Mục tiêu của đề tài Nghi lễ cầu tự ở người Nùng Phàn Slình ở huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên là nêu lên quan niệm về nghi lễ cầu tự và khái quát về người Nùng Phàn Slình ở huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. Trình bày tiến trình nghi lễ cầu tự của người Nùng Phàn Slình tại đây; phân tích biến đổi trong nghi lễ cầu tự của người Nùng Phàn Slình ở huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
Trang 1BỘ VĂN HÓA, THÊ THAO VÀ DU LỊCH BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VAN HOA HA NOL ——
Lương Việt Anh
Nghi lễ cầu tự của người Nùng Phàn Slình
ở huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
LUẬN VĂN THẠC SỸ VĂN HÓA HỌC
Hà Nội, 2016
Trang 2
BO VAN HÓA, THÊ THAO VÀ DU LỊCH _ BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI XE g yk
Lương Việt Anh
Nghỉ lễ cầu tự của người Nùng Phàn Slình
ở huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Phụ lục Luận Văn
Hà Nội, 2016
Trang 3BO VAN HÓA, THÊ THAO VÀ DU LỊCH _ BQ GIAO DUC VA DAO TAD
‘TRUONG DAL HQC VAN HOA HA NOL ——
Lương Việt Anh
Nghỉ lễ cầu tự của người Nùng Phàn Slình
ở huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Chuyên ngành: Văn hoá học
Mã số: 60310640 LUẬN VĂN THẠC SỸ VĂN HÓA HỌC
Người hướng dẫn khoa học:TS Nguyễn Thị Ngân
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng
dẫn khoa học của TS Nguyễn Thị Ngân Những nội dung trình bày trong luận
văn là kết quả nghiên cứu của tôi, đảm bảo tính trung thực và chưa từng được
ai công bố dưới bất kỳ hình thức nào Những chỗ sử dụng kết quả nghiên cứu của người khác, tôi đều trích dẫn rõ ràng Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm
trước nhà trường về sự cam đoan này
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
'Tác giả luận văn
Lương Việt Anh
Trang 5Chương 1; QUAN NIEM VE NGHI LE CAU TỰ VÀ KHÁI QUÁT VÈ NGƯỜI
NGƯỜI NÙNG PHÀN SLÌNH Ở HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN 16
1.1 Cơ sở lý thuyết và một số khái
1.1.2 Quan niệm liên quan đến nghỉ lễ cầu tự 18 1.1.3 Sự ảnh hưởng của tôn giáo, tín ngưỡng đối với nghỉ lễ cầu tự 25
1.2 Khái quát về người Nùng Phàn Slình ở huyện Võ Nhai, tỉnh Thái
1.23 Đời sống văn hóa của người NùngPhàn Slình ở huyện Võ Nhai,
Chương 2: TIỀN TRÌNH NGHỊ LẺ CẦU TỰ CỦA NGƯỜI NÙNG PHÀN SINH ở
2.1 Quá trình chuẩn bị cho nghỉ lễ cầu tự 40
2.1.2 Chuân bị cho nghĩ lễ cầu tự 40 2.1.3 Lễ đón thây Then 7 42 2.2 Tiến trình và diễn biến của nghỉ lễ cầu tự 43
2.2.2 Lễ mời tô tiên (mời tô tiên cùng các thánh thn) 48 2.2.3 Lễ giải hạn cho người nhà gia chủ 53
2.2.4 Lễ bắc cầu (cầu thiên, cầu địa) 54
2.2.5 Lễ dương sao giải hạn cho gia chủ oss 59
2.2.6 Đại lễ (làm mo mời Ngọc Hoàng) ¬ - 2.2.7 Lễ bắc cầu tơ (chắp nói lại đường duyên số) 71
Trang 6
2.2.11 Lễ tiễn tô tiên cùng các thánh thị 7 2.2.12 Lễ tiễn thầy và thu âm binh tại nhà thầy Then 80
3.1.1 Thực trạng về nghỉ lễ cầu tự _ -ee-84 3.1.2 Biến đổi trong nghỉ lễ cầu tự 85
3.2 Giá trị văn hóa trong nghỉ lễ cầu tự 88
3.2.1 Nghĩ lễ cầu tự phản ánh việc duy trì nòi giống tộc người 88 3.2.2 Nghỉ lễ cầu tự phản ánh đời sống văn hóa tín ngưỡng : OL 3.2.3 Nghỉ lễ cầu tự phản ánh đời sống xã hội tộc người 92
3.2.4 Nghĩ lễ cầu tự phản ánh nghệ thuật dân gian tộc người 95
3.3 Bảo tồn, phát huy giá trị của nghỉ lễ cầu tự và những vấn đề đặt ra trong việc xây dựngđời sống mới hiện nay .101 3.3.1 Bảo tồn, phát huy giá trị của nghỉ lễ cầu tự trong đời sống xã hội
3.3.2 Nghĩ lễ cầu tự và những vấn đề đặt ra trong việc xây dựng đời sống
“Tiểu kết Chương 3 107
Trang 7Tiến sĩ
Ủy ban nhân dân
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp Quốc
Trang 8Nội, ông bào Nùng nơi đây, trong đời sống sinh hoạt thường nhật, cũng như
đời sống văn hóa vật thể và phi vật thể rất phong phú đa dạng, thể hiện bản sắc văn hóa tộc người, thông qua toàn bộ các hoạt động, trong đời sống, từ
sản xuất kinh tế, trồng trọt, chăn nuôi, nghề phụ gia đình, trong cách ăn, cách
ở, cách mặc, trong phong tục tập quán, lễ hội, cưới hỏi, tang ma,v.v trong đó
nét văn hóa gắn với việc duy trì, bảo tổn nòi giống như: Sinh đẻ, nuôi day con
cái, phát triển gia tộc rất quan trọng trong mỗi gia đình người Nùng, thậm chí
quan trọng đến mức việc sinh con hay không sinh con trai hay sinh con gái, đều ít nhiều liên quan đến đạo hiểu, nếp sống, đức sống của con cháu với các
bậc tiễn nhân Vì quan niệm và ý thức duy trì phát triển dòng tộc ấy mà nhiều
một nghỉ lễ tâm linh để xin các bậc thánh
thực hiện nghỉ lễ được sinh con theo ý muốn thông qua các hoạt động cúng bái Tuy là một nghỉ lễ nhỏ trong chu kỳ đời người, nhưng nó lại rất quan trọng đối với các gia đình người Nùng, nó chỉ phối toàn bộ đời sống của gia
Trang 9đình, dòng họ người Nùng Vì vậy việc nghiên cứu nghỉ lễ cầu tự là rất cằn
ê hiểu các vấn đề văn hóa, xã hội, tộc người
Ngày nay, mặc dù các ngành khoa học, trong đó có y học đã rất phát
triển, có thê chữa tri rat nhiều loại bệnh nan y, bệnh vô sinh và sinh con theo ý
muốn,v.v tuy nhiên, các nhóm Nùng, trong đó có người Nùng Phàn Slình & huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên vẫn duy trì, tổn tại nghỉ lễ cầu tự Từ nhỏ, được chứng kiến rất nhiều nghỉ lễ về cầu tự ở địa phương, nhưng cho đến nay
đủ các nghỉ thức như xưa, trong khi xã hội đã
và đang phát triển nhanh chóng Một số lễ thức cầu tự có biến đổi ít nhiều là
hỏi đã kích thích tôi tìm hiểu về lĩnh vực văn hóa tín ngưỡng tâm linh phức
hợp này Đề trả lời câu hỏi này, theo tôi: Nghỉ lễ cầu tự của đồng bào Nùng có nhiều yếu tố tích cực, bởi lẽ ngoài những vấn đề tâm linh, nó còn mang tinh
nhân văn, thể hiện bản sắc độc đáo của văn hóa tộc người, hàm chứa nhiều thông tin liên quan đến lịch sử tộc người, đến quan hệ giao thoa giữa văn hóa tộc người Nùng và tộc người khác
Then là lĩnh vực tâm linh phức hợp, trong đời sống cộng đồng tộc
người Nùng, nhưng từ trước đến nay chưa có một công trình nghiên cứu nào
mang tính hệ thống và chuyên sâu về nghỉ lễ cầu tự của người Nùng Phàn
Slinh ở huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên Một số nghiên cứu chưa xem xét nghỉ lễ cầu tự với tư cách là một thành tố trong lĩnh vực văn hóa phi vật thể
để có định hướng và ứng xử phù hợp với cuộc sống đương đại Vì thế cẳn
phải được làm rõ trong đề tài về nghỉ lễ cầu tự này
Là người con dân tộc Nùng được sinh ra và lớn lên tại huyện Võ
Nhai, nơi quê hương có nhiều đồng bào Nùng sinh sống, hòa mình trong
mọi nghỉ lễ chu kỳ đời người của cộng đồng Nùng, thêm đó đã có quá trình tiếp xúc, nghiên cứu, sưu tẩm di sản văn hóa truyền thống nhóm Nùng
Phàn Slinh ở huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, tôi thấy có trách nhiệm
