1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Văn hóa học: Biến đổi văn hóa truyền thống làng Bầu trong bối cảnh công nghiệp hóa hiện đại hóa và đô thị hóa (xã Kim Chung, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội)

179 19 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 179
Dung lượng 36,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài Biến đổi văn hóa truyền thống làng Bầu trong bối cảnh công nghiệp hóa hiện đại hóa và đô thị hóa (xã Kim Chung, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội) nghiên cứu cơ sở lý luận về biến đổi văn hóa truyền thống và tổng quan về văn hóa truyền thống làng Bầu, xã Kim Chung, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội; thực trạng biến đổi của văn hóa truyền thống làng Bầu trên hai phương diện văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể dưới tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THẺ THAO VÀ ÐU LICH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI

4933040034136

NGUYEN THI HAO

BIEN DOI VAN HOA TRUYEN THONG LANG BAU TRONG BOI CANH CONG NGHIEP HOA

HIỆN ĐẠI HOÁ VÀ ĐÔ THỊ HOÁ

Chuyên ngành: Văn hóa học

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HÓA HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS.TS NGUYEN VAN CUONG

HÀ NỘI ~2015

Trang 2

dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Văn Cương Những nội dung trình bày trong luận văn là kết quả nghiên cứu của tôi, đảm bảo tính trung thực và chưa từng được ai công bố dưới bắt kỳ hình thức nào Những chỗ sử dụng kết quả nghiên cứu của người khác, tôi đều trích dẫn rõ ràng Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà trường về sự cam đoan này

Hà Nội, ngày .thẳng năm 2015

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hảo.

Trang 3

MỤC LỤC oe 1

DANH MỤC CHỮ CAI VIET TAT 5

Chuong 1: CO SO LY LUAN VE BIEN DOL VAN HOA TRUYEN THONG

VA TONG QUAN VE VAN HOA TRUYEN THONG LANG BAU 15

1.1 Cơ sở lý luận về biến đỗi văn hóa truyền thống 15

1.1.1 Khái niệm biến đổi văn hóa truyền thống 15

1.1.2 Các phương diện biến đổi văn hóa truyền thống 17

1.1.3 Bồi cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa 18

1.2 Tổng quan về văn hóa truyền thống làng Bầu trong bối cảnh công nghiệp hóa,

1.2.1 Khái quát chung về lịch sử, kinh tế, xã hội làng Bau 20

1.2.4 Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa ở làng Bằn 50

Chương 2: THỰC TRẠNG BIEN DOI CUA VAN HOA TRUYEN THONG

LÀNG BẦU DƯỚI TAC DONG CUA QUA TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA

2.1 Biến đối văn hóa vật thể 56

2.1.1 Biến đổi cơ sở hạ tằng, không gian, cảnh quan, kiến trúc $6

2.1.2 Biến đổi trong hệ thống di tích và cơ sở thờ tự 61

2.2 Biến 'È văn hóa phi vật thể 63

2.2.2 Biến đổi trong phong tục tập quán - " 72 2.2.4 Biến đổi trong quan hệ gia đình và xã hội 79

2.3 Đánh

Trang 4

2.4.2 Ảnh hưởng của toàn cầu hóa §8 2.4.3 Môi trường nhất thể hóa cá nhân thay đổi

2.4.4 Sự chuyên đổi cơ cấu xã hội truyền thống sang cơ cấu xã hội hiện đại 89

3.1.1 Những biểu hiện tích cực của quá trình biến đổi văn hóa 93

3.1.2 Những biểu hiện tiêu cực, lệch chuẩn trong biến đổi văn hóa 97

3.2 Các xu hướng biến đổi văn hóa truyền thống làng Bằu

3.2.1 Xu hướng để cao các các giá trị văn hóa du nhập

3.2.2 Xu hướng phủ nhận văn hóa truyền thống 101

3.2.3 Xu hướng kế thừa, đổi mới - - concen OL

3.2.4 Xu hướng xã hội hóa, cá nhân hóa 103

3.3 Xử lý mối quan hệ giữa công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa với biến đỗi văn hóa truyền thống làng Bầu hiện nay os "M LOS

Đây mạnh và nâng cao tính hiệu quả của phong trào xây dựng gia đình văn hóa,

làng văn hóa, đời sống văn hóa trong cộng đồng dân cư 125

Trang 5

Ủy ban nhân dân 'Văn hóa thông tin

Trang 6

Sư Nội dung các bảng thống kê

Bang 2.1: Tần suất tham gia hội làng

Bảng 2.2: Hình thức tổ chức hội làng hiện nay

Bảng 2.3: Tiêu chí lựa chọn bạn đời

Bảng 2.4: Địa điểm tổ chức đám cưới

Bảng 3.1: Đánh giá của người dân làng Bầu

Trang 7

Chúng ta đang bước vào ngưỡng cửa của thế kỷ XXI, với quyết tâm phát triển đất nước theo hướng CNH, HĐH, phấn đấu đưa đất nước ta thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, nhanh chóng hòa nhập vào xu thế phát triển chung của khu vực và thế giới Công cuộc CNH, HĐH và ĐTH đã mang đến những biến đổi tích cực về văn hóa - xã hội, làm bật dậy sức sáng tạo của người lao động Thực tế của quá trình này, kết hợp với nền kinh tế thị trường cũng chính là môi trường thuận lợi để nảy sinh và phát triển nhiều tệ nạn xã hội, làm gia tăng sự phân hóa giàu nghèo, “thương mại hóa” trong một số lĩnh vực văn hóa — xã hôi, làm suy thoái tư tưởng, đạo đức lối sống, phai nhạt các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc

Cho đến nay thực tiễn phát triển văn hóa ở nước ta trong thời kỳ Đỗi mới đã và đang đòi hỏi cấp thiết phải có sự nghiên cứu, tông kết về những biến đôi về văn hóa trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống dân tộc, giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển nền kinh tế thị trường với phát triển văn hóa Cùng với việc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ

sở, cũng như việc phát triển kinh tế mà trong đó việc phát huy văn hóa truyền thống của các làng cỗ vào đời sống đương đại hiện nay, đang là một vấn đề rất nổi trội cần được quan tâm, nghiên cứu để trên cơ sở đó đưa ra những chính sách phù hợp, những biện pháp thích hợp và có hiệu quả cao trong quá trình xã hội hóa, hiện đại hóa hiện nay

Hiện nay, một số nhà nghiên cứu đã đi sâu tìm hiểu về vấn đề này

nhằm đưa ra được những luận cứ khoa học cho việc định hướng phát triển các làng Đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về quá trình CNH, HĐH, đặc biệt là ĐTH nông thôn ở nước ta, song vẫn còn nhiều vấn đề văn hóa trong

Trang 8

trong quá trình CNH, HĐH và ĐTH ở nông thôn, góp phần giữ gìn, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống và xây dựng con người Việt Nam mới - con người xã hội chủ nghĩa, đang trở nên thực sự cấp thiết

Nằm cách trung tâm Hà Nội không xa (khoảng 15 km về phía Tây Bắc) làng Bầu, xã Kim Chung là một làng cổ ven đô, thuộc huyện Đông Anh Nơi đây còn bảo lưu được nhiều giá trị văn hóa của cha ông từ xưa để lại Người dân làng Bầu từ bao đời nay luôn tự hào là mảnh dat góp phần xây dựng truyền thống “ngàn năm văn vật” của thủ đô với nhiều di tích lịch sử văn hóa

và những phong tục, tập quán xưa

So với các làng xã ở ngoại thành Hà Nội, làng Bầu là một trong những nơi mà quá trình CNH, HĐH và ĐTH diễn ra với tốc độ cao được biểu hiện trên mọi phương diện của đời sống xã hội CNH, HĐH, và ĐTH đã làm thay

đổi bộ mặt của làng xã ngoại thành này

Người dân làng Bằu hôm nay đang phải dung hòa những giá trị văn hóa

truyền thống của mình với những ảnh hưởng mạnh mẽ của lối sống hiện đại

Rất nhiều yếu tố văn hóa mới được du nhập tạo nên diện mạo mới và ít nhiều làm biến đổi cuộc sống của người dân nơi đây Vì vậy việc nghiên cứu về ảnh hưởng, những tác động của những đối tượng cư trú tạm thời tại làng, tác động của quá trình CNH, HĐH và ĐTH cũng là một việc hết sức cần thiết và cấp bách góp phần bảo tồn gìn giữ, phát huy và phát triển các giá trị văn hóa truyền thống của làng hướng tới việc phát triển kinh tế, văn hóa xã hội của làng theo hướng bền vững

Chính vì vậy, người viết mạnh dạn chọn đẻ tài nghiên cứu “Biến đổi văn hóa truyền thống làng Bau trong bối cảnh công nghiệp hóa hiện dai hóa và đô thị hóa" (xã Kim Chung, huyện Đông -Anh, thành phố Hà Nội)

làm

luận văn của mình.

