1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Văn hóa học: Nghề làm đồ chơi Trung Thu ở làng Hảo (xã Liêu Xá, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên)

132 2 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 28,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn Nghề làm đồ chơi Trung Thu ở làng Hảo (xã Liêu Xá, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên) nêu lên cơ sở lý luận về văn hóa nghề và tổng quan về làng Hảo. Trình bày các phương diện văn hóa của nghề làm đồ chơi Trung thu truyền thống tại đây. Phân tích sự biến đổi của văn hóa nghề làm đồ chơi Trung thu truyền thống ở làng Hảo và những vấn đề đặt ra hiện nay.

Trang 1

+ #ttxt£

Ngô Thị Thu Hường

Nghề làm đồ chơi Trung Thu ở làng Hảo

(xã Liêu Xá, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên)

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HÓA HỌC

Trang 2

Nghề làm đồ chơi Trung Thu ở làng Hảo

(xã Liêu Xá, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên)

Phụ lục Luận Văn

Hà Nội, 2016

Trang 3

mm

Ngô Thị Thu Hường

Nghề làm đồ chơi Trung Thu ở làng Hảo

(xã Liêu Xá, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên)

Chuyên ngành: Văn hoá học

Mã số: 60310640

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HÓA HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Đức Ngôn

Hà Nội, 2016

Trang 4

dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trần Đức Ngôn Các kết quả

nghiên cứu và các kết luận trong luận văn này là trung thực, không sao

chép từ bất kỳ một nguồn nảo và dưới bất kỳ hình thức nào Việc tham

khảo các nguồn tài liệu đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định

Tác giả luận văn

Ngô Thị Thu Hường.

Trang 5

1.1 Cơ sở lý luận về văn hóa nghề sec TÍ

1.1.2 Khung phân tích cho việc nghiên cứu văn hóa nghề 13

1.2.1 Sự hình thành và phát triển của làng Hảo 16

1.2.3 Sự hình thành và phát triển của nghề làm đồ chơi trung thu ở

Chương 2: CÁC PHƯƠNG DIỆN VĂN HÓA CỦA NGHẺ LÀM ĐÔ CHƠI TRUNG

2.1 Văn hóa tổ chức làng nghề làm đồ chơi trung thu truyền théng 40

2.1.2 Tổ chức hộ cá thể theo 42

2.2 Tri thire vé nghé lam dé choi trung thu truyền thống 44

2.3 Các giá trị văn hóa trong sản phẩm đồ chơi trung thu truyền

2.3.1 Giá trị nghệ thuật 52

Trang 6

2.4.1 Ứng xử của người làm nghề trong cộng đồng làng, 61

2.4.2 Higu qua kinh tế của nghề tác động tới văn hóa làng, 63

Chuong 3: SY’ BIEN DOI CUA VAN HOA NGHE LAM BO CHOI TRUNG THU

TRUYEN THONG 6 LANG HAO VÀ NHỮNG VẤN ĐÈ ĐẠT RA HIỆN NAY 68

3.1.1 Sự biến đổi của văn hóa tổ chức —

3.1.2 Sự biến đổi của trí thức vẻ nghề 70

3.1.3 Sự biến đổi của các giá trị văn hóa trong sản phẩm 73

3.1.4 Những tác động mới của nghề đối với văn hóa làng Tố

3.2 Những vấn đề đặt ra đối với nghề làm đồ chơi trung thu truyền

3.2.1 Đồ chơi trung thu truyền thống - những khó khăn và thách

thức mới 78

3.2.2 Vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của nghề làm đồ

chơi trung thu truyền thống ở làng Hảo hiện nay 83

KẾT LUẬN _ vee 94

TÀI LIỆU THAM KHẢO : = —.-

Trang 7

ANTT An ninh trật tự

CNH - HĐH Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa

Nxb Nhà xuất bản

Scientif and Cultural Organization

Trang 8

Giao lưu văn hóa ngày nay đã trở thành một vấn đề đáng quan tâm hơn

bao giờ hết, đặc biệt là trong giai đoạn toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ trên hầu hết các lĩnh vực như hiện nay Giao lưu văn hóa chính là quá trình diễn ra sự gặp gỡ, tìm hiểu, đối thoại, trao đổi các giá trị văn hóa và là động,

lực thúc đẩy phát triển văn hóa Bên cạnh đó còn có ý nghĩa thay đổi và tạo dựng hình ảnh quốc gia đến khẳng định giá trị dân tộc mình Nói cách khác sự phát triển thịnh vượng của một quốc gia không chỉ dựa trên sự tăng trưởng của kinh tế, xã hội mà còn là việc phát huy, bảo tồn giá trị văn hóa của dân

tộc và giữ gìn nâng cao môi trường văn hóa đó

Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có những chính sách rất phù hợp với chủ trương của tổ chức Unessco, trong đó Việt Nam là một thành viên về việc

“Bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc”, “Bảo tồn và phát triển di sản văn hóa hữu thể và vô thị

làng nghề thủ công” Đây là điề

nói chung và làng nghề truyền thống nói riêng phát triển

` trong đó có cả một chương trình “Để án khôi phục các

kiện và cơ hội để thủ công nghiệp Việt Nam

Nghề thủ công truyền thống là bộ phận quan trọng, là một trong những

nhân tố cấu thành văn minh văn hóa Việt Nam Trong trình lịch sử của dân tộc, nó đã trải qua nhiều thăng trim va bi chỉ phối bởi rất nhiều yếu tổ khác như chính trị, kinh tế, xã hội Nghề thủ công truyền thống gắn liền với

thủ

tên những làng nghề, phố nghề và được biểu hiện bằng những sản pha

công truyền thống, với những nét độc đáo, tỉnh xảo, hoàn mỹ Nhiều nghề và làng nghề truyền thống của Việt nam đã nổi bật trong lịch sử văn hóa văn minh Việt Nam như gốm Bát Tràng (làng Bát Tràng, Hà Nội), gốm Chu Đậu

(làng Chu Đậu, Hải Dương), lụa Vạn Phúc (làng Vạn Phúc, Hà Tây cũ), gỗ

Trang 9

hơn cả là sản phẩm của mỗi một làng nghề đều mang đặc trưng riêng biệt không vì một làng nghề làm một loại sản phẩm thủ công truyền thống mà những sản phẩm thủ công đó không chỉ là những vật phẩm văn hóa hay vật

phẩm kinh tế thuần túy cho sinh hoạt bình thường hàng ngày, mà nó chính là những tác phẩm nghệ thuật biểu trưng của nền văn hóa xã hội, trình độ dân trí

và đặc trưng nhân văn của dân tộc

Một trong những sản phẩm thủ công chứa đựng đặc trưng văn hóa dân

tộc Việt Nam đó là đồ chơi trung thu truyền thống, trong đó mặt nạ giấy bôi,

đèn ông sao là những món đồ không thê thiếu đối với trẻ em vào dịp Tết trung thu Làng Hảo là một trong những làng làm đồ chơi trung thu có truyền thống

từ hàng trăm năm qua, cho đến nay những người dân làng Hảo, xã Liêu Xá,

huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên vẫn miệt mài đóng những chiếc trống, đầu lân,

đầu sư tử, mặt nạ, không những tạo việc làm cho người dân, giữ lửa cho

nghề làm đồ chơi truyền thống mà còn giữ gìn và bảo tồn nét văn hóa truyền

thống đặc trưng của dân tộc Việt Nam Tết Trung thu là một phong tục có ý nghĩa của sự săn sóc, báo hiếu, biết ơn, của tình thân hữu, của đoàn tụ và của

yêu thương Rước đèn ông sao, múa đầu lân, sư tử và đeo mặt nạ là những

phong tục không thể thiếu vào mỗi dịp Trung thu

Trong những năm gắn đây do sự tác động của nên kinh tế thị trường, các mặt hàng đồ chơi của nước ngoài trong đó các sản phẩm của Trung Quốc chiếm tỷ lệ rất lớn lắn át đồ chơi truyền thống Nhất là vào địp Tết Trung thu thì số lượng hàng đồ chơi ngoại nhập lại càng nhiều Vì vậy việc duy trì và phát triển làng nghề làm đồ chơi trung thu truyền thống tại các phố nghề đồ chơi nói chung và ở làng Hảo nói riêng vừa mang lợi ích kinh tế cho đắt nước vừa mang,

ý nghĩa bảo tôn tỉnh hoa giá trị văn hóa của dân tộc Xuất phát từ thực tế đó, tôi

Trang 10

Cuốn Than tổ các ngành nghề, tác giả Phạm Minh Thảo đã ghỉ lại cuộc

đời, sự nghiệp, công tích của những người có công khai sáng, truyền nghề cho các địa phương đã được dân phong tặng như: ông tổ thuốc nam, tổ nghề địa lý phong thủy, nghề đệt, tổ nghề trồng ngô, nghề tầm tơ, nghề mộc, và các vị thần tô nghề theo truyền thuyết [19]

