Khái niệm Trái phiếu doanh nghiệp Corporate bond là một chứng khoán nợ do doanh nghiệp phát hành nhằm huy động vốn trung và dài hạn trên thị trường, quy địnhnghĩa vụ của người phát hành
Trang 1VIỆN NGÂN HÀNG – TÀI CHÍNH
BÀI TẬP NHÓM MÔN TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
Đề tài: Một số vấn đề về Trái phiếu Doanh nghiệp
Hà Nội, năm 2015.
Trang 2MỤC LỤC
4 Ưu và nhược điểm của huy động vốn bằng trái phiếu 5
5 Một số ưu thế của Trái phiếu so với Cổ phiếu và Vay ngân hàng 6
II Thực trạng hoạt động huy động vốn bằng trái phiếu của doanh nghiệp 10
1 Quá trình hình thành và phát triển thị trường trái phiếu
doanh nghiệp Việt Nam
10
2 Ví dụ minh hoạ huy động vốn bằng phát hành trái phiếu 11
3 Những hạn chế của trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam 14 III Giải pháp nâng cao chất lượng trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam 17
2 Nhóm giải pháp phát triển thị trường sơ cấp 20
3 Nhóm giải pháp phát triển thị trường thứ cấp 23
Trang 3DANH SÁCH THÀNH VIÊN
NHÓM 1 LỚP TCDN 1_7
Trang 4I. Lý thuyết chung về Trái phiếu doanh nghiệp
1. Khái niệm
Trái phiếu doanh nghiệp (Corporate bond) là một chứng khoán nợ do doanh
nghiệp phát hành nhằm huy động vốn trung và dài hạn trên thị trường, quy địnhnghĩa vụ của người phát hành phải trả cho người nắm giữ trái phiếu (nhà đầu tư haytrái chủ) một khoản tiền xác định trong một thời gian cụ thể, và phải hoàn trả khoảnvay ban đầu khi nó đáo hạn
Thị trường trái phiếu doanh nghiệp là nơi diễn ra các giao dịch mua bán
trao đổi trái phiếu doanh nghiệp nhằm thỏa mãn nhu cầu của các đối tượng thamgia trên thị trường
2. Đặc trưng của trái phiếu doanh nghiệp
• Trái chủ được trả lãi định kỳ và trả gốc khi đáo hạn Đây là một đặc điểm rấtquan trọng để phân biệt trái phiếu với cổ phiếu Trái chủ được trả lãi định kỳ
và trả gốc khi đáo hạn bất chấp kết quả hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp như thế nào Trong khi cổ phiếu được trả cổ tức dựa trên kết quả hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp
• Người nắm giữ trái phiếu tuy được trả lãi định kỳ tuy nhiên sẽ không đượctham dự vào các quyết định của doanh nghiệp
• Khi công ty giải thể hay phá sản, trái phiếu được ưu tiên thanh toán trước các
cổ phiếu Theo điều 39 luật Phá sản doanh nghiệp 2014 quy định về trình tựthanh toán các khoản nợ thì khi doanh nghiệp đã thanh toán hết các khoản nợcho chủ nợ thì mới chia tài sản cho các cổ đông
3. Phân loại trái phiếu doanh nghiệp
Trái phiếu doanh nghiệp thường có nhiều loại khác nhau, thông thường cómột số cách phân loại như sau:
• Dựa vào hình thức trái phiếu
- Trái phiếu vô danh: Là loại trái phiếu không ghi tên của người mua và
trong sổ sách của người phát hành, người nắm giữ là người được hưởng quyền lợi
Trang 5- Trái phiếu ghi danh: Là loại trái phiếu có ghi tên của người mua và trong
sổ sách của người phát hành Người được ghi tên là người trực tiếp được hưởnglợi
• Dựa vào lợi tức trái phiếu
- Trái phiếu có lãi suất cố định: Là loại trái phiếu mà lợi tức được xác định
theo một tỷ lệ phần trăm (%) cố định tính theo mệnh giá
- Trái phiếu có lãi suất biến đổi (lãi suất thả nổi): Là loại trái phiếu mà lợi
tức được trả trong các kỳ có sự khác nhau và được tính theo một lãi suất có sự biếnđổi theo một lãi suất tham chiếu