Trang 9

tác phẩm đã được công bó, đề cập đến các vấn đề khác nhau Có thê phân chia các công trình nghiên cứu vẻ biến đổi văn hóa làng thành nhóm tư liệu sau: 2.1.Nghiên cứu chung về làng xã người Việt

Có thể điểm qua các công trình tiêu biểu: Tác phâm Người nông dân châu thổ Bắc kỳ của Nhà địa lý học người Pháp Pierre Gourou là nghiên cứu dựa trên cách tiếp cận địa lý nhân văn, miêu tả khá toàn diện với cái nhìn vừa tổng thể vừa chỉ tiết các mặt đời sống của người nông dân Việt trên vùng châu

thổ Bắc Bộ vào những năm thập kỷ 20 - 30 của thế kỷ XX

Nền kinh tế công xã Việt Nam của Vũ Quốc Thúc là một trong rất ít ỏi các công trình đi trước nghiên cứu về mối quan hệ giữa văn hóa và kinh tế trong lịch sử phát triển của làng xã, khăng định cấu trúc xã hội của làng - xã

cổ truyền có ảnh hưởng rất lớn, quy định hoạt động kinh tế của làng — xã Việt

và tạo nên cái mà ông gọi là nên kinh tế công xã [25]

Làng Việt Nam, mấy vấn đề kinh tế - xã hội của Phan Đại Doãn [4] là công trình nghiên cứu tổng thẻ về làng Việt dười góc độ Sử học Trong cuốn sách này, tác giả chỉ rõ một số đặc điềm cơ bản của nền kinh tế, sản xuất tiêu nông mà điểm nôi bật nhất là nông nghiệp, nông dân, vấn đề ruộng công, ruộng tư, mối quan hệ giữ nông thôn và thành thị

Hai tap Hanh trình về làng Việt cổ của Bùi Xuân Đính là một trong những tập sách đầu tiên của bộ sách cùng tên, giới thiệu một số làng quê tiêu biểu của Xứ Đoài và Xứ Nam [6] Mỗi làng được giới thiệu những nét văn

hóa tiêu biểu ni

Cùng dạng với công trình này là các cuốn sách Văn hóa ing Ky (thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh); Minh hiệp truyền thống và phát triển của nhóm tác giả do Tô Huy Hợp chủ biên [12] nghiên

truyền thống làng

cứu về làng - xã Ninh Hiệp (huyện Gia Lâm, thành phó Hà Nội)

Trang 10

2.2 Những công trình nghiên cứu về biến đổi văn hóa làng trong quá trình CNH, HĐH và ĐTH

Năm 2001, cuốn “Xã hội học vẻ một xã ở Ưiệt Nam” do Hồ Hải Thuy dịch và xuất bản đã nghiên cứu khá công phu về biến đổi văn hóa, xã hội ở nông thôn Việt Nam và đưa ra các lý thuyết phát triển nông thôn như: Sự chuyên biến cơ sở hạ tầng, sự thay đổi về không gian xã hội [26]

Gần đây, cuốn “Sự biến đổi của làng xã Việt Nam hiện nay” của Tô Duy Hợp (chủ biên) và cuốn “Đởi sống văn hóa ở nông thôn đẳng bằng sông Hồng và sông Cứu Long” của tác giả Phan Hồng Giang (chủ biên) đã cho

sống xã hội

Cuốn sách “Sự biến đổi các giá trị văn hóa trong bồi cảnh xây dung nên kinh tế thị trường ở Ưiệt Nam hiện nay” của Nhà xuất bản Từ điễn Bách khoa do Nguyễn Duy Bắc làm chủ biên đã xây dựng được hệ thống lý luận cơ bản về văn hoá, ga trị văn hóa và biến đổi giá trị văn hóa Đồng thời cuốn sách cũng đã chỉ ra được thực trạng biến đổi các giá trị văn hóa, phát triển văn hóa ở nước ta trong điều kiện hiện nay Qua đó, cuốn sách cũng đã góp phần

bổ sung và hoàn thiện hệ thống đường lối, chính sách vẻ phát triển văn hóa và con người, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Cuốn sách gồm 555 trang, được chia thành 2 phần Cuốn sách không chỉ là tài

Trang 11

liệu tham khảo quý cho các độc giả, các nhà nghiên cứu về lý luận, các nhà hoạch định về chính sách về văn hóa mà nó còn trình bày một cách khá đẩy

đủ về thực tiễn cuả văn hóa nước ta trong thời kỳ phát triển nền kinh tế thị trường trong thời đại mới

Nguyễn Thị Phương Châm với cuốn sách “Biến đổi văn hóa ở các làng quê hiện nay” đây là một công trình nghiên cứu về sự biến đổi của các làng quê hiện nay trong quá trình CNH, HĐH và ĐTH Cuốn sách do Nxb Văn hóa

~ Thông tin và Viện Văn hóa xuất bản năm 2009

Ngoài ra, Trần Đức Ngôn đã chủ biên cuốn “ăn hóa ngoại thành Hà Nội dưới tác động của kinh tế thị trường ” được Nxb Văn hóa Thông tin in năm 2006; Luận án Biến đổi về xã hội và văn hóa ở các làng quê trong quá trình ĐTH tại Hà Nội của Trằn Thị Hồng Yến đã nghiên cứu rất cụ thê chỉ tiết

về biến đổi văn hóa trong bối cảnh kinh tế thị trường và trong quá trình ĐTH 2.3.Những công trình nghiên cứu về làng Bau

Làng Bầu là một ngôi làng cỗ được hình thành từ lâu đời Làng mang nhiều giá trị văn hóa tiêu biểu, độc đáo của nông thôn vùng châu thổ sông Hồng nói chung và vùng văn hóa xứ Đoài nói riêng Tuy nhiên việc nghiên cứu về làng Bau chưa được quan tâm nhiều Theo khảo sát và tập hợp tư liệu liên quan đến làng ở khía cạnh và lĩnh vực khía cạnh khác nhau có thể kế đến tác phẩm: Đồng Anh với nghìn năm Thăng Long — Hà Nội Công trình này đã giới thiệu khái quát về vị trí địa lý, dân số xã Kim Chung; tên gọi của làng Bằu; những danh nhân khoa bảng của làng Bầu và xã Kim Chung trong sự phát triển chung của toàn huyện Đông Anh Tuy nhiên công trình này chưa đi sâu nghiên cứu về biến đổi văn hóa truyền thống của làng Bầu

Lý lịch di tích đình Bau và lý lịch di tích đền Bầu do UBND xã phối hợp với Viện Nghiên cứu Hán Nôm tổng hợp, bản đánh máy còn được lưu tại

Trang 12

UBND xã cũng cung cấp những luận cứ khoa học ghi chép về sự hình thành, phát triển của xã Kim Chung, trong đó có làng Bằu Tài liệu cũng khái quát sự thay đôi về mặt hành chính cũng như sự phát triển kinh tế - xã hội của làng qua từng thời kỳ; đặc biệt tài liệu này đi sâu nghiên cứu giới thiệu về các giá trị lịch sử văn hóa của 2 công trình lớn của làng Bau

Trong bản dự tháo “Lịch sử cách mạng của Đáng bộ và nhân dân Kim Chứng” có đề cập đến lịch sử hình thành và phát triển, truyền thống cách mạng, các di tích lịch sử văn hóa và tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân xã Kim Chung nói chung, làng Bằu nói riêng,

Có thể nói, việc nghiên cứu vẻ làng Bằu, xã Kim Chung, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội đã được đề cập tới qua một vài tư liệu đơn lẻ Việc nghiên cứu chuyên sâu về văn hóa làng chưa từng được tài liệu nào đề cập đến Hơn nữa, cho đến thời điểm hiện tại, cũng chưa có một công trình nghiên cứu cụ thể về biến đổi văn hóa truyền thống làng Bầu trong quá trình CNH, HDH va DTH Chính vì vậy luận văn đi sâu vào nghiên cứu sự biến đổi văn hóa truyền thống làng Bầu trong bối cảnh CNH, HĐH và DTH đê có cái nhìn toàn diện hơn về văn hóa làng Bầu hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Tập trung nghiên cứu sự biến đổi văn hóa truyền thống làng Bằutrên hai phương diện văn hóa vật thể và phi vật thể, để tìm hiểu những vấn đề đặt ra và quá trình CNH, HĐH và ĐTH ở làng Bầu

3:2 Nhiệm vụ nghiên cứu

~ Nghiên cứu cơ sở lý luận về biển đổi văn hóa truyền thống làng Bau

trong quá trình CNH, HĐH và ĐTH.

Trang 13

~ Nghiên cứu thực trang sự biến đổi văn hóa truyền thống của làng Bầu trên hai phương diện văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể

~ Phân tích làm rõ những vấn đề nảy sinh trong quá trình biến đổi văn hóa cũng như các xu hướng biến đổi văn hóa, từ đó đưa ra những giải pháp bước đầu nhằm xử lý mi quan hệ giữa CNH - HĐH, ĐTH và biến đổi văn hóa truyền thống làng Bầu trong công cuộc đổi mới đắt nước

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu sự biến đổi văn hóa truyền thống làng Bầu,

tập trung chủ yếu vào hai lĩnh vực văn hóa vật thể và văn hóa phi vat thé

4.2 Phạm vỉ nghiên cứu

'Về không gian, luận văn tiến hành nghiên cứu tại dia bin Ling Bau ở xã

Kim Chung, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội

Về thời gian, luận văn tiến hành khảo sát, nghiên cứu và đánh giá sự biến đổi văn hóa truyền thống làng Bằu trong bối canh CNH, HDH va DTH (từ năm 2001 kể từ khi khu công nghiệp Bắc Thăng Long được hình thành)

5 Phương pháp nghiên cứu

~ Phương pháp khảo sát thực tế

~ Phương pháp phân tích tổng hop

- Phương pháp điều tra xã hội học, phỏng vấn sâu

~ Phương pháp nghiên cứu liên ngành

6 Đồng góp của luận vẫn

~ Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống, dưới góc độ Văn hóa học về những biến đổi văn hóa truyền thống của làng Bầu dưới tác động của qué trinh CNH, HDH va DTH.