Tác giả Phạm Thị Thảo trong cuốn Phát huy nghề và làng nghề truyền thống đã cung cắp những kiến thức cơ bản về nghề, làng nghề truyền thống của các dân tộc thiểu số và miễn núi Giải thích một số mô hình hoạt động nghề và làng nghề truyền thống đang phát huy giá trị văn hóa, nghệ thuật và hiệu quả kinh tế trong đời sống hiện nay [20]

Trong cuốn Làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa,

hiện đại hóa của Trần Minh Yến, tác giả đã làm rõ khái niệm, vai trò của làng

nghề và nghề truyền thống, phân tích đặc điềm của làng nghề truyền thống trên nhiều phương diện Nêu lên thực trạng phát triển của làng nghề truyền thống từ những năm đôi mới đến nay, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nhằm thúc đây phát triển làng nghề truyền thống trong điều kiện hiện đại của quá

Trang 11

về làng Thụy Ứng, nghề làm lược sừng của làng Đồng thời nêu lên thực trạng

của làng nghề và đề xuất những giải pháp nhằm bảo tổn và phát triển làng,

uận văn Làng nghề hoa cây cảnh Vị Khê,

thống của làng Đồng thời nêu lên thực trạng của nghề tiện trong làng giai đoạn hiện nay và qua đó đưa ra những phương hướng và giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển nghề tiện làng Nhị Khê thời kỳ đổi mới [4], v

Nghề đồ chơi trung thu truyền thống làng Hảo đã được giới thiệu trên

ác báo, tạp chí như: Làng /láo với nghề

truyền thắng của Báo Hưng Yên, qua bài viết cho thấy những khó khăn trong

việc giữ nghề truyền thống của làng Hảo và bắt cập đối với đồ chơi truyền thống Việt Nam hiện nay, cùng với lời kêu gọi sự quan tâm dành cho dé choi trung thu truyền thống từ phó trưởng thôn làng Hảo; Tín hiệu vưi cho làng nghề làm đồ chơi truyễn thống của Tạp chi Đọc Báo Việt, tác giả đã tóm tắt

lịch sử ra đời của nghề làm đồ chơi trung thu ở làng Hảo và những hiệu quả kinh tế mà nghề mang lại cho các hộ làm nghề tại làng; Rộn rã trung thu sớm

tại làng Hảo của Báo Công an Nhân dân, bài báo giới thiệu sản phẩm mặt nạ

gidy b

là chủ yếu với các công đoạn tạo sản phẩm, bên cạnh đó còn cho thấy tình hình phát triển của đồ chơi trung thu truyền thống Việt Nam trong thi trường đồ chơi hiện nay; Lang Héo đầy mạnh sản xuất đỗ chơi cho thị trường Tốt trung thư của Báo điện tử Đảng Công sản Việt Nam, tác giả đã giới thiệu

Trang 12

Ngoài ra làng Hảo còn được đăng tải trên phương tiện thông tin và

truyền thông như kênh truyền hình VOVS Đài tiếng nói Việt Nam với nhan đề

Đồ chơi trung thu truyền thống lên ngôi, phát sóng ngày mùng 7 tháng 9 năm

2014 Đoàn phóng viên và nhà báo đã đến các cơ sở sản xuất đỏ chơi trung thu lớn tai lang Hao, mang đến cho người xem một cái nhìn tông quát về nghề làm

đồ chơi cũng như các mặt hàng chủ yếu của làng Đặc biệt là cho thấy sự trở lại

của đồ chơi trung thu truyền thống trên thị trường đồ chơi Việt Nam sau bao nhiêu năm lép về so với đồ chơi nhập ngoại, nhất là thị trường đỗ chơi Trung

Quốc đang ngày một tăng cao; Chương trình Thời sự VTVI với nhan đề Lang làm đỗ chơi trung thự truyền thông, phát sóng ngày 15 tháng 8 năm 2014, cũng

khảo sát tại các cơ sở sản xuất đồ chơi ở làng Hảo Phóng sự đi sâu vào thực

trạng sản xuất đồ chơi trung thu truyền thống tại làng hiện nay, phỏng vấn một

số nghệ nhân và thợ thủ công làm nghẻ

Tuy nhiên cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách

toàn diện và hệ thống vẻ làng Hảo và nghề làm đồ chơi trung thu truyền thống

tại làng Hảo, xã Liêu Xá, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên

3 Mục đích và nhi:

m vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên citu

Trên cơ sở nghiên cứu các phương diện văn hóa của nghề làm đồ

chơi trung thu truyền thống của làng Hảo, luận văn hướng tới khẳng định

Trang 13

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu tổng quan về làng Hảo và lịch sử hình thành nghề làm đồ

chơi trung thu tại làng Hảo

Nghiên cứu các phương diện văn hóa của nghề trong truyền thống Nghiên cứu sự biến đổi của văn hóa nghề trong giai đoạn hiện nay

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối trợng nghiên cứu

Các phương diện văn hóa (hay những biểu hiện mang tính văn hóa) của nghề làm đồ chơi trung thu truyền thống ở làng Hảo

4.2 Phạm vỉ nghiên cứu

Phạm vi không gian: Địa điểm khảo sát là làng Hảo (xã Liêu Xá, huyện 'Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên)

Phạm vi thời gian: Từ năm 1986 trở về trước được coi là giai đoạn phát

triển truyền thống của nghề Những biến đổi của nghề được tính từ 1986 đến nay Năm 1986 được coi là mốc quan trọng (bắt đầu thời kỳ đổi mới), tạo nên bước ngoặt của sự phát triển làng nghẻ

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu liên ngành: văn hóa học, lịch sử, mỹ thuật học Phương pháp khảo sát điền đã tại làng nghề, sử dụng các kỹ năng như: quan sát, miêu tả, thống kê, chụp ảnh, ghi am, phỏng vấn

Phương pháp so sánh, phân tích tổng hợp để giải quyết những mục tiêu

đặt ra của đề tài.

Trang 14

6 Những đóng góp của đề tài

Luận văn là công trình đầu tiên giới thiệu một cách tông thể về nghề

làm đỗ chơi trung thu truyền thống ở làng Hảo, làm rõ những giá trị văn hóa

truyền thống tiêu biểu của làng nghề

Bên cạnh đó, tác giả luận văn đưa ra một số đề xuất có giá trị tham khảo nhằm bảo tồn và gìn giữ nghề làm đổ chơi trung thu truyền thống trong

xu thế hội nhập và phát triển hiện nay

Luận văn khẳng định giá trị văn hóa của nghề và làng nghề, đặc biệt là

tính độc đáo, giá trị văn hóa của sản phẩm, những kỹ năng, kinh nghiệm của

nghề và thị trường tiêu thụ của sản phẩm

Bên cạnh đó luận văn còn là tư liệu tham khảo giới thiệu về làng Hảo cũng như nghề làm đồ chơi trung thu truyền thống để phục vụ công tác giảng

day, nghiên cứu về làng nghề nói chung

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương:

Trang 15

Chương ï

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA NGHE VA

TONG QUAN VE LANG HAO 1.1 Cơ sở lý luận về văn hóa nghề

1.1.1 Các khái niệm cơ bản

được quy về các khái niệm như nghề truyền thống, nghề cổ truyền, nghề gia truyền, nghề phụ, nghề thủ công

Những khái niệm này tuy có khác nhau ở khía cạnh này, góc độ khác

song vẫn có những đặc điểm giống nhau về cơ bản, đặc biệt là từ góc độ văn

hóa, chúng ta có thể sử dụng chung khái niệm “làng nghề”

Đã có nhiều những cách hiểu hay định nghĩa vẻ làng nghề khác nhau

mà các tác giả đã đưa ra tùy vào mục đích nghiên cứu, tuy nhiên khái niệm về

làng nghề theo cách nhìn văn hóa bao gồm các nội dung cụ thể như

Làng nghề là một địa danh gắn với một cộng đồng dân cư có một nghề

truyền thống lâu đời được lưu truyền và có sức lan tỏa mạnh mẽ Nghề có một đội ngũ nghệ nhân và thợ có tay nghề cao, có bí quyết nghề nghiệp được lưu truyền lại cho con cháu hoặc các thế hệ sau Sản phẩm làng nghề vừa có ý nghĩa kinh tế để nuôi sống một bộ phận dân cư và quan trọng hơn là nó mang

lại những giá trị vật thể và phi vật thể phản ánh được lịch sử, văn hóa và xã hội liên quan tới chính họ.

Trang 16

được nghiên cứu và mở rộng hơn

Ngày nay khái niệm nghề thủ công truyền thồng có thể được hiểu như sau: Nghề truyền thống bao gồm những nghề tiểu thủ công nghiệp, xuất hiện từ lâu trong lịch sử, được truyền từ đời này sang đời khác và còn tổn tại đến ngày nay, kế

cả những nghề đã được cải tiến hoặc sử dụng những loại công nghệ máy móc hiện đại để hỗ trợ sản xuất nhưng vẫn tuân thủ công nghệ truyền thống và đặc biệt sản

phẩm của nó vẫn thê hiện những nét văn hóa đặc sắc của dân tộc

* Văn hóa nghề

Để làm sáng tỏ khái niệm văn hóa nghề, ta cần hiểu được thế nào là văn hóa, trong cuốn Cơ sở văn hóa Việt Nam, PGS.TS Trần Ngọc Thêm có viết:

“Văn hóa là một hệ thống hữu cơ của các giá trị vật chất và tỉnh thần do con

người sáng tao va tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương, tác với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [23, tr.10]

'Có thể hiểu đơn giản văn hóa là những sản phẩm vật chất và tỉnh thần

đo con người sáng tạo ra thông qua quá trình phát triển của

sử Hoạt động

nghề nghiệp của con ngườ

là một hoạt động văn hóa, có ý nghĩa văn hóa

Chính vì vậy mới có khái niệm văn hóa nghề

'Văn hóa nghề là thước đo trình độ nhận thức của người lao động đối với nghề nghiệp Đòi hỏi mỗi người lao động trong một nghề phải nhận thức

Trang 17

được đầy đủ về vị trí, vai tr, chức năng, nhiệm vụ của nghề đó Hay nói cách khác, văn hóa nghề là một bộ phận không thể tách rời của bản sắc văn hóa Việt Nam, đó là truyền thống văn hóa ở các làng nghề, văn hóa doanh nghiệp, văn hóa kinh doanh

* Văn hóa làng nghề

Van héa làng nghề là một bộ phận của văn hóa, gồm hai yếu tố cơ bản

là văn hóa làng và văn hóa nghề

Van hóa làng trong đó có yếu tố văn hóa vật thê: đình, chùa, miéu, nha

thờ, nhà ở, công làng, , yếu tố văn hóa phi vật thể gồm tín ngưỡng thờ cúng

tổ tiên, tín ngưỡng thờ thành hoàng làng, phong tục tập quán hay tâm lý ứng

xử trong quan hệ xóm làng, dòng họ

Van hóa nghề là thành tố đặc biệt và cốt lõi của văn hóa làng nghề, cũng bao gồm văn hóa vật thể và phi vật thê Văn hóa vật thê bao gồm nơi

thờ tổ nghề, nhà ở của thợ thủ công, các công eụ làm nghẺ, các sản phẩm,

Văn hóa phi vật thể có quy trình sản xuất của nghề thủ công, sự khéo léo của nghệ nhân, các hình thức tô chức sản xuất, tâm lý cộng đồng làng nghề,

bí quyết nghề

Qua đó ta có thể hiểu văn hóa làng nghề hội tụ tất cả những thuần phong mỹ tục, sinh hoạt cộng đồng, tỉnh hoa nghề nghiệp, tài năng nghệ nhân của chính làng nghề đó

1.1.2 Khung phân tích cho việc nghiên cứu văn hóa nghề

1.1.2.1 Phân biệt nghiên cứu văn hóa nghề với nghiên cứu về nghề

Như đã phân tích ở trên, văn hóa nghề gồm hai thành t6 là thành tổ văn hóa vật thé và phi vật thé Văn hóa nghề là cơ sở để điều chinh hành vi

nghề nghiệp trong quá trình sản xuất Nó đòi hỏi người thợ thủ công phải

Trang 18

tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của công việc trong lao động Ở đây, chức năng thực tiễn của văn hóa nghề là khiến người thợ trở thành những người làm việc có kỷ luật, có sáng tạo, làm việc có hiệu quả, có chất lượng với năng suất lao động cao Hay nói cách khác văn hóa nghề có ý nghĩa về mặt

giáo dục

Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được những trí thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tỉnh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của

xã hội Do vậy nghiên cứu nghề ta chỉ phân tích về quy trình và sản phẩm

của nghề, hay đi sâu hơn nữa thì là cả các yếu tố văn hóa vật chất và tỉnh thần của nghề

Còn nghiên cứu văn hóa nghề, bên cạnh phân tích các yếu tố văn hóa thì văn hóa nghề còn có tầm ảnh hưởng rất lớn đến văn hóa làng Vì sở dĩ chúng tổn tại đan xen nhau, tác động hỗ trợ nhau Văn hóa nghề không chỉ có thể làm thay đổi đời sống kinh tế của cộng đồng làng giống như nghề, mà văn hóa nghề còn có thể tác động đến tâm lý cộng đồng dân cư, quan hệ ứng xử,

thậm chí là tín ngưỡng hay phong tục tập quán của làng nghề đó

1.1.2.2 Cấu trúc của văn hóa nghẻ

* Văn hóa tổ chức nghề

'Văn hóa tổ chức là hệ thống những giá trị, những niềm tin, những quy phạm được chia sẻ bởi các thành viên trong tổ chức và hướng dẫn hành vi của

những người lao động trong tô chức

'Văn hóa tổ chức nghề tồn tại trong mỗi làng nghề dưới nhiều hình thức

như: hộ gia đình, tổ chức phường hội, hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân, công

ty trách nhiệm hữu hạn Những hình thức tỗ chức này cùng tồn tai và có tác

động hỗ trợ lẫn nhau trong điều kiện mới của nẻn kinh tế thị trường

Trang 19

* Trí thức (kinh nghiệm trong sản xuất)

Trỉ thức bao gồm những dữ kiện, thông tin, sự mô tả, hay kỹ năng có được nhờ trải nghiệm hay thông qua giáo dục

Trả thức về nghề hay nói cách khác là kinh nghiệm trong sản xuất nghẻ,

tập hợp những tri thức được thu nhận thông qua lao động thực tiễn của thợ thủ

công trong quá trình tạo ra sản phẩm Có thẻ cùng một sản phẩm nhưng mỗi một làng nghề sẽ có những kinh nghiệm sản xuất khác nhau, tùy vào khả năng cũng như óc sáng tạo của mỗi người thợ thủ công

* Giá trị văn hóa của sản phẩm

Sản phẩm của nghề thủ công truyền thống là kết quả của quá trình lao động vật chất và lao động tỉnh thần, nó được tạo nên bởi óc sáng tạo và ban

tay tài hoa của người thợ thủ công Nhiều sản phẩm truyền thống có tính nghệ

thuật cao, mỗi sản phẩm là một tác phẩm nghệ thuật, trong đó chứa đựng những nét đặc sắc của văn hóa dân tộc, đồng thời thể hiện những sắc thái riêng, đặc tính riêng của mỗi làng nghề

Với những đặc điểm đặc biệt ấy sản phẩm của nghề không chỉ còn là

hàng hóa đơn thuần mà đã trở thành sản phẩm văn hóa có tính nghệ thuật cao,

và được coi là biêu tượng truyền thống của dân tộc Việt Nam Sản phẩm của

nghề thủ công truyền thống là những di sản quý giá mà các thế hệ cha ông đã sáng tạo ra và truyền lại cho các thế hệ sau

* Ảnh hưởng của nghề đối với văn hóa làng

Ảnh hưởng của nghề đối với văn hóa làng thẻ hiện trên các phương

diện như tính cộng đồng làng được nâng cao (ứng xử trong quan hệ làng xóm, dòng họ, phường hội thủ công, ) những quan niệm trong tiềm thức bị chỉ

phối bởi nghề thủ công như ứng xử của người thợ thủ công với người trong,

Trang 20

cộng đồng làng, thay đổi một số phong tục tập quán của làng xã như phong, tục cưới hỏi, tang ma

1.2 Tổng quan về làng Hảo

1.2.1 Sự hình thành và phát triển của làng Hảo

1.2.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên

u Xá (xã Hữu

¡nh Hưng Yên Đi theo quốc lộ 5 vào hướng

Làng Hảo, hay còn được gọi là làng Hảo thuộc xã

Nam trước đây), huyện Yên Mỹ,

Đông Nam, cách thủ đô Hà Nội chừng 38km là tới huyện Yên Mỹ Yên Mỹ nằm ở phía Bắc của tỉnh Hưng Yên, phía Đông và Đông Nam giáp huyện Ân Thi, phía Tây giáp huyện Văn Giang, phía Tây Nam và Nam giáp huyện Khoái Châu, phía Bắc giáp huyện Mỹ Hào Làng Hảo thuộc xã Liêu Xá nằm

ở góc Tây Bắc của huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên với tọa độ địa lý 20°54'49

vĩ độ Bắc, 106°3'23 kinh độ Đông

Làng Hảo có địa hình kiểu đồng bằng, phía Bắc giáp thôn Thanh Xá,

phía Tây giáp thôn Văn Xá, phía Nam giáp thôn Thượng, phía Đông giáp

đường 39 và Khu Công nghiệp Phố Nói B Đến với làng Hảo chúng ta có thẻ

đi theo hai đường:

~ Từ trung tâm thành phố Hà Nội đi theo đường Nguyễn Xiển lên cao

tốc Phạm Hùng, đến cầu Thanh Trì thì rẽ phải hướng đi Hải Phòng đến Quốc

lộ SA, đi khoảng 10km nữa thì rẽ vào Quốc lộ 39 (đường Nguyễn Đức Thuận) Đi qua cây xăng Nghĩa Hiệp khoảng 100m là đến công làng Hảo (ở

phía bên tay phải đường) [PL, A 1, tr.100]

~ Nếu đi bằng xe buýt thì từ trung tâm thành phó Hà Nội di số xe bất kỳ có

hiệu 205, đi đến Phố Nối B đoạn dừng cây xăng Nghĩa Hiệp thì xuống Sau đó đi bộ khoảng,

điểm dừng ở trạm trung chuyên Long Biên, sau đó đi xe buýt có

100m nữa là đến cổng làng Hảo ở ngay phía bên tay phải đường.

Trang 21

Làng Hảo xưa kia có các nét đặc trưng của nông thôn Bắc Bộ: cổng làng, bờ hào, lũy tre quanh làng, đình, chùa, giếng nước, cây đa với các tộc họ đoàn kết bên nhau, sinh sống dựa trên các cánh đồng bát ngát cò bay Nay, làng đã đổi thay, các nhà máy, xí nghiệp đã mọc san sát trên các thửa ruộng năm nào Dân trong làng vì thế cũng ly nông, nhưng những nét văn hóa đặc trưng vẫn được duy trì

Làng Hảo cũng như tỉnh Hưng Yên nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt

đới âm, chia làm 4 mùa rõ rệt (xuân, hạ, thu, đông) Mùa mưa kéo dài từ cuối tháng 4 đến tháng 10 hàng năm Lượng mưa trong mùa mưa chiếm tới 70% tổng lượng mưa cả năm

1.2.1.2 Quá trình hình thành làng

Chua tim thấy tài liệu nói về nguồn gốc cái tên làng "Ông Hảo" Theo

truyền thuyết từ xưa để lại thì làng Hảo đã có từ rất lâu Đồn rằng, ông Hảo là người đã khai phá vùng đất, đào hào, trồng tre lập lên một công đồng riêng

biệt, dân trong vùng sau này gọi là làng Hảo Thời kỳ phong kiến làng có địa

danh là Tổng Liêu Xá - Đường Hao Phi - Tran Hai Dương Nay là làng Hảo,

hay làng Hảo, xã Liêu Xá, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên

Theo lời kể của các bậc cao niên trong làng thì ông Hảo họ Nguyễn Van, ông xuất thân trong gia đình chữ nghĩa, cha ông là một học trò lận đận trong thi cử, thất chí về quê mở trường dạy học rồi lấy vợ sinh con, mẹ ông là con gái nha gia thé trong làng, đẹp người đẹp nét, nhanh nhẹn thông minh Cha ông có quan hệ giao du rộng, mẹ ông vốn là người tốt bụng Vì thế bạn

bè đồng môn từ ông cử ông tú cho đến người không đỗ đạt cũng chẳng quản

Trang 22

“Trong các vị khách, có người thông thạo đông y, nam dược cứu người,

có người rành phương thuật hô phong hoán vũ, lại cũng có người giỏi các nghề thực tế phục vụ nhu cầu sinh kế, Thấy ông Hảo lúc ấy tuy độ tuổi thiếu niên nhưng đã lộ phong thái đĩnh ngộ khác thường nên các vị ấy mỗi lần ghé

chơi nhà đều để ý dốc tâm truyền dạy những điều mình biết cho cậu bé Mặc

dù không liên tục gặp được các thầy nhưng với bản chất thông minh ham học

hỏi cộng với sự khuyến khích của cha mẹ, ông lần hồi nắm được cơ bản không những kiến thức của các thầy mà còn tiến bộ nhờ thực nghiệm trong, thời gian chờ các thầy ghé lại lần sau

Thế nhưng, người trong làng tưởng sẽ đón một người giỏi giang

trưởng thành, nào ngờ cha ông lâm trọng bệnh Kiến thức đông y, nam được

vừa học được còn sơ đăng nên ông không thể giành sự sống lại cho cha Từ

đó, những người bạn đồng môn của cha ông cũng chẳng còn lý do để trở về cái làng hẻo lánh này nữa, dù ở đây có một người trò nhỏ là ông đang chờ

Mẹ ông vì buồn phiền cũng lâm trọng bệnh rồi theo cha ông vẺ cùng tiên tổ

Bơ vơ một mình trên cõi trần gian không người thân thích, nhớ thương cha

mẹ, ông quyết tâm phải học cho giỏi nghề bốc thuốc cứu người để giảm bớt những hoàn cảnh đau khô như ông Từ đó ông đi tìm thầy giỏi để học tập, sau một thời gian ông trở vẻ làng trong dáng dắp thanh niên đĩnh đạc Nếp nhà cũ của cha mẹ ông trở thành nơi ông bốc thuốc cứu người Vì sự nghiệp

học hành dở dang nên tuy không phải là một thay lang nỗi tiếng trong vùng,

nhưng ông Hảo cũng đã dùng vốn hiểu biết của mình để lấy thuốc cứu người, ông không lấy tiền của dân hoặc lấy cho có nên được người bệnh

khắp nơi tìm đến Trong làng có người được ông chữa khỏi bệnh đã mang ơn

và gả con gái cho

Sau một thời gian ôn định gia thất ông nhìn thấy sự khó khăn của người

dân và đã đứng ra chia vùng đất và khai thác thêm một số vùng mới lân cận,

Trang 23

đào hào, trồng tre, chia ruộng và từ đó lập nên một vùng đất mới Người dân sau này gọi là làng Hảo để tưởng nhớ đến công lao của ông

Trải qua quá trình lịch sử lâu dài cùng sự thay đổi địa lý của địa phương

Ngày 27 tháng 1 năm 1968, Hưng Yên được hợp nhất với tỉnh Hai Dương thành tỉnh Hải Hưng Ngày 11 tháng 3 năm 1977, hợp nhất 2 huyện Văn Giang và Yên

Mỹ thành huyện Văn Yên Ngày 24 tháng 2 năm 1979, hợp nhất huyện Văn Mỹ

và một phần huyện Văn Yên thành huyện Mỹ Văn Ngày 6 tháng 11 năm 1996, tái lập tỉnh Hưng Yên từ tỉnh Hải Hưng Khi tách ra, tỉnh Hưng Yên có 6 đơn vị

hành chính gồm thị xã Hưng Yên và 5 huyện: Ân Thi, Châu Giang, Kim Động,

Mỹ Văn, Phù Tiên Ngày 24 tháng 7 năm 1999, chia huyện Mỹ Văn thành 3 huyện: Mỹ Hào, Văn Lâm, Yên Mỹ Làng Hảo vẫn giữ nguyên tên và địa lý tự nhiên, làng Hảo thuộc xã Liêu Xá, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên Cũng như là

một cách để người làng tưởng nhớ công lao đến người mà theo truyền thuyết là

'Qua bình nhận từ năm 2004 - 2014, số hộ đăng ký xây dựng gia đình

văn hóa ban đầu là 90% đến nay đã có 85% gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình

văn hóa Ông bà mẫu mực cấp tỉnh được 50 gia đình, cấp huyện được 50 gia đình

Làng Hảo gồm có 10 tộc họ là: Vũ Hữu, Vũ Văn, Vũ Hanh, Vũ Huy,

Vũ Đắc, Nguyễn Đình, Nguyễn Văn, Nguyễn Mạnh, Văn Đức, Trương Hồng Hội đồng tộc họ cùng chính quyền làng quyết định đời sống văn hóa,

tín ngưỡng theo các phong tục truyền thống

Trang 24

Hầu hết cư dân theo đạo Nho giáo, thờ tổ tiên tại gia và có một số tín ngưỡng khác như lễ phật tại Chùa, tế thần tại Đình làng Cư dân trong làng thường tổ chức các lễ hội dân gian truyền thồng như: lễ chùa đầu năm, hội làng Hội làng được tổ chức từ ngày mùng 6 tháng Giêng hàng năm Hội làng

là nơi tụ họp của các cư dân trong làng, những người con xa quê và du khách

thập phương đề tế thần, thực hiện các lễ nghi truyền thống và tham gia các

hoạt động văn hóa, văn nghệ, trò chơi dân gian

1.2.1.4 Đời sống kinh tế, xã hội ở làng Hảo

* Đời sống kinh tế

Nghề chính của dân cư làng Hảo là cấy lúa nước Từ năm 2002 đến nay

do đổi mới của Đảng, nhà nước, làng chuyển sang các hoạt động thương mại, dịch vụ Về kinh tế, thu nhập của cư dân trong làng khá cao so với các cộng

đồng khác trong khu vực nhờ các nguồn thu từ nghề làm đồ chơi trung thu truyền thống, đó là: làm đầu lân, sư tử, làm mặt nạ giấy bồi, thuộc da, bưng

trống, đèn ông sao, làm mũ, và dich vụ phục vụ công nhân làm việc tại Khu

Công nghiệp Phối Nối A, Phó Nói B

Thực hiện chủ trương công nghiệp hóa nông thôn, hiện nay thu nhập chính của nhân dân là thương nghiệp, dịch vụ Ngoài ra nhân dân còn có

nhiều nghề phụ như: thuộc da, bưng trống thu nhập bình quân 25.000.000đ/ người/năm Và sản xuất mũ cối, đồ chơi trung thu truyền thống

“Thống kê các ngành nghề của các hộ gia đình theo Báo cáo năm 2014:

« Đóng giầy da: 2 hộ

« Làm mũ cối: 12 hộ

« Thợ mộc: 1 hd

© Chan nudi:10 ho

Trang 25

© Lam dé choi trung thu: 245 hé (bao gém ca dong trong, tiện tang

trống, thuộc da và giấy bồi)

Còn lại là lao động trong các công ty và làm dịch vụ thương mại (31, tr5-7]

* Đời sống văn hóa

Thực hiện Nghị quyết của Đảng ủy - HĐND - UBND xã tổ

dựng khu trung tâm văn hóa thôn với diện tích 620m” đã đưa vào sử dụng Là

nơi sinh hoạt các đoàn thể và khu dân cư được khang trang sạch sẽ

~ Công tác thông tin tuyên truyền được thường xuyên trên hệ thống loa

truyền thanh của xã, thôn được kịp thời những công việc của địa phương

“Thôn đã xây dựng được 1 tủ sách báo để cho nhân dân đọc và học tập Hàng tuần tổ chức mở tủ sách đọc vào 2 buổi chiều thứ 3 và thứ 7

~ Công tác văn hóa nghệ thuật: Thôn đã thành lập được 1 đội văn nghệ gồm 15 người từ năm 1997 Đội văn nghệ thường xuyên tập luyện và biểu diễn phục vụ nhân dân vào các lễ hội, các tổ chức đoàn thể khác thường xuyên sinh hoạt học tập theo kế hoạch của các chỉ hội Hàng tháng, quý, năm đảm bảo thiết thực phong trào hội Từ đó trở đi, hàng năm đều có sự thay đổi người và số lượng để phù hợp với nhu cầu và kế hoạch của thôn

~ Công tắc vệ sinh môi trường:

“Thôn tổ chức thành lập 1 tổ vệ sinh môi trường chuyên trách gồm 3 người hàng tuần tổ chức thu gom, dọn vệ sinh làng xóm vào ngày thứ 3, thir 5

và thứ 7, kinh phí hoạt động do nhân dân đóng góp Tổ dọn vệ sinh có xe chuyên dùng chở rác và các dụng cụ bảo hộ lao động khác phục vụ cho công tác vệ sinh môi trường được an toàn

Trên các trục đường làng đều có hệ thống rãnh thoát nước thải sinh

hoạt Rãnh có nắp đậy bằng bê tông cốt thép, hợp vệ sinh Các hộ sản xuất

Trang 26

nghề phụ đều có hệ thống dẫn nước thải riêng ra sông theo quy định Không

được gây 6 nhiễm môi trường làm ảnh hưởng đến các sinh hoạt của làng

~ Công tác y tế và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân;

Chỉ hội phụ nữ thường xuyên tuyên truyền phong trào sinh đẻ có kế hoạch, thực hiện kế hoạch hóa gia đình, không nên sinh con thứ 3 Làng có

cán bộ y tế chuyên trách là y tá, chịu trách nhiệm tuyên truyền, giáo dục,

chăm lo sức khỏe ban đầu cho nhân dân

Các gia đình sử dụng nước sạch của Nhà máy nước Nam Long đạt 95% Các gia đình có công trình tự hoại là 98% Còn lại là 0,2% công trình vệ sinh sạch sẽ

'Các cháu ở độ tuôi tiêm phòng thường xuyên được tiêm chủng theo kế

hoạch của trạm y tế Được kịp thời và phòng chống các bệnh của trẻ nhỏ

- Công tác giáo dục

Các dòng họ trong làng thường xuyên khuyến khích con cháu học tập,

phô cập giáo dục trong thôn hiện nay 100% học hết trung học cơ sở Các cháu

hàng năm khoảng 98% các cháu thì đỗ vào trung học phổ thông và trung học dân lập Tỷ lệ các cháu tham gia thỉ Đại học, cao đẳng và các trường dạy nghề

ngày cảng cao

Làng có trường mầm non công lập thuận tiện cho các cháu độ tuổi từ 2 đến 5 tuổi đi học với diện tích phòng học là 300m” có đầy đủ tiện nghỉ và đồ dùng học tập cho các cháu Hiện nay 100% các cháu ở độ tuổi mẫu giáo được

đi học ở trường mằm non

Với truyền thống hiếu học từ xưa để lại, làng đã có nhiều người thi

đỗ đạt trong các khoa thi Khoa bảng - Danh nhân làng Hảo đã có một số

người con có địa vị cao trong xã hội Trước Cách mạng tháng 8, nhà văn

Vũ Trọng Phụng là một người con của làng Hảo đã được nhà nước công

Trang 27

nhận Ong là một nhà văn có những tác phâm có giá trị như: Giông tố, Số

đỏ, Vỡ đê, Làm di

“Từ sau Cách mạng tháng 8 đến nay làng có nhiều người thành đạt trong học tập Hiện nay làng có nhiều kỹ sư, bác sỹ và có nhiều người tốt nghiệp các trường Đại học và hệ cao học của Nhà nước

~ Công tác chăm lo gia đình chính sách và hậu phương quân đội:

“Thực hiện tốt luật nghĩa vụ quân sự hàng năm các cháu đến tuổi làm

nghĩa vụ đều hăng hái lên đường khám tuyển nghĩa vụ quân sự, hoàn thành

chỉ tiêu hàng năm và không có tình trang dao, bỏ ngữ

Làng Hảo luôn luôn quan tâm đến các đối tượng là gia đình chính sách, thường xuyên động viên thăm hỏi Hiện nay, mức sống của gia đình chính sách ổn định, không có hộ chính sách nào trong diện hộ nghèo, đói (không có trẻ em lang thang cơ nhỡ)

- Công tác an ninh trật tự:

Các tô chức thường xuyên tuyên truyềi

giữ gìn ANTT và ATXH

“Thành lập tổ hòa giải gồm 5 người là: Đại diện chỉ ủy, mặt trận, phụ

vận động nhân dân đoàn

nữ, nông dân và người cao tuổi Tổ chức hòa giải luôn tuyên truyền giúp đỡ

nhân dân giữ vững an ninh và do trưởng thôn điều hành, có tổ tự quản an toàn

giao thông

Do tác động của công nghiệp hóa, hiện nay hệ thống nhà trọ, nhà nghỉ,

nhà hàng trên địa bàn thôn hoạt động nhiễu, song công tác nắm bắt tình hình, đăng ký tạm trú, tạm vắng được duy trì thường xuyên, liên tục Công tác đăng

ký khai báo tạm trú làm đúng pháp luật, quản lý kiểm tra thường xuyên các nhà hàng theo đúng pháp luật của địa phương

Không có khiếu kiện vượt cấp, kéo dài làm mắt đoàn kết trong nhân dân

[B1, tr2-4]

Trang 28

1.2.2 Truyền thông văn hóa làng Hảo

Lê Duy Phường) đến 1802 - niên hiệu Bảo Hưng (Đời vua Nguyễn Quang

Toản - Cảnh Thịnh) và 01 Sắc phong phong cho vị Nữ thần vì đã có công lớn

trị vì bờ cõi và có đức lớn đối với dân cư trong vùng

Theo ban Than sac thén Ong Hảo được dịch nghĩa từ chữ Hán tại Viện

Nghiên cứu Hán Nôm:

Sắc phong là những văn bản do nhà vua ban tới các địa phương

nhằm lấy đó làm căn cứ cho việc thờ phụng than thánh tại đình làng Tuy nhiên sắc phong không chỉ liên quan đến việc thờ

phụng thành hoàng làng mà còn mang tính khen thưởng của triều đình đối với dong họ, cá nhân có công với đất nước Vì thế, sắc phong không chỉ được lưu giữ tại đình làng, mà còn là tài sản của các dòng họ, cá nhân

Thông thường mỗi đạo sắc phong gồm những yếu tố: Địa chỉ thờ thần (thôn, xã, phủ, huyện, tỉnh); Tên gọi của thần (thần hiệu, huy

Trang 29

hiệu, duệ hiệu, mỹ tự); Lý do thắn được sắc phong hoặc nâng cấp

phẩm trật (trung đăng thần, thượng đẳng thần); Trách nhiệm của

thần đối với dân sở tại (che chở bảo hộ cho dân); Trách nhiệm của

dân đối với thần (tôn kính, thờ cúng thần); Ngày tháng năm (thuộc đời vua nào) ban sắc [11, tr.1]

Đạo sắc thứ nhất được dịch nghĩa như sau:

Sắc phong của thôn Ông Hảo xã Liêu Xá (Phụng thờ một vị thần là Nam thần)

Sắc ban cho vị Hiền uy Linh ứng Chiêu nghị Đô thống Hoằng cứu trợ

thuận Hộ quốc Phù vận Cương chính Hùng lược Diễn khánh Hồng ân Thùy hưu Tuy lộc Hiển đức Phong công Phi hiến An dân Minh triết Thông đạt TẾ trị Mậu đức Vĩ tích Cao huân Hồng liệt Thần vũ Chỉ đức Chiêu nhân Anh

đoán Hùng tài Đại vương: Thể chất khác thường, tài cao quy củ Ơn tựa như

cam đường che rủ, người dân được cây nhờ nhiều Lục như bậc đại tài phù trợ, lộc báu tương trợ rõ ràng Anh linh tỏ rõ đến nay, việc gia tặng phải noi

theo điển cũ Vì trằm tuôi trẻ được giao ngôi báu, nay nối theo ngôi vương, tiến phong ngôi vị lớn, theo lễ có xét đăng trật, ưng nhất thế gia phong, ngài

xứng đáng được gia phong là Hiển uy Linh ứng Chiêu nghị Đô thống Hoằng

cứu Trợ thuận Hộ quốc Phù vận Cương chính Hùng lược Diễn khánh Hồng ân Thùy hưu Tuy lộc Hiển đức Phong công Phi hiến An dân Minh triết Thông

đạt Tế trị Mậu đức Vĩ tích Cao huân Hồng liệt Thần vũ Chí đức Chiêu nhân Anh đoán Hùng tai Ninh dân Tế chúng Đại vương Vậy nay ban sắc!

Ngày mông 10 tháng 12 niên hiệu Vĩnh Khánh năm thứ 2 (1730) [11, trả-4]

“Ơn tựa cam đường”, tức ví công đức của vị Nam thần được thờ ở

thôn Ông Hảo như Thiệu Công Thích, người đời nhà Chu Ông này làm

Trang 30

quan cho nhà Chu, tính rất giản dị, khi đi kinh lý các đất miền Nam thường ngồi dưới gốc cây cam đường để nghỉ ngơi Khi Thiệu Công Thích đi rồi nhân dân vẫn giữ cây cam đường đó và làm bài thơ Cam đường để ca ngợi công đức của ông

Cén theo truyền thuyết từ thời xa xưa để lại theo lời kể của các bậc cao niên trong làng Hảo thì vào thời Hậu Lê, khi vua đi vi hành qua vùng đắt này,

đi đến con đường có một cái cây được người dân gọi là cây Phủ Điêu, cây

bỗng dưng đổ xuống chắn ngang đường vua đi không rõ lý do Vua liền gọi quân lính làm lễ thì cây tức khắc đứng dậy Sau đó nhà vua mới phong thần

cho cây Phù Điêu này, và cho phép dân làng xây dựng một ngôi đình để thờ

thần cây Phù Điêu

Theo lời kể của ông Vũ Hữu Thạch (Hội trưởng Hội đình làng Hảo)

thì đình làng Hảo xưa kia có kiến trúc hình chữ Đinh, hai mái gần nhau, có

hình vòng cung ra đằng sau, có một cung nữa ở phía dưới Trên là thờ tiên hiền, dưới là thờ các giáp, các dòng họ Hướng đình quay ra sông, nằm ở vị trí giữa làng, trước con sông này được gọi là sông Ao Đình Ngày xưa đình

có tên là Đình Ba Chạ, truyền rằng: Trước đây có ba làng (làng thôn Xuyên, làng Thanh Xá và làng Hảo) Mùng 6 tháng Giêng hằng năm, cả ba

làng đều mở hội làng, rước ba Thần hoàng làng của mỗi làng về đình Ba

Cha tổ chức lễ hội Sau thời hòa bình lập lại, đình làng sát nhập vào làng Hảo Hằng năm mùng 6 tháng Giêng là hội làng của làng Hảo tại đình làng

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đình làng là nơi hoạt động

của những người cộng sản, trong đình cũng có người bị giặc Tây bắt, cụ tên Thủy, hiện nay cụ vẫn còn sống Cụ trồn và hoạt động ở đình, vào dịp làng

có hội làng, Tây đến dự thì phát hiện ra mùi thuốc lá của cụ Sau đó chúng vây bắt được cụ, thời đó có cụ làm quan hai ở phố Bần xin được cho cụ

Thủy về

Trang 31

Qua thời gian năm thang, bié

tranh liên miên nên đình làng bị xuống cấp nhiều và không còn nguyên vẹn

Những năm đầu hòa bình sau 1954 đời sống tỉnh thần của người dân nói

ôi khí hậu khắc nghiệt, và do chiến

chung khá căng thẳng, do sự kiện Cải cách ruộng đất và các cuộc bài trừ mê tín dị đoan Ở nông thôn các di tích văn hóa được xếp hạng thì được bảo vệ,

còn không thì bị xâm hại nặng nề, nhiều ngôi đình bị phá hủy trong đó có

đình làng Hảo Năm 1954, Đảng và Nhà nước đã dỡ đình làng để làm nhà kho hợp tác xã trong phong trào bài trừ mê tín đị đoan Do đó các cổ vật, tài liệu

năm 2010, dưới sự phát triển của Đảng và Nhà nước có chính sách công tác tự

do tín ngưỡng, chính quyền Đảng và nhân dân làng Hảo quyết định phục hồi lại ngôi đình cổ Vào tháng 10 năm 2010, đình làng bắt đầu được trùng tu, và

khánh thành vào tháng 10 năm 2011 Sau đó được Sở Văn hóa Thông tin tinh Hưng Yên công nhận là Khu vật thê tâm linh Hiện tại, Sắc phong phong cho

vi Chiêu Nghị Đô Thối

ig lần đầu tiên (năm 1730) đã được phục chế như nguyên bản, được nhập thần ngày 20 tháng giêng năm Quý Ty và thờ tại Đình làng Ngoài ra, trong đình vẫn còn một số đồ vật cổ khác như song đao bát cửu, hoành phi câu đối, trồng, kiệu rồng từ thời Hậu Lê Từ đó dân làng rất phẩn khởi Đây cũng được xem là cuộc cải cách văn hóa tư tưởng, nhất là lĩnh vực tâm linh Để dựng lại đình thì chủ yếu được người dân trong làng, con cháu ở xa quyên góp công đức cho làng Nhờ đó lễ hội ở đình làng được tổ

chức vào ngày mùng 6 tháng Giêng hằng năm Đình làng Hảo hiện nay có

diện tích là 5 gian (3 gian chính và 2 gian phụ) và đẳng sau lưng đình là hậu cung [PL, A.2, tr.100}.

Trang 32

* Chùa Vực

Từ xưa đến nay, người dân Việt Nam vẫn thường gọi chung đình chùa,

nhưng trên thực tế, đình và chùa không cùng một ý thức văn hóa Chùa là nơi thờ Phật, ít nhiều có ảnh hưởng văn hóa Phật giáo đến từ Án Độ, Trung Quốc Còn đình là của cộng đồng làng xã

Chùa Vực thuộc địa phận làng Hảo, nằm bên phía tay phải từ công

làng Hảo đi vào, cách cổng làng khoảng 100m, đối điện với cổng đình làng Hảo và Nhà văn hóa làng Hảo Trước đây Chùa Vực được gọi là Đền Vực,

cho đến năm 1960 mới được dân làng thống nhất đôi thành Chùa Vực [PL,

A3, 1.101]

Tai Vién nghién ctu Han Nom con luu gitt tai liệu về Phật tích thôn Ông

Hảo, xã Liêu Xá, Tổng Liêu Xá, Huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên (thôn Ông Hảo, xã Liêu Xá phụng thờ), ghi về báu vật Phật cổ Pháp Vũ ở Chùa Vực Trước đây, Khâu Đà La là người tịnh hành trong phái Bà La Môn ở nước Thiên Trúc, luôn biến ảo thân mình làm việc đạo Bên cạnh thành có

Tu Định là người kiên trì pháp giới, biết Khâu Đà La là Phật xuất thế nên

rất kính trọng, mời ngài làm khách tại nhà mình Ngài đặt tên cho con gái

của Tu Định năm ấy 12 tuổi là A Man Nương Khâu Đà La bảo với Tu

Định 3 năm nữa sẽ có hạn hán, khó ai có thể qua nỗi, đã giúp Tu Định đào giếng tránh hạn hán, sau đó ngài vào rừng, Tu Định xin theo chăm sóc A

Man Nương vào tối ngày 15 tháng 2, thấy rồng mây vây nhiễu, cảm ứng rồi

mang thai Tu Định sợ hãi kể với Khâu Đà La, ngài nói nên trở về chăm sóc đứa trẻ Sau 14 tháng, giờ Ngọ, ngày mùng § tháng 4, A Man sinh một người con gái Sau 7 ngày khi A Man bế con vào rừng, có cây dung thụ (cây đa) tự nhiên tách làm đôi, A Man đặt con vào trong thân cây, sau đó cây khép lại như cũ.

Trang 33

A Man về nhà, gặp hạn hán 3 năm, riêng giếng nhà A Man không cạn,

người trong thành được nhờ ân trạch Sĩ Vương biết tin sai người đến hỏi, A Man tâu này sự thực Sĩ Vương sai sứ vào rừng tìm Khâu Đà La để cầu trừ

han hán nhưng không thé nao tim được bèn mời Tu Định đến giúp Sau khi nghe kế sự tình, Khâu Đà La đứng dậy, chỉ trong chốc lát trời đồ mưa to,

người trong nước không ai không hàm ơn Sĩ Vương sai sứ mang lụa thơm

ting, Khâu Đà La bái nhận nhưng vẫn ở gốc cây đại thụ Vẻ sau gió bắc nồi

lên, giật đồ cây đại thụ, trôi sông đến bến ở thành Luy Lâu Trong thân cây an hiện tiếng âm nhạc, phát ánh sáng huy hoàng, hương thơm ngào ngạt Ban

đêm Sĩ Vương mơ thấy một vị đại nhân bảo rằng: “Cây gỗ này là Thần Mây, Than Mưa, Thần Sắm, Thần Chớp Nay ông nên cùng ta đến đó xem xét sẽ

thấy cây gỗ sống tám nghìn năm”

Sĩ Vương tỉnh mộng, ban bố cho quân thần lấy cây gỗ đó cắt làm 4

đoạn, tạo tượng Phật Đặt tên là Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện

Đoạn thứ nhất có một hòn đá, người thợ mang xuống sông rửa không may

rơi mắt Lúc rước vào chùa, ba pho tượng thì nhẹ, còn pho tượng Pháp Vân

rất nặng Đồn rằng phải tìm được hòn đá trôi sông, sau khi lấy được lên Sĩ

'Vương bèn đặt trước tượng, thì tượng trở nên nhẹ nhàng Sau này mới biết

cây gỗ đó từng ôm ấp cho con gái của A Man Nương Sĩ Vương lại sai sứ

đem biếu các đỗ quý báu vào rừng nhưng không thấy tung tích của Khâu Đà

Trang 34

1.2.2.2 Tín ngưỡng thờ thành hoàng làng Hảo

Phong tục thờ thành hoàng có nguồn gốc từ Trung Hoa cổ, sau khi du

nhập vào làng xã Việt Nam đã nhanh chóng bám rễ vào trong tâm thức của

người dân Việt, từ đó trở nên hết sức đa dạng

Thành hoàng trong làng, xã có thể là một vị thiên thần như Phù đồng Thiên vương, một thần núi như Tản Viên Sơn thần, một vị nhân thần có công

với dân với nước như Trần Hung Dao, Lý Thường Kiệt, Yết Kiêu, lại có khi

là các yêu thần, tà thẳn, với nhiều sự tích hết sức lạ lùng, nhiều khi có vẻ vô

lý Vua cùng các cố vấn tâm linh, xem, bàn bạc và cuối cùng vua sắc phong

cho thành hoàng (trừ những tả

, yêu thắn, ) luôn luôn tượng trưng cho

làng xã mà mình cai quản là biểu hiện của lịch sử, phong tục, của đạo đức, pháp luật cũng như hy vọng sống của cả làng Thành hoàng có sức tỏa sáng

vô hình như một quyền uy siêu Việt, khiến cho làng quê trở thành một hệ

thống chặt chẽ

Lúc đầu đình làng chỉ có chức năng như một ngôi nha sản lớn của cộng

đồng, là nơi hội họp, nộp sưu thuế và nơi nghỉ của khách lỡ đường Về sau, triều đình phong kiến mới sắc phong cho những vị có công với nước làm Thành hoàng làng (sống làm tướng, thác làm thần) Vì vậy đình kiêm chức năng nữa là thờ vị Thành hoàng Người có công khân đất, lập làng, vào mỗi dịp cúng đình, con cháu của những vị này đều được một miếng thịt nạc vai của con lợn tế than

và câu “miếng thịt giữa làng bằng một sàng xó bếp” có ý nghĩa là như thế, 'Ở làng Hảo cũng vậy, hằng năm hội làng vào mùng 6 tháng Giêng cũng,

là ngày thờ Thành hoàng làng tại đình làng Hảo Không chỉ vào ngày tổ chức

hội làng mà vào ngày lễ tết, dân trong làng tới đình thắp hương tế lễ, cầu mong Thành hoàng làng và trời đất phù giúp mưa thuận gió hòa để mùa màng

eặt hái thuận tiện va có nhiều phúc lành Đây cũng là dịp để tưởng niệm công

tích của các vị thần vì lễ hội ở đình diễn ra còn do tín ngưỡng thờ thần và

Trang 35

niềm vui thắng trận, được mùa Tắt cả đều nhằm nhớ về cội nguồn, liên kết công đồng

“Tín ngưỡng thờ thành hoàng làng Hảo được diễn ra từ ngày mùng 4 tháng,

1 âm lịch hằng năm, được chia ra thành hai phân là phần lễ và phần hội Phần lễ

được chia thành 2 phần, phần lễ thứ nhất là vào mùng 4, phần lễ thứ hai là Tế lễ

(nằm trong chương trình khai mạc chính thức vào mùng 6) Phân hội thì tô chức

vào mùng 5 và mùng 6 (xen kế trong chương trình khai mạc hội làng),

'Vào ngày mùng 4, các dong ho, gia đình hay con cháu ở xa giảnh thời

gian về đình làng lễ viếng, dâng lễ Đến mùng 5, làng thuê quan họ Bắc Ninh hát thuyền trên sông, vừa để tạo không khí vui tươi trước ngày khai mạc, vừa

để thông báo cho khách thập phương hoặc người dân xung quanh làng biết

được chuẩn bị tới ngày hội làng Hảo được tổ chức ngay tại đình làng

Mùng 6 tháng Giêng âm lịch là ngày chính thức khai mạc hội làng Hảo,

dâng hương vừa để Thành hoàng làng độ trì cho người dân được mưa thuận

Trang 36

ê Ngài tiếp nhận mùi hương đê hiễn linh phù

trợ người dân những lúc khó khăn, bể tắc

gió hòa, vụ mùa tươi tốt, vừa

- Dâng 3 tuần rượu: Phải dâng 3 tuần rượu, không được dâng 2 hoặc 4

vì số 3 biểu trưng cho thiên, địa, nhân (trời, đất, người)

~ Dâng 1 tuần quả thực, bánh trái, chè nước

- Đọc văn tế

- Hóa văn tế

- Lễ tắt thành

Sau lễ tắt thành là toàn bộ dân làng vào lễ, tiếp theo là chương trình văn

nghệ liên hoan Một số các loại hình văn nghệ dân gian tuy không trực tiếp liên quan đến tín ngưỡng thờ thành hoàng làng nhưng thường được diễn ra trong hội làng, tại làng Hảo thì có hát quan họ Nội dung của loại hình văn nghệ dân gian này là ca ngợi cuộc sống thanh bình, ca ngợi cảnh đẹp quê hương, tình yêu đôi lứa

Cuối cùng là các trò chơi dân gian được tô chức ngay tại sân đình làng

như cờ tướng, thư pháp, chọi gà, đây cũng là hoạt động gây hào hứng nhất cho người dự hội

1.2.2.3 Phong tục tập quán làng Hảo

* Việc cưới hỏi

Người Việt Nam là con người của cộng đồng, mọi việc liên quan đến

cá nhân cũng đồng thời liên quan đến cộng đồng, kể cả lĩnh vực hôn nhân là lĩnh vực riêng tư nhất Ở làng Hảo cũng vậy, nam nữ đến tuôi thành niên đều được tự do tìm hiểu Đúng đắn, chân thành, chín mui, khi xây dựng gia đình

phải theo luật hôn nhân của Nhà nước

Trước đây quan niệm trong cưới xin ở làng Hảo còn phải đáp ứng các

quyền lợi của làng xã, đó là chọn vợ chọn chồng trong số những người cùng

Trang 37

làng Nhưng ngày nay các cô gái chàng trai trong làng được phép tự lựa chọn chồng hoặc vợ cho mình Không chỉ bó buộc trong phạm vi làng như xưa, hôn nhân được xây dựng trên nền tảng của sự yêu thương, người làng có thể kết

hôn với bất kỳ ai mà họ cảm thấy phù hợp Cha mẹ chỉ giới hạn ở việc hỏi tuổi xem đôi trai gái có hợp tuổi nhau không, còn nếu xung khắc thì có thể khắc phục bằng các nghỉ lễ cầu cúng do một thầy mà gia đình tin tưởng thực

hiện Thường khi có sự đồng ý của cả nam và nữ thì đám cưới sẽ có chu trình

như sau: Thăm nhà, chạm ngõ, ăn hỏi và cuối cùng lả ngày cưới

Ngày thăm nhà là ngày nhà trai cử một số thành viên trong gia đình

như bồ mẹ, bác trưởng, cùng cô di chú bác đến nhà gái thăm hỏi, xin phép qua

lại, cho hai bên gia đình được tự do di lại, và hẹn ngày chạm ngõ Trong ngày

chạm ngõ, hai gia đình tìm hiểu và chọn ra một ngày đẹp đề tổ chức lễ ăn hỏi

và ngày cưới luôn Ngày ăn hỏi là ngày nhà trai mang lễ vật đến chính thức

cầu hôn nhà gai, 18 vat thường bao gồm: lợn, trầu cau, rượu, bánh cốm, trả,

một số tiền hay được gọi là tiền thách cưới Thời gian từ ngày ăn hỏi đến ngày cưới phụ thuộc vào hai bên gia đình thống nhất, có nhà muốn rút gọn thì ăn hỏi và lễ cưới trong một ngày, nhưng cũng có gia đình ngày ăn hỏi cách ngày cưới đến hàng tháng Đám cưới ở làng Hảo diễn ra trong hai ngày, nhà trai và

nhà gái tự lo liệu tiệc cưới Ngày thứ nhất gọi là ăn cỗ chính, số lượng cỗ bàn ngày này thường là gấp đôi ngày thứ hai Đến ngày thứ hai là ngày lễ cưới chính, ngày này nhà trai định theo giờ đẹp xuất phát đến nhà gái dé đón dâu

Lúc đón dâu thì bố mẹ của cô dâu sẽ không được đi cùng mà phải đến sau,

chờ khi con gái về nhà chồng và thắp hương cúng tô tiên xong thì bố mẹ cô

đâu mới được đến

Lễ cưới là trách nhiệm của hai gia đình cùng lo, xây dựng hạnh phúc gia dinh cho con là trách nhiệm của các bậc cha mẹ, không gây phiền hà cho

nhau Không thách cưới, lễ nghỉ đơn giản, tiết kiệm, nhưng phong phú, sinh

Trang 38

động, tươi vui, lành mạnh, lịch sự Không tảo hôn, không ép duyên, cắm dan hát, mở loa đài ầm ï qua 22 giờ 30 phút làm ảnh hưởng đến sự yên tinh của làng, Không nên tổ chức ăn uống linh đình tốn kém, lăng phí, không

nên uống rượu quá say dẫn đến mắt đoàn kết, không nên dựa vào đám xứ đánh cờ bạc ăn tiền sát phạt lẫn nhau Để đảm bảo hạnh phúc gia đình cần bình đẳng vợ chồng, không đánh vợ con làm ảnh hưởng đến tình cảm vợ chồng, con cái kém thông minh, hơn nữa làm phạm đến nhân quyền, làm mắt nhân phẩm con người

* Việc tang

Sinh tử là quy luật của tạo hóa, tục ngữ có câu “nghĩa tử là nghĩa tận” truyền thống của làng Hảo là ân cẳn thăm hỏi lúc 6m đau, khi có người làng qua đời thì trịnh trọng tiễn đưa vì vậy phải giáo dục con cháu có ý thức nhiệt tình với công việc khi trong làng có người qua đời

Khi gia đình nào có người qua đời thì tang chủ phải cử người đến UBND

xã để khai từ mới được an táng Sau đó tang chủ phải cử người đến báo cáo với

trưởng thôn và các đoàn thể có liên quan đề thống nhất các thủ tục cần thiết cho

việc tang lễ Không được để thi hài quá 24 giờ kể từ khi tắc thở cần thiết

gia đình báo cáo trưởng thôn xin phép UBND xã, y tế xã, nhưng không được để

quá 36 giờ Đây cũng là một nét văn hóa đặc sắc của nhân dân làng Hảo

Tang chủ không nên tô chức ăn uống linh đình gây tổn phí ảnh hưởng đến kinh tế gia đình Không được thổi kèn, trống, mở nhạc hiểu quá 22 giờ 30

ủa nhân dân ban đêm Trong lúc thỉ hành tang lễ

thì đưa tang đo trưởng thôn điều hành, ban tang lễ có nhiệm vụ đưa linh cữu

phút để đảm bảo yên nghỉ

từ trong nhà ra xe tang, đưa về nghĩa trang an táng hoàn chinh Ban tang lễ có

nhiệm vụ bảo quản đồ tang lễ của làng, kinh phí bảo quản do các hộ gia đình hàng năm đóng góp.

Trang 39

“Theo phong tục của làng Hảo thì chỉ cải táng người mắt đủ 36 tháng, nên cải táng vào tháng 8 đến cuối năm âm lịch để đảm bảo vệ sinh môi trường An ting tại khu vực nghĩa trang của làng quy định, cắm để mồ mả vào

khu vực gò miều, kể cả đất do gia đình sử dụng Nơi an táng gia đình phải cây lấy ván lên, san lấp huyệt nơi an táng nhưng không làm ảnh hưởng đến các

mộ khác Khi xây mộ chỉ được xây dựng theo quy định của làng trong phạm

vi dai 1,40m, rộng Im, mộ này cách mộ kia 0,03m và phải theo hàng lối nhất

định do ông quản trang chỉ dẫn, hoặc cán bộ được phân công Khoảng cách đường đi giữa hai hàng mộ là 0,7m để nhân dân đi lại thăm viếng được thuận

tiện Những người có nguồn gốc của làng hiện nay đang sinh sống trên mọi

miễn Tổ quốc, khi qua đời muốn về quê hương an táng phải đóng lệ phí theo nghị quyết của dân theo từng thời gian

* Lắi sống

Lễ nghỉ văn hóa

~ Tự do tín ngưỡng cúng lễ tổ tiên, ông bà cha mẹ trong gia đình di lễ đền, chùa, nhà thờ, đình là tỏ lòng thành kính biết ơn tổ tông, nhằm giáo dục

con cháu nhớ đến cội nguồn

~ Làng Hảo có chùa Vực dé thờ Phật hàng năm, dân làng cùng nhà chùa

làm lễ đầu năm vào ngày 15 tháng Giêng và lễ thượng nguyên vào cuối năm ngày 15 tháng Chạp là lễ tắt niên Hiện nay làng mới tu sửa được ngôi đình là nơi thờ cúng Thần hoàng và mở hội hàng năm vào ngày mùng 6 tháng 1 âm

lịch Đối với nhà sư trông nom thắp hương thờ Phật và ông Từ trông đình

giúp dân phải chịu sự lãnh đạo của Ban lãnh đạo làng Không được tùy tiện làm trái quy ước làng

- Cấm mê tin dị đoan, xem bói lên đồng, rút thẻ gọi hồn, bắt tà ma, đốt

nhiều vàng mã làm ảnh hưởng kinh tế gia đình gây chia rẽ lứa đôi gây bắt hòa

trong gia đình.

Trang 40

Dao by gia đình

- Ông bà, cha mẹ phải sống mẫu mực, phải thực sự làm tắm gương cho

con cháu noi theo

~ Con cháu phải tôn kính ông ba, cha mẹ; khi ông bà, cha mẹ giả yếu con cháu phải có trách nhiệm chăm sóc chu đáo Khi ốm đau con cháu phải có

trách nhiệm phụ dưỡng và lo thuốc men tận tình đẻ đền đáp công ơn với ông

bà, cha mẹ (chống hành vi ngược đãi)

~ Vợ chồng phải bình đảng tôn trọng lẫn nhau, yêu thương chăm sóc nhau, giúp nhau cùng tiến bộ cùng đồng tâm hiệp lực xây dựng gia đình ấm no

hạnh phúc, chăm sóc nuôi day con, phụ dưỡng cha mẹ, tôn thờ tổ tiên thực hiện

tốt kế hoạch hóa gia đình mỗi cặp vợ chồng chỉ sinh 1 đến 2 con

- Ông bà, cha mẹ chỉ dạy con cháu bằng lời lẽ, hành vi mẫu mực của

mình, không được đánh đập, xi vả, ngược đãi con cháu, không phân biệt nam

hay nữ

~ Tiêu chuẩn gia đình văn hóa tại làng Hảo là: Gia đình hòa thuận, hạnh

phúc, tiến bộ; thực hiện kế hoạch hóa gia đình; đoàn kết làng xóm láng giềng; thực hiện tốt nghĩa vụ công dân

- Hàng năm vào ngày 15 tháng Chạp tập trung cán bộ Đảng viên trong làng, trưởng các dòng họ gặp mặt chúc mừng sang năm mới Làm việc phục

Ngày đăng: 17/08/2022, 13:48

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w