- Trái phiếu có lãi suất bằng không: Là loại trái phiếu mà người mua không
nhận được lãi, nhưng được mua với giá thấp hơn mệnh giá (mua chiết khấu) vàđược hoàn trả bằng mệnh giá khi trái phiếu đó đáo hạn
• Dựa vào mức độ đảm bảo thanh toán của người phát hành
- Trái phiếu có bảo đảm: Là loại trái phiếu được bảo đảm thanh toán toàn bộ
hoặc một phần gốc, lãi khi đến hạn bằng tài sản của doanh nghiệp phát hành hoặctài sản của bên thứ ba; hoặc được bảo lãnh thanh toán của tổ chức tài chính, tíndụng có chức năng cung cấp dịch vụ bảo lãnh thanh toán
- Trái phiếu không bảo đảm: Là loại trái phiếu phát hành không có tài sản
làm vật bảo đảm mà chỉ bảo đảm bằng uy tín và tiềm lực của người phát hành
• Dựa vào tính chất trái phiếu
- Trái phiếu có thể chuyển đổi: Là loại trái phiếu của công ty cổ phần mà
trái chủ được quyền chuyển sang cổ phiếu của công ty đó Việc này được quy định
cụ thể về thời gian và tỷ lệ khi mua trái phiếu
- Trái phiếu có quyền mua cổ phiếu: Là loại trái phiếu có kèm theo phiếu
cho phép trái chủ được quyền mua một số lượng nhất định cổ phiếu của công ty
- Trái phiếu có thể mua lại: Là loại trái phiếu cho phép nhà phát hành được
Trang 6quyền mua lại một phần hay toàn bộ trước khi trái phiếu đến hạn thanh toán
4. Ưu và nhược điểm của huy động vốn bằng trái phiếu
• Lợi tức trái phiếu được trừ vào
thu nhập chịu thuế khi tính thuế
thu nhập doanh nghiệp
Ở hầu hết các nước, lợi tức trái
phiếu được xem như một khoản chi phí
được trừ vào thu nhập chịu thuế khi xác
định thuế thu nhập doanh nghiệp, điều
này có lợi cho doanh nghiệp do giảm số
thuế phải nộp cho nhà nước (tiết kiệm
tiền thuế), tăng thu nhập của các chủ sở
hữu
• Lợi tức trái phiếu được giới hạn ở
mức độ nhất định
Lợi tức trái phiếu thường được
xác định trước và thường thấp hơn lợi
tức cổ phiếu ưu đãi Nếu doanh nghiệp
có triển vọng tốt trong kinh doanh, có
khả năng thu lợi nhuận thì việc sử dụng
trái phiếu để huy động thêm vốn vay sẽ
nâng cao tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở
hữu mà không phải chia sẻ quyền phân
chia thu nhập cao cho các trái chủ
• Chi phí phát hành trái phiếu thấp
hơn so với cổ phiếu thường và cổ
phiếu ưu đãi
Trái phiếu hấp dẫn công chúng ở
mức rủi ro thấp hơn cổ phiếu thường và
cổ phiếu ưu đãi, vì vậy, chi phí cho việc
tuyên truyền quảng cáo, phát hành và
bán trái phiếu là thấp hơn Khi doanh
nghiệp có hệ số tín nhiệm càng cao thì
các chi phí đó càng thấp.
• Chủ sở hữu doanh nghiệp không
• Buộc phải trả lợi tức cố định đúnghạn
Sử dụng trái phiếu buộc doanh nghiệp phải có nghĩa vụ trả lợi tức cố định và đúng kỳ hạn cho các trái chủ Điều này có thể gây căng thẳng về mặt tài chính và dễ dẫn tới nguy cơ rủi ro trong trường hợp doanh thu và lợi nhuận không ổn định, doanh nghiệp không có đủ nguồn tài chính để trang trải lợi tức trái phiếu.
• Làm tăng hệ số nợ của doanhnghiệp
Việc tăng vốn bằng cách phát hành trái phiếu sẽ làm tăng hệ số nợ và mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp Điều này một mặt có thể nâng cao thu nhập của chủ sở hữu khi doanh nghiệp làm ăn có lãi; mặt khác, cũng làm tăng nguy cơ rủi ro, đe dọa sự tồn tại của doanh nghiệp trong trường hợp doanh nghiệp không đảm bảo khả năng thanh toán các khoản nợ đúng hạn.