Trang 14

Chỉ rõ một số vấn đề nảy sinh từ sự biến đổi văn hóa trong quá trình CNH, HĐH và ĐTH ở một làng ngoại thành; nhận diện các xu hướng biến đổi văn hó:

truyền thống làng Bau dưới tác động của q\

đại hóa và đô thị hóa nh công nghiệp hóa, hiện

Trang 15

Chương 1

CO SG LY LUAN VE BIEN DOL VAN HOA TRUYEN THONG VA

TONG QUAN VE VAN HOA TRUYEN THONG LANG BAU

1.1 Cơ sở lý luận về biến đỗi văn hóa truyền thống

1.1.1 Khái niệm biến đỗi văn hóa truyền thống

Biến đổi văn hóa được coi là quá trình vận động của mọi xã hội và là

đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học trong đó có nhân học Nhân học nghiên cứu biến đôi văn hóa tập trung nhiều vào việc so sánh sự giao lưu

văn hóa Trong lịch sử phát triển của nhân loại trên thế giới đã trải qua những,

tranh luận về học thuật gắn liền với những học thuyết như: thuyết tiến hóa văn hóa của Edward B, Tylor (1871), thuyết truyền bá văn hóa của G Elliot Smith (1919), thuyết vùng văn hóa của C.L Wissler (1923), thuyết tiếp biến văn hóa

mà đại diện Redfield (1934) Ngày nay dưới tác động của CNH, HĐH và ĐTH cũng như quá trình toàn cầu hóa, biến đổi văn hóa đã được nhiều nhà Nhân học để cập nhiều trong các công trình nghiên cứu Quá trình toàn cầu hóa được các nhà nhân học nhìn nhận như những dòng chảy văn hóa, trong đó yếu tố kinh tế, chính trị, thể chế định hình hoặc bị định hình bởi những dòng chảy này (Edelman Mare, Angelique Haugerud, 2004) Các nhà nhân học cho rằng, dòng chảy văn hóa đã có những tác đông không nhỏ đến kinh tế và chính trị của các quốc gia trong quá trình toàn cầu hóa Do đó, các khái niệm: dòng chảy văn hóa, sự tương tác văn hóa, xung đột hay va chạm văn hóa đã được các nhà nhân học như Kearney, Arjun Appadurai và Anna Tsing đặt vào trọng tâm nghiên cứu về biến đổi văn hóa

Ngày nay, biến đổi văn hóa đã được đề cập đến như một vấn đề trọng tâm của các khoa học xã hội Trên nền tảng hệ thống lý thuyết mang tính khái quát hóa cao nêu trên; cùng với bối cảnh CNH, HĐ và ĐTH đang diễn ra hết

Trang 16

sức nhanh mạnh ở nước ta, rất nhiều các công trình nghiên cứu đã được triển khai tạo tiền đề cho việc xây dựng khung lý thuyết chung làm nền tảng lý luận cho các nghiên cứu thực địa sau này Trong các tiếp cân về biến đổi văn hóa tại các cộng đồng nông thôn trong quá trình CNH, HĐH và ĐTH nỗi lên cách tiếp cận coi tiến trình biến đổi văn hóa phụ thuộc vào các yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội Theo đó, biến đổi văn hóa là sự thay đổi so với một tình trạng văn hoá hoặc một nền văn hoá có trước dưới tác động của những nhân tố chính trị - kinh tế - xã hội Chúng ta có thê kể đến các công trình nghiên cứu của các tác giả như Tô Duy Hợp, Lương Hồng Quang, Nguyễn Thị Phương Châm và nhiều tác giả khác

Bàn về biến đổi văn hóa, tác giả Nguyễn Duy Bắc trong công trình Sự biến đổi các giá trị văn hóa trong bồi cánh xây dựng nên kinh tế thị trường

ở Việt Nam hiện nay đã có cái nhìn tổng quát về hiện tượng này như sau:

Có nhiều cách quan niệm vẻ sự biến đổi văn hóa Một cách hiểu rộng nhất, đó là một sự thay đối so sánh với một tình trạng văn hóa hoặc một nền văn hóa có trước dưới tác động của những nhân tổ

chính trị - kinh

cho rằng sự biến đổi văn hóa được đề cập đến là sự biển đổi về cấu

xã hội Trong một phạm vi hẹp hơn, người ta

trúc của văn hóa, về các thành tố của văn hóa và các giá trị văn

hóa Và sự biến đổi này ảnh hưởng sâu sắc đến phần lớn các thành

viên của một xã hội [4, tr.36]

Cuốn sách Biến đổi văn hóa ở các làng quê hiện nay của Nguyễn Thi Phương Châm là một trong số những công trình nghiên cứu vẻ chủ đề này Công trình đã khái quát được hằu hết các quan điểm về biến đôi xã hội, biến đôi văn hoá của các học giả nước ngoài trong thời gian gần đây Ngoài các thuyết như: thuyết Tiến hóa văn hóa, thuyết Vùng văn hóa, thuyết Tiếp biến

Chức năng công trình này còn nhắc đến tác giả Louise

Trang 17

S.Spindler với quan điểm nghiên cứu biến đổi văn hóa ở “ba cáp độ phân tích (văn hóa, xã hội, cá nhân) trong quá trình biển đổi đa dạng, trong đó quan tâm đến những tác nhân gây ra sự biến đổi nhìn từ trong và ngoài hệ thống Tỉnh biển đổi song hành cùng với tính bằn bỉ của văn hóa” [4, tr.19] Đây có thể coi là một trong những nghiên cứu điển hình về biến đôi của các làng quê trong bối cảnh CNH, HĐH và ĐTH ở nước ta hiện nay

1.1.2 Các phương diện biến déi văn hóa truyền thắng

'Vận dụng các lý thuyết về biến đôi văn hóa vào nghiên cứu biến đổi văn hóa truyền thống ling Bau chính là quá trình biến đổi các thành tố văn hóa làng trên cả hai phương diện văn hóa vật thể và văn hoá phi vật thể dưới tác động của quá trình CNH, HĐH và ĐTH nông thôn Trong xu thé phát triển hiện nay văn hóa truyền thống ở các làng quê nói chung, làng Bầu nói riêng đã có những biến đổi rõ rệt, thâm chí có những làng có bước phát triển vượt trội hơn so với những giai đoạn trước đó Biến đổi văn hóa truyền thống ở một góc độ nào đó

là một biểu hiện của yếu tổ tích cực đến đời sống cộng đồng cư dân trong làng (đời sống nhân dân được nâng cao, các di tích lịch sử văn hóa trong làng được

tu bổ, nhà cửa được xây mới khang trang hơn, hoạt động chuyên môn hóa được đưa vào sản xuất, các phong tục tập quán được gìn giữ và phát huy, những hủ tục không còn phù hợp được loại bỏ ) Tuy nhiên bên cạnh yếu tổ tích cực cũng có những mặt hạn chế ảnh hưởng tới văn hóa truyền thống như: mỗi quan

hệ ứng xử giữa cộng đồng cư dân làng và xuất phát từ yếu tố thương mại trong buôn bán các sản phẩm hàng hóa dịch vụ trong làng,

Để áp dụng nghiên cứu biến đổi văn hóa truyền thống làng Bau, tac gid luận văn nghiên cứu theo hai phương diện: biến đôi văn hóa vật thê và biến đôi văn hóa phi vật thê Trên phương diện biến đôi van héa vat thé lang Bau tác giả luận văn chủ yếu xem xét ở các khía cạnh: biến đôi cơ sở hạ tầng,

không gian cảnh quan kiến trúc làng xóm nhà ở, các công trình dân dụng:

Trang 18

trường học, nhà trẻ, bưu điện, trạm y tế Bên cạnh đó là biến đổi trong hệ thống di tích và cơ sở thờ tự: chủ yếu là đình làng, đền Bằu và một số nhà thờ

họ Về biến đổi văn hóa phi vật thể được xem xét chủ yếu: các lễ thức thờ cúng trong năm, lễ hội truyền thống của làng biến đổi trong quy mô, cấu trúc, đối tượng và các phương diện thực hành nghỉ lễ; biến đổi trong các phong tục tập quán tiêu biểu của làng: tục khao vọng, trong đám cưới, đám tang bên cạnh đó là biến đổi trong quan hệ gia đình và xã hội Trong trường hợp cụ thể luận văn không đi sâu vào các thành tố mà chủ yếu lựa chọn một số thành tố tiêu biểu dé nhận điện biến đổi văn hóa truyền thống làng Bằu

