có nghĩa vụ Thứ nhất, nghĩa vụ đối với làng là tham gia phục vụ
trong các dịp lễ hội, đình đám, đối với nước là tham gia đóng sưu thuế và đi phu
đi lính Thứ hai là quyền lợi cả về vật chat lan tinh thin, V8 vat chất thì được một phần ruộng công dé cày cấy và nộp một phần hoa lợi cho làng; về tỉnh thần
thì có chỗ ngồi nhất định trên chiếu trong những lần hội họp và ăn uống
Đến khi tròn 50 tuổi (lên lão) thì được cả giáp và làng trọng vọng Lên
lão tức là được ngồi chiếu trên ở đình, được tham gia vào tô chức lão làng, được miễn sưu thuế, phu phen tạp dịch Theo các cụ cao niên, thì giáp được
chia thành 4 bản, bàn nhất, bàn hai, ban ba, bàn bồn
Đứng đầu tổ chức giáp là giáp trưởng, là người có tuổi và uy tín nhất trong hàng giáp, có vai trò quan trọng trong việc cắt cử người tham gia các
công việc tang ma, tế tự, hội hè, đình đám Giáp trưởng còn là người đại diện cho các tổ chức giáp trong làng tham gia giúp việc cho tổ chức lão làng
Giáp là một tổ chức dân chủ, là môi trường tiến thân xã hội bằng tuổi
tác “sống lâu lên lão làng” Mọi người trong hàng giáp tùy thuộc vào độ tăng
của tuôi mà lần lượt được chuyên lên ngồi ở vị trí cao hơn trong sinh hoạt hàng giáp Nếu như vẫn “chân trắng” (tức là chưa có chức danh) thì phải làm
nhiều công việc vặt như dọn đình, miễu, trồng cây Còn khi đã có tuôi (có
chức danh) thì có thể tham gia ứng cử các chức thủ phiên, thủ bộ (trông coi
đồng, an ninh trong làng)
Trang 22Giáp còn là môi trường bình đăng vẻ quyền lợi và nghĩa vụ, giữ vai trò
quan trọng trong làng vì nó đảm nhận nhiều công việc lớn cho làng nhất là
hội hè
những dịp làng tô chức tế
Với những đặc điểm trên cho thấy, giáp là một thiết chế năng động
nhất, là đinh chốt trong hệ thống các thiết chế tổ chức của làng Việt nói chung
và cũng của làng Tùy Hồi nói riêng
1.1.4.2 Các lễ thức cầu cúng
Ở làng Tùy Hối, các lễ tiết thờ cúng và lễ hội vẫn diễn ra theo khuôn mẫu chung như ở các làng Việt làm nông nghiệp ở trong vùng Lễ hội lấy việc thờ thần thành hoàng làng làm cốt lõi, các lễ tiết có sự kết hợp chặt chẽ giữa
tín ngưỡng dân gian với Phật giáo, Nho giáo và lịch trình các phong tục tập quán theo diễn biến mùa vụ của sản xuất nông nghiệp Về lễ tiết thờ cúng
được thực hiện theo quy mô cộng đông làng và các di tích, trong một năm,
làng có tổ chức các lễ, tóm tắt như sau:
Tắt
Tết được tổ chức vào ngày mùng 7 tháng Giêng là tháng Dẫn, nhân sinh ở Dần, ngày mùng bảy cũng thuộc nhân nên tế thần vào ngày này dé cau mong cho mọi người, mọi nhà được an khang, ngành nghề phát đạt, kinh tế đôi đào Tế xong mới hạ nêu xuống
Tết Rằm tháng Giêng (còn gọi là Tắt lập xuân)
Vào ngày này, làng tổ chức tế tại đình Lễ vật được chia đều cho các giáp, mỗi giáp gồm I cỗ xôi gà Trước khi tế, làng tổ chức chấm điểm lễ vật
của các giáp Sau đó chọn lễ đạt giải nhất, nhì, ba đem đặt lên bàn trên, cỗ
không được giải đặt ở bàn dưới, cuộc tế mới bắt đầu Kết thúc buổi tế, số cỗ được chia cho dân làng đến dự Tết Rầm Tháng Giêng có ý nghĩa cầu cho vạn vật sinh sôi nảy nở, mùa mảng tươi tốt
1.1.4.3 Các phong tục tập quán
Trang 23Các phong tục tập quán của làng Tùy Hối vẫn diễn ra theo khuôn mẫu
chung như ở làng Việt làm nông nghiệp trong vùng Lễ hội dựa vào lịch trình
các phong tục tập quán theo diễn biến mùa vụ của sản xuất nông nghiệp
Cưới xin
Trong cuộc đời của mỗi con người, thì dựng vợ gả chồng được xem là một việc hệ trọng - đại sự, bởi lẽ xét về mục đích của hôn nhân là duy trì gia thống cho nên cuới hỏi là việc chung của gia tộc chứ không phải việc riêng của con cái Bởi vậy, dưới thời phong kiến hầu hết hôn nhân của con cái là do cha
mẹ quyết định là chính và thường là cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy Lam con
không được trái lời, phải tuân theo sự sắp đặt của các bậc sinh thành, tuy nhiên
ở các làng Việt vẫn ít nhiều có tính tự do tương đối vượt ra ngoài lễ giáo
Phong tục cưới xin của làng vừa có nét chung với các làng quê khác, lại
có nét riêng mang tính truyền thống Để đi đến cái đích cuối cùng là hôn nhân
chủ yếu phải qua các bước sau:
~ Bắn tin (mỗi lái): nhờ người mối lái cho nhà trai tiến hành bước tiếp theo
~ Lễ đặt trầu: nhà trai sắm chục trầu, trai rượu đến đặt vấn đề xin phép
đi lại Lễ vật được đặt lên bàn thờ, báo với tổ tiên đồng thời tỏ lòng thành
kính của người dâng lễ
~ Lễ ăn hỏi: đây là phần lễ lớn nhất trong quá trình tiến tới lễ cưới Nhà trai mua sắm đồ lễ rồi đến trao đổi, chuyện trò với họ hàng nha gai
~ Xin cưới: sau lễ ăn hỏi, nhà trai xem ngày lành tháng tốt đem trầu rượu đến xin cưới
~ Lễ cưới: nhà trai phải mỗ lợn, đồ xôi, làm cỗ mời bà con làng xóm xa gần, bạn bè hai bên đến dự tiệc cưới Khi mở được cửa ngõ, đoàn nhà trai vào thưa chuyện cùng họ hàng nhà gái, sau đó chú rễ xin phép hai bên vào bên trong đón cô dâu và cũng lấy lễ vật bên trong hộp đặt lên bàn thờ khấn gia tiên, mong gia tiên phù hộ cho vợ chồng sống hạnh phúc.