• Phải trả nợ gốc đúng kỳ hạn
Phát hành trái phiếu là sử dụng
nợ vay có kì hạn hoàn trả, do vậy doanh nghiệp buộc phải lo việc hoàn trả nợ tiền vay đúng kỳ hạn Điều này có thể làm mất đi các cơ hội đầu tư khi cái dòng tiền của doanh nghiệp phải sử dụng để trả cho trái chủ.
• Việc sử dụng trái phiếu để tài trợnhu cầu tăng vốn của doanh
Trang 7bị chia sẻ quyền quản lý và kiểm
soát doanh nghiệp cho các trái
chủ
Với trái phiếu thông thường, trái
chủ là chủ nợ của doanh nghiệp, trái
chủ không có quyền biểu quyết Do vậy
việc phát hành trái phiếu để huy động
tăng vốn không ảnh hưởng gì tới quyền
quản lý và kiểm soát doanh nghiệp của
các chủ sở hữu doanh nghiệp hiện hành
• Giúp doanh nghiệp chủ động điều
chỉnh cơ cấu vốn một cách linh
hoạt
Khi doanh nghiệp làm ăn thành
đạt, có thể tăng huy động vốn vay nhằm
mở rộng thị trường và tăng tỷ suất lợi
nhuận vốn chủ sở hữu Ngược lại, khi
thị trường biến động theo hướng bất lợi,
để thu hẹp quy mô kinh doanh, doanh
nghiệp có thể chủ động giảm vốn bằng
cách mua lại trái phiếu trước thời hạn
(nếu doanh nghiệp phát hành loại trái
phiếu có thể mua lại) Vì vậy, trái phiếu
được doanh nghiệp sử dụng một cách
linh hoạt trong việc điều chỉnh cơ cấu
vốn kinh doanh, đảm bảo sử dụng vốn
tiết kiệm và hiệu quả
• Với trái phiếu chuyển đổi, doanh
nghiệp có thể huy động vốn
nhanh chóng và dễ dàng, đồng
thời làm tăng nguồn vốn dài hạn,
tăng mức độ vững chắc về tài
chính của công ty
Quyền được chuyển đổi từ trái chủ
thành cổ đông khi doanh nghiệp kinh
doanh thành đạt, hoặc không chuyển
đổi khi doanh nghiệp gặp khó khăn là
một trong những yếu tố hấp dẫn các
nhà đầu tư Đồng thời, việc chuyển đổi
nghiệp cũng có giới hạn nhất định
Các doanh nghiệp không thể để
hệ số nợ vượt quá mức thông thường của các doanh nghiệp trong cùng ngành kinh doanh (hệ số nợ trung bình của ngành), vì đó là giới hạn an toàn về mặt tài chính mà các doanh nghiệp phải quan tâm trong tổ chức nguồn vốn của mình Do đó, hệ số nợ chính là yếu tố đặt giới hạn cho khả năng vay nợ nói chung, cũng như việc sử dụng trái phiếu nói riêng của doanh nghiệp.
• Thủ tục phát hành trái phiếu racông chúng của các doanh nghiệpViệt Nam hiện nay khá phức tạp
Để có thể phát hành trái phiếu công ty phải đảm bảo những điều kiện sau:
- Công ty phải có mức vốn điều lệ tối thiểu đã góp tại thời điểm đăng ký phát hành trái phiếu theo quy định
- Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký phát hành phải có lãi
- Có phương án khả thi về việc sử dụng
và trả nợ vốn thu được từ đợt phát hành trái phiều
• Với trái phiếu chuyển đổi, doanh
Trang 8trái phiếu thành cổ phiếu thường vừa
làm lợi tức cổ phần tăng lên, vừa có ý
nghĩa chuyển đổi một khoản nợ phải trả
thành vốn chủ sở hữu, sẽ làm tăng
nguồn vốn chủ sở hữu, tăng thêm nguồn
vốn dài hạn và khả năng tự chủ về tài
chính của công ty.
nghiệp phải chia sẻ quyền quản lý
và kiểm soát công ty cho các cổđông mới, do đó làm giảm thunhập trên một cổ phần của cổđông
Khi trái chủ ra quyết định chuyển đổi, quyền điều hành doanh nghiệp sẽ bị pha loãng do số lượng cổ đông tăng lên Điều này một mặt có vẻ như làm giảm lãi vay dài hạn, tăng thu nhập của doanh nghiệp, tuy nhiên một mặt lại trở thành “chiếc bánh to” phải chia cho nhiều người, làm giảm lợi tức trên một
cổ phần của cổ đông.
5. Một số ưu thế của Trái phiếu so với Cổ phiếu và Vay ngân hàng
• So với Cổ phiếu
- Khả năng tiếp cận nguồn vốn: Phát hành trái phiếu giúp doanh nghiệp
chủ động linh hoạt hơn trong viêc tiếp cận được những nguồn vốn lớn Khi pháthành trái phiếu, doanh nghiệp có quyền chủ động đưa ra những điều kiện linh hoạt
để phù hợp với điều kiện thị trường: như loại trái phiếu phát hành là trái phiếu trơn,trái phiếu chứng quyền, linh hoạt trong việc định lãi trái phiếu (cố định, thả nổi, thảnổi theo kỳ), nên trái phiếu có tiềm năng hấp dẫn nhà đầu tư hơn Doanh nghiệpphát hành cổ phiếu không có được đặc tính này Tuy nhiên, tiền huy động được từtrái phiếu thường đến từ các nguồn đầu tư mang tính dài hạn nên không phải doanhnghiệp nào cũng có thể tiếp cận kênh huy động vốn này
- Khả năng làm pha loãng sở hữu khi có thêm nguồn vốn: Trái phiếu là
vốn nợ nên phát hành trái phiếu không làm pha loãng quyền sở hữu của chủ doanhnghiệp, trừ trường hợp trái phiếu chuyển đổi thành cổ phiếu Doanh nghiệp pháthành trái phiếu, trừ trái phiếu chuyển đổi thành cổ phiếu có thêm nguồn vốn lớn màkhông làm thay đổi cơ cấu sở hữu
Trang 9• So với Vay ngân hàng
So với vay ngân hàng, huy động vốn qua trái phiếu có một số ưu điểm nhưkhông cần có tài sản thế chấp và được chủ động sử dụng số tiền huy động màkhông có sự giám sát của ngân hàng Doanh nghiệp chỉ phải trả lãi theo kỳ hạn 6tháng hoặc 1 năm và chỉ trả gốc vào cuối kỳ Lãi suất trái phiếu không bị khống chếbởi trần lãi suất nên có tính hấp dẫn đối với nhà đầu tư Doanh nghiệp sẽ được giảingân ngay và toàn bộ thay vì việc giải ngân có lộ trình từng đợt
Như vậy, doanh nghiệp huy động được tiền từ trái phiếu sẽ chủ động nguồnvốn hơn trong khi các doanh nghiệp đi vay ngân hàng khi muốn giải ngân phải giảitrình cụ thể, chờ đợi ngân hàng phê duyệt và trong không ít trường hợp, khi tíndụng được giải ngân thì cơ hội kinh doanh đã đi qua Với một số trường hợp, đặcbiệt là khi lãi suất thấp, doanh nghiệp có thể phát hành trái phiếu kỳ hạn dài với lãisuất cố định để tận dụng nguồn vốn với chi phí thấp Trong khi đối với hình thức đivay ngân hàng thông thường, lãi suất thường là thả nổi và sẽ được rà soát thay đổiđịnh kỳ
Trang 10II. Thực trạng hoạt động huy động vốn bằng trái phiếu của doanh nghiệp
1. Quá trình hình thành và phát triển thị trường trái phiếu Doanh nghiệp Việt Nam.
Năm 1994: thị trường trái phiếu doanh nghiệp ra đời gắn với nghị định số
120/1994/NĐ-CP của Chính phủ về việc phát hành cổ phiếu, trái phiếu doanhnghiệp Nhà nước Từ đó đến trước năm 2006, việc phát hành trái phiếu doanhnghiệp diễn ra lác đác ở một vài doanh nghiệp Nhà nước
Năm 2006 là năm được đánh giá là thời kỳ “bùng nổ” của thị trường chứng
khoán Việt Nam, với sự ra đời của nghị định 52/2006/NĐ-CP đã tạo bước ngoặtcho thị trường phát triển, chủ thể phát hành trái phiếu doanh nghiệp đc mở rộnghơn, không chỉ có các doanh nghiệp nhà nước mà bao gồm cả công ty trách nhiệmhữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Tổng giá trị tráiphiếu phát hành năm 2006 lên đến khoảng 22000 tỷ đồng (bao gồm cả trái phiếucủa các ngân hàng thương mại)
Năm 2007 tiếp tục chứng kiến sự tăng trưởng mạnh mẽ cả về số lượng và
chất lượng của thị trường trái phiếu doanh nghiệp Số lượng doanh nghiệp tiếnhành huy động vốn qua kênh trái phiếu là 27 doanh nghiệp, tổng giá trị vốn huyđộng là 36000 tỷ đồng
Năm 2008, thị trường tài chính nói chung và thị trường trái phiếu doanh
nghiệp Việt Nam nói riêng không thoát khỏi ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tàichính thế giới Tuy nhiên, thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam vẫn cónhững bước phát triển nhất định
Năm 2009, thị trường tiếp tục phát triển, có khoảng 39 giao dịch phát hành
trái phiếu, tổng vốn huy động đạt gần 45500 tỷ đồng
Năm 2010, tổng giá trị phát hành đạt 47000 tỷ đồng, tăng 76% so với 2009.
Khối lượng phát hành năm 2010 là 30000 tỷ đồng
Trang 11Năm 2011, thị trường trái phiếu doanh nghiệp trầm lắng xuống do Chính phủ
áp dụng chính sách tài khóa và tiền tệ thắt chặt, đồng thời kiểm soát chặt chẽ hơnviệc phát hành trái phiếu của doanh nghiệp Khối lượng phát hành năm 2011 chỉ đạt
25000 tỷ đồng
Năm 2012, doanh nghiệp gặp khó khăn khi tiếp cận tín dụng ngân hàng do
thiếu tài sản đảm bảo, chứng minh năng lực tài chính cũng như vấn đề nợ xấu nênnhiều doanh nghiệp quan tâm hơn đến huy động vốn qua kênh trái phiếu, vì vậy,
28707 tỷ đồng trái phiếu doanh nghiệp đã được phát hành trong năm 2012
Năm 2013, được coi là năm “được mùa” của trái phiếu doanh nghiệp khi giá
trị phát hành lên tới 34.412 tỷ đồng
Năm 2014, trong khi các doanh nghiệp lớn tận dụng thực trạng khối ngân
hàng dư thừa thanh khoản và mặt bằng lãi suất thấp kỉ lục để phát hành trái phiếucho ngân hàng, thì các doanh nghiệp nhỏ và vừa lại gặp khó khăn trong huy độngbằng kênh này Tổng giá trị phát hành trái phiếu doanh nghiệp chỉ đạt 11,8 nghìn tỷđồng
2. Ví dụ minh hoạ huy động vốn bằng phát hành trái phiếu
CÔNG TY CỔ PHẦN DU LỊCH VINPEARLLAND
(Giấy chứng nhận ĐKKD số 4200456848 do Sở KH&ĐT tỉnh Khánh Hòa
cấp thay đổi lần thứ 12 ngày 04 tháng 8 năm 2009 )
CHÀO BÁN TRÁI PHIẾU RIÊNG LẺ
Tổ chức phát hành Công Ty Cổ Phần Du Lịch Vinpearlland
Đối tượng chào bán
- 1.000 trái phiếu kỳ hạn 3 năm tương đương 1.000 tỷĐồng mệnh giá
- 1.000 trái phiếu kỳ hạn 5 năm tương đương 1.000 tỷĐồng mệnh giá
Quyền ưu tiên thanh
toán
Trái Phiếu xác lập nghĩa vụ trả nợ trực tiếp, có bảo đảmcủa Tổ Chức Phát Hành, các Trái Phiếu phát hành cùngđợt có quyền ưu tiên thanh toán ngang nhau
Ngày phát hành Ngày 12 tháng 10 năm 2009
Giá phát hành 100% (Mệnh giá)
Trang 12Ngày trả lãi Là ngày 12 tháng 4 hàng năm và ngày 12 tháng 10 hàngnămNgày đáo hạn
- Là ngày 12 tháng 10 năm 2012 đối với loại trái phiếu
có kỳ hạn 3 năm
- Là ngày 12 tháng 10 năm 2014 đối với loại trái phiếu
có kỳ hạn 5 năm
Lãi suất và Tiền lãi
Trái phiếu có lãi suất cố định năm đầu bằng 12%/nămcho kỳ hạn 03 năm và 12,5%/năm cho kỳ hạn 05 năm;thả nổi từ năm thứ 2; 12 tháng điều chỉnh một lần, đượcxác định bằng lãi suất trần (cao nhất) huy động tiết kiệm
kỳ hạn 12 tháng trả lãi sau của Ngân hàng TMCP Côngthương Việt Nam tại ngày xác định lãi suất cộng biên độ3%/năm cho kỳ hạn 3 năm và 3,5%/năm cho kỳ hạn 5năm
Tài sản bảo đảm
Trong tương lai, Trái phiếu có bảo đảm nghĩa vụ thanhtoán lãi và gốc bằng tài sản của bên thứ 3 Tài sản bảođảm là toàn bộ Quyền sử dụng Lô đất tại số 74 NguyễnTrãi, Thanh Xuân, Hà Nội thuộc Dự án Tổ hợp kháchsạn, văn phòng, trung tâm thương mại, giao dịch và căn
hộ - Royal City, các tài sản hình thành trên đất trongtương lai và các quyền tài sản phát sinh từ hoạt động đầu
tư kinh doanh của dự án này của chủ đầu tư là Công ty
CP Đầu tư và Phát triển Địa ốc Thành phố Hoàng gia
Giá hoàn trả 100% (Mệnh giá)
Hoàn trả
Trái Phiếu sẽ được hoàn trả với giá hoàn trả bằng vớikhoản tiền gốc của Trái Phiếu tương ứng cộng với tiền lãicộng dồn và tiền lãi chưa được thanh toán, nếu có, tínhtới ngày hoàn trả
Ngày Hoàn trả Cuối
cùng
Trừ khi được hoàn trả, mua lại hoặc hủy bỏ trước hạntheo các Điều Khoản và Điều Kiện của Trái Phiếu, TráiPhiếu sẽ đáo hạn và được thanh toán bằng mệnh giá vàoNgày Đáo Hạn
Vi phạm nghĩa vụ đối
với Bên thứ ba
Bất kỳ khoản nợ nào của Tổ Chức Phát Hành và cácCông Ty Thành Viên của Tổ Chức Phát Hành có tổng nợgốc từ 50 tỷ Đồng trở lên hoặc tương đương bằng cácđồng tiền khác phải trả trước thời hạn sẽ được coi là một
Trang 13Đại lý Đăng ký lưu ký Công ty cổ phần Chứng khoán Ngân Hàng Côngthương Việt Nam.
Sử dụng tiền thu được
Tiền thu được từ việc phát hành Trái Phiếu sẽ được sửdụng để bổ sung vốn hoạt động cho Công ty nhằm tài trợcho việc đầu tư các Dự án Tổ hợp khách sạn, văn phòng,trung tâm thương mại, giáo dục và căn hộ - Thành PhốHoàng Gia “Royal City” và Dự án Khu du lịch sinh tháiVinpearl Hội An
Thuế
Tất cả các khoản thanh toán liên quan đến Trái Phiếu sẽ
bị khấu lưu hay khấu trừ thuế trong trường hợp pháp luậtViệt Nam quy định
Niêm yết
Hiện tại Tổ Chức Phát Hành chưa dự tính niêm yết TráiPhiếu tại bất kỳ sở giao dịch chứng khoán hoặc trung tâmgiao dịch chứng khoán nào
Luật điều chỉnh Luật Việt Nam
3. Những hạn chế của trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam
• Quy mô thị trường trái phiếu doanh nghiệp nói riêng của Việt Nam còn khiêm tốn
Thị trường trái phiếu doanh nghiệp còn rất nhỏ so với quy mô của thị trường
cổ phiếu và trái phiếu chính phủ Tính đến ngày 30/9/2014, quy mô vốn hóa củacác cổ phiếu niêm yết trên HOSE và Sở GDCK Hà Nội (HNX) đạt 1,2 triệu tỷđồng, tổng giá trị phát hành trái phiếu chính phủ đạt 790 nghìn tỷ đồng, trong khitổng giá trị phát hành trái phiếu doanh nghiệp chỉ đạt 11,8 nghìn tỷ đồng, bằng 1%vốn hóa thị trường cổ phiếu và bằng 1,5% tổng giá trị phát hành trái phiếu chínhphủ
Trong khi đó, thị trường trái phiếu doanh nghiệp đã phát triển rất mạnh tại