1.1.3 Béi cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa

'Công nghiệp hoá, hiện đại hóa và đô thi hoá là xu hướng toàn cầu, không, chỉ đang diễn ra ở một quốc gia phát triển mà nó đã trở thành xu thế mạnh mẽ ở tắt cả quốc gia không kể giàu nghèo, nước phát triển hay nước đang phát triển, ở châu Âu hay châu Á Quá trình đô thị hoá thấy rõ nhất là tại các thành phố của bắt kì quốc gia nào Hà Nội của chúng ta cũng không ngoai lệ Sự thay đổi diễn

ra từng ngày từng giờ đem đến cho Hà Nội cơ hội để trở thành một thành phố phổn vinh Quá trình mở rộng thành phố cho khu công nghiệp hay khu đô thị mới đã khiến thủ đô có một diện mạo mới, những cũng ảnh hưởng không nhỏ đến một bộ phận người nông dân nằm trong điện quy hoạch

CNH, HDH va DTH là một quá trình có tình chat lịch sử Tất cả các nước công nghiệp phát triển đều phải trải qua quá trình CNH, HĐH ở các thời điểm khác nhau với những qui mô tốc độ khác nhau và trong từng giai đoạn phát triển của nền sản xuất xã hội có ý nghĩa to lớn cả vẻ lí luận và thực tiễn Công nghiệp hoá không phải chỉ là phát triển nền công nghiệp, mà là phát triển

mọi lĩnh vực từ sản xuất vật chất và dịch vụ của nền kinh tế, cho đến các khâu

trang thiết bị, phương pháp quản lý, tác phong lao động, kỹ năng sản xuất

Trang 19

'CNH, HĐH cũng không có nghĩa chỉ là đưa khoa học - công nghệ - kỹ thuật thông tin - vi điện tử hiện đại vào các lĩnh vực hoạt động kinh tế, mà là quá trình vận dựng tất cả những phương tiện đó vào tông thê hệ thống kinh tế, chính trị, xã hội, nó đòi hỏi phải thực hiện cách mạng công nghệ trong các cơ cấu kinh tế - xã hội một cách hợp lý, cân đối, tạo lập cơ chế quản lý xã hội ở

trình độ chuyên môn cao với phương pháp quản lý hiện đại

'CNH, HĐH phải hoàn thiện cơ cấu - tô chức - vận hành xã hội, chuyên

môn hoá chức năng ngày càng sâu của các thể chế, nâng cao chất lượng các phương tiện thông tin đại chúng và chất lượng sống: dân chủ hoá đời sống xã hội trong khuôn khổ một Nhà nước pháp quyền, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí và dân đức thông qua việc phát triển nền giáo dục quốc gia Như vậy, quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá, thực chất tự bản thân nó chính là một quá trình biến mọi hoạt động kinh tế - chính trị - xã hội đặc biệt là hoạt đông sản xuất tỉnh thần và đời sống văn hóa từng bước lên

trình độ tiên tiến và hiện đại

CNH, HDH va cùng với nó là ĐTH trở thành xu thé chung của mọi quá trình chuyển từ nền văn minh nông nghiệp lên nền văn minh công nghiệp Vấn

đề quan trọng đặt ra là làm gì và bằng cách nào để phát huy tối đa mặt tích cực của đô thị hoá, đồng thời hạn chế và đi đến thủ tiêu mặt tiêu cực của nó Điều này cũng đồng nghiã với việc quá trình đô thị hoá phải gắn liền với khái niệm

“Phát triển bền vững”

Như vậy, ĐTH phải vừa thúc đẩy sự phát triển kinh tế, vừa phải đảm bảo môi trường tự nhiên, xã hội trong lành, sự công bằng và tiến bộ xã hội Tuy rằng tăng trưởng kinh tế là yếu tố cần thiết và quan trọng bậc nhất của quá trình ĐTH song nó vẫn chỉ là một nhân tố, một phương tiện hơn là một mục tiêu tối thượng Mục tiêu của ĐTH là phải không ngừng nâng cao chất

Trang 20

lượng cuộc sống vật chất và tỉnh thần của con người, tức là phát triển đô thị lấy con người làm trọng tâm

Như vậy, trên bình diện rộng đô thị Việt Nam ngày càng phát triển, dân

số đô thị ngày càng tăng chủ yếu do di dân từ các vùng nông thôn vào đô thị, làm quá tải so với khả năng đáp ứng các điều kiện kết cấu hạ tầng đô thị, gây hậu quả nghiêm trọng về môi trường và các vấn đẻ kinh tế - xã hội như vấn đề nghèo đói ở đô thị, vấn đề văn minh đô thị, vấn đề nhà ở và việc làm

1.2 Tổng quan về văn hóa truyền thống làng Bầu trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa

1.2.1 Khái quát chung về lịch sử, kinh tế, xã hội làng Baw

1.2.1.1 Vị trí địa lý

Làng Bầu thuộc xã Kim Chung, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội Phía Bắc giáp xã Nam Hồng; phía Nam giáp xã Hải Bối và xã Võng La; phía Đông giáp xã Kim Nỗ; phía Tây giáp xã Dai Mạch và xã Tiền Phong huyện

Trang 21

“Trải qua hằng ngàn năm lịch sử, cư dân làng Bầu bằng sự cần cù, trí thông, mình đã chỉnh phục tự nhiên, khai phá và biến đổi cảnh quan, dần trở thành vùng đồng bằng trù phú ngày nay Làng Bầu có đất đai màu mỡ, có dòng sông lớn chảy qua phía Tây Bắc, vòng qua phía Đông Bắc, qua các xã Tiên Dương đồ về vực Dê - Ao Ca, dé là dòng sông Thiếp còn gọi là Hoàng Giang hay Ngũ Huyện Khê Đây là con sông nồi tiếng trong các cuộc chiến đấu kể từ thời An Dương, 'Vương - Thục Phán đến Hai Bà Trưng, Lý Nam ĐỀ sau này

Theo sách Đại Việt Sử Ký Toàn thư: quãng sông gần Thiên Biều và

Kẻ Noi đã diễn ra trận phục kích đánh đuôi giắc Lương thời Lý Bí - Ly Nam

Đề “với hàng trăm xác giặc nôi bằng bềnh trên sông ”

1.2.1.2 Lich sử hình thành và phát triển của làng

‘Theo truyền thuyết, làng Thiên Biều (trang Thiên Biều) có từ thời Hùng, Duệ Vương, khu đất ở trang này có thế sơn thủy uốn lượn hình rồng chầu hỗ phục, núi không cao mà lác đác, nước non hữu tình, bên ngoài có sông Thiên Đức uốn lượn khiến liên tưởng tới miễn thắng địa, cảnh trí thực sự phong quang Làng Thiên Biều khi xưa nằm trên một gò đất nhỏ có tên là Bãi Ré, sau đổi thành Ba Ré (theo sự tích ông Ba Ré là người xứ Huế, cùng một số người di du ngoạn ngược dòng Nhị Hà, đến khu đất này thấy thế đất đẹp, dừng chân nơi đây để dựng làng, lập nghiệp) Họ sinh sống ở một gò cao nằm dưới chữ Thiên hình như một của Bầu Từ đó, dân làng Ba Ré đồi tên là làng

Thiên Biều (nhiều lộc trời, sinh sôi nảy nở)

Làng Bầu xa xưa có tên gọi là Thiên Biều (trời ban lộc); Đa Lộc (lộc trời ban cho); hay còn được gọi là Bau vi làng có một khu “Trầm” (khu đồng sâu, đầm hồ giống hình quả bầu) nước rộng mênh mông, cá nhiều nôi tiếng,

gắn liền với câu ca: "Cá Trầm Bầu, trâu Cổ Điển” Được nằm trên dải đất cao

phía Tây bờ sông Thiếp, trước là một trang nhỏ trên gò đất đỏ gọi là Bãi Ré,

Trang 22

nơi đây đất lành chim đậu, người về ngụ cư ngày một tập trung đông đúc Trải qua bao đời khai phá, cha ông đã chặt rừng, lấp trũng, đắp đê, ngăn nước chế ngự thiên nhiên, cải tạo đất dai tạo dựng nên xóm làng trù phú Làng Bầu có 8 dòng họ: Lê, Trần, Nguyễn, Phạm, Vũ, Chu, Ngô và họ Hà quần cư đan xen

5 xóm: Đông, Tây, Nam, Bắc và xóm Thọ

Làng Bầu vốn là một mảnh đất giàu truyền thống văn hoá, hiếu học, xưa kia nổi tiếng triều đình có tới ba tiến sĩ: Lê Vô Cương, Lê Vô Địch và Nguyễn Tử Khang Lê Vô Cương, là người trung nghĩa, hết lòng phò tá triều

Lê, được nhà vua sắc phong “Thượng Đẳng phúc Thần” cho lập miéu thờ lấy tên là “Quan Tiết diễn nghĩa”

chung, các giống lúa cỗ truyền có đặc tính cây cao, thơm đẻo nhưng năng

Trang 23

suất thấp, khác với các giống lứa mới, có đặc tính cây thấp, gạo cứng nhưng năng suất cao Do chưa có điều kiện làm thuỷ lợi để chủ động tưới

lêu, nông nghiệp trồng lúa trong xã trước đây còn phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên Bởi thế năng suất còn thấp và mùa màng còn bắp bênh