Trang 10nghiên cứu, bảo tồn, phát huy mặt tích cực của nghỉ lễ cầu tự Để hiểu và trả lời cho câu hỏi tại sao nghỉ lễ cầu tự vẫn tồn tại phô biến cộng đồng người Nùng ở Võ Nhai, mặt khác cũng muốn làm rõ những yếu tố tâm linh, nghi thức, hành lễ, chi phối quan niệm chưa phù hợp, để đóng góp cho su
sự phát triển chung của cộng đồng người Nùng ở Võ Nhai, Thái Nguyên
nói riêng và Việt Nam nói chung, góp phần xây dựng và phát triển văn hóa
và con người Việt Nam theo tỉnh thần Nghị quyết 33, Hội nghị Ban Chấp
hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 9 (khoá XI),về việc: "Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu câu phát triển bền văng đắt nước ”
Từ những lý do đó, tôi chọn đề tài: “Nghỉ lễ cầu tự của người Nùng
Phần Slình ở huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên”, làm đề tài luận văn tốt nghiệp Cao học của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Từ trước đến nay, có rất nhiều tác giả đã dành nhiều thời gian nghiên cứu về đời sống, văn hoá dân tộc Nùng, dưới những góc nhìn khác nhau như Dân tộc học, văn hoá học, ngôn ngữ và văn học nghệ thuật dân gian Những, công trình nghiên cứu về tộc người Nùng dưới nhiều dạng, nhiều góc độ,
nhiều hình thức khác nhau như cuốn “Đán tộc Nùng ở Việt Nam ” (1992) của PGS TS Hoàng Nam, đã dành hai trang (từ tr.148-149) để nói đến bàn thờ
Mụ trong gia đình người Nùng để thờ bà Hoa Vương Thánh Mẫu là người cai quản trẻ em trong gia đình, coi trọng thế hệ nối
không nói đến việc nhân vật Hoa Vương Thánh Mẫu trong nghỉ lễ cầu tự coi trọng nòi giống chứ Cuốn “Các đân tộc Tây — Nùng ở Việt Nam” (1992), của Viện Dân tộc học,
do giáo sư Bế Viết Đẳng làm chủ nhiệm dự án (tr236) đề cập đến nữ thin phổ biển của phương Nam, đặc biệt là nhân vật bà my (mẹ Hoa, Hoa Nương Tiên Cô, Hoa Nương Thánh Mẫu) người làm nhiệm vụ đúc người đưa xuống trần gian và coi sóc trẻ em, cũng không đề cập đến Hoa Nương Thánh Mẫu
trong nghỉ lễ “cầu tự”,v.v Kỷ yếu hội thảo “Báo tén, phat huy nghệ thuật
Trang 11huy các giá tri trong nghỉ lễ phù hợp với đời sống xã hội, cộng đồng để phát
triển bền vững
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
~ Thực hiện đề tài nghỉ lễ cầu tự của người Nùng Phàn Slình ở huyện
Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, nhằm nghiên cứu lịch sử, văn hóa tộc người
Nùng ở tỉnh Thái Nguyên nói riêng, ở Việt Nam nói chung, nhằm cung cap
nguồn tư liệu mới, toàn diện, phong phú, đầy đủ, có hệ thống về nghi lễ cầu tự
của nhóm tộc người Nùng ở Võ Nhai, góp phần bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, vun đắp, xây dựng cuộc sống cho cộng đồng hôm
nay và mãi sau
~ Nghiên cứu các bước tiễn hành nghỉ lễ cầu tự của người Nùng Phàn Slinh để tìm ra những mặt hạn chế, không phù hợp cần được khắc phục, đề xuất những giải pháp quản lý văn hóa, xã hội nơi có người Nùng Phàn Slình
cư trú, đề định hướng chính sách phát triển cộng đồng, phù hợp với cuộc sống
mới ở địa phương hiện nay
nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, Nhà nước
Việt Nam, các nghiên cứu nhân học văn hóa, dân tộc học, đặc biệt là văn hóa
họcv.v để nhận diện, xem xét, đánh giá đối tượng nghiên cứu nghỉ lễ cầu tự của ngưởi Nùng Phản Slình trong quá trình tổn tại, từ truyền thống đến đương đại Đó kết quả của quá trình phát triển nội tại, vận động, biến đôi và thích ứng
trong môi trường xã hội và tự nhiên của tộc người và môi trường giao thoa với
các dân tộc láng giéng Quá trình ấy không ngưng đọng mà tiếp tục phát tri
cần đón bắt xu hướng và định hướng, phát triển theo hướng bền vững
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Trang 12Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp nghiên cứu văn hóa học làm chủ đạo, kết hợp với phương pháp nghiên cứu dân tộc học, nhân học Tác giả sẽ thực hiện quan sát tham dự, phỏng vấn, thảo luận, trao đổi, tọa
dam, ghi chép, chụp ảnh,v.v một số nghỉ lễ cầu tự ở nhiều dạng khác nhau
và nghỉ lễ chu kỳ đời người của đồng bào Nùng Phản Slình ở huyện Võ Nhai,
tỉnh Thái Nguyên Ngoài ra còn sử dụng phương pháp tông hợp, hệ thống,
phân tích, so sánh, để tìm ra những yếu tổ tích cực và những mặt còn hạn chế của quá trình vận hành, đánh giá bao quát, chỉ tiết, đa chiều, khách quan về nghỉ lễ cầu tự, từ đó đề xuất giải pháp nhằm tìm ra đặc trưng và các giá trị văn hóa tiêu biểu trong nghỉ lễ cầu tự
5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
$.1 Đắi tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu “Nghỉ lễ cầu tự của người Nùng Phản Slình ở huyện Vo
Nhai, tỉnh Thái Nguyên”, là thực hiện nghiên cứu quá trình nghỉ lễ với hệ
'È nội dung: Nghỉ lễ cầu tự là một hiện tượng văn hóa tâm linh phức
hợp gồm nhiều vấn đề liên quan Trong khuôn khổ của luận văn, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu một số quan niệm, khái quát về đời sống văn hóa, xã hội người Nùng Phàn Slình ở huyện Võ Nhai, tiến trình và diễn biến của nghỉ lễ cầu
tự với các lễ thức theo thời gian, từ đó tìm ra những giá trị cốt lõi, biến đổi trong
nghỉ lễ cầu tự của người Nùng Phàn Slình ở huyện Võ Nhai, tinh Thái Nguyên
~ Về thời gian: Nghiên cứu “Nghỉ lễ câu tự của người Nùng Phàn Slình
ở huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên ” từ năm 2006 đến nay
~ Về không gian: Nghiên cứu “Nghỉ lễ câu tự chú yếu ở huyện Võ Nhai,
tỉnh Thái Nguyên ", nơi người Nùng Phản Slinh sinh sống tập trung Ngoài ra
Trang 13để tài còn xem xét nghỉ lễ cầu tự ở một số địa điểm và người Ning ở huyện Đồng Hỷ, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, nơi đồng bào Nùng còn bảo lưu được nhiều yếu tố văn hóa truyền thống tộc người
6 Nguồn tài liệu nghiên cứu
~ Luận văn kế thừa các nguồn tài liệu của các tác giả viết về văn hóa
dân tộc Nùng ở Việt Nam, đã được công bồ từ trước tới nay
~ Luận văn tiếp thu và sử dụng tư liệu trong các cuộc nghiên cứu, sưu
tầm di sản văn hoá dân tộc Nùng của Bảo tàng Văn hoá các dân tộc Việt Nam
quan sát hệ thống về đời sống cư dân và nghỉ lễ cầu tự của người Nùng
7 Những đóng góp của luận văn
Luận văn được sưu tầm và hệ thống hóa các tài liệu có liên quan đến nghỉ lễ cầu tự của người Nùng Cung cấp nguồn tư liệu để góp phần nhận diện
diy đủ hơn về nghỉ lễ cầu tự của người Nùng Phàn Slình nói riêng và văn hoa truyền thống của dân tộc Nùng nói chung
Luận văn cung cắp nguồn tư liệu xác thực chuyên sâu, có hệ thống đầu tiên về nghỉ lễ cầu tự của người Nùng Phàn Slình ở huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
Luận văn khẳng định những giá trị văn hóa của nghỉ lễ cầu tự, đề xuất giải pháp, kế thừa, phát huy các yếu tổ tích cực, hạn chế những mặt tiêu cực, góp phần xây dựng cơ sở khoa học cho việc định hướng các chính sách xã
hội, văn hóa, giáo dục,v.v trong xây dựng nếp sống mới ở cơ sở hiện nay, đồng thời kế thừa những giá trị văn hóa nhân văn đề giữ gìn và phát triển giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp của dân tộc Nùng trong sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay
8 Cấu trúc của luận văn
Trang 14người Phật tử muốn có con trai, muốn có con gái thì đều được Theo đó, muốn được Phật ban con, thì Phật tử phải thuận thành, thiện mỹ, làm điều tốt
với mọi người, hay nói cách khác là thành tâm hướng Phật
\u tự” có được con cái do rất nhiều nguyên nhân Đó là phúc đức, nhân duyên của vợ, chồng, của tổ tiên ông bà để lại Theo quan niệm của đạo Phật, một người con sinh ra có hai góc độ Người con
được sinh ra để trả nợ cho bố mẹ thì họ sẽ suốt đời ngoan ngoãn,
vâng lời, hiếu thuận Còn những người con được sinh ra để doi ng
bố mẹ, thì từ lúc mang thai đã vắt vả, đến khi sinh ra lại ốm đau,
bệnh tật, phá phách Tuy nhiên, nếu bố mẹ thành tâm hướng thiện,
biết cách dạy đỗ con cái, thì vẫn có thê thay đổi số phận [28, tr.15]
người giữ mối liên hệ giữa trần gian với Ngọc Hoàng và Long Vương Nghỉ
gấp
người của mường trời cầu xin thin Linh cho trần gian được mọi sự tốt lành
lễ cầu tự là nghỉ lễ cúng bái, thầy Then đại diện cho người trần gi
Trong nghỉ lễ cầu tự do thầy Mo, hoặc Then (chủ yếu la lim then) đàn, hát
nội dung cầu xin với Hoa Vương Thánh Mẫu (mẹ Bjoóc) nữ thần trông coi về
đường tình yêu, hạnh phúc, con cái của thiên hạ giúp cho gia chủ tổ chức làm
lễ có con như ý muốn
“Cầu tự” còn là một nghỉ lễ liên quan đến chu kỳ vòng đời người, do
vay, tất cả các lễ thức trong nghỉ lễ cầu tự đều liên quan đến vòng đời con người đều do các đắng thần linh tối cao ban phát cho, Vì thế những đôi vợ chồng mới cưới, những đôi vợ chồng hiếm con, muộn con, sinh con không như ý muốn, hoặc những gia đình muốn cho con cái luôn khoẻ mạnh hoặc
không may tồn thất về đường con cái, thường làm lễ cầu tự để thỏa mãn tâm
Trang 15linh và nuôi niềm tin, hy vọng, trấn an cuộc sống, tiếp them sức mạnh tỉnh thần và lý trí để có con như ý muốn
Nghỉ lễ cầu tự được thể hiện qua hình thức diễn xướng tín ngưỡng Then, theo lối hiện thực hóa thế giới tâm linh của đồng bảo Nùng Chính vì vây mà Then đã trở nên gần gũi, gắn bó với đời sống tôn giáo, tín ngưỡng của
người dân qua nhiều thế hệ Có thể nói rằng, niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, các vị thần, các loại ma chính là cái cót lõi làm nên Then và nghỉ lễ cầu
tự Người Nùng tin rằng để sinh con cái được như ý muốn, đó là sự giúp đỡ đắc lực của các thần linh thông qua nghỉ lễ cầu tự bằng hình thức then tín ngưỡng
1.1.2 Quan niệm liên quan đến nghỉ lễ cầu tự
* Quan niệm về tín ngưỡng
Trong thế giới tâm linh người Nùng cho rằng con người ta sống luôn
chịu sự chỉ phối bởi các lực lượng siêu nhiên, mà trong đó Ngọc Hoàng là đắng tối cao nhất Việc trông coi con người ở dưới thể gian, Ngọc Hoàng giao cho các vị thần tiên như Nam Tào, Bắc Đẫu, Hoa Vương Thánh Mẫu (người Nùng gọi là mẹ Bjoóc) cùng các nàng tién,v.v Bac Dau thì luôn theo dõi sự sống, tính mạng của từng người, Nam Tào thì trông coi số tử, ai đoản thọ hay trường thọ là do Nam Tào định đoạt Mẹ Bjoóc (nghĩa là mẹ Hoa - Hoa Vuong Thánh Mẫu) ngự ở trên trời, mẹ có một vườn hoa lớn và tự tay chăm
sóc, đồng thời thay mặt Ngọc Hoàng trực tiếp phân hoa xuống trần gian cho các cặp vợ chồng, hoa vàng tượng trưng cho con trai, hoa bạc tượng trưng cho con gái Mỗi cặp vợ chồng được phân bao nhiêu bông hoa là do mẹ ấn định
“Cầu tự” thể hiện niềm tin thiêng liêng vào thế giới thần linh
“Thế giới tâm linh của người Nùng là thể giới đa thần, nó phản ánh sự
giao lưu hội nhập giữa yếu tố tôn giáo tín ngưỡng bản địa với các tín ngưỡng
du nhập Trước hết nghỉ lễ cầu tự được thể hiện thông qua tín ngưỡng Then,
đó là sự sinh động hoá quan niệm vẻ thế giới ba tầng của người Nùng Thông qua nhãn quan của những người hành nghề then, thé giới ba tẳng hiện lên rat
Trang 16ranh mạch bao gồm cõi trời, cõi dat và cõi nhân gian mà ở đó với tư cách là
người thông quan được với thần linh, người làm Then đã đi lại được một cách
dễ dàng từ cõi này sang cõi khác Thông qua thẩy Then, cõi trời được cụ thẻ
hoá, hiện thực hoá như là một hình ảnh lý tưởng của nhân gian Hay nói cách khác, Then đã nhân hoá cõi trời, ngoài cung phủ nguy nga tráng lệ ra, cõi trời của Then cũng rất gần gũi với đời thường: có rừng rú, biển cả, sông ngòi, có ruộng,vườn, chợ búa,v.v điều đó phản ánh sự nhận thức một cách hồn nhiên thô mộc trong thế giới quan của người Nùng nói chung và người Nùng Phàn Slinh nói riêng
Ngoài ra, Then còn là sự cụ thể hoá quan niệm hồn linh giáo trong tín ngưỡng dân gian bản địa của người Nùng Từ niềm tin dân gian, tất cả các vị
thần trong quan niệm dân gian khi vào trong Then đều đã được hình tượng hoá
như những nhân vật có thật Ngoài Tổ Tiên, Tổ Sư là những nhân vật có thực
đã khuất, các vị thần linh khác trong Then đều có những dáng vẻ riêng, nhiều
vị được hiện lên qua phương thức nhập đồng trong các đám lấu cắp sic cua Put
như Thổ Công, Táo Công, các tướng nghề v.v cũng như vậy, khái niệm hỗn vía cũng được cụ thể hoá trong Then Trong những bài cúng cầu yên hoặc cúng
giải hạn chữa bệnh, hồn vía được Then hình dung như là một sinh linh mềm
yếu, rất đễ bị cám dỗ, rất đễ bị tốn thương, muốn đưa hỗn, vía về nhà
vỗ về, dỗ dành đôi khi phải dọa dẫm, đe nẹt Một số vị thin như mẹ Hoa trong
nghỉ lễ cầu tự, hay nghỉ lễ vun hoa,v.v đã được biểu tượng hóa trong Then qua
sự khắc họa tính cách nhân vat rit gần gũi với đời thực
Do tín ngưỡng thờ đa thần, người Nùng thờ cúng Tổ tiên trong nhà, ban thờ Tổ tiên có bài vị, lư hương và được đặt vào nơi trang trọng nhất Ngoài ra,
mỗi nhà còn thờ bà Mụ (mẹ Hoa- thần bảo hộ trẻ nhỏ), mẹ Cửa (thần trông nhà) Vào những ngày đầu tháng, ngày rằm họ thường đốt hương, ngày lễ, tết
có cúng chè, rượu và các món ăn Người Nùng cúng ma sản (pi thang sản) và
các cô hồn đầu ngõ vào dịp tết nguyên đán Những gia đình cùng một dòng họ thì cùng chung một miếu thờ Thô Công, Thổ Địa Các thay Tao, thay Mo theo
Trang 17
ý tưởng từ xưa họ có khả năng tiếp xúc với các loại ma thần nên được gọi là
“cân thả hụng ” (người mắt sáng), họ hành nghề cúng bái, cầu sự tốt lành cho người dân, vì thế họ được mọi người kính nề
* Quan niệm về vũ trụ
Người Nùng quan niệm thế giới vũ trụ là một khoảng không gian bắt tận, ở đó vũ trụ được chia thành ba cõi (ba tầng), cõi trời, cõi đất và cõi âm Trong tưởng tượng của họ, ở cả ba cöi đều có con người sinh sống, chim
muông, cây cối va trăm loài hoạt động khác nhau và mối quan hệ ở mỗi cði không giống nhau, tương ứng với mỗi cõi lại có những dạng thin linh, ma quỷ riêng Sự hiểu biết, quan niệm về vũ trụ, mối liên hệ của cái chết và sự sống,
sự gắn kết của Thiên - Địa - Nhân trong sự vận động của vũ trụ, quy luật nhân quả của nhân gian theo quan niệm của người Nùng
Như nhiều dân tộc khác, người Nùng Phàn Slinh ở huyện võ Nhai, tỉnh
Thai Nguyên cũng hình dung ra vũ trụ gồm toàn bộ thiên nhiên, con người và
sự vật trên 3 cõi trời, trằn gian và âm phủ Quan niệm này được thể hiện khá
rõ trong cả truyền thuyết, thần thoại, lễ '“Then khoả quan” (dâng cống phẩm
lên Ngọc Hoàng vào tháng 2 âm lịch hàng năm) và tang ma
Theo truyền thuyết và thần thoại, xưa kia trời và đất thông nhau, có người dưới trằn gian và nhà trời có thể đi lại thăm nhau, cả 3 cõi ấy đều có đồng ruộng, cỏ cây và vạn vật giống trần gian Chủ nhân của ba tầng đều có
hình dáng giống nhau, đều do Bụt Cả (Pụt Luông) ở cõi trời tạo ra Khi nhận thức của đồng bào nâng lên trình độ nhất định, phân hoá giai tằng trong xã hội định hình, người ta bắt đầu lý giải sự xa cách của trời và đắt: “Loài người dưới
trần gian ăn nhiều, tiêu hoá nhiêu, chăng bao lâu làm hôi thối cả mặt đất Mùi
phân bốc lên trời làm cho Bụt cả không chịu nổi, phải đưa trời lên cao” [26,
tr.58] Sự giải thích về vũ trụ trong truyện cổ dân gian, đã thấy xuất hiện hình ảnh đấu tranh sinh tồn, biết vận dụng quy luật tự nhiên vào cuộc sống:
Rồi But Ca sai cái mặt trời chiếu suốt ngày đêm để sấy khô mặt đất
Cả ngày đêm bị chiếu nóng, loài người ở trần gian không chịu
Trang 18những ước mơ tốt đẹp trong cuộc sống như chữa khỏi bệnh tật, kéo dài tuổi
thọ, hạnh phúc trong nhân duyên, sinh con đẻ cái
Người Nùng Phàn Slình cũng như nhiều tộc người Việt Nam đều tồn
tại phổ biến tín ngưỡng vạn vật có linh hồn, hồn biến thành ma Ngoài thé
giới của người sống còn có thế giới của ma và thần Ma có hai loại: ma lành
và ma dữ Ma lành bảo vệ cuộc sóng cho con người, gồm có ma Tô tiên, ma
Nhà, ma Tam Thanh, Tam bảo, Thiên Lôi, Then, Bụt, Tiên, thần hộ mệnh
(Nam Tào, Bắc Đầu, Táo Quân), ma Hàm (Phật, Pháp, Tăng), ma Dat “phi
din”, ma rừng "phi pá”, Thành hoàng, bà Mụ, bếp lửa “phi pinh pha
phù hộ gia súc ở sân sàn, ma Thổ Công “phi siắn”, ở đình, đền, miều (còn gọi
là ma khách - linh hồn những người tài giỏi, làm quan, tướng), thần Nông, Long Vương, Thuéng luồng,v.v Những loại ma lành đều có khả năng ban
phúc hay trừng phạt người tran, gây ôm đau, dịch bệnh, lũ lụt, mắt mùa,v.x nếu làm trái ý hoặc cúng bái không chu đáo Một số loại ma núi, ma sông, suối, ma đồng ruộng bình thường không hại ai, nhưng nếu hồn người sa vào
đó sẽ bị bắt, cần phải cầu cúng Ma dữ “phi mệt phi nỳà” là các loại ma
chuyên gây hại cho con người, phá hoại mùa màng, gia súc Đó là ma chết trẻ,
chết bất đắc kỳ tử do tai nạn (phi slương), đánh nhau, bị giết: “Thai chang tông pên phi slương/ thai chang mường pẻn phi mệt” (Chết giữa đồng thành
ma bị thương, chết giữa mường thành ma dữ) Phi đác (ma đói), ma gà (phi
cáy) (thây cúng chết đi, con cháu làm tang lễ không chu đáo, không có người nối nghiệp, âm binh không có chủ sai hành biến thành) Ma đuôi cộc (trẻ em
chết vào giờ thiêng), ma trẻ con “phi tý phi eng”, ma ngũ quỷ “ngậu quỷ phi piai” là loại ma nghịch ngợm hay trêu người Ma hại người sống theo cách nhập vào hồn người, làm cho vía bỏ đi, khiến người bị ốm, hoặc chêt bắt đắc
kỳ tử Nếu ai bị ma này làm hại, nhất thiết phải mời thầy Tào phát hiện và xua
đuôi con ma, cúng xôi, gà mới khỏi được
Có lẽ vì quan niệm về ranh giới giữa ma lành và ma dữ chỉ mang
tính tương đối, ma nào cũng có thể đem phúc hay gây hoạ cho con
Trang 19người, nêu ứng xử khơng tốt “phi đảy kin phi pảo, cần đảy kin cần
âm phủ Cách quan niệm và hình dung vũ trụ cĩ thế giới bên kia như điểm đỗ của linh hồn và các vị thần linh, lý giải cho thân phận con người, cho cuộc sống rất phù hợp với tâm lý của đại chúng, nên được người ta tin theo Dan
dần, người ta yên tâm tin rằng, trong cuộc nhân sinh này, cĩ cự trời, cõi âm
và cõi người Họ sẵn sàng xin giao cảm với các cõi vơ hình ấy để an ủi số
phân và củng cố niềm hy vọng Sự giao cảm giữa con người với thế giới thần
linh của người Nùng qua hệ thống các thay Tao, thay Mo, thay Then, các nghỉ
lễ cúng, các bộ tranh thờ và hệ thống quan niệm, hội tụ cả triết lý của Đạo
giáo, Nho giáo, Phật giáo và những tín ngưỡng dân gian, tạo nên nét độc đáo
trong đời sĩng tỉnh thần của cư dân thung lũng [33, tr.31-34]
1.2 Khái quát về người Nùng Phàn Slình ở huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
1
Lịch sử hình thành tộc người Nùng.
Trang 20Người Nùng ở Việt Nam thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái, cư trú
lâu đời trên đất nước Việt Nam Vốn thuộc nhóm Âu Việt nằm trong khối Bách Việt, cư trú ở phía bắc Việt Nam và miền Hoa Nam Trung Quốc
Liên minh bộ lạc Âu Việt (Tày, Nùng) đã cùng với liên minh bộ lạc Lạc
'Việt (Việt, Mường) thành lập vương quốc Âu Lạc thế kỷ thứ III trước công
nguyên, Với Thủ lĩnh là An Dương Vương Thục Phán Họ là một bộ phận
của cư dân cổ đại, đã tham gia lập nên nhà nước Âu Lạc vào thế kỷ III
trước công nguyên Người Nùng sinh sống tập trung chủ yếu ở các tỉnh vùng núi phía Bắc gồm các tỉnh: Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang, Bắc Giang, Quảng Ninh,v.v và rải rác
khắp các tỉnh thành trong cả nước năm 1975, một số đồng bao Ning da di
cư vào các tỉnh Đắk Lắk, Dik Nông, Gia Lai, Công Tum, Lâm Đồng, Bình Phước, Đồng Nai, tạo lập cuộc sống mới Đa số đồng bio Nùng ở lại địa phương tiếp tục canh tác trực tiếp sản xuất vật chất ồn định đời sống lâu
dai, họ đã tiếp cận khoa học kỹ thuật và giao thoa văn hóa với các dân tộc
bản địa khác, do đó đời sống ngày cảng được mở mang Một số bộ phận cư
dan bam tru buôn bán làm ăn ở các vùng biên giới có sự giao lưu, giao thoa mạnh mẽ về kinh tế, văn hóa với cư dân các quốc gia láng giềng, đặc biệt là người Choang ở biên giới Trung Quốc
Dân tộc Nùng có số lượng cư dân đông thứ 7 trong cả nước Theo Niên giám thống kê 2010, dân số tỉnh Thái Nguyên là 1.131.300 người Tỉnh Thái Nguyên có 8 dân tộc chính, trong đó dân tộc Nùng có 63.816 người
ba sau dân tộc Kinh, Tày
lứng thứ
Ngoài lãnh thổ Việt Nam người Nùng còn cư trú ở các tỉnh Quảng Đông,
Quảng Tây ( Trung Quốc) Như vậy dọc theo biên giới Việt Nam - Trung Quốc
thuộc địa phận các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng ( Việt Nam ) Quảng Đông, Quảng
Tay ( Trung Quốc ) là nơi cư trú tập trung đông nhất của người Nùng
Trang 21đình, một bên là tấu ăn và đề các vật dụng sinh hoạt trong gia đình Có nơi,
đồng bảo làm nhà bếp riêng nối liền với hệ thống nhà ở bằng hệ thống sản và cầu
thang lên xuống Trước của nhà ở có sản để phơi thóc gạo, ngô, đổ,v.v và các
loại nông sản, dưới gầm sàn là nơi chứa củi đuốc, dụng cụ lao động, cối xay giã
Ngày nay, do nhận thức rõ việc vệ sinh môi trường các chuồng trại nuôi gia súc, gia cằm được làm tách khỏi nhà nhà ở và tránh hướng gió
Hiện nay do khan hiếm vật liệu bằng gỗ để làm nhà sản, người Ning còn làm nhà đất hoặc nhà xây để ở Làm nhà đất rất thuận tiện trong cuộc
sống sinh hoạt hàng ngày, cách bé trí trong ngôi nhà cũng có sự thay đổi Tuy