Trang 24Ngày nay, các nghỉ thức và thủ tục hôn nhân lại được phục hồi giống
như trước Tuy nhiên các bước ấy đã được tỉnh giảm, còn 3 bước cơ bản và
quan trọng: lễ dạm hỏi, lễ ăn hỏi và lễ cưới Nam nữ tự quyết định cuộc sống riêng của mình, không đo cha mẹ sắp xếp với những yêu cầu khắt khe nữa
Tang ma
Cũng như ở các làng quê khác trong vùng, ở Gia Tân, từ xa xưa đã có cách ứng xử với những người thân đã mắt Tùy theo từng địa phương mà tập
tục, nghỉ lễ có khác nhau vẻ tang ma “người sống có nhà cửa, người chết có
mồ mả” và mồ mả của dân làng thường được quy tụ ở bãi tha ma của làng
~ Trường hợp người chết từ 11 tuổi trở lên đến 49 tuôi: chết thì bỏ vào
quan tài và không được tế, khi đem đi chôn chỉ được 2 hoặc 4 người khiêng,
bằng 2 đòn tre
~ Trường hợp người chết từ 50 tuổi trở lên: trình tự đám ma được tiến
hành qua các bước: đặt tên hèm (tên cúng cơm), lễ mộc dục, lễ khâm liệm
nhập quan, lễ thiết linh, lễ thành phục (chính thức phát tang), lễ cúng cơm, lễ
tế thổ thần, lễ chuyển linh cữu, lễ khai thông đạo lộ, lễ đưa ma, lễ hạ huyệt
Ngày nay, địa phương có quy ước xây dựng làng văn hóa, trong đó có
quy ước không được đề thi hài quá 1 đêm, trong ngày tang lễ không được tô chức ăn uống, rượu chè nên đã giảm bớt một số hủ tục
Lễ mừng thọ
Trong đời sống của người dân xưa, việc lên lão có ý nghĩa quan trọng
đối với mỗi người Tuy nhiên tục vọng lão mỗi nơi có những quy định khác
nhau Căn cứ vào số hương ẩm, các cụ trong làng từ 50 đến 100 tuổi, cứ 10
,, song mức độ khác nhau Những người đạt đến tuôi này và
Trang 25những tuổi 60, 70, 80 phải làm lễ trình làng, tục gọi là vọng lão Việc vọng
lão gồm hai mục đích:
~ Được miễn phu phen tạp dịch
~ Được ngồi vào hàng chiếu ở đình, được ngồi ăn cổ vào hàng các cụ và không phải chịu sự sai khiến làm các công việc vặt của giáp
Theo lệ làng từ xưa đến nay, thì thể thức vọng lão của các hạng tuôi
được quy định như sau:
~ Ở hạng tuổi 50: được vọng lão hạng, là tuổi “dân bắt phiền, quan bắt
nhiễu” Người đến tuổi này phải biện cho làng một cỗ xôi đẻ làng tế vào dịp sắp ấn hàng năm Nếu không làm lễ thì phải nộp 32 quan tiền
~ Ở hạng tuôi 60: đây là độ tuôi
với người nghèo thì nộp 10 quan tiền và hai đầu nếp để làng làm cỗ tế thần; lai hy”, nên có hai mức vọng Đối
người giàu ngoài cỗ xôi gà cho làng còn phải làm cỗ mời dân làng Về phía dân làng cũng góp thêm mâm cỗ của các cụ là đĩa thịt cỗ xôi
~ Ở độ tuôi 70 - 80: được vào hàng thượng thượng thọ và hàng đại thọ nên được làng miễn làm cỗ, chỉ biện cho làng 100 miếng trầu và một chai rượu 'Như vậy, tục vọng lão thực chất là một buôi lễ thần và đãi làng Là hình thức sinh hoạt mang tính chất trọng xỉ của người xưa do tập thể tiền hành để
chính thức hóa hay xác nhận tư cách và cương vị của người được lên lão 1.2 Lịch sử xây dựng và quá trình tồn tại của đình Trùng Thượng
1
Lich sit nhân vật được thời
“Trong tín ngưỡng dân gian của người Việt thì đình làng thường gắn với
tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng Ở bắt kỳ ngôi đình làng nào của người Việt đều tôn thờ một vị thần Họ là người cai quản, che chở, bảo vệ cho nhân dân
trong làng Người dân trong làng luôn dành cho Thành hoàng làng của làng mình sự tôn kính thiêng liêng
'Tuy nhiên, khởi nguyên của Thành hoàng không phải từ Việt Nam mà
từ Trung Quốc Đồng thời, vị Thành hoàng có nguồn gốc từ Trung Quố
Trang 26không phải là vị thần che chở cho một cộng đồng dân cư của làng xã Ban đầu
thành hoàng là một vị thần của thành trì, bảo vệ các tòa thành Tín ngưỡng sơ
khai khiến người ta nghĩ rằng, từng gốc cây, mô đá đều có vị thần ngự trị thì đất đai, vườn tược cũng phải có một nhân vật thiêng liêng cai quản Vị thần
ấy là vị than thé
trực, lúc chết có thé thanh thin và có thể bảo vệ cho cộng đồng Nếu người đó thổ công Sau đó, những người lúc sống công minh chính
lúc sống làm quan ở vùng đắt này thì lúc chết sẽ được tôn làm thành hoàng ở
chính vùng đất ấy
‘Tom lai ở Trung Quốc, Thành hoàng là vị thẳn của thành trì, từ trung ương cđến địa phương và Thành hoàng bảo vệ bộ máy quan liêu, cư dân trong thành Tín ngường thờ Thành hoàng làng du nhập vào Việt Nam vào thời
Đường cũng làm nảy sinh một số Thành hoàng mà chức năng cũng giống
Thanh hoàng Trung Quốc là các vị thần bảo vệ các tòa thành
Theo như sách “Việt điện U Linh” lấy tài liệu từ *Giao Châu ký” cho
biết từ thời nhà Tắn ở Thăng Long (lúc này có tên là Long Đỗ) có một vị hiếu
liêm họ Tô tên Lịch, gia tư không giàu có nhưng rất độ lượng, thương người, hay giúp đỡ dân chúng Khi Tô Lịch mắt, tên ông được đặt tên cho thôn, gọi
là thôn Tô Lịch
Sang thời nhà Đường, viên quan đô hộ nhà Đường thấy Long Đỗ là
vùng đất trù phú, nên cho đời phủ ly của An Nam đô hộ phủ về, rồi đòi dân chúng địa phương đến hỏi ý kiến Tắt cả đều nhất trí tôn Tô Lịch làm thần phù hộ Ít lâu sau, Cao Biển phong cho Tô Lịch là Đô Phủ Thành hoàng thần
quân đại vương Như vậy theo sử sách, Thành hoàng làng nước ta có từ đó và
cũng xuất phát là vị thần bảo vệ tòa thành
Khi tín ngưỡng thờ Thành hoàng "ăn sâu” vào tín ngưỡng dân gian của
người Việt cùng với sự áp đặt của triều đình thì Thành hoàng làng bắt đầu mang một chức năng là vị thằn che chở, bảo vệ, định đoạt phúc họa cho một
Trang 27cộng đồng người trong một đơn vị hành chính nhất dinh Tir d6 nay sinh hệ thành hoàng làng của riêng người Việt (khoảng thé ky XVI - XVII vé sau)
Hệ thành hoàng làng của người Việt rất đa dạng Đó có thê là các vị thần
xuất thân từ cộng đồng làng xã có công với dân làng, hay những vị tướng có
công với nước, với dân Đôi khi những vị thần ấy đã được nhân dân “thiêng hóa” bằng cách gán cho các vị thin ấy có phép màu, hay được nhân dân lịch sir hóa Nhưng cho dù là nhân vật có that hay là nhiên thần, thiên thần thì nhân dân luôn dành cho vị thành hoàng làng sự sùng bái, tôn kính và được nhà vua phong sắc coi như là một hình thức ghi nhận công lao của các vị thần
Thông thường, mỗi làng thờ một vị Thành hoàng làng khác nhau
và có thể do nhiều nguyên nhân (đất chật, người đông, dân số phát triển, nghề nghiệp ), họ sẽ đến lập nghiệp ở một nơi
“Thánh làng nào làng ấy thờ”;
mới, nhưng cả khi đã lập làng mới, họ cũng không quên đem theo chân hương thờ Thành hoàng làng của mình đi cùng để phụng thờ Tuy nhiên, hình như quy luật này lại chưa hẳn đúng với trường hợp đình Châu Khê
Để xác định lịch sử đình Trùng Thượng cần phải căn cứ vào một số tư liệu: Bi kí, sắc phong, văn tự ghi lại trên công trình kiến trúc, than pha va dic trưng mỹ thuật của công trình kiến trúc hiện tồn tại Ngoài ra còn căn cứ vào các nguồn tư liệu dân gian qua lời kể của các cụ cao niên và lịch sử của làng
Trùng Hơn nữa, khi nghiên cứu lịch sử đình Trùng không thế không liên
quan đến ngôi đền thờ thành hoàng ngay tại khuôn viên của đình
“Tên đình Trùng Thượng có liên quan đến vị thành hoàng Đông Hải Đại Vương Nguyễn Phục Theo thin pha, thì vào năm Hồng Đức nguyên niên (1470) vua Lê Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành, Nguyễn Phục được phong
chức Đốc vận quân lương Nhưng do thuyền lương đến cửa biên Thần Phù và cửa Càn (Yên Mô) gặp bão to sóng lớn sợ, thuyền bị đắm chết nhiều người Nguyễn Phục cho dừng lại, do đó thuyền bị châm Ông bị vua Lê xử tội chết, nhưng ông cứu được nhiều người thoát chết vì sóng biển Sau khi chiến thắng Chiêm Thành trở về biết rõ sự tình, vua Lê phong cho ông làm phúc thần làng
Trang 28
Cổ Da (Yên Mô) Trong đền thờ ông có vế “Hai lang chở lương thuyền
nhất dạ càn môn đa hoạt mạnh” (nghĩa là: sợ sóng gió chở lương thuyền, một
tối cửa càn nhiều mạng sống) Nhiều làng ông đi qua nhân dân đã lập đẻn thờ
Thôn Phú Nha làng Tùy Hối là một làng như thế và gọi đình làng là đình Trùng Thượng
Đình Trùng Thượng thờ các vị thánh sau: Đông Hải Đại Vương
Nguyễn Phục, Trang Hiến (Tô Hiến Thành), Sóc Giang (không rõ sự tích)
Đình cũng phụng thờ hai mẹ con Trần Quốc Toản (Nguyên Từ Quốc mẫu,
Hưng Nhượng vương Trần Quốc Toản), và sau đây là tiểu sử các vị thần được thờ ở đình làng Trùng Thượng
1 Đông Hải đại vương
Đông hải đại vương họ Nguyễn, húy Phục, người xã Đoàn Tùng, huyện Gia Lộc, xứ Hải Dương, thi đỗ Hoàng giáp khoa Quí Dậu (1453) niên hiệu Thái Hòa, đời vua Lê Nhân Tông Làm quan trong viện Hàn lâm, thăng quan nghị Chính sự viện, Giám thị khoa thì năm Quí Mùi (1463), năm Quang Thuận
thứ tám (1467) bỗ chức Thừa tuyên Tham nghị sứ Thanh Hóa Sắc dụ rằng:
Năm trước sai người đi xứ phương Bắc được mạnh khỏe mà về, năm nay cho gọi lại để dâng lời hay đáng khen, nay sai giám thừa Nguyễn Lỗi mang bạc thưởng cho để nếu lòng trung hết tình vì ta nên nhận lấy”
Bấy giờ vua nước Chiêm là Trà Toàn cậy mình hung mạnh thường xâm phạm quấy nhiễu biên giới, lại cầu nhà Minh viện trợ để đánh nước ta Năm
đầu Hồng Đức (1470) vua Lê Thánh Tông thân mang quân đi bình Chiêm, phong Thừa Tuyên Tham nghị Nguyễn Phục lĩnh chức Đốc lương đô chỉ huy Đoàn thuyền lương bị sóng đánh cản trở sai lỡ hẹn kỳ, tướng chỉ huy phải chịu quân luật Nang hau My Da mang linh cữu ông xuống thuyền dua
về an táng ở khu làng Cổ Đà Mao Cá, khu Mao Cá, làng Cổ Đà, huyện Yên
Mô, gần nơi ông đóng thuyền lương đợi ngày vượt cửa Thần Phù rồi lại ở đó trông nom phần mộ.
Trang 29Sau khi chiến thắng Chiêm Thành Vua Lê ban sư, trên đường về gặp
sóng to, gió lớn, biển động thuyền không đi được Một đêm nhà vua thao thức
tai nghe gió gào, sóng dậy, trằn trọc không sao ngủ được, sực nghĩ thuyền lương nhỡ kì hạn là do sóng to gây ra, trong lòng hối hận thương Đốc lương
quan bị thác oan, trong lúc mơ màng, vua thấy ông nhung trang tế chỉnh đứng
trước giường ngự tâu rằng:
“Kẻ hạ thần cảm ơn trí ngộ của bệ hạ nên dẫu thác, linh hồn vẫn theo ra chiến trận Nay nhờ hồng phúc quốc gia, bệ hạ dẹp xong Chiêm khấu, hạ thần
lại xin theo hộ giá khải hoàn'
'Vua Lê chợt tỉnh, trông ra vằng đông đà hứng sáng, biển lặng sóng yên Đại quân vượt biển trở về yên ồn
'Vua Lê Thánh Tông truy phong Đốc lương quan Nguyễn Phục tướng
Đại vương biên Đông Hải làm phúc thần làng Cổ Đà và lập đền thờ lăng bên
mộ Nay là thôn Cổ Đà, xã Yên Phú, huyện Yên Mô, tinh Ninh Binh,
Đại Nam nhất thống chí, Nhà xuất bản KHXH Hà Nội - 1971 tập II -
tỉnh Hải Dương - trang 421 - chép:
*Nguyễn Phục người huyện Gia Lộc, đỗ Hoàng Giáp đời Lê Thái Hòa, làm Hàn Lâm viện kiêm sư phó dạy thân vương Khi Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành làm việc Đốc quân vận lương, vì bị bão, sai kì phải chịu quân luật Sau biết oan, truy phong phúc thần Nay dân ở ven biển đều gọi là đền
Trùng Giang
Đông Hải đại vương Nguyễn Phục có hàng trăm nơi lập đền thờ (sách
đã dẫn cùng tập - trang 256) chép:
“Đền Đông Hải Nguyễn thần ở địa phân các huyện Hà Trung, Thiệu
Hóa và Tĩnh Gia gồm 43 xã thôn phụng thờ Thần họ Nguyễn, húy Phục,
người huyện Gia Lộc (xem Hải Dương tỉnh chí)
Có về đối minh họa
Trang 30Thân uy đặc chắn Bắc Nam bách sở linh từ
Tam dich:
Uy thần đặc biệt Bắc Nam trăm chốn đền thờ:
Tinh Ninh Bình cũng có nhiều đền thờ Đông Hải đại vương Nguyễn
Riêng thần phả số đền thờ thuộc huyện Gia Viễn chép: Tướng Nguyễn Phục không cho quân sĩ mạo hiểm vượt bé trong khi gió to sóng lớn, mình ông chịu quân luật, quân sĩ được an toàn
Sợ sóng chớ thuyền lương, một tối cửa Càn nhiều mạng sống
“Thời xưa quan quân chở lương trên sông trên biển thường cầu thần phù
hộ gió lặng sóng yên Có nơi gọi là Đông hải đại vương là “Thần gió”
2 Tô Hiến Thành
“Theo sách Lý Cao Tông phụ chính đại thẳn, Tô Hiến Thành thái sư ngọc phả ở bảo tàng tinh Ninh Binh, ông ba thân sinh ra Tô Hiến Thành là Tô Trung
và Nguyễn Thị Đoan, vốn là người nhân đức, nhưng đã 42 tuổi mà vẫn chưa có
con Bấy giờ ông Tô Trung làm quan ở phủ Trường Yên, nghe tin đẻn đức thánh Nguyễn Minh Không ở Đàm Xá rất linh ứng, liền đến cầu tự Sau đó bà
Nguyễn Thị Đoan có thai và sinh ra Tô Hiển Thành Lớn lên Tô Hiển Thành đổ
đạc cao, làm quan Vinh Lộc đại phu Khi cha mẹ Tô Hiến Thành mắt, vua Lý
Cao Tông cho ông vàng bạc 100 cân để làm tang lễ, còn dư ông biếu làng Đảm
Ông lại lấy 140 người dân Dam Xé lam gia thin
Sau khi chiến thắng quân Chiêm Thành, Tô Hiến Thành được phong thực ấp ở phủ Trường Yên Ông về Đàm Xá lễ tạ ở đền thờ Nguyễn Minh Không, khuyên nhân dân chăm lo cầy cấy và xin cho dân làng Đàm Xá được miễn sưu thuế, tập dịch Khi ông mất, vua Lý Cao Tông phong sắc đại vương và xin cho dân Đàm Xá rước thần hiệu ông về cùng thờ ở đẻn
Nguyễn Minh Không.
Trang 31'Về sau, nhân dân thôn Xuân Lai (Đàm Xá xưa) lập một ngôi đền thờ
Tô Hiến Thành gọi là đền thánh Tô
3 Nguyên Từ Quốc mẫu và Trần Quốc Tảng
“heo sách Trần triều Ngọc phả ở đền Quốc mẫu cùng làng Tùy Hồi, thì Trần Hưng Nhượng (Quốc Tảng) là con bà Trang Nương (Nguyên Từ Quốc mẫu) và Trin Hung Đạo Năm 16 tuổi Hưng Nhượng đã rất giỏi binh thư Khi quân Nguyên Mông xâm lược nước ta, ông theo cha đánh giặc, lập nhiễu chiến công Sau khi thắng trận, vua Trần Nhân Tông đã phong cho ông làm
Vệ
“Nhập nội kiểm soát, chức cư hầu tước chỉ thượng đối kiểm nhập t
sau vua Trần lại tôn ông làm “ thượng phụ” và phong bà Trang Nương là
“Bảo Huệ phu nhân” tôn làm Quốc Mẫu
Sau khi Trần Hưng Đạo mắt, Hưng Nhượng cùng bà Bảo Huê phu nhân
đi chu du bốn bề, khi đến xã Tùy Hối, thấy ở đây phong cảnh đẹp đế, liền lập một cung để ở rồi chiêu dân lập ấp Khai mở ruộng đồng Hưng Nhượng khuyên nhân đân chăm lo lao động, lấy nông nghiệp làm gốc, đoàn kết với nhau, trên thuận dưới hòa, thuần phong mỹ tục Nhân dân biết ơn ông có công chiêu dân lập ấp, khai sang ra làng Tùy Hồi
Quốc mẫu ở trong cung sở được ba năm thì bệnh nóng rét liên miên hơn một tháng Trần Hưng Nhượng cùng nhân dân Tùy Hồi hết lòng chạy
chữa, nhưng vì bệnh tình quá nặng, nên bà đã mắt ngày 25 tháng Chạp
Vua Trần Anh Tông cho làm lễ an tang bà rất long trọng, giao cho nhân dân Tùy Hối thờ tự Sau khi mẹ chết, Hưng Nhượng vẫn ở lại làng Tùy
Hồi Sau khi Chiêm Thành xâm lược nước ta, vua Trần Anh Tông sai xứ về
xã Tùy Hối, triệu ông đi đánh giặc Chưa đầy một tháng sau Trần Hưng
'Nhượng đã đẹp yên quân giặc Vua Trần Anh Tông đã phong cho ông chức
“Nhập nội quốc khảo Hưng Nhượng đại vương” ông xin vua miễn cho dân
Tùy Hi sưu sai, tô thuế.
Trang 32Một thời gian sau ông về Tức Mặc rồi mắt, thọ 67 tuổi Vua Trần Anh Tong cho mời dân Tùy Hồi ra Tức Mặc an tang ông rất long trọng và cho ông được thờ cùng một miếu với bà Bảo Huệ phu nhân Đến nay nhân dân Tùy Hồi vẫn kiêng chữ “Trang” và “Nhượng” là tên gọi hai mẹ con ông
Về ruộng đất thì trước Cách mạng Tháng 8 làng Tùy Hối có hơn 600
mẫu ruộng, trong đó có 100 mẫu là tư điền, 500 mẫu còn lại là công điền Theo truyền thuyết thì hơn 500 mẫu công điền này là do Trần Hưng Nhượng và những người lập ấp đầu trên để lại cho dân làng Số ruộng công điền đó cứ 3
năm chia lại 1 lần Trừ những người cô nhỉ quả phụ và người già trên 60 tuổi
còn lại dân làng ai cũng được chia Mỗi người được chia một mẫu kê cả thô cư
Ví dụ một người đã có 3 sào đất rồi thì được chia thêm cho 7 sảo ruộng nữa, còn người chưa có đất ở thì được chia cả một mẫu ruộng Dân làng thường mở
ng bị lắn
n tượng đất chiếm dần Làng có hai ngôi đình mỗi, ngôi có một mẫu do dân tiến cúng, còn ngôi chùa và đền Quốc mẫu, mỗi ngôi 6 sào ruộng công do Trần Quốc Tảng để
lại Như vậy những di tích và lệ chia công điền ở làng Tùy Hối phản ánh một thực tế lịch sử theo truyền thuyết là Trần Quốc Tảng đã chiêu dân lập ấp ở đây
1.2.2 Niên đại, quá trình tồn tại và phát triển của di tích
Đình Trùng Thượng và đình Trùng Hạ thuộc làng Tủy Hối, xã Gia Tân, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình Sở dĩ gọi là đình Trùng vì hai ngôi đình thờ các vị thành hoàng làng giống nhau, đó là: Đông Hải đại vương Nguyễn Phục;
Trang Hiến (Tô Hiến Thành); Sóc Giang (không rõ sự tích); Phụ thờ hai mẹ
con Trần Quốc Tảng (Nguyên Từ Quốc mẫu và Hưng Nhượng Trần Quốc
Tảng) Ngoài ra cũng có nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, đây là hai ngôi đình
có lịch sử xây dựng cùng thời, giống nhau, có thể trùng khít lên nhau
Đình Trùng Thượng còn lưu giữ nhiều tài liệu ghi chép về sự ra đời của
Trang 33dựng cột vào ngày 19 tháng 11 năm Đỉnh Sửu thuộc triều dai nhà Lê Đức - Nguyên thứ hai (tức là 1675) [PL 1, A.8, tr 111]
Ở tắm bia gỗ có niên hiệu khắc là Tự Đức 30 (1877) cũng có ghỉ (tam
dịch): “Nguyên năm gian làm từ thời Lê Đức nguyên thứ hai, cho đến nay
(1877) đã 200 năm” [PL L, A.9, tr.112]
Hai cau đối ở ngoài đình có ghỉ: “Tao sự Dương đức Hậu Lê khắc dc đan doanh tòng cổ chế và Hạnh Phùng Nguyễn triều Bảo Đại trúc tường phú ngồa điện tân quy, nghĩa là làm từ thời Dương Đức Hậu Lê, khắc, sơn cột
theo nếp cô Gặp may thời Bảo Đại triều Nguyễn xây tường lợp ngói công
trình mới thật là quy mô
Như vậy chúng ta thấy có hai ý kiến: một là năm Dương Đức (1672 -
1673) và một là làm năm Đức Nguyên 2 tức 1675, ý kiến thứ hai được ghỉ ngay từ thời làm vào năm 1877 ghi lại Còn ý kiến thứ nhất thì mới ghỉ từ thời Bảo Đại, chưa rõ căn cứ vào đâu
Chúng tôi thấy cả hai ý kiến đều xác đáng so với phong cách nghệ
thuật Riêng ý kiến thứ hai xác thực hơn vì nó được ghi từ lúc làm và lại được
xác minh lại một lần vào năm 1877 Tuy nhiên, rất có thể cả hai đều không sai Vì làm một cái đình không phải là nhanh Có thê ý đồ và chuẩn bị từ thời
Dương Đức (1673) và hai năm sau (tức Đức Nguyên 2, 1675) đẩy đủ vật liệu
và chạm trổ xong mới đưa ra chọn ngày tháng dựng
Do đó, đình làm từ 1673 đến 1675 là xác đáng Sau lần dựng này có những năm trùng tu đáng lưu ý:
Chữ ở cột sau bên trái gian giữa (cột chính) 6 ghi: “Lé triéu vinh Thinh ngũ niên tué thứ kỷ Sửu bát nguyệt nhị thập nhật tác cửa võng " Nghĩa là: ngày 20 tháng 08 năm Kỷ Sửu thuộc triều Lê Vĩnh Thịnh thứ năm (tức 1709) làm cửa võng
Lần trùng tu này có ghi lại ngày trên cửa võng gian phải (ở các ô chữ
to): “Tud thứ Kỷ Sửu niên bát nguyệt nhị thập nhật tác cửa vong swe”, nghĩa là
Trang 34ngày 20 tháng 08 năm Kỷ Sửu thuộc triều Lê Vĩnh Thịnh thứ năm (tức 1709) làm cửa võng
Căn cứ vào những nét chạm khắc mà so sánh thì ta thấy lần trùng tu này làm hai cửa võng giữa và bên phải đồng thời làm cả mảng chạm rồng ở cốn phía trên võng
Lần trùng tu thứ hai được ghi ở cột sau bên phải gian giữa (cột chính):
“Lê triều Tự Đức tam thập niên tuề thứ Đình Sửu trọng thu cát nhật trùng tu”, nghĩa là: ngày tốt lành giữa mùa thu năm Đinh Sửu thuộc triều Nguyễn, Tự
Đức thứ 30 (tite 1877) tu sửa lại
Năm trùng tu này cũng có nói ở tắm bia khắc gỗ đề niên hiệu Tự Đức
30 Căn cứ trên chạm khắc thì lần này sửa chữa một số vì kèo gian giữa Lần trùng tu thứ ba là làm lại cửa võng bên trái Ngay ở cửa võng có ghi “Trùng tu cửa võng giáp thân niên”, nghĩa là trùng tu cửa võng vào năm Giáp Thân, chưa rõ Giáp Thân nào, nhưng căn cứ vào vết chạm, căn cứ vào
hình mẫu rồng phượng thì đây chỉ có thẻ là một lần gần với đợt trùng tu thứ
hai Nghĩa là có thể vào năm 1884, 7 năm sau vào đợt sửa chữa lớn người ta
lại sửa chữa tiếp cửa võng
Lần trùng tu thứ tư làm lại toàn bộ dãy nhà thượng cung, ngay trên thượng lương dãy nhà này ghi rõ: “hành Thái thứ Ký Sứu, trùng ti”, nghĩa
là sửa chữa lại năm Kỷ Sửu niên hiệu vua Thanh Thai (tức năm 1889),
Lần trùng tu thứ năm là lần lợp ngói và xây tường mà câu đối có nhắc
tới Tại đình Trùng Thượng có ghi lần sửa chữa xây tường của đình đó là năm
Quý Hợi (1923) Các cụ nhiều tuổi trong làng cho biết, cả hai đình sửa chữa,
xây tường, lợp ngói cùng một lần Như vậy, là lần sửa chữa của năm Khải
Dinh thứ 8, chứ không phải Bảo Đại Năm Bảo Đại chỉ làm lại bia ghỉ lại thôi
Tác giả của câu đối có thẻ đã nhằm.
Trang 35“Tóm lại, qua một số dấu tích bước đầu ta thấy, năm dựng đình: 1673 -
1675; các đợt trùng tu: 1709 (cửa võng giữa và phải), 1877 (vì kèo giữa), 1884 (cửa võng trái), 1889 (thượng cung), 1924 (ngói và tường)
Hoa bình lập lại (1954) một thời gian dài, đình Trùng Thượng là kho để thóc, để đỗ dùng cho sản xuất nông nghiệp của hợp tác xã Có thể do chuyển hóa thành kho, nên lúc đó hợp tác xã đã sửa đình từ kiến trúc có 4 góc mái
cong sang kiến trúc “tường hồi bít đố:
° Ngày nay đình Trùng Thượng là trung tâm sinh hoạt văn hóa, câu lạc bộ của làng Từ năm 1999, Ban bảo vệ di tích đình Trùng Thượng đã được thành lập gồm có các cụ lão thành có tâm
huyết với di sản văn hóa của dân tộc đã báo cáo với chính quyền địa phương
bảo vệ gìn giữ ngôi đình khang trang, sạch đẹp hơn
Cũng như đền vua Đinh, đền vua Lê (Trường Yên, Hoa Lư), đình
Trùng Thượng là điểm tham quan lý thú về kiến trúc điều khắc gỗ dân gian thế kỷ XVII - XVIII
Tiểu kết Chương 1
Gia Tân, một vùng đất cỗ ven sông Đáy và sông Hoàng Long, được
hình thành cùng với quá trình dựng nước của người Việt, nên ngay từ sớm đã
có điều kiện tương đối thuận lợi đê cư dân ôn định cuộc sống nông nghiệp và
phát triển kinh tế đa ngành Từ đó, tạo ra một cơ sở kinh tế tương đối ôn định
để hình thành làng xã vững chắc trên một địa vực cư trú theo xóm, dòng họ, giáp, đã góp phần ràng buộc các cư dân làng xã trong một khuôn khổ nhất định và theo một định hướng luân lý, truyền thống
Đình làng Trùng Thượng hiện tại thờ 5 vi Thành Hoàng làng và đình được khởi dựng từ thời Hậu Lê cụ thể là vào năm 1673 - 1675 Đình đã trải qua nhiều đợt trùng tu lớn đó là vào các năm 1709,1877, 1884, 1889, 1924 và
những năm gần đây năm nào cũng tiến hành sửa chữa nhỏ theo đúng nguyên tắc ngành Bảo tàng.
Trang 36Chương 2
GIÁ TRỊ VĂN HÓA VẬT THÊ ĐÌNH TRÙNG THƯỢNG
Khi tiếp cận giá trị của một di tích, chắc chắn giá trị văn hóa vật thể sẽ được tiếp cận đầu tiên; bởi lẽ mặt giá trị này đóng vai trò quan trọng cấu thành nên giá trị của một di tích kiến trúc Sự gắn kết chặt chẽ giữa mặt giá trị
này và các giá trị văn hóa phi vật thể mới tạo cho di tích giá trị hoàn chỉnh Bởi vậy, có thể nói, khi tiếp cận tới mặt giá trị này tức là chúng ta đang “trở lại quá khứ” của cha ông, đang tiến dẫn tới những sáng tạo dân gian, tới
những giá trị truyền thống của dân tộc
2.1, Giá trị kiến trúc
Đình làng, nhất là đình làng ở miền Bắc, là kho tàng hết sức phong phú của nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc Việt Nam trong lịch sử Nghệ thuật kiến trúc cũng tồn tại ở chùa, đền và các kiến trúc tôn giáo khác nhưng kiến trúc và điêu khắc ở đình làng không những là nguồn tải liệu để nghiên
cứu lịch sử mỹ thuật Việt Nam, mà còn là nguồn tải liệu để nghiên cứu đời sống ngày thường cũng như tâm hồn của người nông dân Việt
Nói đến nghệ thuật kiến trúc - điêu khắc đình làng cũng là nói đến
nghệ thuật trang trí đình làng Điêu khắc ở đây là điêu khắc trang tri, Người thợ làm đình chẳng những thành thạo trong việc dựng đình mà còn biết tô điểm cho ngôi đình thêm đẹp Điêu khắc ở đây
do đó gắn liền với kiến trúc Hầu như trên các thành phần của kiến
trúc đình làng đều được các nghệ nhân xưa dùng bàn tay điêu luyện của mình chạm khắc thành những hình mẫu có giá trị nghệ thuật
cao, thu hút sự chú ý của mọi người lúc ghé thăm đình [30, tr47]
Là công trình kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng của làng Trung tâm văn hóa tâm linh của làng Bằng đôi bản tay khéo léo và khối óc thông minh, các nghệ
nhân xưa của làng Tùy Hối đã đề lại cho hậu thế một công trình
ân bây giờ, dù trải qua nhiều bước thăng trầm của lich
Trang 37sử nhưng đình vẫn đứng đó sừng sững như muốn thách thức cùng thời gian Đó chính là bức thông điệp từ quá khứ của cha ông - an chứa trong đó là các giá trị
truyền thống mà con cháu ngày nay cần phải giữ gìn và phát huy
2.1.1 Không gian cảnh quan
Trong quan niệm truyền thống của người Việt, trước khi bắt tay vào
xây dựng các công trình kiến trúc, thì việc lựa chọn vị trí thế đất và hướng
của công trình luôn là điều được được quan tâm và phải tuân theo những quy định của thuật “Phong thủy” Trên thực tế, các công trình kiến trúc mà đặc biệt là các công trình tôn giáo, tín ngưỡng được coi là nơi bảo tồn giá trị văn
hóa của mỗi làng xã, đình làng là nơi gửi gắm niềm tin, niềm tự hào của cả
cộng đồng làng xã Do đó, địa thế và cảnh quan xây cắt công trình luôn được
các bậc tiền nhân coi trọng Người xưa thường rất quan tâm đến việc chọn thế đất để dựng đình Đó phải là nơi cao ráo, sáng sủa, phía trước phải rộng rãi, thoáng đãng, xa xa có núi non chầu vẻ, phía sau phải có thế tựa, ngay phiá trước có hồ nước rộng, đó là yếu tố tụ thủy đối với mỗi công trình di tich Dac biệt là yếu tố '“Thiêng” khi lựa chọn thế đắt, đó cũng là điểm hội
tụ sinh khí của bốn phương tám hướng trong trời đất Đình làng Trùng
Thượng cũng được xây dựng theo quan niệm trên
Người Việt nhìn nhận trong bao la có một khối sinh lực nào đó ở tằng trên, không xác định được Dòng sinh lực vũ trụ này dần được đồng nhất với
mọi nguồn hạnh phúc, nó chảy xuống mặt đất, làm nảy nở sự sống Con người cũng đã mượn trời đất một phần sinh lực để làm linh hỗn riêng Đặc tính này
chỉ xảy ra ở những mảnh đất hội được các điều kiện nhất định, do người xưa
bằng chiêm nghiệm thấy, nơi ấy họ thường dựng các kiến trúc tôn giáo
Nói đến không gian cảnh quan của di tích là nói đến hướng, không gian xa gần và cây cỏ trong di tích
Trước tiên là hướng đình Có thể nói đình làng là nơi ngưng kết mọi
giá trị văn hóa vật chất va tỉnh thần của mỗi làng quê Việt Nam Vì vậy việc
Trang 38
xây dựng đình theo hướng nào phải được những người biết, có kinh nghiệm trong làng lựa chọn rất cẩn thận Ho tin rằng, chỉ cần có chút sai sót,
sẽ có những ảnh hưởng không tốt đến cả làng, dân làng sẽ bị bệnh tật, hoa
hoạn, làm ăn thất bát Ca đao xưa có câu:
“Toét mit la tại hướng đình
Ca lang toét mit, riêng mình em đâu”
Câu ca dao trên phần nào cho ta thấy được tầm quan trọng của việc
chọn hướng đình, nó mang ý nghĩa tâm linh sâu sắc trong tư duy của mỗi người dân trong làng Người ta lấy hướng đình làm chuẩn, việc xây dựng nhà cửa trong làng đều phải làm song song hoặc vuông góc với đình, tuyệt đối không làm nhà thẳng vào hướng đao đình
Đình Trùng Thượng quay hướng nam, trông ra sông Hoàng Long Theo quan niệm của nhân dân địa phương, đình Trùng Thượng làm trên thế nghiêm bút Đẳng sau có gò sứ đài 5 -6m Theo đạo Phật, thì hướng nam trong sáng,
đồng nhất với trí tuệ mà đạo Phật lấy trí tuệ để diệt trừ ngu tối, tức mầm
mống tội ác, hướng nam còn mang dương tính cũng gắn với hạnh phúc, với điều thiện Khi ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa du nhập vào thì: “Thánh nhân nam diện nhỉ thính thiên hạ” (Thánh nhân ngồi quay hướng Nam để nghe lời tâu bày của thiên hạ), đó là hướng của để vương, đó cũng là hướng
của thần linh khi các ngài thành vua, tỉnh thần của quần chúng Trong điều kiện thực tế của nước ta thì hướng nam cũng thường được chú ý nhiều hơn
ca, vì trước hết đó là hướng gió mát mẻ vào mùa hè, tránh rét vào mùa đông
Ông cha ta vẫn có câu: “Lấy vợ hiển hoả làm nhà hướng Nam” là vì lẽ đó
Hướng đình còn mang ý nghĩa cho mùa màng bội thu, vạn vật luôn thích nghỉ, cuộc sống của dân làng sẽ ấm no, hạnh phúc
Ngoài ra, đối với một di tích kiến trúc, người nghê nhân dân gian còn
quan tâm tới không gian gần và xa Đình Trùng Thượng được xây dựng ở
khu vực trung tâm của làng, trên một thế đất bằng phẳng, thoáng rộng
Trang 39khoảng 3600 mỶ Phía trước đình trước kia là một hồ nước lớn Theo phong
thủy đó là yếu tố cần và đủ đồng thời là niềm tin của cộng đồng, nơi nào có
tụ thủy, tức là tụ phúc, phúc lớn tạo ra sự hưng thịnh, phát triển cho cả cộng
đồng làng xã, đây cũng chính là biểu hiện cho sự cầu mong sinh sôi phát triên Bên cạnh ý nghĩa trên, yếu tố nước ở đây còn mang giá trị về điều hòa
khí hậu, đặc biệt vào những ngày hè nóng bức, cây xanh và hỗ nước đã góp
phần giảm bớt cái nóng, cái nắng và đình làng trở thành một nơi lý tưởng để
người dân sau một ngày lao động mệt nhọc dừng chân nghỉ ngơi, giao lưu,
bàn việc Đó là sự khởi nguyên, là phần âm trong tông thể không gian của
đình tạo thành ý niệm dương, đây chính là biểu hiện cho cầu sự sinh sôi phát
triển của cả công đồng làng xã
Ngay từ xa xưa, người Việt với nét văn hóa gốc nông nghiệp đặc trưng của mình đã có ý thức tôn trọng và ước vọng chung sống hòa bình với
tự nhiên Do vậy, cây cối luôn được quan tâm
“Trước hết, cây cỏ được ví như một bộ quản áo đẹp để trang hoàng cho di
tích, nhằm làm cho kiến trúc được hòa quyện với môi trường và không cách
biệt Mặt khác, cây cỏ còn như nhấn mạnh một điểm cơ bản xác nhận mảnh đất
có di tích là tươi tốt thích ứng với đất thiêng, đất lành của muôn loài Tuy
nhiên, không phải di tích nào cũng có số lượng cây cỏ cùng loài như nhau, mà
tùy vào từng loại hình kiến trúc người ta trồng những cây tương ứng
Ở đây, với những ý nghĩa đó, phía trước đình là một vườn cây rộng rãi
với nhiều cây xanh tạo vẻ thâm nghiêm, cô kính đồng thời tỏa bóng mát cho
khu di tích như: cây nhãn, cây bằng Trong sân đình, dân làng có trồng một cây sỉ để tạo vẻ linh thiêng và tỏa bóng mát cho di tích Đó là loại cây được
tín ngưỡng dân dã coi như là nơi thường ngự của các thần linh dân dã Cũng
có khi là nơi nương tựa của các linh thần bơ vơ, nhờ có đình mà các vong linh được nương tựa vào thần mà hưởng chút ít lộc hương của chúng sinh
Đối với các cây này, cảng khúc khuỷu rậm rạp thì càng được coi là gắn với
Trang 40thần linh nhiều hơn, và như thế cây sỉ với các rễ buông nhiều thân đã như
tao cho ngôi đình một không gian u linh hơn
2.1.2 Bỗ cục mặt bằng tổng thể
BỐ cục mặt bằng là sự bố trí, sắp xếp các đơn nguyên kiến trúc của một
di tích trên khuôn viên của nó Đối với kiến trúc truyền thống, nhất là các công trình kiến trúc tín ngưỡng tôn giáo, sự sắp đặt các đơn nguyên trong tổng thể kiến trúc không đơn thuần là việc phân chia giới hạn và công năng sử dụng, quan trọng hơn là nó còn ẩn chứa yếu tố triết lý, tư tưởng mà người xưa
đã gửi gắm vào đó Các công trình trong quần thể đều được bố trí trải dai theo
một trục chính và đối xứng qua trục, tuân theo những quy luật bố trí rất phổ biến trong mặt bằng kiến trúc tôn giáo truyền thống Quy luật này đảm bảo cho một quần thể tuân thủ theo thứ tự bồ cục các công trình theo chiều sâu, đồng thời vẫn có thể theo diện rộng
Đình Trùng Thượng là một cụm công trình kiến trúc tôn giáo với nhiều
hạng mục Đình được xây dựng trên một gò đổi cao với nền diện tích mặt
bằng là khoảng 3600 mỶ, có kết cấu kiến trúc chữ “nhị” gồm tòa đại đình 5
gian 2 chái, và tòa hậu cung song song với tòa Đại đình
Từ ngoài bước vào là nghỉ môn được xây dựng theo kiểu nghỉ môn trụ biểu với một lối đi chính giữa, hai bên là cửa phụ Bên trong đình là sân hình chữ nhật được lát gạch đỏ dài 25m, rộng 15m
Đi qua sân gạch ta đến tòa đại đình 5 gian 2 chái, trải dài theo chiều ngang của sân Tiếp đến là tòa hậu cung Có thể thấy các công trình được
xây dựng tạo nên sự hài hoà, hoàn chỉnh và mang tính thẩm mỹ cho di tích
Nhìn chung, cũng giống như nhiều ngôi đình khác ở đồng bằng Bắc bộ, đình làng Trùng Thượng có quy mô kiến trúc vừa phải Mặt bằng tổng thể đã
tuân thủ nghiêm ngặt luật Phong Thủy mà người Việt vốn áp dụng từ xưa
Ngôi đình thê hiện được triết lý sống hài hòa với môi trường thiên nhiên của người Việt Các nghệ nhân dân gian đã lấy cây cối làm những điểm tô thêm cho cảnh quan của đình thêm sức sống, làm cho tòa đại đình to lớn như hòa
vào thiên nhiên nơi đây.