Bên cạnh lúa là các loại cây trồng khác Những chứng cứ về địa danh này rất có thể phản ánh một thực tế trong lịch sử trồng trọt làng Bầu: Xưa lắm, đã có thời ở đây mọc nhiều cây cối, và từ cây cói tự nhiên, người ta đã thuần hóa để biến nó thành cây trồng,

Bên cạnh lúa là các loại hoa màu ngô, khoai làng, khoai sọ, thầu dầu, lạc thường trồng ở các khu đồng cao hoặc bậc thang đan xen

ở các vùng Kỹ thuật xen canh phản ánh kinh nghiệm sản xuất lâu đời của người dân nhằm mục đích cùng một lúc tận dụng đất dai, chống xói mòn, bảo vệ đất và tăng thu nhập [2, tr.17]

Chăn nuôi và trồng trọt có quan hệ gắn bó với nhau là hai mặt thống nhất của nền kinh tế nông nghiệp Trồng trọt cung cấp thức ăn cho chăn nuôi; ngược lại chăn nuôi cung cấp sức kéo và phân bón cho trồng trọt

Trồng trọt là những hoạt động sản xuất không thể thiếu được trong cơ cấu kinh tế của làng Bầu, vật nuôi nơi đây bao gồm trâu, bò, lợn, gà, ngan, vịt Lợn được nuôi ở từng gia đình, mỗi nhà từ một đến vài con Phân lợn là nguồn đình dưỡng chủ yếu cho đồng ruộng Các giống lợn thời xưa gồm có: Lợn Ý chân thấp, bụng to, chậm lớn nhưng thịt ngon; lợn Sông - Đà chân cao,

mm đài, mau lớn, phàm ăn nhưng thịt mỡ hơn Gà, ngan, ngỗng xưa được nuôi phô biến, mỗi gia đình vài chục con Vịt được nuôi thành đàn vào mùa gặt để tận dụng thóc rơi vãi ngoài đồng Ngoài nhu cầu phục vụ trồng trọt, chăn nuôi còn là nguồn thu nhập quan trọng, dùng để bán, ăn và cúng lễ những khi lễ tiết

Trang 24

sau, nghề phát triển dần, người ta đi mua hạt thầu dầu từ các nơi khác được ép trên máy quay tay trục gỗ lót sắt, được các lái buôn cắt đi bán khắp các vùng xa Nghề ép dầu không còn tổn tại ở Bằu từ sau năm 1986

Thương nghiệp

Trao đổi hàng hóa cũng là hoạt động có từ lâu ở làng Bau Luc dau, người dân trong làng đem các nông sản thừa, các sản phẩm thủ công đi bán tại các chợ trong vùng như chợ Sa, chợ Tó, chợ Chờ, qua sông vào nội đô bán Về sau, xuất hiện một số người buôn chuyến đi các nơi xa hơn

Mặc dù đã trải qua một thời kỳ dài phát triển, với sự tồn tại của nhiều ngành khác nhau, nhưng cho đến trước cách mạng tháng Tám, nền sản xuất truyền thống của các cư dân Bầu nhìn chung vẫn là nền sản xuất nông nghiệp, nên sản xuất “canh nông vi bản”, lấy trồng trọt làm cơ sở chủ đạo Ở làng Bằu mối quan hệ giữa trồng trọt với chăn nuôi, với thủ công nghiệp và với trao đổi hàng hóa được nhân dân chú trọng Do điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm gió

mùa, thiên tai lắm, sâu bọ nhiều, dịch bệnh liên miên, người nông dân không

Trang 25

có cách gì hơn là lấy trồng trọt làm hoạt động sản xuất căn bản Chăn nuôi, thủ công nghiệp và trao đổi hàng hóa tuy có tồn tại nhưng luôn phụ thuộc vào

trồng trọt, bổ trợ cho trồng trọt nên khó phát triển, khó tách khỏi trồng trọt để trở thành ngành sản xuất độc lập Cơ cấu sản xuất trồng trọt — chăn nuôi - thủ

công nghiệp - trao đổi hàng hóa đã tồn tại từ ngàn đời và là đặc tính cố hữu rất khó thay đổi của cư dân làng Bầu trong thời kỳ tiền công nghiệp Đây là điều cần lưu ý trong quá trình phát triển kinh tế xã hội ở Bầu ngày nay

1.2.1.4 Thiết chế làng xã

làng xóm

Làng, xóm là thiết chế dựa trên quan hệ địa vực, huyết thống, láng giềng Trong nhiều trường hợp mỗi xóm gồm một cụm gia đình có quan hệ thân thuộc về họ hàng, cả bên nội, bên ngoại, thông gia, nên sự có kết cộng đồng thôn, xóm rắt bền chat

Xóm còn là đơn vị tổ chức bảo vệ an ninh Tuần phiền làng Bầu được

Giáp là tổ chức xã hội theo lứa tuổi của nam giới trong làng, từ bé trai đến cụ ông cao tuổi, nếu có cơi trầu xin vào giáp đều được công nhận là người của giáp, và được ghỉ vào danh sách trong số bộ của giáp Thường cha ông nào, con cháu giáp ấy Thứ bậc trong giáp tính theo tuổi, không theo tôn tỉ như trong họ tộc, không theo giàu nghéo hay địa vị xã hội cao thấp

Trai đỉnh làng Bau xưa kia được tập hợp trong 5 giáp : Đông nhất, Đông nhị, Bắc nhất, Bắc nhì, Tào tả Mỗi giáp gồm trai đinh của nhiều dòng,

Trang 26

họ khác nhau, một họ sinh hoạt ở nhiều giáp; song một số trường hợp, người trong họ tập trung đông ở một giáp

Theo lệ, sau khi sinh con trai, người bồ sửa soạn cơi trầu, chai rượu đến trình các cụ để làm lễ vào giáp cho con và được thôn trưởng (người đứng đầu giáp) ghi tên con trong số hàng giáp

Về tổ chức, mỗi giáp có 16 cụ (bốn bàn hay bốn mâm, dân làng gọi là các cụ bốn bàn hay bồn bàn) tính từ cao tuôi xuống, có quyền hành nhất, làm nhiệm vụ giám sát, chỉ dẫn thực hiện các công việc trong giáp Họ là người được hưởng nhiều quyên lợi nhất trong giáp

Mỗi giáp có 4 cụ “dự bị” ở sát tuổi bốn bàn, khi ở mâm các cụ khuyết người sẽ “đôn” người cao tuổi nhất trong mâm dự bị lên; đồng thời người cao tuổi nhất ở các bàn dưới lần lượt được dịch chuyển lên trên

Mỗi giáp lại có hai người thôn trưởng, là những người cao tuổi nhất trước tuổi lên lão (49 tuổi), có nhiệm vụ điều hành các công việc trong giáp, thu tiền, gạo của các trai đỉnh đóng góp cho các lễ tiết, nhận cổ ở đình

Dưới hai thôn trưởng có hai bản bàn, chịu trách nhiệm chính trong mỗ lợn, thái thịt, làm cỗ, chia phản

'Nhiệm kỳ của thôn trưởng và bản bàn là một năm, bắt đầu từ sau lễ bắt lợn cầu của năm Hết nhiệm kỳ, coi như người trai đinh đã hoàn thành nhiệm

vụ với giáp, chuẩn bị lên lão Tuy nhiên, ở giáp ít người, nhiệm kỳ của họ có

thể kéo dài hơn

Cũng như ở các làng quê khác trên vùng đồng bằng châu thô sông

Hồng, giáp ở làng Bầu là đơn vị quản lý nhân đỉnh, phù sinh - tống tử, pI cấp và quản lý công điền công thô; song nhiệm vụ lớn nhất là đóng góp tu bô đình chùa và phân công biện lễ thờ thành hoàng Cụ thể:

Trang 27

Hàng năm các giáp luân phiên nhau đăng cai, gánh vác các công việc của làng, nhất là việc sửa lễ thờ thần Trong các ngày lễ, Tết, ngày mỏng 3 thing Gi

chức Theo đó trai đinh trong các giáp phải ra đắp đường, dọn dẹp sạch sẽ

12, kỳ lý các giáp cùng họp tại đình làng để bàn bạc công việc tổ

trước khi tô chức một vài ngày Trong các lễ, Tết các giáp đều phải sắm sửa trầu cau, thịt, phẩm tế

“Người nào đắn lượt hạ điền vào ngày mông 10 tháng 4 gieo thóc, xã

định lệ lễ ở đình, sắm sửa một con gà trắng, một mâm xôi khoảng 12 đấu, 01

Bộ máy quản lý điểu hành

Ở làng Bầu cũng giống như các làng quê khác, trước cách mạng thang 8/ 1945 bao gồm hai thiết chế là Hội đồng kỳ mục và bộ máy chức dịch Hội đồng kì mục là bộ máy quản lý làng xã truyền thống gồm các tân, cựu, chánh, phó tổng, các chức sắc quan lại về hưu, các cựu Lý phó trưởng, những người có tuổi trong làng đã tham gia đầy đủ các lệ vọng v.v