vậy gian chính của ngôi nhà vẫn là nơi đặt bàn thờ tổ tiên và là nơi tiếp khách,
các buồng ngủ của các thành viên trong gia đình ở hai gian hai bên
+ Trang phục: Trang phục truyền thống của nam, nữ tộc người Ning
Phan Slinh ở huyện Võ Nhai, Thái Nguyên, giống như người Nùng ở các tỉnh vùng Đông Bắc Việt Nam gồm có quản và áo, được làm bằng vải sợi bông
nhuộn chàm Nhìn chung phụ nữ cũng như nam giới Nùng đều mặc quân giống
nhau, loại quần ống rộng, dài tới mắt cá chân, cạp quân to, độ doăng đũng quần lớn Áo nam Nùng là chiếc áo cỗ đứng xẻ ngực, cài khuy vải ngang ở ngực, có
từ 2 đến 4 túi không có nắp, khi mặc áo hơi bó sát người, 2 bên xẻ tà, gấu áo cham ngang hông, cũng có nhóm nam Nùng mặc áo cúc cài bên ngực phải
Phụ nữ Nùng Phàn Slình ở huyện Võ Nhai mặc áo 5 thân, cài cúc bên nách phải Quần áo không thêu thùa trang trí hoa văn, áo dài thường có thêm thất lưng bằng vải nhuộm chàm, dài 2 sải tay dùng để thất ngoài áo dai, vắt mối ra phía sau lưng
Ngày nay, nghề trồng bông đệt vải nhuộm chàm ở Võ Nhai đã mai một hoàn toàn Vì vậy quần áo truyền thống của cả nam lẫn nữ dân tộc Nùng đều
rất hiếm, chỉ còn thấy những người già mặc trong các dịp lễ tết, cầu cúng,v.v nam nữ thanh niên chuyển sang mặc âu phục trong sinh hoạt hàng ngày
+ Trang Sức: Trang sức truyền thống của người Nùng trước đây khá
đơn giản, phụ nữ thường đeo vòng tay, xả tích Trước đây, phụ nữ Nùng còn
Trang 22thích bịt răng vàng giả để làm duyên Nam giới Nùng thường đeo vòng tay,
đeo nhẫn và vòng cổ bằng bạc Bởi vì họ cho rằng bạc vật để tránh gió và ky
tà ma Đến nay, thói quen đeo trang sức hầu như không còn nữa, có chăng chỉ còn trong đám cưới truyền thống
+ Ẩm thực: Cũng như các tộc người trong vùng, lương thực chính của người Nùng Phản Slình ở huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên là gạo tẻ, thường ngày họ ăn 2 bữa chính bằng cơm tẻ vào buổi trưa hvà buổi tối một hoặc 2 bữa phụ vào buổi sáng và buổi chiều Ngoài gạo tẻ họ còn có gạo nếp để dùng trong dịp tết nguyên đán, ngày rằm, cúng bái, cưới xin, tang ma, sinh dé,v.v
từ gạo nếp có thể chế biến ra các loại bánh trưng, bánh khảo, bánh rợm, các loại xôi đỗ, xôi cẩm,v.v ở những vùng trồng nhiều ngô họ còn sử dụng bột
ngô đề nấu độn với cơm, nấu cháo, làm bánh đúc
Thực phẩm dùng trong bữa ăn hàng ngày gồm nhiều loại rau xanh như: Cai be, cải lần, cải gieo trên nương rẫy, rau muống, rau bao,v.v măng vẫu, măng nứa, các loại đậu đổ,v.v thỉnh thoảng họ cải thiện bữa ăn bằng các loại
để
thịt, cá Đồng bào Nùng cũng thường hái các loại rau ở rừng, sông suối
ăn như rau ngót rừng, rau bổ khai, rau rớn,v.v Họ coi đó là các vị thuốc có thế phòng chống và chữa được một số bệnh, làm cho con người khoẻ mạnh, tăng thêm sinh lực
Trong các địp lễ tết cưới xin, làm nhà mới, đồng bào Nùng rất chú trọng đến các món ăn truyền thống của mình, họ chế biến thịt lợn thành các món ăn ngon và hấp dẫn như: Khau nhục, chân giò hầm, xá xíu, thịt nướng, thịt xào mộc nhĩ nắm hương,v.v các món đặc sản như lợn quay, vịt quay nhôi lá mắc mật rất thơm ngon hấp dẫn người thưởng thức
Đồng bao Ning thường uống rượu trắng và rượu nếp trong những dịp
lễ tết, sinh nhật, mừng nhà mới, các ngày rằm trong năm hay trong các cuộc vui Nước uống hàng ngày chủ yếu là chè xanh, chè sao, nụ hoa chè, nước lá
Trang 23vối, nước trắng đun sôi để nguội, hoặc một số loại thảo mộc kiếm được trong
thiên nhiên
* Van hoa tinh than
Ngudi Ning Phan Slinh & huyén VO Nhai, tinh Thai Nguyén cing giống các nhóm n Nùng cư trú ở vùng Đông Bắc Việt Nam Việc thờ cúng tổ tiên được chú trọng trong mỗi gia đình người Nùng, không phân biệt gia đình đó thuộc chỉ trưởng hay chỉ thứ Sau khi bố mẹ qua đời, vong linh được
rước về thờ tại nhà của các con Bàn thờ tổ tiên được đặt trang trọng nhất ở: gian giữa ngôi nhà, nằm giữa 2 cột chính Đòng bảo tuân thủ tục thờ cúng tổ
tiên theo hệ chín đời (cửu tộc) Tuy nhiên trên bản thờ tổ tiên người Nùng chỉ Trên bản thân người thờ cúng là bốn đời: Pò - Mè, Cung me, Cho,
Chung (bố mẹ, ông bà, cụ, ky) Một số gia đình người Nùng chỉ cúng giỗ đến đời thứ ba: Cha mẹ, ông bà va cu, còn đời thứ tư là ky thì tổ tiên biến
thành vị thần coi giữ gia súc, có bàn thờ đặt ở ngoài trời, cúng vào dip tét Nguyên đán Hàng năm phải cúng giỗ mời t6 tiên về chứng giám phù hộ cho gia dinh bình yên, làm ăn phát đạt
Bàn thờ tổ tiên được đặt ở chỗ trang trọng nhất trong nhà, phải ở gian
chính giữa, trên cao Ngày rằm, mùng một hàng tháng, họ thường thắp hương
và cúng bằng nước chè hoặc rượu trắng Trong dịp lễ tết, gia đình dùng thức
ăn gì thì cúng Tổ tiên bằng thức ăn đó
Những gia đình có người làm nghề thầy cúng, Mo, Tao, Then, Put thi
có thêm bàn thờ để thờ tổ sư nghề cúng, thờ thánh tướng và âm binh, vào
những ngày mùng một, hôm rằm phải thắp nhang đèn, nếu cúng phải cấp
vàng mã Gia đình nào thờ Táo Quân thì phải giữ bếp lửa cẩn thận, không xào nấu những món ăn tạp như thịt trâu, thịt chó,v.v Bên cạnh việc thờ cúng tổ
tiên, người Nùng giống như người Tày còn thờ Phật bà Quan 1
hay mẹ Hoa (Mẹ Bjoóc) Mỗi gia đình đều có bàn thờ Thô công
thường được đặt ở ngoài vườn, trước cửa nhà, hoặc một gốc cây to xung
quanh nhà Ngoài ra, trong phạm vỉ mỗi làng bản của đồng bao Ning đa số
Trang 24déu c6 miéu thé thần Thổ công của cả làng Thổ công là vị thần bảo lãnh bản làng, trông nom nhà cửa, mùa màng,v.v hàng năm được cúng 2 lần vào tết Nguyên đán và tết Trung Nguyên (Rằm tháng bẩy), hay khi có việc hệ trọng
trong làng Những ngày này, các gia đình trong bản đóng góp tiền của, hoặc
hình thức thể hiện mang tính chất cầu mùa, mở đầu cho một năm làm ăn mới,
với ý nghĩa mưa thuận, gió hoà, mùa màng tươi tốt
Đồng bào Nùng ở Võ Nhai còn có một kho ting tri thức dân gian tương
đối phong phú và độc đáo, đó là các câu truyện dân gian truyền miệng hay viết tay, thơ, ca, hò, vè,v.v nỗi bật là các làn điệu Then, điệu hát Sli, một lối
hat vi giao duyên của nam nữ thanh niên Hình thức hát sli là diễn xướng tập
thể theo lối hát bè, mỗi bên nam, nữ khi hát vời nhau thường phải có 2 người trở lên, lời ca theo lối ứng khâu và theo cảm xúc Hát sli có thể diễn xướng trong mọi thời gian, không gian, miễn sao đủ điều kiện trong những dịp chơi xuân, hội Lồng tông, dọc đường đi, thậm chí cả trong những ngày chợ phiên
Ngoài hát Sli, đồng bào Nùng còn có các bài thơ trong đám cưới dùng để chúc tụng nhau như Cò lẫu
Âm nhạc, nghệ thuật của đồng bào Nùng ở Võ Nhai tuy không phong phú nhưng cũng rất độc đáo Nhạc cụ truyền thống bao gồm trống, thanh la, não bạt, chăm choe, chuông, nhạc sóc, sáo tiêu, sáo ngang,v.v các điệu múa Xiên tâng, múa Kỳ lân mạnh mẽ, được các nhà nghiên cứu âm nhạc múa cải biên, dàn dựng để biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp, làm phong phú thêm
cho nền văn hoá dân tộc nước nhà.
Trang 25không có vị thế trong gia đình và xã hội Vi vay, từ trước tới nay, các cặp vợ
chồng mới cưới hoặc muộn con, thường làm lễ cầu tự với hy vọng nhờ mẹ
Bjoóc (mẹ Hoa ~ bà Mụ) ban phúc, phân chia cho họ có con
2.1 Quá trình chuẩn bị cho nghĩ lễ cầu tự
2.1.1 Xem ngày làm lễ
Khi đôi vợ chồng sống với nhau đã lâu mà không có con hoặc sinh con
mà không nuôi được, sinh con một bề, hoặc con cái sinh ra luôn quặt queo 6m đau, người ta thường đến nhờ thầy Mo, Then, Pụt để xem số mệnh của gia đình mình, nhưng chủ yếu thông qua thay hành nghề Then cao tay Khi biết
được số mệnh của mình về việc phải tổ chức nghỉ lễ cầu tự mới xin được con cái như ý muốn, vợ chồng gia chủ về bàn bạc với nhau, thống nhất trong dòng
họ về việc phải chuẩn bị tô chức làm lễ cầu tự để xin con cái Được sự nhất trí giữa 2 bên gia đình nội, ngoại, vợ chồng gia chủ mới bắt đầu đến nhà thầy Then xem ngày chính thức tô chức nghỉ lễ và mời thầy Then về làm lễ cho gia đình mình, tùy theo thầy xem trong ngày, tháng, năm nào có thể tổ chức nghỉ
lễ cầu tự được Khi xem số mệnh, gia đình đó rơi vào cung hạn về đường con cái thì phải tổ chức làm lễ giải hạn cầu xin thánh thần phù hộ cho đường con
cái, hoặc phải làm nghỉ lễ “Cầu tự” thông qua nghỉ lễ then cầu cúng
'Khi xem ngày gia chủ phải đến nhà thầy Then đặt “giàu” gồm một bát gạo gói trong vuông vải trắng, một ít tiền (khoảng 20 nghìn đến 50 nghìn đồng) gọi là tùy tâm tại bàn thờ Thánh của thây Then, thầy Then thắp hương,
dùng chuông, nhạc sóc, đàn tính thỉnh với thánh thần để chọn ngày làm lễ cho
gia đình người làm lễ, Khi đã chọn được ngày có sao lành, sao tốt “Ngảy:
phúc sinh, hiến an” thì mới tiễn hành tô chức nghỉ lễ cầu tự được Thầy hẹn đúng ngày đó gia chủ cho người nhà đến đón thầy về làm lễ cầu tự cho gia đình mình
3.1.2 Chuẩn bị cho nghỉ lễ cẦu tự
Trang 26Sau khi thống nhất giữa thầy Then và gia chủ về ngày tổ chức thực hiện nghỉ lễ cầu tự, gia chủ vẻ bản bạc cùng gia đình, dòng họ chuẩn bị mọi điều kiện tỉnh thần và vật chất đây đủ cho việc làm lễ như: Báo cáo tổ tiên về việc làm lễ bằng hương, rượu, nước chè,v.v tại bàn thờ tô tiên gia chủ; chuẩn bị vật chất gồm lợn, gà, vịt, gạo, rượu, hoa quả,v.v và các loại thực phẩm khác
để chế
n phục vụ các lễ cúng tế diễn ra từ đầu buổi lễ cho đến khi kết thúc,
một số thực phâm này còn dùng đề làm lễ trả thây sau khi thực hiện nghỉ lễ
xong, ngoài ra còn dùng để phục vụ nhu cầu ăn uống của gia đình dòng họ
trong ngày diễn ra nghỉ lễ; chuẩn bị các loại giấy màu, tiền vàng (tiền âm cắt bằng giấy) ngũ sắc để phục vụ cúng tiến trong quá trình diễn ra nghỉ lễ; chuẩn
bị các loại cây nứa dùng để làm cầu Thiên - Địa, các cây chuối, khoai môn tượng trưng cho cây bản mệnh, cây trường tổn,v.v cuối cùng là không gian diễn ra nghỉ lễ tại nhà gia chủ Đề chuẩn bị cho nghỉ lễ cầu tự trong gia đình người Nùng gồm nhiều lễ thức, thường do thầy Mo, hoặc thay Then chi tri
~ Lễ vật trong nghỉ lễ cầu tự gồm có 6 mâm lễ vật, và các vật phim sống dùng để cầu cúng trong nghỉ lễ cầu tự gồm:
+ Mâm bàn Thánh (mâm của thầy Then ngồi khi hành lễ): 3 bát hương, 3 bát gạo đong đầy có ngọn, một chiếc gương nhỏ, 5 chén nước,
một cảnh lá bưởi
+ Mâm chính cầu (mâm thượng): Mâm này đặt dưới chân cầu Thiên, cầu Địa, đây là mâm tiền, vàng, quần áo trong lễ bắc cầu
+ Hai mâm hành lang (mâm chay): Mâm bên phải thờ Tô tiên, mâm
bên trái thờ Táo quân, được đặt 2 bên mâm chính cầu
+ Mâm Thánh: Mâm này thờ thánh thần, Thổ công, Thiên đình, binh
mã,v.v mâm này được sắp cuối cùng trong lễ bắc cầu
+ Mâm thục vong (chuộc hồn ma): Mâm này dùng để chuộc vong, khao quân và thu âm binh.
Trang 27+ Một con ngông còn sống: Con ngỗng tượng trưng cho Thiên nga đưa mạng sinh, mạng số của gia chủ lên Thiên đình
+ Một con vịt còn sắng: Được coi là con vật thiêng trong tâm linh, vịt
là vị sứ giả của mường trần gian với mường trời Đây vừa là ông lái đò, vừa là chiếc thuyền chở đoàn tuỳ tùng của chúa Then cùng lễ vật qua sông lên Thiên
xuống trần gian
+ Cây Bán mệnh: Là một cây chuối nhỏ để cả dé va lá, cây chuối là cây biểu tượng sâu sắc nhất cho khát vọng sinh con đẻ cái, con cháu khỏe mạnh của người Nùng
+ Cây Trường thọ: Là một khóm trúc nhỏ thay cho cây thông (cây trường tho),
+ Câu Thiên - Địa: Được làm bằng 2 cây nứa có cả gốc rễ, nối với nhau bằng các bậc thang và 2 dải vải trắng, đen, tượng trưng cho chiếc cầu nối giữa
bên âm và bên dương
2.1.3 Lễ đón thầy Then
Đúng ngày hẹn người nhà của gia chủ làm lễ (trong đó có người chồng
gia chủ) cùng đến nhà đón thay Then Khi di mang theo một bát gạo một it
tiễn, một thẻ hương, thầy Then đặt những thứ đó lên ban thờ Tổ tiên, các bàn
thánh tướng, Mụ bếp, âm binh, các quan thầy cấp sắc cho thầy trước đây, báo
Trang 28ngửa nghĩa là các ban đã về đầy đủ Khi các ban đa được hiệu triệu đầy đủ, yên vị, thầy bắt đầu bài thỉnh:
Mười năm về trước
Pi noọng áo a
Bồ yên bố ôn
Pi noong do a
Tai ta nhất tâm bản bạc
Chính căm khẫu phức pay vằn
Căm khâu slan pay bỏi Slay ban tau sa hàn Slay ban ny lợi oóc
Mỹ ăn lỗi đưng tòa
‘Su day pat cay ma do
Trang 29Dich nghia:
Lo day mọi mòn đầy đủ
Mười năm vỀ trước
Năm năm về sau
Nhà cửa không được bình an
Dương gian không được mạnh khỏe Nhộn nhạo táo tiên
Thất tài hao quả (của)
Aang gạo trắng đến quan
Mang gạo đi bói
Thây xóm dưới bói ra
Thay xóm trên bói thấy
Gia đình xưa lầm lỗi
Lâm lỗi với Tổ tiên
Con cháu đều biết
Thay Thién đình bảo đúng
Về nhà hỏi ông bà
Ông bà bảo cúng
Xudng thang di héi thay
Đi theo thẩy xem sách
Ông thầy báo ngày tốt
Me thầy bảo làm được.
Trang 30Tìm được ngày phúc sinh
~Xem được ngày đại xá Phúc đức được bảo toàn
Hi
Génh củi ra chợ bán
an được bảo hộ
Mua sắm của mang vẻ
Mua ga vit day dit
Có các thứ đồ lễ
Trường hợp khi chúa Then trình bày nhưng Tổ tiên và các quan về dự
chưa muốn giúp việc cầu tự vì lời thỉnh chưa làm cho Tổ tiên và các quan động lòng thương, gia chủ lại phải nhờ chúa Then gọi đờ kêu than cho Lời
than thật ai oán, khân thiết nài ni Lic nay thay Then ding dan tinh va nhac sóc để than van:
Tổ tiên thác âm phủ thương thân
Tổ tiên thác về âm thương hại
Đại vàng đêm nay vào phú thế thân
Đại vàng kim ngân thế số
Té tiên đại xá
Na khả lục lậm pay dai
Ná khả lan hai chạu Đắm ới dú tư thể bảo công, Đắm ới dú mường âm bảo hộ
Trang 31Trong lễ thức bắc cầu Thiên - Địa, gia chủ 03 mâm lễ vật gồm: Mâm
làm bằng giấy màu tạo thành 4 góc chéo nhau cho mâm chính cầu
~ Hai mâm chay (mâm hành lang), bên phải thờ Tổ tiên, bên trái thờ Táo quân Mỗi mâm có 2 cây hoa ngũ sắc, một bát gạo, 2 chén rượu Ngoài cùng là mâm Thánh (mâm sát sinh), thờ Thổ công, các thánh thần, binh mã,v.v mâm này gồm một con gà luộc có cả tiết và day đủ các bộ phận nội tạng, một cỗ xôi hoặc 5 xôi oản (khẩu pao) gói bằng lá chuối, một bát gạo, 5 chén rượu 02 con cá chép nhỏ đựng trong chậu nước tượng trưng là Vua
Diêm Vương (vua hiền, vua ác ) để trị tôi những kẻ ác, cứu rỗi những người sống có tâm, có đức
Ngoài cầu Thiên — Địa, các mâm lễ vật, trong lễ bắc cầu còn có nhà Long đình gồm 2 tầng, 8 mái, lợp ngói âm dương, bên trong có đầy đủ xiêm
y, mũ mão, tiền bạc, đồ dùng đầy đủ, để Ngọc hoàng sử dụng khi xuống trần
gian, và các tòa nhà cho Hoa Vương Thánh Mẫu (mẹ Bjóoc) và đoàn tùy tùng
của Ngọc hoàng ở khi xuống trần gian
~ Xung quanh chân cầu Thiên - Địa còn có các cây bản mệnh (cây chuối); cây trường thọ (khóm trúc nhỏ) biểu hiện cho sự trường thọ; cây sâm (cây khoai môm) là một loài thuốc quý trị bách bệnh cho con người; một con
ngỗng còn sống tượng trưng là Thiên Nga có trách nhiệm đưa mạng sinh, mạng số của gia chủ tâu lên Thiên đình, một con vịt sống kết nối giữa âm và
dương, vừa là ông lái đò, vừa là chiếc thuyền chở chúa Then, quan âm, binh
mã và lễ vật qua sông lên Thiên đình, và đưa đò khi trở về trần gian.
Trang 32~ Nội dung lễ bắc cầu Thiên - cầu Địa
Nội dung chính trong lễ bắc cầu Thiên - cầu Địa, mô tả quân chúa Then
vào rừng lấy gỗ bắc cầu Đây là chiếc cầu mệnh liên quan đến sự trường thọ hay đoản thọ của đứa trẻ sau nảy nên phải kiếm cho được gỗ tốt, gỗ bền đẻ bắc cầu Lời ca mô tả sự gian nan vất vả trong hành trình chúa Then và âm binh thực hiện công việc trèo đèo, lội suối, xuyên rừng kiếm gỗ Khi kiếm được gỗ rồi lại gặp phải sự phản đối của muông thú và các loài chim, chúa
Then lai phải dùng lời ngon ngọt xin muông thú, các loài chim đi chỗ khác làm tổ mới Chặt được gỗ tốt trong rừng sâu về, quan âm binh của chúa Then dựng cho gia chủ một cây cầu như ý, đầu cầu quay về hướng Đông, chân cầu hướng Tây
Chăng đường của Then trong lễ bắc cầu Thiên, cầu Địa để xin hoa là chặng đường chúa Then đi từ đại bản doanh của mình lên gặp Hoa Vương Thánh Mẫu để bằm báo, được Hoa Vương Thành Mẫu đưa vào cung vua, gặp
Ngọc Hoàng tấu trình công việc thực hiện nghỉ lễ cầu tự của gia chủ cầu xin con nối dõi tông đường Chia Then đi qua nhiều nơi, nhiều cảnh: núi cao, rừng rậm, suối sâu, biển cả, chợ búa, phố phường, cánh đồng, dòng sông, v
đội quân âm binh của chúa Then hùng hậu, cờ xí rợp trời, ngựa xe oai nghiêm
chuẩn bị lên đường đến gặp Thánh Mẫu xin hoa trong tiếng đàn tính, tiếng
nhạc sóc rộn rằng:
Nào cờ hồng cờ đỏ cờ đào
Hai kích cờ ngựa, đao tam chỉ
Cờ đội nào đội ấy uy nghỉ Giờ giao cờ uy nghỉ, yêm nguyệt
“Trong binh múa tập duyệt binh đao
‘Thuan bày búa hồng mao điểm duyệt
Sắp cho nghiêm động việc có nơi
Trang 33“Trong quân tiếng sáo voi sáo ngựa
Những roi sơn sặc sỡ vàng tương
then trong lễ bắc cầu thể hiện ước vọng của con người cho mọi nhà
đều có cuộc sống ấm no hạnh phúc, con cháu đầy đàn, cho nên trong lời then
có nhiều đoạn thơ đẹp tả những cánh đồng bát ngát, những vùng đất phong lưu, những miễn phú quý, lời then bay bông, hưng phần như tình yêu của con người trước cảnh đẹp thiên nhiên ban tặng cho cuộc sóng Cầu Thiên - Địa
bắc xong trước khi đoàn quân âm binh của chúa Then hành trình lên thiên
đình để xin hoa cho gia chủ
2
LỄ dương sao giải hạn cho gia chủ
Khi lễ bắc cầu Thiên - Địa đã xong, cầu nối giữa hai đầu âm dương thông nhau giữa trời và đất, thầy Then làm lễ dương sao giải hạn riêng cho vợ
chồng gia chủ Lời thỉnh mời *Tam đời, tứ đại * của gia chủ
Xin cúng xin phò Chỏ cúng chỏ phò
‘TY giả vàn dừng can sinh Họ tên (gia chủ) Xóm xã huyện
Cầu Bjoóc pan mà
Cau hoa con nam
Dich nghĩa:
Tổ ông tổ bà
Tứ đại đồng đường Bách họ đến nhờ quan
Họ tên (gia chủ) Xóm xã huyện
Câu con chia cho
Cầu được con trai
Trang 34Mâm lễ dương sao giải hạn cho gia chủ gồm: Một con gà nhỏ không
mỗ bụng, dé lại một ít lông dầu, lông đầu cánh và một ít lông đuôi, con gà này
xẽ thay cho gia chủ đội lễ hầu hạ Nam tảo, Bắc đầu (quan niệm khi con người
L đi phải có quần áo đề mặc), 5 chén rượu dùng đề tắm cho người dương gian khi đã chết đi sẽ sống lại Hai bát cơm và 2 đôi đũa đề cho sao Hạn ăn khi ăn song x chết thay cho vợ chồng gia chủ (sao Bạch hỗ, Thiên đình là
sao hạn)
Lễ này làm xong tiền vàng trong lễ dương sao giải hạn được hóa đi,
giao cho sao Bạch Hồ, Thiên Đình đóng thuế âm cho gia chủ, con gà chết thay cho gia chủ được mang đi chôn trong vườn nhà Lúc này gia chủ coi như được khai sinh lại, Nam Tào, Bắc Đẫu trên thiên đình không còn kiểm soát
được nữa Đoạn niệm thần chú của chia Then:
Nhất biến thiên Nhị biến địa Tam biến Ngọc Hoàng
Tứ biến thê xác trần gian Ngũ biến đò ngang đón hạn Quan hạn đón lấy:
Nhà ngói tir tau (4 cột) Nhà lầu hầu hạ
Nhà sang tứ tòa (4 buông )
Đón lấy Mâm nỗ cỗ sôi Mâm chay cỗ đầy
Chín chủ lòng thành
Quan thao dit lễ về cung
Dit pang vé dén
‘Do nay ché 18 quan thao
Đưa thao đến chỗ cung vua Nam Tào
Trang 35Sai quan đưa đến nước nào Đến châu Ân Độ, sông Thao, Bạch Đằng Đoạn tiếp thầy thỉnh bằng đàn tính và nhạc sóc bằng cả tiếng Ning va tiếng Kinh nói với sao Hạn (lời nói với người chết)
Thao ới! Thao nòn dú lằng mẻ ca
Lập đại lễ hoa sinh trà quả Dâng hương đăng tắt cả khiếu tinh
Cùng nhau hội hiệp trì kinh
Nếu sinh có nhận danh huyền sỹ
"Từ tôn đại thọ âm đầy phước sinh Cháu con hiền sỹ từ đây huy hoàng Hướng lộc thọ vinh quang phú quý
Đạt phu nhân bẳn sỹ hiền thuần
Gia gia vui hưởng muôn phần ấm no
Mẹ hứa xẽ ban cho con thảo
Năm trai lành kế tạo lửa hương Hai gái hứa đạo thuần lương
Đời đời
tối đối tổ đường tông môn
Trang 36Sau mỗi lời thỉnh thầy Then niệm thần chú theo Lúc này lời than đã
thấu tới Ngọc Hoàng, xúc đông trước lời nỉ non, chân tình của chúa Then thay
lời gia chủ, Ngọc Hoàng sai Thiên Nga ra kiểm tra lễ vật của gia chủ thành
tâm dâng cúng Thiên Nga dẫn đoàn quân chúa Then đến cung Ngọc Hoàng,
mang mạng sinh, mạng số của vợ chồng gia chủ đến tâu với Ngọc Hoàng, mong Ngọc Hoàng nhận lễ vật và tắm lòng thành của gia chủ
Sau khi xem mạng sinh, mạng số của vợ chồng gia chủ, Ngọc Hoàng
cùng Hoa Vương Thánh Mẫu nhận lời giúp cho gia chủ đạt được ý nguyện của mình Lúc này chúa Then cùng đoàn tùy tùng thay lời gia chủ cảm tạ Ngọc Hoàng ra về, cùng gia chủ chuẩn bị nghỉ lễ đón tiếp Ngọc Hoàng, Hoa 'Vương Thánh Mẫu xuống trần gian giúp cho gia chủ thực hiện được ý nguyện
hàng mong muốn của mình
2.2.6 Đại lễ (làm mo mời Ngọc Hoàng)
Khi về đến trần gian chúa Then cùng gia chủ chuẩn bị nhà Long đình
gồm 2 tằng, 8 mái, lợp ngói âm dương để đón Ngọc hoàng, và chuẩn bị nhà cho Hoa Vương Thánh Mẫu và các quan trên thiên đình tùy tùng theo Ngọc
Hoàng xuống trần gian ở để giúp cho gia chủ
Đại lễ (làm mo mời Ngọc Hoàng) là khâu quan trọng nhất trong nghỉ lễ
cầu tự, không thể dùng then bình thường để thỉnh mà phải dùng lời Mo, Tào
rước Ngọc Hoàng trên thiên đình xuống tran gian Chúa Then, Quan âm, Binh
mã cùng Táo Quân, Tổ Tiên của nhà gia chủ đã đầy đủ trong cung Ngọc
Hoàng, trình báo sự việc của vợ chồng gia chủ dưới trần gian nội dung rằng:
“Do dòng họ tô tiên sống kiếp trước và bản thân vợ chồng gia chủ ăn ở dưới tran chưa tốt, lấy nhau hai số mệnh không hợp duyên số, sinh con một bề toàn
hoa nữ, nay nhờ Ngọc Hoàng ban cho hoa nam để có người nối dõi tông đường thờ phụng tổ tiên”.
Trang 37Chúa Then thay lời Tổ tiên thỉnh cầu đến Ngọc Hoàng (không đàn tính, nhạc sóc) Lời thỉnh cầu:
"Nhờ vàng cao van tay Sinh quan vạn tay cau vạn dân Câu trường sinh
Cáu vạn dân đây bình an Cau day trường sinh au lục nam
Cau day van dan au lục nam
Tổ tiên phát hộ bảo trường sinh
Bảo nam, bảo nữ đây an lình Đời đời tổ tiên bảo hộ tắc an khang,
Quan âm Thái hượng lầo quân bảo hộ Trường sinh cũng bình an
Thái sinh cùng bảo hộ Ngọc Hoàng cao thương, Giúp cho cho trưởng thọ Giúp cho toàn dân
Ngọc Hoàng nhiều văn chương
Van dân đều kính phục
Tì người cứu mọi người
Để vạn dân được bình an
Trang 38Nha duge lam 2 tang 8 mai lop ngoi am dương, bên trong có đầy đủ đồ dùng
sinh hoạt như khi ở trên Thiên đình cho Ngọc Hoàng cùng đoàn tuỳ tùng sử
dụng và tiến hành nghỉ lễ trong khi ở trần gian “Chiếu Öjóoe giải toà, chiếu hoa hâu thân ” Lúc này chúa Then càng lên đồng mạnh mẽ hơn, giới thiệu cho Ngoc Hoàng các lễ vật tiếp đón:
Nhất cầu nhất lễ trầu hoa
“Tam cầu tam lễ dương gian hau ha
Ới Ngọc Hoàng dỗ quốc thể hộ tâm
Ngọc Hoàng dú cõi mường âm thiên cung phủ hộ Ngọc Hoàng hỡi Ngọc Hoàng
Cây cao bóng cả tối cao
Là ô che nắng toàn thân
Bảo hộ bách trang bách họ Duong gian sinh nữ chậu nam
Cầu hoa nam bảo hộ Được đời đời lập bát hương thờ phượng tô tiên
Rồng bay công hộ Rồng phượng chầu múa bào tâm
Bào cốt tổ tiên dú thể âm bảo hộ
Bào tồn sinh thái dú dương gian Bào tồn sinh nam được duy trì
Tời tời an khang trường lưu thuỷ Nam lay ma na
Cay lua sinh xôi mùa màng sung túc
Chia Then thay lời gia chủ tâu đến Ngọc Hoàng những lễ vật mà gia
chủ chuẩn bị tiếp ngọc Hoàng khi ở trần gian
Họ tên (gia chủ)
Xóm xã huyện
Đại lễ chầu hoa
Trang 39Dai pang trau nau
Nhà ngói tir tau (4 cột)
Nha lau hầu hạ
Đèn đầu kéo quân
Bam thau bat bit
Đồ chay ấm chén
Súng ống ma la phù liều
Bàn thấp bàn cao
Mâm cao cỗ ngọc
Quần áo tứ tân
Quần là áo lượt
Quần gió áo bay
Quần hoa áo cánh
Đêm nay đại lễ lên cung Hoàng Anh
Hoàng Ảnh ới
Đêm nay nhất tâm lòng thành
Hoàng Anh buông đuôi én cho em
Buông đuôi én cho anh
Hoàng Anh buông đuôi én để nàng tiên bay về
Chim đã số về cung
Mời Hoàng Anh vào
Cho vào đúng tay áo nàng tiên
Để tiên mang về
'Biếu xén trần gian
Ngọc Hoàng nhận lễ và ban quả cho gia chủ:
Quả này đức hạnh ban ra
Qua này, quà vua cha hái hoa trở về
Ban về đóng én (hoa) vào tâm
Ban về đóng hoa nam vào xác
Trang 40Lúc này Ngọc Hoàng mới cười ngựa đi kiểm tra nhà Long đình cùng lễ
vật mà gia chủ chuẩn bị đón tiếp Ngọc Hoàng xem đã đầy đủ chưa
Ngọc Hoàng tỏ ý hài lòng với lễ vat gia chủ chuẩn bị đón tiế
Ngọc Hoàng hỏi tiếp:
Nuôi thợ có như thế nào?
Lời gia chủ:
Cơm nhà 3 bữa, chủ nhà sắm cho
Gấp phường thợ làm nhà Long đình Ngọc hoàng hỏi:
Có được gia chủ nuôi tốt không?
Nhất tâm, nhất lễ nhà Hoàng đắt pang
Dit đại lễ đắt hành lang,
'Vườn trúc, vườn bông, vườn thông, vườn hồi Cầu tăng bâm ngang
Mâm khoang mâm dọc
Hoang về đất đại lễ châu hoa
Hoang về đất đại pang châu Bjoóc
Châu Bjoóc tửu nam