Chức năng, quyền hạn: Đứng đầu Hội đồng kì mục là Tiên chỉ và có một hay hai Thứ chỉ Đây chính là cơ quan đứng đầu làng xã, có toàn quyền quyết định các việc quan trọng trong làng như: phân bổ thuế khóa, sưu dịch, lính tráng, bầu cử tổng lý (tổng lý bao gồm Lý trưởng và Phó lý được Hội đồng kỳ mục chọn ra giới thiệu lên quan trên công nhận), phân cắp công điền

và tổ chức hội hè đình đám, cũng như xây dựng tu sửa đình chùa

Hội đồng kỳ mục ở làng Bau là cơ quan quản lý truyền thống có toàn quyền quyết định đối với các công việc của làng, Thành viên của Hội

Trang 28

đồng gồm các quan lại, cai đội (là người làng) các cấp đã về hưu, các cựu chánh tổng, phó tông, cự lý phó trưởng không bị can án trong thời gian đương nhiệm Hội đồng có toàn quyền với các công việc chung, của làng như: đấu thầu ruộng đất công, sửa chữa đình, chùa, mở hội Đứng đầu hội đồng là một tiên chỉ (người có phẩm hàm hay chức tước cao nhất) và một Thứ chỉ (người có phẩm hàm cao thứ hai) [21, tr Š]

“Tháng 8 năm 1921, đề thắt chặt làng xã hơn nữa, chính quyền Pháp tiền hành cuộc cải lương hương chính Trọng tâm là bãi bỏ Hội đồng kỳ mục, thay thế bằng hội đồng tộc biểu, gồm đại biểu của các dòng họ trong làng, tùy theo

họ nhiều hay ít đỉnh mà được cử số tộc biểu Tộc biểu là những người từ 25 tuổi trở lên, biết chữ quốc ngữ, có gia sản Hội đồng tộc biểu bầu ra Hội đồng hương chính để giải quyết các công việc chung, đứng đầu là một chánh hội và một phó chánh hội cùng một thư ký giúp việc Tuy nhiên Hội đồng tộc biểu hoạt động kém hiệu quả nên đến năm 1927, thực dân Pháp phải cho lập lại Hội đồng kỳ mục cùng hoạt động song song với Hội đồng tộc biểu Đến năm

1941, Hội đồng tộc biểu bị bãi bỏ, chỉ còn lại Hội đồng kỳ mục

Bộ máy chức dịch: Đại diện cho chính quyền cấp co sé tai lang Bau,

chịu trách nhiệm trước nhà nước phong kiến cấp trên về mặt nam minh, các

khoản thuế, điều động phu dịch của làng xã Bộ máy chức dịch gồm có các chức: xã trưởng, xả sử, xã giám, thôn trưởng Từ năm 1928 trở đi, đứng đầu

bộ máy chức dịch là một lý trưởng cùng một hoặc hai phó lý Ngoài ra, mỗi

xã còn có các chức danh giúp việc như hộ lại (trông coi hộ tịch); chưởng bạ (trông coi về địa chính); thủ quỹ (trông coi về tài chính); quản xã, khán thủ và trương tuần (trông coi việc an ninh)

Trong cộng đồng làng xã, hoạt động của bộ máy trông coi việc dân là điều rất cần thiết, nhưng về sau, bộ máy này biến thành công cụ đàn áp nhân dân, phục vụ cho quyền lợi của chế độ thực dân phong kiến và địa chủ.

Trang 29

Các tổ chức phường hội

Làng Bầu có các thiết chế dân đã, tập hợp các thành viên trên tỉnh thần

tự nguyện nhằm mục đích tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong đời sống thường ngày như: các hội, họ, phường gạo, tiền hoặc vì mục đích nghề nghiệp, tín ngưỡng Trong số các thiết chế này, nỗi lên vai trò của hội Tư văn (tô chức của những người có trình độ Nho học) chuyên đảm nhiệm việc tế lễ trong các

dịp lễ tiết, hội làng các đám tang của các gia đình khá giả Dù có nhiều thay đối, phường hội vẫn là một đơn vụ nhóm xã hội mang những nét đặc trưng rất

độc đáo và vẫn giữ một vị trí quan tọng trong công đồng dân cư ở địa phương Ngôi thứ đình trung

Cũng như các làng Việt khác ở Đồng bằng Bắc Bộ, trước cách mạng tháng tám năm 1945 tại làng Bau van dé ding cấp xã hội, việc phân chia cư dân thành nhiều thang bậc dựa trên bằng cấp, phâm hàm, chức tước và tuôi tác thể hiện cụ thê ở chỗ ngồi trong ngôi đình nỗi lên rõ nét và trở thành trung tâm của đời sống xã hội làng Bằu

Công đình chia làm 4 dòng, dòng văn, dòng hào, dòng binh, dòng lão Dòng văn từ khoa trạng cho đến người dự vào tư văn.Dòng binh từ quan Thống chế cho đến người lính được thấu tuế niên lệ, phải có chân

tư văn mấy được cho vào dong ấy Dòng hào từ thiền bách hộ, Chánh Phó tông, Hương lý, Xã đoàn Dòng lão từ người trăm tuổi cho đến người 61 tuổi là hàng lão [21, tr.7]

Trang 30

Là một làng cỗ trên vùng quê văn hiến, làng Bầu có số lượng lớn các di tích lịch sử văn hóa, với những giá trị lịch sử và nghệ thuật như đình, đền, nhà thờ họ tất thảy hệ thống di tích đó liên kết với nhau, hòa chung thành không gian văn hóa được tích hợp qua những biến thiên của lịch sử, để làng Bầu trở thành một làng Việt cỗ độc đáo

Trong chiến tranh chống thực dân Pháp, năm 1948, đình Bầu bị phá rỡ khi thực hiện tiêu thổ kháng chiến Năm 1992, chính quyền và nhân dân dựng lại đình tại nền đất cũ Năm 2001, phục dựng lại đình, hậu cung và toàn bộ không gian theo lối kiến trúc của ngôi đình cỗ trước đây tọa lạc trên khu dat

rộng, thoáng đãng, tại trung tâm làng Bầu

Kết cấu kiến trúc

Nghĩ môn làm theo lối tứ trụ, hai trụ lớn đắp các ô vuông đặc tả đề tài

tứ linh, trên đỉnh đắp phượng chau cuốn chúp nụ hoa Cửa hai bên làm mái, hai trụ nhỏ đấp hình lồng đèn và lân chầu đỉnh trụ Trên tường nối hai trụ đắp trang trí đề tài tứ quý, rồng chau

Phía trước đình là hồ bán ngyệt, trên bờ phía đối diện với gian giữa

đình nhìn ra đắp cuốn thư lớn trang trí hỗ phù và tứ linh Qua sân rộng lát

Trang 31

gach, trồng nhiều cây xanh mát, qua bậc thềm có rồng chau vao sân đại đình với hai day tảo mạc hai bên gồm ba gian làm lỗi đầu hồi bít đốc tay ngai, có trụ biểu, nền lát gạch, mái lợp ngói ta

Trước gian giữa đại đình có lư hương bằng đá lớn đề thắp hương bái vọng, qua bậc thềm có rồng châu vào đến đại đình Đại đình với năm gian hai chái, bốn mái chồng đao cong bốn góc, trên nóc đình trang trí lương long chẩu mặt nhật, hai đà

hỏa Bậc thềm lát đá, hiên suốt năm gian, hai chai xây tường trổ cửa số hoa

kìm hai bên, bờ đải có lân chầu, đầu đao trang trí lá

văn chữ thọ Thân kẻ hiên trước chạm trỗ độc long cắn tàu, cúc lão hóa long, năm gian cửa bức bàn ghép bậu, phía trên có chắn song ô thoáng, cửa bức bản chạm trổ để tài tứ quý: thông, trúc, cúc, mai Kết cấu năm hàng chân cội một cột gối tường hậu Bộ vì được làm lối thượng giá chiêng, trung kẻ chuyển tiền kẻ, hậu kẻ Trên các thân xà trang trí hoa văn lá cúc, cánh sen, vân sóng, chữ triện cách điệu

Hậu cung có hai gian một dĩ, chạy đọc tạo nên bố cục chữ đỉnh cho ngôi đình Với thiết kết bồn bộ vì thượng giá chiêng, kẻ chuyền hai bên trồn cột gối tường Trong hậu cung, hoa văn trang trí chủ yếu là lá cách điệu, hỗ phù Cửa hậu cũng được làm lối bức bàn, gian giữa bốn cánh, gian hai bên hai cánh, có trang trí tứ linh, tứ quí Bên trong bé tri ban thờ Thành hoàng, xây sạch giật cấp, nền lát gạch, mái lợp ngói ta

Các cấu kiện kiến trúc của đình Bầu được bố cục hài hỏa, tạo một

không gian tín ngưỡng thâm nghiêm Ngôi đình được dựng trên nền móng

cũ, với kết cấu kiến trúc cũng như hoa văn trang trí mang phong cách của thời Nguyễn Giá trị nghệ thuật nỗi trội của di tích tập trung ở các đồ thờ tự được thiết kế khá công phu Bằng những đường nét mềm mại với lối chạm bong kênh, chạm lộng, hình ảnh rồng châu, rồng vờn mây, lần châu, phượng,

vũ, rùa đội thư, thông, cúc, trúc, mai, vân sóng, mây hóa Tắt cả hiện lên

Trang 32

như một bức tranh toàn cảnh về vẻ đẹp của thién nhién hda quén v6i cude sống con người Bức cửa võng lớn được treo ở gian giữa lung linh với rồng chầu mặt nhật, hỗ phù, cùng tứ linh xen tứ quý tạo sự ấm cúng cho cả không gian ngôi đình Bên dưới là hương án cùng những nét chạm lông, chạm thủng tỉnh xảo, họa tiết trang trí cầu kỳ thể hiện sự khéo léo của người nghệ nhân Đáng chú ý nhất có bồn cỗ ngai thờ thánh được chạm khắc công phu mang đậm phong cách nghệ thuật thời Nguyễn Các bai vị Thánh đã bị thất lạc trong chiến tranh, nay nhân dân khôi phục lại, những chữ Hán thể hiện trên bài vị theo đúng nội dung ghi lại trong thần tích, thần sắc mà làng Bầu

đã lưu giữ và sưu tầm được

Từ xưa đến nay, đình Bằu luôn là trung tâm sinh hoạt, hội học văn hóa của địa phương, là nơi vun đắp tình làng nghĩa xóm, đoàn kết của cộng đồng dân

eư Với giá trị về mặt lịch sử, nghệ thuật, năm 2009 đình Bau được Ủy ban nhân dân thành phó Hà Nội xếp hạng Di tích lịch sử nghệ thuật cấp thành phố

1.2.2.2 Đền Bau

Di tích đền Bầu được toạ lạc trên một khu đất rộng thoáng trong khu vực cư trú của của làng, mặt bằng di tích bao gồm nghỉ môn, bình phong, hồ nước sau đến khu kiến trúc chính chiếm lĩnh vị trí trong tam

Mở đầu của khu di tích là nghỉ môn được tạo kiểu tứ trụ có mặt cắt ngang hình vuông, đỉnh trụ là bốn chim phượng chụm đuôi vào nhau dưới dạng lá lật, bốn đầu của chúng được quay ra bốn hướng tạo thành hình trái giành Phía dưới tạo hình lồng đèn trang tri tứ linh (long, ly, quy, phượng) Phần thân của trụ biểu được bô khung đề ghi câu đối chữ Hán, đề trụ thắt cô bồng Đinh của hai cột trụ phụ được trang trí hai tượng nghê trong tư thế chau Phan néi tiếp giữa các cột trụ chính và cột phụ được chạm nổi hình tam sơn, hai bên trang trí đề tài tứ quý (tùng, cúc, trúc, mai)

Trang 33

'Qua cổng là một khoảng sân rộng lát đá xẻ, xung quanh sân được trồng, nhiều loại cây cảnh và cây lưu niên tạo cảnh quan Hai bên sân xây tường bao

chạy suốt quanh khuôn viên đền Sau nghỉ môn, thẳng trục chính đạo là một bức bình phong đá tạo kiểu cuốn thư trang tri dé tai “lưỡng long triều nhật”, rồng cuốn thuỷ, thần quy lạc thư, hòm sách, nậm rượu, hình rút dễ Chính giữa cuốn thư là một hình tròn xung quanh tạo gờ nỗi trang trí cánh sen deo, bên trong chạm nỗi chữ “tâm”

Giữa sân là một hồ nước hình chữ nhật, bốn góc hỗ tạo hình 4 rồng đá trong tư thế chầu vào Trong nghệ thuật tạo hình của người Việt rồng nằm trong hệ “tứ linh”, chúa của mọi linh vật, gắn với nguồn nước, tượng trưng cho mây mưa, hiện thân của sự được mùa

Tiếp theo, là hai tượng voi tạc bằng đá trong tư thế chẳu phía trước sân đền Qua 7 bậc thêm đá, dẫn lên khu kiến trúc chính, thành bậc được trang trí hai tượng rồng đá

Đền Bầu được xây dựng trên một khu nền cao 1,4m so với xung quanh Cấu trúc mặt bằng theo kiểu chữ “đinh” gồm tiền tế và hậu cung

Phía trước nhà tiền tế là một hàng hiên rộng ba gian, có lan can tao

bằng đá trang trí đốt trúc, chân lan can trang trí một băng hoa văn lá sòi Nhà

có mái lợp ngói ta, bốn góc mái có đao cong trang trí hình rồng tạo sự bay bồng cho ngôi đền Bốn đầu đao được đỡ bởi 4 cột đá vuông chạm nỗi để tài

tứ linh, tứ quý, kích thước: 20 x 20em Chính giữa bờ nóc trang trí đề tài

“rồng châu hồ phù”, rồng và hỗ phù được thể hiện kiểu văn triện, lá hoá rồng, mây cách điệu Diễm mái trang trí văn triện móc Kết cấu kiến trúc của hàng hiên gồm 4 bộ vì kèo được làm bằng gỗ, có kết cấu kiểu “

chiêng ” chạm nỗi các đề tài hỗ phù, hoa lá cách điệu phủ thếp vàng Toàn bộ

hệ thống vì được đỡ bởi hệ thống cột tạo bằng đá hình tròn, cột có chiều cao:

kèo giá

Trang 34

2,600m được chạm nỗi đề tài rồng mây cuốn xung quanh thân cột Phần nền lát đá xẻ có kích thước: 40 x 40cm

Tiên tế: Có phần mái cao vượt lên so với hàng hiên khoảng 50cm, nối

hàng hiên và hậu cung, có ranh giới giữa các mái làm khít nhau, phía dưới là

hệ thống máng thoát nước Là một nếp nhà ngang 3 gian, 2 chái xây gạch kiểu

ồi bít đốc tay ngai, bờ nóc đấp kiểu bờ định, chính giữa bờ nóc được

giữa kết cấu kiểu “giớ chiếng” và 2 bộ vì hồi kết cấu kiểu vì kèo “chong

rường ván mê” Kết cấu kiến trúc hiện nay của đền phỏng theo phong cách nghệ thuật thế kỷ XX, được nhận biết qua các đề tài trang trí rồng hoá lá thanh thoát, khoáng đạt, hỗ phù và các đường văn triện, chữ thọ, hoa lá hoá rồng trên các ván mê, thanh xà và các đầu bây hiên Hau cung: Gồm 1 gian, 1

di chạy dọc nối với gian giữa nhàt tế tạo thành kết cấu kiểu chữ “đỉnh” Các

bộ vì được làm theo kiêu vì kèo “quá giang ván mê” với hệ thông vì nách tạo

kiểu ván mê trang trí đề tài “sứ

Nhìn một cách tổng thể về nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc tại đền Bầu chúng ta thấy: các trang trí trên kiến trúc gỗ mang phong cách nghệ thuật dân gian truyền thống Nét nổi bật ở di tích là nghệ thuật chạm khắc được tập trung chủ yếu trên các bức cửa võng, cuốn thư tại nhà tiền tế, nơi diễn ra các nghỉ lễ phụng thờ thành hoàng làng

1.2.2.3 Các nhà thờ họ

Nha tha: ho là một ngôi nhà dành riêng cho việc thờ cúng tổ tiên của một dòng họ hay từng chỉ ho tính theo phụ hệ (đòng của cha) Nhà thờ họ phổ biến trong làng Bầu là một số đòng họ lớn, đo con cháu dòng họ hoặc một gia đình xây dựng.

Trang 35

“Chỉ họ lớn, sau khi đã phân chỉ thì nhà thờ của dịng trưởng nam sẽ là

nới nơi thờ phụng từ đời ơng thủy tổ, nơi giữ gia phả gốc, nhà thờ này sẽ được eọi là nhà thờ đại tơn Các nhánh họ khác đều cĩ nơi thờ cúng riêng từ đời ơng tổ chỉ trưởng, gọi là nhà thờ chỉ họ (hay cửa họ),

Nhà thờ họ sẽ được xây cất với quy mơ, kiến trúc phụ thuộc vào khả năng tài chính và đĩng gĩp của các suất họ (từng thành viên nam) và theo địa

vi xã hội của những người vai về trong dịng họ Phần nội thất, gian giữa thường kiến trúc kiểu mở rộng ra phía tường hậu (chuơi vồ) để xây bệ thờ Trên bệ thờ đặt các linh toạ hoặc giá gương hoặc (vì tay ngai chạm hình rồng nên cịn cĩ tên khác là long ngạ) Ngai sẽ là nơi đề bài vị tổ tiên hoặc là một ống quyên, hoặc khối hộp chữ nhật sơn son thiếp vàng đứng chứa đựng gia phả, cĩ phủ nhiễu điều bên ngồi Nơi đây là nơi được xem là linh thiêng, nhất, nơi mà linh hồn tổ tiên sẽ ngự trị

Hang năm, ngày lễ giỗ tơ tiên tại nhà thờ họ là dịp hội họp lớn nhất của tộc họ, nĩ đồng thời cũng là dip dé đại bộ phận cĩ xu hướng khuếch đại quan

hệ họ hàng”, nối lại mối quan hệ lỏng lẻo

Nhà thờ họ Lê, họ Trần mới được xây dựng trong những năm gần đây

Nhờ thờ được xây dựng theo kết cấu kiểu chữ đinh, trên một khuơn viên rộng

khoảng 60mẺ Tịa tiền đường cĩ 5 gian, trong đĩ cĩ 3 gian tiền tế, được thiết

kế theo kiểu con chồng đầu sen to khỏe; hầu hết các mảng đều để trơn, khơng trang trí hoa văn Tiếp đến là 3 gian hậu cung, cĩ bố trí các ban thờ, hồnh phi, câu đối

Trong Nhà thờ họ Lê, họ Trần cịn lưu giữ nhiều hồnh phi, câu đối cĩ gid wi, La dong doi thi, thư, nên việc học tập, kế thừa và phát huy những truyền thống tốt đẹp của cha ơng đã được con cháu trong dịng họ quan tâm

sâu sắc Sơng cĩ nguồn, cây cĩ cội, con cháu luơn luơn hướng về tơ tiên

Trang 36

1.2.2.4 Cảnh quan kiến trúc làng xóm

Làng Bầu được hình thành theo khối dài nhà cửa được xây dựng hai bên đường “cái quan” của làng, từ đó phát triển theo hình “xương cá” tỏa ra là những, đường xóm, ngõ nhỏ Trước kia, làng Bằu có luỹ tre bao bọc, được xem như ranh giới của sự ngăn cách giữa không gian cư trú và không gian sản xuất của làng

‘Trude day làng Bầu có cổng làng, trước cổng thường có cây đa, giếng, nước Có thể nói, cổng làng chỉ còn lại những chứng tích của thời gian và một không gian cỗ xưa của làng Sự phân định giữa không gian trong làng và ngoài làng bằng những cổng làng cũng không còn nữa do dân trong làng ngày cảng tràn ra ngoài cổng làng, các ngôi nhà và những công trình mới vươn cao lên át đi vẻ uy nghỉ một thuở của những chiếc cổng này

Cảnh quan làng có khá nhiều đầm, ao hồ do thiên tạo và nhân tạo, những mặt nước này góp phần không nhỏ điều hoà không khí trong làng, hỗ trợ việc tưới tiêu, tạo cảnh quan đẹp và còn giúp ích nhiều trong sinh hoạt hàng ngày của dân làng

Việc xác định không gian làng theo hệ thống định hướng như: tây - đông vẫn còn rõ nét ở làng Bầu Nhưng xác định làng theo các gò, bãi, đầm,

và các xứ đồng nay đã mờ nhạt hơn nhường cho sự định vị của không gian hành chính với các xóm, thôn, đội sản xuất, hợp tác xã Khu công nghiệp Mac di, trong dan gian các hệ thống định hướng này vẫn còn tồn tại, ít nhất là

ở tên gọi Tuy rộng hẹp khác nhau nhưng không gian cư trú của làng Bằu hiện nay đã khá n định theo sự phân chia hành chính, có các thôn, dưới thôn có các xóm, dưới xóm là ngỡ

Kiến trúc nhà ở truyền thống

Những ngôi nhà ở của làng đa số là nứa, tre, nhà gỗ Dưới chế độ phong kiến, làng Bằu phân hoá rất nhanh Người có tiềm lực kinh tế có nhà mái ngói,

Trang 37

nhà khá hơn về kinh tế xây nhà cao tằng với khuôn viên rộng rãi thiết kế cổ kính, vườn trên ao dưới, có cây cảnh Thời kỳ cải cách ruộng đắt, làng có 32 hộ % địa chủ Nhà cửa của địa chủ làm bằng gỗ lim, thiết kế cầu kỳ, hoa văn mềm mại, tỉnh xảo Có những địa chủ có vài mẫu ruộng và có người ở trong nhà

1.2.3.1 Lễ hội làng Bằu

Ngoài các dịp tuần tiết sóc vọng vào các ngày mùng 01 và mười rằm hàng tháng, hàng năm dân làng thường tô chức lễ hội đình - đền Bầu cùng một ngày, đó là ngày mùng 08 thang giêng Hiện vẫn còn câu ca: “Mỏng 8

~ Có 5 giáp: Đông nhất, Đông nhị, Bắc nhất, Bắc nhì, Tào tả

- Nam nao giáp phải làm cỗ hội phải chuẩn bị sau mùa gặt hái vụ 10

lấy nếp mới để góp vào giáp Nuôi lợn, gà phải béo khoẻ không có bệnh

~ Đến ngày làm tiệc ai có tang, có mang thai không được kim 18 hội Gái bỏ chồng, goá chồng không được làm cỗ chung với giáp.

Trang 38

Ong tir dinh c6 tang cha mẹ sau bách nhật mới được vào cung đình Vor chết sau 49 ngày mới được ra đình Khi ra phải làm lễ sám hồi

2 Chi nhang lên hương

3 Cée vi kỳ cựu đứng danh dự

4, Néi ba hồi chiêng trống

Ngày mông 9 tháng giêng, phần hội có chơi đu, cờ tướng, chọi gà, kéo

co, trống quân, đập nỗi niêu (với nghĩa đói treo niêu, vì vậy người dân lợi dụng ngày lễ ra đập hết niêu treo cầu giàu có, không có niêu treo)

Ngày 10 tháng giêng các thanh niên trong làng ra ngoài sông để mua

tàu chuối không có dấu vết để về làm thuyền ở ngoài sông các nhà có chuối

Trang 39

Ngày 12 tháng giêng, 8 giờ sáng có 8 thanh niên chưa vợ, quần áo đai

mũ khênh thuyển cùng dân làng rước xuống cổng ngòi thả thuyền kéo xuống đền Bốn góc thuyền có 4 cái bánh chưng, bên trong có 4 bánh dày Có một quả bầu để nước mưa hoặc nước giếng đền làm lễ xong thả thuyền trôi xuống

tròng Còn 4 bánh chưng mang về đình là của 8 người rước thuyền, 4 bánh

dày để ở đền cho quan chức, dân làng hưởng lộc

Ngày 13 tháng giêng cả làng da tiệc

Quing tring giáp nào nhặt được thì giáp đó làm ăn phát đạt nhiều lộc Các ngày lễ hội các cụ già làng ra điểm đình hội, các con cháu mừng tuổi lấy tiền ăn quà bún bánh bán tại điếm đình

Ngày 14 tháng giêng dân làng ra rửa đền, thu dọn và đóng cung cắm, đến ngày rằm mùng 01 ông từ mới được mở cửa Còn các ngày lễ thường ông,

từ chỉ thỉnh chuông ban công đồng Hạ thần, tạp thần dé cùng ông từ cai quản khu đình Mỗi lễ thường chỉ được thỉnh ba tiếng chuông hoặc trống, trong đền không được gõ mõ (Thánh tối ky gỡ mô)

Hang năm chỉ vào dịp khai xuân và tất niên sảo tước, giặt cờ, thay y phục cho Thánh

Hoá các văn cúng phải có hương trưởng châm lửa Hoá xong đỗ rượu

cúng trong những ngày lễ

'Cất áo tế, tự tay hương trưởng đóng tráp đưa lên giá Mọi nghỉ lễ từ đầu đến cuối đều phải là người đồng giới nam

Trang 40

Khi tế, khu vực tế mọi người khác giới không được di lai ma phạm tội

với Thánh Người tế phải song toàn: Song về thể xác, song về đức độ, song về

đường đời, song về con người Có nghĩa là: Trong người không có bệnh tật, thiếu hụt, không mắc sai phạm với luật trời, luật xã hội, không có vợ đôi con

ba, không có tang

* Theo tu liệu điền dã tại

la phương do cụ Lê Văn Phẩm và một số cụ cao niên trong làng cho biết: Lễ hội thôn Bầu gồm hai phần: Tế các vị Thành hoàng và rước thuyền Tiên chúa Trong lễ hội phần vui nhất, công phu nhất vẫn là việc đóng và rước thuyền Tiên chúa

“Thuyền Tiên chúa được chuẩn bị trong ngày mông 10, nhưng từ các ngày trước đó những trai làng đã vào hội hương ẩm được cử đi mua gỗ đóng thuyền

Lệ làng là đi mua gỗ, nhưng thực ra là đi đến các xóm thôn ở ven bãi sông Hồng nơi có hàng ngàn cây chuối tại các vườn nhà, đến đó các trai làng phải khéo léo xin được cắt những tầu lá chuối dài nhất, to nhất mang vẻ đóng thuyền lễ Ở đây

có một mối quan hệ kỳ lạ, hàng năm dân làng ở những thôn xóm bãi ven sông

đều vui vẻ hồ hởi tỉ

tàu lá đẹp Họ tin rang, góp một phần nhỏ như vậy sẽ được Tiên Dung phù hộ đón, hướng dẫn khách mua chọn những cây chuối to có

Ba Lung là những người giỏi đóng thuyền Thuyền hoàn thành có kích thước 250cm x 180em, trên thuyền có cả linh xa tám mái và cờ quạt

Ngày 11 tháng giêng, làm lễ cáo với Thành hoàng, ngay hôm đó sau lễ

tế, các dòng họ, các giáp, các xóm trong thôn và khách thập phương làm lễ

Lễ tế xong, chuẩn bị cho đám rước hôm sau, làm lễ quay mũi thuyền ra phía trước, sửa sang cho thuyền được chắc chắn

gly hôm sau rước.

Ngày đăng: 17/08/2022, 13:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm