1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo trình Kinh tế vi mô (Nghề: Kinh doanh thương mại - Cao đẳng) - Trường Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp

71 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo trình Kinh tế vi mô (Nghề: Kinh doanh thương mại - Cao đẳng)
Tác giả Lê Vi Sa
Trường học Trường Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp
Chuyên ngành Kinh doanh thương mại
Thể loại Giáo trình
Năm xuất bản 2018
Thành phố Đồng Tháp
Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ HỌC (8)
    • 1. KINH TẾ HỌC (8)
      • 1.1 Khái niệm (8)
      • 1.2 Phân biệt kinh tế vi mô và vĩ mô (9)
      • 1.3 Ba vấn đề kinh tế cơ bản (9)
    • 2. CÁC MÔ HÌNH KINH TẾ (10)
      • 2.1 Mô hình kinh tế tập trung (10)
      • 2.2 Mô hình kinh tế thị trường (11)
      • 2.3 Mô hình kinh tế hỗn hợp (11)
    • 3. ĐƯỜNG GIỚI HẠN KHẢ NĂNG SẢN XUẤT (11)
  • CHƯƠNG 2 CUNG, CẦU VÀ GIÁ CẢ THỊ TRƯỜNG (16)
    • 1. CẦU (16)
      • 1.2 Cầu cá nhân và cầu thị trường (17)
      • 1.3 Luật cầu (18)
      • 1.4 Các yếu tố hình thành cầu (0)
      • 1.5 Sự thay đổi của lƣợng cầu và của cầu (22)
    • 2. CUNG (23)
      • 2.1 Khái niệm (23)
      • 2.2 Cung cá nhân và cung thị trường (24)
      • 2.3 Luật cung (24)
      • 2.4 Các yếu tố hình thành cung (0)
      • 2.5 Sự thay đổi của lƣợng cung và của cung (0)
    • 3. MỐI QUAN HỆ CUNG CẦU (28)
      • 3.1 Trạng thái cân bằng (28)
      • 3.2 Dƣ thừa và thiếu hụt (29)
      • 3.3 Sự thay đổi trạng thái cân bằng và kiểm soát giá (30)
    • 4. SỰ CO GIÃN CUNG- CẦU (33)
      • 4.1 Sự co giãn của cầu (33)
      • 4.2 Sự co giãn của cung theo giá (35)
  • CHƯƠNG 3 LÝ THUYẾT HÀNH VI TIÊU DÙNG (38)
    • 1. LÝ THUYẾT VỀ LỢI ÍCH (38)
      • 1.1 Một số khái niệm (38)
      • 1.2 Qui luật của lợi ích biên giảm dần (39)
    • 2. LỰA CHỌN TIÊU DÙNG TỐI ƢU (0)
      • 2.1 Sở thích của người tiêu dùng (40)
      • 2.2 Sự lựa chọn của người tiêu dùng (40)
  • CHƯƠNG 4 LÝ THUYẾT HÀNH VI CỦA DOANH NGHIỆP (47)
    • 1. LÝ THUYẾT VỀ SẢN XUẤT (47)
      • 1.1 Hàm sản xuất (47)
      • 1.2 Sản xuất trong ngắn hạn (48)
      • 1.3 Sản xuất trong dài hạn (48)
    • 2. LÝ THUYẾT VỀ CHI PHÍ (50)
      • 2.1 Chi phí sản xuất (50)
      • 2.2 Chi phí ngắn hạn (51)
      • 2.3 Chi phí dài hạn (54)
    • 3. LÝ THUYẾT VỀ DOANH THU VÀ LỢI NHUẬN (55)
      • 3.1 Doanh thu (55)
      • 3.2 Lợi nhuận (56)
    • 4. PHƯƠNG ÁN SẢN XUẤT TỐI ƯU (56)
  • CHƯƠNG 5 CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG (60)
    • 1. CẠNH TRANH HOÀN HẢO (60)
      • 1.2 Ngƣỡng sinh lời- ngƣỡng đóng cửa (61)
      • 1.3 Đường cung trong ngắn hạn (62)
      • 1.4 Thặng dƣ sản xuất (63)
      • 1.5 Cân bằng thị trường trong dài hạn (64)
    • 2. ĐỘC QUYỀN (65)
      • 2.1 Đặc điểm thị trường, lí do tồn tại độc quyền (65)
      • 2.2 Cân bằng thị trường- tối đa hoá lợi nhuận (66)
      • 2.3 Chính sách phân biệt giá (67)
      • 2.4 Chính sách quản lý của chính phủ: Giá tối đa, thuế theo sản lƣợng, thuế không theo sản lƣợng (68)

Nội dung

Giáo trình Kinh tế vi mô giúp các bạn nhận định được các vấn đề kinh tế cơ bản của các chủ thể trong nền kinh tế; cung cầu và sự hình thành giá cả hàng hóa trên thị trường; các yếu tố sản xuất; cạnh tranh và độc quyền. Mời các bạn cùng tham khảo!

TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ HỌC

KINH TẾ HỌC

Hoạt động kinh tế là các hoạt động thường xuyên của con người, bao gồm mua bán hàng hóa, mua bán tài sản tài chính và hoạt động tín dụng như đi vay, cho vay Do các hoạt động kinh tế nhằm mục đích tạo ra sản phẩm hay dịch vụ để thỏa mãn nhu cầu của con người, chúng đóng vai trò hết sức quan trọng trong đời sống xã hội Vì vậy, hình thành một môn khoa học nghiên cứu hoạt động kinh tế là rất cần thiết, và đây chính là lý do ra đời của kinh tế học.

Hiện nay, định nghĩa phổ biến về kinh tế học coi đây là một môn khoa học nghiên cứu cách con người sử dụng nguồn tài nguyên có hạn để đáp ứng nhu cầu vô hạn của mình Định nghĩa này nhấn mạnh hai khía cạnh cốt lõi của kinh tế học: sự giới hạn của nguồn lực và sự gia tăng không ngừng của nhu cầu, từ đó giải thích vì sao các quyết định sản xuất, tiêu dùng và phân bổ nguồn lực được nghiên cứu để tối ưu hóa hiệu quả và thịnh vượng cho xã hội.

Nguồn tài nguyên dùng để sản xuất của cải vật chất là có giới hạn, nên không thể đáp ứng được tất cả các nhu cầu của con người Sự khan hiếm này giới hạn sự lựa chọn của xã hội và cả cơ hội sống của mỗi cá nhân Ví dụ, mỗi người không thể tiêu dùng nhiều hơn thu nhập của mình và mỗi ngày chỉ có đúng 24 giờ để phân bổ cho các hoạt động Do đó, sự lựa chọn của con người chính là quá trình tính toán và quyết định phân bổ nguồn lực — tài nguyên thiên nhiên, vốn và lao động — sao cho tối ưu hoá lợi ích và hạn chế lãng phí.

Hai là, mối quan tâm về cách nguồn tài nguyên được phân phối như thế nào Bằng cách xem xét các hoạt động của người tiêu dùng, nhà sản xuất và chính phủ, chúng ta có thể nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến phân bổ tài nguyên, từ động lực thị trường đến chính sách quản lý và ưu tiên nguồn lực Việc phân tích vai trò của từng bên giúp làm rõ cơ chế phân phối tài nguyên, tác động của giá cả, quyền sở hữu và sự ưu tiên trong tiêu dùng, từ đó hướng tới phân bổ công bằng và bền vững.

9 cung ứng, chính phủ, v.v., các nhà kinh tế học cố gắng tìm hiểu xem nguồn tài nguyên đƣợc phân bổ nhƣ thế nào

1.2 Phân biệt kinh tế vi mô và vĩ mô

Kinh tế học vĩ mô nghiên cứu nền kinh tế quốc dân và kinh tế toàn cầu, nhằm mô tả và phân tích các diễn biến phát triển và biến động ở mức tổng thể, đồng thời xem xét cấu trúc nền kinh tế và mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành Mục tiêu phân tích của kinh tế học vĩ mô là giải thích mức giá bình quân, tổng việc làm, tổng thu nhập và tổng sản phẩm của nền kinh tế, cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến chúng thông qua những biến động của tổng cung và tổng cầu Bên cạnh đó, lĩnh vực này nghiên cứu tác động của các chính sách từ phía nhà nước như thuế, chi tiêu và thâm hụt ngân sách lên tổng việc làm và thu nhập, và đánh giá tác động của chúng tới chi phí cuộc sống bình quân, giá trị sản xuất và chi tiêu ngân sách của một quốc gia.

Kinh tế học vi mô:

Kinh tế học vi mô nghiên cứu hoạt động của các đơn vị kinh tế riêng lẻ, như hoạt động sản xuất của một doanh nghiệp hay hành vi tiêu dùng của một cá nhân Ví dụ, một công ty quyết định cần tuyển bao nhiêu lao động, sản xuất mặt hàng gì và bán sản phẩm với giá bao nhiêu trên thị trường Nói cách khác, kinh tế vi mô tập trung vào cách thức sử dụng và phân bổ nguồn tài nguyên ở quy mô cá nhân và doanh nghiệp, giải thích các quyết định về chi phí, sản lượng và giá cả cũng như tác động của chúng lên hành vi của người tiêu dùng và nhà sản xuất.

1.3 Ba vấn đề kinh tế cơ bản

Do nguồn tài nguyên có hạn và nhu cầu của con người là vô hạn, nguồn tài nguyên—những yếu tố được dùng để tạo ra hàng hóa và dịch vụ—được xem là khan hiếm Chính sự khan hiếm này đòi hỏi kinh tế học phải giải quyết ba vấn đề cơ bản của xã hội: cái gì được sản xuất, làm thế nào được sản xuất và ai sẽ được hưởng thành quả từ sản xuất.

Trong bối cảnh nguồn tài nguyên khan hiếm, quyết định sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ nào, và sản xuất với mức độ như thế nào, đòi hỏi lựa chọn tối ưu dựa trên lợi ích mang lại cho xã hội trong một khoảng thời gian nhất định Nguồn lực hạn chế buộc chúng ta ưu tiên các mục tiêu có tác động lớn nhất, ví dụ giữa sản xuất vũ khí phục vụ quốc phòng và sản xuất lương thực đáp ứng nhu cầu hàng ngày; giữa xây dựng cơ sở y tế nhằm chăm sóc sức khỏe nhân dân và mở rộng nhà ở phục vụ cuộc sống người dân; đồng thời đặt bài toán về mức sản xuất: tăng thêm một loại hàng hóa đồng nghĩa với giảm bớt các loại hàng hóa khác do chi phí cơ hội và nguồn lực bị giới hạn Đây chính là trọng tâm của quyết định phân bổ nguồn lực, tối ưu hóa sản xuất và đảm bảo an sinh xã hội.

Trong một nền kinh tế, số lượng và sự đa dạng của hàng hóa được sản xuất phải phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng Theo nguyên tắc cung cầu, các quyết định sản xuất dựa trên tín hiệu thị trường: khi nhu cầu tăng lên, doanh nghiệp mở rộng sản lượng; khi nhu cầu giảm, sản lượng được thu hẹp để tránh lãng phí nguồn lực Việc cân bằng cung cầu giúp tối ưu hóa nguồn lực, giảm chi phí và đảm bảo hàng hóa được phân phối đúng người đúng thời điểm với mức giá phù hợp Do đó, sự thích nghi của quá trình sản xuất với xu hướng tiêu dùng là yếu tố then chốt cho hiệu quả kinh tế.

Vấn đề sản xuất liên quan đến xác định nguồn lực được dùng và phương pháp để sản xuất ra các sản phẩm và dịch vụ; có rất nhiều cách làm khác nhau Ví dụ, để xây một bể bơi ta có thể dùng máy ủi trong vòng một ngày hoặc 30 công nhân với dụng cụ thô sơ trong vòng một tuần Việc thu hoạch trong nông nghiệp có thể làm bằng tay hay bằng máy tùy theo lựa chọn của người nông dân Áo quần có thể may tại nhà hoặc tại các nhà máy với dây chuyền công nghiệp Lựa chọn cách thức sản xuất tối ưu cho từng loại sản phẩm là một câu hỏi quan trọng đối với các quốc gia trên thế giới Trong nền kinh tế thị trường, các nhà sản xuất theo đuổi lợi nhuận bằng cách tìm kiếm nguồn lực có chi phí thấp nhất có thể (giả định lượng và chất lượng sản phẩm không thay đổi) Các phương pháp và kỹ thuật sản xuất mới chỉ được chấp nhận khi chúng làm giảm chi phí sản xuất, trong khi các nhà cung cấp nguồn lực sẽ cung cấp nguồn lực đem lại giá trị cao nhất.

Việc sản xuất nên nhắm tới đối tượng người tiêu dùng và cách phân phối phù hợp, vì phân phối có liên quan mật thiết đến thu nhập và sở thích của người tiêu dùng Trong hầu hết các nền kinh tế, vấn đề phân phối hàng hóa rất phức tạp do bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố thị trường và thể chế Một câu hỏi tổng quát được đặt ra là liệu chúng ta có nên phân phối hàng hóa nhiều cho người giàu hơn hay cho người nghèo hay ngược lại?

CÁC MÔ HÌNH KINH TẾ

Dựa vào cách thức giải quyết ba vấn đề cơ bản của kinh tế học, các quốc gia trên thế giới đang áp dụng ba mô hình kinh tế chủ yếu: mô hình kinh tế thị trường tự do, nơi quyết định sản xuất và phân phối dựa trên cơ chế thị trường; mô hình kinh tế mệnh lệnh (hay kế hoạch hóa tập trung), nơi nhà nước chỉ đạo nguồn lực và hoạt động sản xuất để đạt mục tiêu kinh tế – xã hội; và mô hình kinh tế hỗn hợp, kết hợp giữa cơ chế thị trường và sự can thiệp của Nhà nước nhằm cân bằng hiệu quả kinh tế với tính công bằng xã hội.

2.1 Mô hình kinh tế tập trung

Kinh tế kế hoạch hóa tập trung là mô hình mà chính phủ đảm nhận vai trò quyết định trực tiếp về sản xuất và phân phối Cơ quan kế hoạch của chính phủ xác định sản phẩm cần sản xuất, cách thức sản xuất và đối tượng được phân phối như thế nào để đạt được các mục tiêu kinh tế xã hội Các kế hoạch và chỉ thị cụ thể sau đó được phổ biến tới các hộ gia đình và doanh nghiệp để thực hiện đúng theo định hướng nhà nước Trong mô hình này, nguồn lực được điều phối tập trung nhằm điều chỉnh cung cầu và phân bổ nguồn lực theo kế hoạch, ưu tiên các mục tiêu công cộng và đảm bảo sự đồng bộ giữa sản xuất và phân phối.

11 dụ, ở Liên Xô cũ, cơ quan kế hoạch nhà nước hoạch định kế hoạch cho tất cả các vấn đề kinh tế của đất nước

2.2 Mô hình kinh tế thị trường

Trong kinh tế thị trường, các quyết định tiêu dùng của cá nhân, quyết định của doanh nghiệp về loại sản phẩm và phương thức sản xuất, cũng như quyết định của người lao động về nơi làm việc và người sử dụng lao động, đều chịu tác động của giá cả thị trường Thị trường tự do hoàn toàn là thị trường mà nhà nước không can thiệp vào các hoạt động kinh tế.

2.3 Mô hình kinh tế hỗn hợp

Kinh tế hỗn hợp là nền kinh tế mà chính phủ vận hành nền kinh tế dựa trên tín hiệu thị trường, kết hợp các ưu điểm của kinh tế kế hoạch hóa tập trung và kinh tế thị trường Trong mô hình này, chính phủ có thể hạn chế những khiếm khuyết và phát huy các lợi thế của cả hai khuôn khổ, từ đó tối ưu hóa phân bổ nguồn lực và đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô Do đó, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều áp dụng mô hình kinh tế hỗn hợp để thúc đẩy tăng trưởng đồng thời với an sinh xã hội Mức độ can thiệp của nhà nước quyết định nền kinh tế lệch về hướng thị trường hay kế hoạch tập trung Tùy hoàn cảnh và mục tiêu phát triển, nền kinh tế hỗn hợp có thể cân bằng giữa tự do thị trường và sự điều tiết của nhà nước.

ĐƯỜNG GIỚI HẠN KHẢ NĂNG SẢN XUẤT

Đường giới hạn khả năng sản xuất (PPF) là một trong những công cụ kinh tế đơn giản nhất để minh họa tính khan hiếm nguồn lực và sự lựa chọn kinh tế Đường này mô tả các tổ hợp sản phẩm tối đa mà một nền kinh tế có thể sản xuất khi sử dụng toàn bộ nguồn lực sẵn có, đồng thời phản ánh giới hạn do trình độ công nghệ hiện có Giả sử nền kinh tế chỉ sản xuất hai loại hàng hóa X và Y, và toàn bộ yếu tố sản xuất được dành cho ngành X, nền kinh tế có thể sản xuất tối đa 100 đơn vị hàng hóa X và không sản xuất được bất kỳ đơn vị nào của Y.

Khi toàn bộ yếu tố sản xuất được tập trung vào ngành Y, 300 đơn vị hàng hóa Y sẽ được sản xuất và không có đơn vị hàng hóa X nào được sản xuất (điểm D trên hình 1.1) Ở các phương án phân bổ nguồn lực ở mức trung gian, nếu nguồn lực được phân bổ cho cả hai ngành, nền kinh tế có thể sản xuất 70 đơn vị hàng hóa X và 200 đơn vị hàng hóa Y tại điểm B, hoặc 60 đơn vị hàng hóa X và 220 đơn vị hàng hóa Y.

Đường giới hạn khả năng sản xuất (PPF) cho thấy các điểm A, B, C, D và các điểm tương tự khác thể hiện các mức sản lượng tối đa mà nền kinh tế có thể đạt được khi phân bổ nguồn lực giữa hai hàng hóa Mỗi điểm trên đường phản ánh mức sản xuất tối đa của một loại hàng hóa khi một hàng hóa kia ở một mức sản xuất tương ứng Ví dụ, khi nền kinh tế sản xuất 70 đơn vị X, nguồn lực có hạn cho phép tối đa 200 đơn vị Y; muốn sản xuất nhiều Y hơn (ví dụ 220), nền kinh tế phải giảm sản lượng X xuống còn 60.

Nền kinh tế không thể sản xuất ra một tổ hợp hàng hóa nào đó nằm ngoài đường giới hạn khả năng sản xuất (điểm E) Điểm E nằm ngoài năng lực sản xuất tại thời điểm được xét, nên được gọi là điểm không khả thi Nền kinh tế chỉ có thể sản xuất ở những điểm nằm trên hoặc bên trong đường giới hạn khả năng sản xuất (gọi là các điểm khả thi) Những điểm nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất (ví dụ A, B, C, D) được coi là các điểm hiệu quả, biểu thị mức sản lượng tối đa mà nền kinh tế có thể đạt được dựa trên các nguồn lực và công nghệ hiện có.

Ở các điểm trên đường giới hạn khả năng sản xuất, ta không thể tăng sản lượng của một loại hàng hóa nếu không cắt giảm sản lượng hàng hóa còn lại, vì toàn bộ nguồn lực khan hiếm đã được sử dụng và không có sự lãng phí Ngược lại, một điểm nằm trong đường giới hạn khả năng sản xuất, như điểm F trên hình 1.1, cho thấy trạng thái không hiệu quả của nền kinh tế: nguồn lực còn chưa được sử dụng đầy đủ hoặc đang bị lãng phí, khiến sản lượng có thể đạt được thấp hơn khả năng sản xuất Tại trạng thái không hiệu quả, xét về khả năng, người ta có thể tận dụng các nguồn lực hiện có để tăng sản lượng một loại hàng hóa mà không buộc phải giảm sản lượng hàng hóa khác, thậm chí có thể đồng thời tăng sản lượng của cả hai loại hàng hóa.

Giới hạn khả năng sản xuất của một xã hội được xác định bởi sự khan hiếm của các nguồn lực, vì vậy xã hội phải đối mặt với sự đánh đổi và lựa chọn Khi ở trạng thái hiệu quả trên đường giới hạn khả năng sản xuất, muốn có nhiều hàng hóa X hơn đồng nghĩa với việc phải từ bỏ một lượng hàng hóa Y nhất định, và ngược lại Cái giá phải trả để có thêm X chính là sự hi sinh Y; sự đánh đổi này là bản chất của các quyết định kinh tế Cuối cùng, điểm mà xã hội chọn trên đường giới hạn khả năng sản xuất phụ thuộc vào sở thích của xã hội, và trong các nền kinh tế hiện đại, sự lựa chọn được thực hiện thông qua hoạt động của hệ thống thị trường.

1 Những nhận định nào dưới đ y thuộc phạm vi nghiên cứu của kinh tế học vi mô và những nhận định nào thuộc phạm vi nghiên cứu của kinh tế học vĩ mô? a Đánh thuế cao vào mặt hàng rƣợu bia sẽ hạn chế số lƣợng bia đƣợc sản xuất b Thất nghiệp trong lực lƣợng lao động đ tăng nhanh vào thập niên

Thu nhập của người tiêu dùng tăng sẽ dẫn tới chi tiêu nhiều hơn; khi công nhân nhận được lương cao hơn, họ sẽ mua nhiều hàng xa xỉ hơn; tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế năm nay cao hơn năm trước; các doanh nghiệp sẽ đầu tư vào những ngành có tỷ suất lợi nhuận cao.

2 Bạn có giải quyết ba vấn đề cơ bản của kinh tế trong cuộc sống hàng ngày không? Cho ví dụ minh họa

3 Những nhận định sau đ y mang tính thực chứng hay chuẩn tắc? a Giá dầu lửa những năm 2000 đ tăng gấp đôi so với những năm 90 b Những người có thu nhập cao hơn sẽ được phân phối nhiều hàng hoá hơn c Vào đầu những năm 90, tỷ lệ thất nghiệp ở nước ta tăng đột biến d Hút thuốc không có ích đối với xã hội và không nên khuyến khích e Chính phủ cần áp dụng những chính sách kinh tế để giảm tình trạng thất nghiệp f Để cải thiện mức sống của người nghèo, chính phủ cần tăng trợ cấp đối với họ

4 Những nhận định nào dưới đ y không đúng đối với nền kinh tế kế hoạch tập trung? a Các doanh nghiệp tự do lựa chọn thuê mướn nhân công b Chính phủ kiểm soát phân phối thu nhập

15 c Chính phủ quyết định cái gì nên sản xuất d Giá cả hàng hoá do cung - cầu trên thị trường quyết định

6 Tại sao đường giới hạn khả năng sản xuất có thể minh họa cho sự khan hiếm tài nguyên?

7 Kinh tế học đề cập đến ba vấn đề cơ bản của xã hội: sản xuất ra cái gì, nhƣ thế nào và cho ai Những sự kiện sau đ y liên quan đến vấn đề nào trong ba vấn đề trên? a Các nhà khai khoáng mới phát hiện ra mỏ dầu có trữ lƣợng lớn b Chính phủ điều chỉnh thuế thu nhập sao cho người nghèo được phân phối nhiều hơn từ người giàu c Chính phủ cho phép tƣ nh n hóa một số ngành chủ yếu d Phát minh ra máy vi tính

CUNG, CẦU VÀ GIÁ CẢ THỊ TRƯỜNG

CẦU

Cầu về một loại hàng hoá biểu thị lượng hàng hoá mà người tiêu dùng mong muốn và sẵn sàng mua ở các mức giá xác định Đây phản ánh mối quan hệ giữa giá cả và lượng cầu: khi giá giảm, lượng cầu tăng; khi giá tăng, lượng cầu giảm Việc phân tích cầu giúp hiểu hành vi tiêu dùng, ảnh hưởng của thu nhập, giá của hàng hoá liên quan và kỳ vọng về giá trong tương lai đối với quyết định mua sắm.

Trong định nghĩa này, có mấy điểm cần lưu ý:

Đối với cầu về một hàng hoá, bước đầu cần xem xét khối lượng mà người tiêu dùng muốn và có khả năng mua trong một khoảng thời gian nhất định Khối lượng này bị ảnh hưởng bởi mức giá tại thời điểm quyết định mua; khi giá hàng hoá thay đổi, lượng hàng người tiêu dùng sẵn sàng mua cũng sẽ biến động Vì vậy, cầu về một hàng hoá thực chất là mối quan hệ giữa hai biến số: lượng hàng mà người tiêu dùng muốn và có khả năng mua, và các mức giá tương ứng Lượng cầu luôn gắn với một mức giá cụ thể và được gọi là lượng cầu hay mức cầu về hàng hoá.

Trong kinh tế học, khi diễn đạt mối quan hệ giữa lượng cầu và giá cả của một loại hàng hoá, ta giả định các yếu tố liên quan đến nhu cầu như thu nhập và sở thích được giữ nguyên Vì vậy, một đường cầu cho hàng hoá đó được xác định trong điều kiện các yếu tố ngoại cảnh này không đổi Tại đây, ta tập trung vào cách lượng cầu biến đổi khi mức giá của hàng hoá thay đổi.

Khái niệm mức giá được đề cập ở đây là mức giá hiện hành của chính hàng hoá mà chúng ta đang xem xét Mức giá này có thể hình thành ở một thời điểm khác, chẳng hạn mức giá dự kiến trong tương lai, hoặc là mức giá của các hàng hoá khác được coi là các yếu tố liên quan.

Thứ tư, trong phân tích kinh tế, ta có thể đề cập tới cầu cá nhân của một người tiêu dùng và đồng thời xem xét cầu của cả thị trường như là cầu tổng hợp từ nhiều cá nhân Cầu cá nhân phản ánh mức độ sẵn lòng chi tiêu của từng người ở các mức giá khác nhau, trong khi cầu thị trường là tổng hợp của tất cả các cầu cá nhân, cho thấy xu hướng tiêu dùng chung và sức mua của toàn bộ thị trường.

Cách biểu thị cầu cho một loại hàng hóa có thể thực hiện theo nhiều cách khác nhau: thông qua một biểu cầu (demand schedule), thông qua một phương trình đại số hoặc thông qua đồ thị cầu Mỗi hình thức đều thể hiện mối quan hệ giữa giá và lượng cầu, giúp dự báo hành vi tiêu dùng và phục vụ cho các phân tích kinh tế thị trường.

1.2 Cầu cá nhân và cầu thị trường

Cầu thị trường là tổng cầu của tất cả các cá nhân tiêu dùng trên thị trường hàng hóa Về khái niệm, đường cầu thị trường được xác lập bằng cách cộng tổng lượng cầu của tất cả cá nhân ở từng mức giá để cho ra tổng cầu ứng với mức giá đó Biểu đồ minh họa dưới đây thể hiện quá trình này bằng một thị trường đơn giản gồm hai cá nhân tiêu dùng là A và B, cho thấy cách tổng hợp nhu cầu của các cá nhân hình thành đường cầu thị trường.

Hình 2.1 Sự hình thành cầu và thị trường

Trong phân tích cung cầu, tổng lượng cầu trên thị trường được xác định bằng tổng lượng cầu của các cá nhân tại mỗi mức giá Ví dụ trên biểu đồ cho thấy ở mức giá 10, cá nhân A mong muốn mua 5 đơn vị hàng hóa và cá nhân B mong muốn mua 10 đơn vị hàng hóa, do đó tổng cầu tại mức giá này bằng 15 đơn vị hàng hóa Việc cộng dồn nhu cầu của từng cá nhân theo từng mức giá giúp hình thành đường cầu thị trường và cho thấy cách thay đổi giá ảnh hưởng đến lượng cầu.

Với mức giá bằng 10 đồng, tổng lượng cầu thị trường là 15 đơn vị hàng hóa (=5+10) Tương tự, lượng cầu thị trường có thể được xác định tại mỗi mức giá khác nhau và từ đó xác định cầu thị trường của hàng hóa.

Đây là một ví dụ khá đơn giản vì trên thị trường thực tế có rất nhiều người mua đối với một mặt hàng cụ thể Một nguyên lý tương tự cần được nắm bắt là đường cầu thị trường được xác định bằng cách cộng dồn lượng cầu của các cá nhân ở mỗi mức giá để hình thành đường cầu thị trường.

Mức giá (nghìn đồng/bộ)

Bảng 2.1 Cầu về quần áo

Cầu đối với áo quần được trình bày trong bảng 2.1 cho thấy một đặc điểm của hành vi người tiêu dùng: khi giá áo quần càng cao, lượng cầu càng giảm Ví dụ, ở mức giá 40.000 đồng mỗi bộ, lượng cầu đạt 160.000 bộ mỗi tuần; khi giá tăng lên 80.000 đồng, khả năng chi trả giảm khiến lượng cầu xuống còn 120.000 bộ mỗi tuần Khi giá tiếp tục tăng, người mua sẽ mua ít hàng hơn, và ở mức 200.000 đồng mỗi bộ, lượng cầu có thể bằng không do người tiêu dùng không chấp nhận mức giá này.

Hình 2.2 Đường cầu Các đặc tính của một đường cầu điển hình (quy luật cầu)

Khi mức giá của một hàng hóa thay đổi, lượng cầu của người tiêu dùng sẽ có sự biến động tương ứng Tuy nhiên, mọi biến thiên này tuân theo một quy tắc cơ bản được thể hiện trong quy luật cầu: với các điều kiện khác giữ nguyên, lượng cầu cho một loại hàng hóa điển hình sẽ tăng khi giá của chính nó giảm và ngược lại khi giá tăng.

Từ ví dụ trên cho thấy cầu của người tiêu dùng đối với một loại hàng hóa phụ thuộc vào giá của mặt hàng đó; khi các yếu tố khác giữ nguyên, giá tăng sẽ làm lượng cầu giảm và ngược lại Vì vậy, với giả định các yếu tố còn lại không đổi, lượng cầu (QD) đối với một hàng hóa có thể được biểu diễn như một hàm số của giá của chính hàng hóa đó, cụ thể: QD = f(P) (2.1).

Một hàm số cầu biểu diễn mối quan hệ giữa số cầu của một mặt hàng và giá của nó, thường được mô tả bằng hàm số bậc nhất (hàm tuyến tính) để tiện cho việc lý giải các vấn đề cơ bản của kinh tế vi mô Do đó, hàm cầu thường có dạng: QD = a + bP hoặc P = α + βQD (2.2), trong đó QD là lượng cầu và P là giá cả, còn a, b, α và β là các hằng số Vì mối quan hệ giữa lượng cầu và giá là nghịch biến nên hệ số b và β không dương (b ≤ 0 và β ≤ 0).

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng cầu

Khi thu nhập tăng lên, cầu đối với hầu hết hàng hóa tăng theo bởi người tiêu dùng có xu hướng chi tiêu nhiều hơn khi có thu nhập cao Tuy nhiên, vẫn có những ngoại lệ, tùy thuộc vào tính chất của từng mặt hàng, như được trình bày dưới đây.

CUNG

Cung ứng một loại hàng hoá cho ta biết số lượng hàng hoá mà nhà sản xuất sẵn sàng cung ứng và bán ở các mức giá khác nhau Ở mỗi mức giá cụ thể được xem xét, nhà sản xuất sẽ sẵn lòng cung cấp một khối lượng hàng hoá nhất định, được gọi tắt là lượng cung (QS) Do đó, cung hàng hoá thể hiện mối quan hệ giữa hai biến số: lượng cung và mức giá của hàng hoá đó, trong một khoảng thời gian xác định.

Trước hết, nghiên cứu tập trung vào mối quan hệ giữa biến số giá cả (P) và biến số sản lượng (QS) khi các yếu tố liên quan được giả định giữ nguyên, nhằm đánh giá tác động của sự biến động giá lên sản lượng Chẳng hạn, khi ra quyết định sản xuất, người ta phải tính tới biến động của giá cả các đầu vào và sự thay đổi về trình độ công nghệ, vì những yếu tố này có thể làm thay đổi mức sản lượng một cách đáng kể.

Trong kinh tế học, có hai khía cạnh cung cần được phân biệt: cung của một doanh nghiệp riêng lẻ và cung của toàn thị trường Cung riêng của một người sản xuất là lượng hàng hoá mà doanh nghiệp đó sẵn sàng bán ở từng mức giá, trong khi cung thị trường là tổng hợp của tất cả các nhà sản xuất cho một loại hàng hoá trên thị trường Sự khác biệt giữa hai khái niệm này chỉ là cách xem xét người sản xuất ở phạm vi hẹp (nhà sản xuất riêng lẻ) hay phạm vi rộng (tổng hợp tất cả các nhà sản xuất trên thị trường).

2.2 Cung cá nhân và cung thị trường

Cung cá nhân là lượng hàng hóa và dịch vụ mà một cá nhân có khả năng và sẵn sàng bán ở các mức giá khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định, giả định các yếu tố khác không đổi Khái niệm này cho thấy cách người bán phản ứng với sự biến động của giá và là nền tảng cho phân tích cung – cầu, giúp dự báo hành vi thị trường của cá nhân khi giá cả thay đổi.

Cung thị trường bằng tổng cung cá nhân tại các mức giá, nó cho biết lượng hàng hoá dịch vụ mà tất cả những người bán trên thị trường có khả năng bán và sẵn sàng bán ở tất cả các mức giá khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định, giả định các nhân tố khác không đổi

Bảng 2.2 Cung đối với bánh quy

Từ bảng này ta có thể thấy rằng, người bán càng muốn bán nhiều hơn ở những mức giá cao hơn Tại mức giá bằng 5000 đồng/hộp, lƣợng cung trên thị trường chỉ có 5000 hộp/tuần Khi giá là 10.000 đồng/hộp, có thể một số nhà sản xuất đ bắt đầu thu được lợi nhuận nên sẵn sàng bán ra thị trường một lượng là 15.000 hộp/tuần Tại những mức giá cao hơn, khả năng thu đƣợc lợi nhuận từ việc bán bánh quy sẽ cao hơn nên các nhà sản xuất sẽ muốn bán ra nhiều hơn Bên cạnh đó, giá cao cũng có thể là động lực để các nhà sản xuất khác gia nhập vào ngành làm số lƣợng doanh nghiệp trong ngành tăng lên, dẫn đến lƣợng cung cũng tăng lên Vậy, giá càng cao lƣợng cung sẽ càng lớn và ngƣợc lại giá càng thấp lƣợng cung sẽ càng giảm

Luật cung cũng chỉ ra rằng đường cung là đường dốc lên (như hình dưới đ y

Rõ ràng, lượng cung của một hàng hóa, dịch vụ phụ thuộc vào giá của chính hàng hóa, dịch vụ đó Lượng cung còn chịu ảnh hưởng của một số yếu tố khác; giả sử các yếu tố này được giữ ở mức không đổi, lượng cung sẽ là một hàm số của giá và ngược với cầu, cung đồng biến với giá Ta có thể biểu diễn hàm cung bằng QS = f(P).

Hàm cung, hay QS, là mối quan hệ giữa lượng cung và giá Các nhà kinh tế học thường dùng hàm số tuyến tính để biểu diễn cung, nên hàm cung thường có dạng QS = a + bP hoặc P = α + βQS, trong đó QS là lượng cung, P là giá, và a, b, α cùng β là các hằng số dương Mô hình này cho thấy khi giá tăng, lượng cung tăng theo hệ số b hoặc β; nhờ đó cung phản ứng dương với sự thay đổi của giá.

2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến cung

Khi công nghệ sản xuất được cải tiến, khả năng của nhà sản xuất được mở rộng và họ có thể sản xuất ra nhiều sản phẩm hơn bằng cách dùng ít đầu vào hơn Điều này khiến cho lượng cung tăng lên tại mỗi mức giá và đường cung dịch chuyển sang bên phải Sự dịch chuyển của đường cung sang phải cho thấy tại mỗi mức giá đã cho, lượng cung cao hơn so với trước đây Ví dụ, cải tiến công nghệ dệt may từ khung cửi sang dệt kim cho phép sản xuất một khối lượng vải lớn hơn và đáp ứng nhu cầu của xã hội hiện đại Mỗi tiến bộ công nghệ như vậy đóng góp vào tăng cung và làm cho thị trường có thêm hàng hóa và dịch vụ.

26 công nghệ mở rộng khả năng cung ứng của các nhà sản xuất Công nghệ càng tiến bộ, giúp các doanh nghiệp sử dụng yếu tố đầu vào ít hơn nhưng lại có thể tạo ra nhiều sản phẩm hơn, nâng cao năng suất và tối ưu hóa chi phí sản xuất Nhờ đổi mới liên tục, các doanh nghiệp có thể tối ưu hóa chuỗi cung ứng, giảm lãng phí và tăng hiệu quả khai thác nguồn lực, từ đó củng cố cạnh tranh và thúc đẩy tăng trưởng bền vững cho ngành sản xuất và chuỗi cung ứng toàn cầu.

2.3.2 Giá cả của các yếu tố đầu vào Để tiến hành sản xuất, các doanh nghiệp cần mua các yếu tố đầu vào trên thị trường các yếu tố sản xuất như lao động, ăng dầu, điện, nước, v.v Giá cả của các yếu tố đầu vào quyết định chi phí sản xuất của các doanh nghiệp Giá cả của các yếu tố đầu vào giảm xuống (thí dụ như tiền lương công nh n, giá nguyên liệu, v.v trở nên rẻ hơn, chẳng hạn) sẽ khiến cho các nhà sản xuất có thể sản xuất nhiều sản phẩm tại mỗi mức giá nhất định Khi đó, đường cung sẽ dịch chuyển sang phải Giá cả các yếu tố đầu vào cao hơn sẽ làm chi phí sản xuất gia tăng Khi đó, các nhà sản xuất sẽ cảm thấy kém hấp dẫn hơn khi sản xuất vì có thể lợi nhuận sẽ thấp hơn và do vậy sẽ cắt giảm sản lƣợng Chẳng hạn, khi giá bột mì tăng lên, các nhà sản xuất bánh mì sẽ cung ít bánh mì hơn ở mỗi mức giá

2.3.3 Giá cả của mặt hang đó trong tương lai

Tương tự như người tiêu dùng, các nhà sản xuất dựa vào dự báo giá trong tương lai để ra quyết định cung ứng hàng hóa Thông thường, các nhà sản xuất sẽ cung ứng nhiều hơn nếu dự báo giá hàng hóa trong tương lai sẽ giảm xuống và ngược lại sẽ cung ứng ít đi nếu giá tăng, giả sử các yếu tố khác không đổi Khi giá trong tương lai tăng lên, các doanh nghiệp có lẽ sẽ dự trữ lại hàng hóa và trì hoãn việc bán trong hiện tại để có thể kiếm được lợi nhuận cao trong tương lai khi giá tăng.

2.3.4 Thuế và các quy định của chính phủ

Chính sách thuế của chính phủ là yếu tố quan trọng tác động đến cung của các nhà sản xuất Khi chính phủ tăng thuế với một ngành sản xuất, chi phí sản xuất của các doanh nghiệp trong ngành đó tăng lên, làm cho ngành kém hấp dẫn và dẫn đến giảm cung hoặc nhiều doanh nghiệp rời khỏi ngành Ngoài thuế, các quy định và chính sách khác của nhà nước cũng ảnh hưởng mạnh đến cung Chính sách bảo vệ môi trường và chống ô nhiễm làm tăng chi phí của một số ngành công nghiệp như sản xuất xe gắn máy và ô tô, từ đó giảm lợi nhuận và sản lượng Những chính sách như vậy có thể làm giảm sản lượng của ngành này Ngược lại, chính sách hỗ trợ ngành mía đường ở nước ta trong thời gian qua đã tăng cung cho ngành này.

2.3.5 Điều kiện tự nhiên và các yếu tố khách quan

Hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp luôn gắn liền với các điều kiện tự nhiên như đất đai, nguồn nước, thời tiết và khí hậu Sự biến đổi của những điều kiện này có thể làm thay đổi lượng cung của một số loại hàng hóa trên thị trường Trong thực tế, điều kiện tự nhiên vừa có thể hạn chế vừa thúc đẩy sản xuất của các doanh nghiệp nông nghiệp Đối tượng chính của sản xuất nông nghiệp là cây trồng và vật nuôi, và sự biến động của các yếu tố tự nhiên sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chi phí và khả năng cung ứng trên thị trường.

2.4 Sự thay đổi của lƣợng cung và của cung

Giống như trường hợp của cầu, chúng ta cần phân biệt rõ giữa thay đổi cung và thay đổi lượng cung Thay đổi lượng cung là sự di chuyển dọc theo đường cung khi giá của hàng hóa biến động làm tăng hoặc giảm lượng hàng hóa được cung cấp tại cùng một mức giá Ngược lại, thay đổi cung là sự dịch chuyển của toàn bộ đường cung do các yếu tố thị trường khác tác động, khiến nhà sản xuất sẵn sàng cung ứng ở mức giá tương ứng tại một vị trí đường cung mới Sự thay đổi giá của hàng hóa làm thay đổi lượng cung, và sự dịch chuyển từ A đến B là minh họa cho quá trình di chuyển trên đường cung được trình bày trong đồ thị dưới đây.

HÌNH 2.4 SỰ DỊCH CHUYỂN TRÊN ĐƯỜNG CUNG

MỐI QUAN HỆ CUNG CẦU

Bảng 2.3 Cung, cầu của bánh quy

Theo bảng trên, lượng cung và lượng cầu bằng nhau tại mức giá 10.000 đồng/hộp và khối lượng 15.000 hộp mỗi tuần Đây là trạng thái cân bằng của thị trường, tại đó điểm cân bằng được xác lập và tương ứng với mức giá và lượng cân bằng là 10.000 đồng/hộp và 15.000 hộp/tuần.

Trên đồ thị cung cầu dưới đây, tại mức giá E người mua và người bán có thể giao dịch với bất kỳ lượng hàng hóa nào theo mong muốn Khi mức giá cân bằng được thiết lập, không có lý do để giá tăng hoặc giảm trừ khi có sự thay đổi của cung và cầu hàng hóa Điểm cân bằng E (PE, QE) được xác định tại mức giá PE tại đó lượng cung QS bằng lượng cầu QD Khi đó PE được gọi là giá cân bằng và tại đó thị trường ở trạng thái cân bằng về số lượng và giá cả.

QE là lƣợng cân bằng

3.2 Dƣ thừa và thiếu hụt

Trên hình 2.6, đường cầu và đường cung giao nhau tại điểm E, được gọi là điểm cân bằng của thị trường; tương ứng với điểm cân bằng E là giá cân bằng PE và lượng cân bằng QE Giá cân bằng là mức giá tại đó số lượng cầu bằng số lượng cung Thị trường có xu hướng ở hoặc tiến tới điểm cân bằng E Nếu vì một lý do nào đó giá thị trường (P2) cao hơn giá cân bằng PE, lượng cung sẽ vượt quá lượng cầu tại mức giá đó, dẫn đến dư thừa và áp lực giảm giá về PE; ngược lại, nếu P2 thấp hơn PE, lượng cầu vượt quá lượng cung gây thiếu hụt và đẩy giá lên tới PE.

Trong thị trường hàng hóa, khi lượng hàng hóa được cung ứng vượt quá lượng cầu sẽ hình thành dư cung Để kích thích tiêu thụ và giải phóng hàng tồn, các nhà cung ứng sẽ có xu hướng hạ giá Giá giảm khiến lượng cung giảm và lượng cầu tăng lên, dẫn tới việc giá cả hàng hóa hạ dần về mức cân bằng P_E và lượng hàng bán ra trên thị trường di chuyển về QE.

Ngược lại, khi giá P1 thấp hơn giá cân bằng PE, cầu lớn hơn cung dẫn đến thiếu hàng và áp lực của cầu sẽ đẩy giá lên vì người tiêu dùng sẵn sàng trả giá cao hơn để mua hàng hóa Khi giá tăng lên, lượng cầu giảm và lượng cung tăng lên, khiến giá tiếp tục tăng cho tới mức cân bằng PE và lượng hàng hóa được bán ra trên thị trường sẽ dịch chuyển về QE Thị trường có xu hướng tồn tại ở điểm cân bằng vì tại đó lượng cung bằng lượng cầu nên không có áp lực nào làm thay đổi giá Các hàng hóa thường được mua bán ở mức giá cân bằng trên thị trường Tuy nhiên, không phải lúc nào cung cầu cũng đạt trạng thái cân bằng; một số thị trường có thể không đạt cân bằng vì các điều kiện khác có thể đột ngột thay đổi Sự hình thành giá cả của hàng hóa và dịch vụ trên thị trường như được mô tả ở trên được gọi là cơ chế thị trường.

3.3 Sự thay đổi trạng thái cân bằng và kiểm soát giá

3.3.1 Sự thay đổi trạng thái cân bằng

Như đã biết, giá cả cân bằng trên thị trường chính là mức giá tại đó lượng cung và lượng cầu gặp nhau, nhưng giá thị trường của bất kỳ hàng hóa hay dịch vụ nào cũng luôn dao động do sự dịch chuyển của đường cung hoặc đường cầu Nguyên nhân của sự thay đổi giá cả thị trường thường là sự dịch chuyển của một trong hai đường này Khi xét tác động của thu nhập của người tiêu dùng, thu nhập tăng làm tăng cầu đối với quần áo cao cấp, khiến đường cầu dịch chuyển sang phải Ở điểm cân bằng mới, giá quần áo cao hơn và lượng cân bằng cũng lớn hơn so với ban đầu.

Như vậy, khi cầu đối với một hàng hóa hoặc dịch vụ tăng lên, giá trên thị trường và lượng cân bằng của hàng hóa hoặc dịch vụ đó sẽ tăng, miễn là các yếu tố khác được giữ nguyên Sự tăng cầu đẩy giá lên và đồng thời làm tăng lượng cân bằng tại điểm cân bằng thị trường, phản ánh mối quan hệ giữa cầu và giá cả trong cơ chế thị trường.

Chúng ta có thể suy ra điều ngược lại khi cầu giảm Sự dịch chuyển của đường cung cũng làm thay đổi trạng thái cân bằng trên thị trường Ví dụ, khi công nghệ dệt vải được cải tiến, các doanh nghiệp sẽ cung ứng nhiều hơn (trong khi các yếu tố khác không đổi), khiến đường cung dịch chuyển sang phải Điểm cân bằng từ E chuyển đến E’, và từ đó giá cân bằng giảm trong khi lượng cân bằng tăng lên.

Qua sự dịch chuyển của đường cung và đường cầu, ta có thể giải thích tại sao giá lúa thường giảm khi mùa vụ bội thu và tăng khi mất mùa, các yếu tố khác giữ nguyên Ở hầu hết thị trường, cung và cầu biến đổi liên tục do điều kiện thị trường thay đổi Ví dụ, thu nhập người tiêu dùng tăng khi nền kinh tế tăng trưởng làm cầu thay đổi và đẩy giá thị trường biến động; cầu đối với một số mặt hàng cũng thay đổi theo mùa, như quạt máy, quần áo, nhiên liệu, khiến giá của các mặt hàng này dao động theo mùa Việc hiểu rõ bản chất các nhân tố tác động đến sự dịch chuyển của đường cung và đường cầu giúp dự đoán xu hướng và mức biến động giá cả của hàng hóa, dịch vụ trên thị trường khi điều kiện thị trường thay đổi.

Khi cung cầu có sự biến động đột ngột, giá cả hàng hóa thường thay đổi một cách bất ngờ và khó dự đoán Ví dụ, giá xăng dầu có thể tăng vọt lên cao, trong khi giá nông sản lại có xu hướng ở mức thấp trong vụ thu hoạch Trong những trường hợp như vậy, các chính sách của chính phủ có thể tác động lên thị trường nhằm điều chỉnh giá cả và ổn định nguồn cung, giảm thiểu tác động của biến động lên người tiêu dùng và doanh nghiệp.

Giá sàn là mức giá tối thiểu bắt buộc, thường cao hơn mức giá cân bằng của thị trường, nhằm điều chỉnh giá ở mức cao hơn cân bằng hiện tại Mục đích của giá sàn là hỗ trợ giá nông nghiệp và quy định lương tối thiểu, đây là những trường hợp điển hình áp dụng giá sàn Như biểu đồ dưới đây minh họa, giá sàn khi được áp dụng sẽ dẫn tới dư thừa hàng hóa vì lượng cung vượt quá lượng cầu khi mức giá quy định cao hơn mức giá cân bằng thị trường.

Quy định giá trần là mức giá tối đa bắt buộc áp dụng, nhằm hạ giá xuống thấp hơn mức cân bằng thị trường hiện tại Ví dụ, giá trần được áp dụng đối với giá cho thuê nhà ở ở các đô thị và giá dầu trong thời kỳ khủng hoảng năng lượng Như biểu đồ dưới đây minh họa, giá trần sẽ dẫn đến thiếu hụt hàng hóa khi mức giá quy định thấp hơn giá cân bằng thị trường do cầu vượt cung Điều này giải thích vì sao giá cho thuê nhà và giá dầu có thể bị thiếu hụt hàng hóa.

Với chính sách can thiệp giá, chính phủ điều chỉnh mức giá khi có sự thay đổi đột biến của quan hệ cung cầu, làm giá tăng vọt như giá dầu mỏ gần đây hoặc giảm xuống đối với các mặt hàng nông sản Giá trần và giá sàn được áp dụng để đưa giá về mức thấp hơn hoặc cao hơn giá thị trường hiện tại, và điều này có thể dẫn tới thiếu hụt hoặc thặng dư hàng hóa trong một khoảng thời gian nhất định Hành vi của các doanh nghiệp trước chính sách giá của nhà nước là xem xét lại quy mô sản xuất và tái cấu trúc nhằm tối ưu hóa sử dụng các yếu tố sản xuất Bên cạnh đó, chính phủ tăng cường hỗ trợ bằng các biện pháp trợ giá hoặc mua lại để giải quyết lượng hàng hóa dư thừa.

SỰ CO GIÃN CUNG- CẦU

4.1 Sự co giãn của cầu

Quy luật cầu cho biết lượng cầu về một loại hàng hóa sẽ tăng lên khi giá hàng hóa giảm và giảm xuống khi giá hàng hóa tăng, khi các yếu tố khác được giữ nguyên Tuy nhiên, thực tế cầu bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như thu nhập của người tiêu dùng, thị hiếu và sở thích, giá cả hàng hóa thay thế và hàng hóa bổ trợ, kỳ vọng về giá tương lai và điều kiện thị trường, khiến mối quan hệ giữa giá và lượng cầu có thể phức tạp và xuất hiện các trường hợp ngoại lệ Trong phân tích kinh tế, người ta xem xét độ co giãn của cầu và các tác động này để ước lượng mức độ thay đổi của lượng cầu khi giá thay đổi, từ đó xác định điểm cân bằng giữa cung và cầu trên thị trường.

Trong thực tế, người bán hàng cần dự đoán mức độ phản ứng của lượng cầu trước sự thay đổi giá hàng hóa Khi có ý định tăng giá 5%, họ muốn biết lượng hàng bán được sẽ giảm bao nhiêu phần trăm để quyết định có nên thực hiện mức tăng hay không; nếu dự đoán giảm nhiều (ví dụ 10%), họ sẽ điều chỉnh kế hoạch, còn nếu giảm ít (ví dụ 1%), họ sẽ kiên định với ý định tăng giá Độ co giãn của cầu được hiểu là mức độ thay đổi của lượng cầu khi một biến số như giá, thu nhập hoặc giá chéo của hàng hóa thay đổi, các yếu tố khác giữ nguyên Người ta thường đề cập tới độ co giãn của cầu theo giá, theo thu nhập và theo giá chéo Độ co giãn của cầu theo giá cho biết mức độ thay đổi của lượng cầu khi giá của hàng hóa đó thay đổi và được đo bằng phần trăm thay đổi lượng cầu chia cho phần trăm thay đổi giá, được ký hiệu là eP.

Trong công thức trên, tử số ∆Q/Q là phần trăm thay đổi của lượng cầu (Q), còn mẫu số ∆P/P là phần trăm thay đổi của giá (P) Nhờ công thức này, ta hiểu ý nghĩa của hệ số co giãn: hệ số co giãn của cầu theo giá cho biết mức độ thay đổi phần trăm của lượng cầu khi giá biến đổi 1% Nói cách khác, nó đo sự nhạy của cầu với sự biến động của giá và cho biết khi giá tăng hoặc giảm 1% thì lượng cầu sẽ tăng hoặc giảm bao nhiêu phần trăm.

Để đánh giá sự biến thiên của hệ số co giãn theo giá của cầu quần áo dựa trên bảng số liệu, ta bắt đầu từ mức giá 40.000 đồng/bộ và khi giá tăng lên 80.000 đồng/bộ, lượng cầu giảm từ 160.000 bộ/tuần xuống còn 120.000 bộ/tuần Theo công thức hệ số co giãn giá của cầu (Ed = %ΔQ / %ΔP), ta có %ΔP = (80.000 − 40.000)/40.000 = 1 (tăng 100%), %ΔQ = (120.000 − 160.000)/160.000 = −0.25 (giảm 25%), và hệ số co giãn Ed tại điểm này bằng −0.25 Như vậy, hệ số co giãn theo giá của cầu quần áo ở mức giá này là −0,25, cho thấy cầu ít biến động khi giá thay đổi ở mức này.

4.2 Sự co giãn của cung theo giá

Về nguyên tắc, hệ số co giãn của cung giống với hệ số co giãn của cầu, bởi nó đo lường phần trăm thay đổi của lượng cung khi giá biến động 1% Chính vì vậy, công thức tính hệ số co giãn của cung có dạng tương tự như công thức của hệ số co giãn của cầu, cho phép đánh giá mức độ phản ứng của lượng cung với sự thay đổi của giá.

Vì lượng cung thường tăng theo cùng xu hướng với biến động giá cả nên độ co giãn của cung được xem là một đại lượng dương, và giá trị của nó càng lớn thì cung được xem là càng co giãn mạnh theo giá Ví dụ, với eS = 3, khi giá hàng hóa tăng 1% thì lượng cung tăng lên 3% Nếu eS = 0,5, khi giá hàng hóa tăng 1% thì lượng cung chỉ tăng lên 0,5%.

Để mô tả tác động của từng sự kiện lên thị trường xe máy, ta dùng đồ thị cung cầu nhằm xác định cách thay đổi về giá và lượng xe máy được mua bán Mỗi sự kiện được xem xét ở dạng làm dịch chuyển đường cung hoặc đường cầu, từ đó suy ra biến động cân bằng thị trường Ví dụ, một sự kiện khiến cầu tăng sẽ đẩy đường cầu dịch sang phải, làm giá xe máy tăng và lượng giao dịch tăng lên; ngược lại, nếu cung giảm do chi phí sản xuất tăng, đường cung dịch chuyển sang trái, đẩy giá lên và lượng giao dịch giảm Khi sự kiện tác động ngược lại, như giảm thuế làm tăng cung hoặc cầu, ta cũng thấy các biến động tương ứng về giá và lượng mua bán trên thị trường xe máy.

(b) Hệ thống xe buýt phát triển tốt hơn

(c) Mức thu nhập trung bình của người d n tăng lên

(d) Chính phủ tăng thuế đối với sản xuất xe gắn máy

2/ H y dùng đồ thị về cung - cầu để giải thích tại sao khi trúng mùa, giá lúa thường có u hướng giảm và ngược lại khi mất mùa giá lúa có u hướng tăng?

3/ Trong những tập hợp hàng hóa sau đ y, tập hợp nào là hàng thay thế và tập hợp nào là hàng bổ sung? a Lớp toán và lớp kinh tế b Bóng và vợt để chơi quần vợt c Thịt bò và tôm d Chuyến đi bằng máy bay và bằng tàu hỏa đến cùng một địa điểm

4/ Giả sử có các số liệu sau về lƣợng cung và cầu của đậu phộng rang trên thị trường

Để phân tích thị trường đậu phộng rang, hãy vẽ đường cầu và đường cung và xác định tại hai mức giá 8 đvt và 32 đvt xem ở mỗi mức giá có thặng dư hay thiếu hụt; tiếp theo tìm giá cân bằng và sản lượng cân bằng của thị trường Giả sử sau khi thu nhập của người tiêu dùng tăng, cầu sẽ tăng lên 15 triệu hộp mỗi năm; hãy xác định cân bằng mới và vẽ hình minh họa thể hiện sự dịch chuyển của đường cầu Các bước cần làm gồm xác định vị trí của đường cong cung và cầu, so sánh giá cố định với giá cân bằng để kết luận thặng dư hay thiếu hụt ở từng mức giá, rồi giải phương trình cung bằng cầu để có được điểm cân bằng và phân tích tác động của sự dịch chuyển cầu do tăng thu nhập.

5/ Hàm số cầu của một hàng hóa trên thị trường là: QD = 1000 - 4P Hãy tính hệ số co gi n điểm của cầu theo giá khi giá là 25 đvt và khi là 200 đvt

6/ Hàm số cầu và cung của lương thực trên thị trường có dạng:

Đồ thị cung - cầu cho hàng hóa được biểu diễn bởi hàm cung QS = -30 + 40P Yêu cầu bài toán gồm: (a) xác định giá và sản lượng cân bằng trên thị trường, vẽ đồ thị minh họa điểm cân bằng và tính hệ số co giãn của cầu theo giá tại điểm cân bằng; (b) giả sử nhà nước quy định mức giá cố định là 4 đơn vị tiền thì lượng thừa hay thiếu hàng hóa trên thị trường là bao nhiêu; (c) giả sử do dân số tăng nhanh làm cho cầu tăng thêm 30 đơn vị, tìm giá và sản lượng cân bằng mới.

LÝ THUYẾT HÀNH VI TIÊU DÙNG

LÝ THUYẾT VỀ LỢI ÍCH

Lợi ích được định nghĩa là mức độ thỏa mãn hay hài lòng liên quan đến các lựa chọn tiêu dùng, phản ánh giá trị mà người tiêu dùng nhận được từ sản phẩm hoặc dịch vụ và từ đó ảnh hưởng đến quyết định mua sắm Hiểu được lợi ích giúp giải thích tại sao người tiêu dùng chọn một sản phẩm hay dịch vụ nhất định và cách nó kết nối với mong đợi so với kết quả nhận được Lợi ích có hai đặc tính cần nhấn mạnh.

Lợi ích và hữu ích không đồng nhất với nhau Chẳng hạn, tranh của Picasso có lẽ không hữu ích cho cuộc sống hàng ngày, nhưng lại mang lợi ích vô cùng lớn đối với giới nghệ thuật và người yêu nghệ thuật Lợi ích thường không giống nhau giữa từng người khi tiêu dùng cùng một sản phẩm: kính thuốc mang lợi ích lớn cho người cận hoặc viễn thị, nhưng không có lợi ích đối với người mắt bình thường Các nhà kinh tế giả định rằng mỗi cá nhân phải đưa ra sự lựa chọn trong các lựa chọn tiêu dùng và sẽ chọn tiêu dùng đem lại lợi ích cao nhất cho mình.

Tổng lợi ích (U) là mức độ hài lòng hay thỏa mãn liên quan đến việc tiêu dùng một lượng hàng hóa Lợi ích biên (MU) là mức tăng thêm của tổng lợi ích khi người tiêu dùng tiêu dùng thêm một đơn vị hàng hóa Nói cách khác, MU cho biết sự gia tăng của U khi lượng hàng hóa tiêu thụ tăng lên một đơn vị, còn U thể hiện mức độ hài lòng tổng thể từ mức tiêu thụ đã chọn.

Bảng dưới đây minh họa mối quan hệ giữa lợi ích tổng thể và lợi ích biên đối với tiêu dùng bánh pizza của một cá nhân trong một khoảng thời gian nhất định Lợi ích biên của mỗi lát pizza luôn giảm dần khi lượng pizza tiêu thụ tăng lên, phản ánh hiện tượng giảm dần lợi ích biên Trong khi lợi ích tổng thể tích lũy tăng lên theo số lượng lát pizza được ăn, nhịp tăng của nó có thể chậm lại khi lợi ích biên trở nên nhỏ Nội dung bảng giúp người đọc hiểu cách một cá nhân đưa ra quyết định tiêu dùng dựa trên sự so sánh giữa lợi ích biên và mức tiêu thụ, từ đó nhận diện mức tiêu dùng tối ưu trong khung thời gian được xét.

BẢNG 3.1 Lợi ích và lợi ích biên khi tiêu dùng Pizza

1.2 Qui luật của lợi ích biên giảm dần

Qui luật lợi ích biên giảm dần cho biết lợi ích biên từ tiêu dùng mỗi đơn vị hàng hóa sẽ giảm dần khi lượng hàng hóa tiêu dùng tăng lên trong một khoảng thời gian nhất định Ví dụ với bánh pizza, lợi ích biên của chiếc pizza thứ năm sẽ thấp hơn so với chiếc pizza thứ tư, dù tổng lợi ích vẫn tăng miễn là lợi ích biên còn dương Tổng lợi ích sẽ chỉ giảm khi lợi ích biên trở âm Thực tế, hầu hết các hàng hóa đều tuân theo quy luật lợi ích biên giảm dần.

Khi người tiêu dùng càng tiêu thụ nhiều sản phẩm X, trong khi lượng tiêu thụ các sản phẩm khác vẫn được giữ nguyên ở mỗi đơn vị thời gian, hữu dụng biên của sản phẩm X sẽ giảm dần Hiện tượng này—hữu dụng biên giảm dần—nghĩa là mỗi đơn vị tiêu thụ thêm của X mang lại giá trị hoặc lợi ích nhỏ hơn so với đơn vị tiêu thụ trước đó Do đó người tiêu dùng sẽ điều chỉnh hành vi mua sắm, cân nhắc giữa X và các sản phẩm thay thế để tối ưu hóa tổng giá trị nhận được từ danh mục hàng hóa mà họ tiêu dùng.

Mối quan hệ giữa MU và TU:

- Khi MU > 0 thì TU tăng

- Khi MU < 0 thì TU giảm

- Khi MU = 0 thì TU đạt cực đại (TU max )

LỰA CHỌN TIÊU DÙNG TỐI ƢU

2 LỰA CHỌN TI U DÙNG TỐI ƢU

2.1 Sở thích của người tiêu dùng

Sở thích của người tiêu dùng phản ánh đánh giá chủ quan về tính ích lợi của hàng hóa trong việc thỏa mãn nhu cầu cá nhân Mỗi người có sở thích riêng, do đó trên thị trường các hàng hóa được đánh giá khác nhau bởi người tiêu dùng Cùng một sản phẩm có thể được người này ưa chuộng, người kia không ưa chuộng, hoặc được ưa chuộng ở mức độ khác nhau giữa các đối tượng mua hàng Hiểu được sự đa dạng này giúp lý giải tại sao các quyết định mua sắm khác nhau và tại sao thị trường phát triển với nhiều lựa chọn phù hợp với từng nhu cầu.

Lý thuyết về hành vi người dùng bắt đầu từ ba giả thiết cơ bản về thị hiếu con người, giúp giải thích cách người dùng ra quyết định và tương tác với sản phẩm hoặc nội dung trên các nền tảng số Những giả thiết này phổ biến và phù hợp trong hầu hết các trường hợp, cung cấp nền tảng để phân tích hành vi, dự đoán hành động người dùng và tối ưu hóa trải nghiệm người dùng cũng như hiệu quả chiến lược tiếp thị và SEO.

Người tiêu dùng có thể so sánh và xếp hạng các hàng hóa dựa trên sự ưa thích cá nhân và mức hữu dụng mà chúng mang lại Trong bối cảnh đối diện hai hàng hóa A và B, họ có thể xác định được họ thích A hơn và lựa chọn A bởi giá trị tiện ích mà A mang lại cao hơn.

B, hay thích B hơn A hay bàng quan giữa hai hàng hóa này Khi A đƣợc ƣa thích hơn B có nghĩa là A mang lại mức độ thỏa mãn cao hơn B Lưu ý rằng sự so sánh về sở thích này hoàn toàn không tính đến chi phí Thí dụ, về mặt sở thích, một người thích ăn phở hơn ăn bánh mì nhưng khi tính đến chi phí, người này lại mua bánh mì vì giá bánh mì rẻ hơn giá phở

Thị hiếu có tính "bắc cầu": nếu người tiêu dùng thích hàng hóa A hơn B và thích hàng hóa B hơn C, thì họ cũng thích hàng hóa A hơn C Ví dụ, một người thích Honda hơn Suzuki và thích Suzuki hơn Yamaha, do đó họ sẽ thích Honda hơn Yamaha Giả thuyết này cho thấy sở thích của người tiêu dùng mang tính nhất quán, không có mâu thuẫn.

Trong một chừng mực nhất định, người tiêu dùng thích có nhiều hàng hóa hơn là ít hàng hóa Tuy nhiên, điều này chỉ đúng với những hàng hóa được mong đợi và mang lại lợi ích, chứ không phải những thứ gây hại như ô nhiễm không khí, rác thải hay bệnh tật Rõ ràng, người tiêu dùng cảm thấy thỏa mãn hơn khi tiêu dùng nhiều hàng hóa và dịch vụ hơn Ví dụ, một cá nhân sẽ thích sở hữu hai chiếc xe máy thay vì một chiếc, và có ba bộ quần áo thay vì hai.

2.2 Sự lựa chọn của người tiêu dùng

Chúng ta hãy xem xét cách áp dụng khái niệm lợi ích biên để giải thích lựa chọn tiêu dùng Như đã đề cập ở trên, các nhà kinh tế giả định người tiêu dùng tối đa hóa lợi ích trong giới hạn ngân sách của họ Lợi ích biên giảm dần khi mức tiêu thụ tăng lên, vì vậy người tiêu dùng phải đánh đổi giữa các mặt hàng và phân bổ ngân sách sao cho lợi ích biên trên mỗi đồng chi trả giữa các lựa chọn là cân bằng Kết quả là quyết định mua sắm được hình thành dựa trên sự cân nhắc giữa nhu cầu và nguồn lực có sẵn.

Trong lý thuyết tiêu dùng, người tiêu dùng đưa ra quyết định lựa chọn từ các hàng hóa X và Y sao cho lợi ích nhận được là cao nhất có thể Giả sử người tiêu dùng chi tiêu toàn bộ thu nhập I cho hai hàng hóa X và Y, mục tiêu là tối đa hóa hàm tiện ích U = f(QX, QY) đồng thời thỏa mãn ràng buộc ngân sách PX·QX + PY·QY = I Khi tối ưu, các mức QX và QY sẽ cân bằng giữa chi phí và lợi ích, cho phép người tiêu dùng đạt được tiện ích tối đa dưới ràng buộc chi tiêu.

Ví dụ, với ngân sách 3000 đồng cho bữa trưa, ta không thể thưởng thức một bữa ăn đầy ắp các món đắt tiền; ta phải ưu tiên những món ăn phù hợp với ngân sách và lựa chọn tối ưu Về thời gian, cũng vậy: không thể vừa chơi bóng đá vừa học bài cùng lúc, vì hiệu quả sẽ giảm đi; cần lên kế hoạch và phân bổ thời gian hợp lý cho từng hoạt động để đạt được kết quả tốt.

Nguyên tắc tối đa hóa hữu dụng:

Ví dụ 1: Cá nhân A có thu nhập I = 7 ngàn đồng, dùng để chi cho hai sản phẩm X và Y Vấn đề đặt ra là A cần xác định bao nhiêu đồng chi cho X và bao nhiêu đồng chi cho Y để tổng mức hữu dụng đạt tối đa.

Sở thích của A đối với hai sản phẩm đƣợc thể hiện qua bảng sau:

Ta sẽ so sánh chi tiêu hợp lý cho từng đồng một (dùng đơn vị ngàn đồng):

Để tối đa hóa hữu dụng của đồng thứ nhất, ta so sánh mức thỏa mãn mà X và Y mang lại: chi cho X đạt 40 đvhd, còn chi cho Y chỉ đạt 30 đvhd Vì vậy, anh ta sẽ ưu tiên chi tiêu cho X để tối đa hóa mức hữu dụng của đồng thứ nhất.

MUx1 = 40 đvhd Đồng thứ nhất : Chi cho x1

MUy1 = 30 đvhd Tiếp tục, đồng thứ 2 nếu chi tiêu cho X sẽ mang lại 36 đvhd; còn nếu chi cho Y chỉ mang lai đvhd Do đó anh ta sẽ chi đồng thứ 2 cho X

MU x2 = 36 đvhd Đồng thứ hai : Chi cho x 2

So sánh các đồng chi tiêu kế tiếp

MU x3 = 32 đvhd Đồng thứ ba : Chi cho x 3

MU x4 = 28 đvhd Đồng thứ tƣ : Chi cho y 1

MU x4 = 28 đvhd Đồng thứ năm : Chi cho y 2

MU x4 = 28 đvhd Đồng thứ sáu : Chi cho y2

MUy3 = 28 đvhd Đồng thứ bảy chi cho x4

Nhƣ vậy, để đạt thỏa mãn tối đa khi chi tiêu hết 7 đồng, A sẽ chi mua 4 đồng cho X và 3 đồng cho Y : MUx4 = MUy3 = 28 đvhd dvhd MUy

Nhƣ vậy, nguyên tắc tối đa hóa hữu dụng là trong khả năng chi tiêu có giới hạn, người tiêu dùng sẽ mua số lượng các sản phẩm sao cho hữu dụng biên của đơn vị tiền tệ cuối cùng của các sản phẩm đƣợc mua sẽ bằng nhau:

Khi X vàY đƣợc tính bằng đơn vị hiện vật với đơn giá là Px và Py, công thức trên đƣợc viết lại:

Vi dụ 2: Giả sử cá nhân B có thu nhậplà 14 đồng, chi mua 2 sản phẩm X và

Y với đơn giá các sản phẩm là P x = 2 đồng/kg và P y = 1 đồng/l sở thích của B đối với hai sản phẩm thể hiện qua biểu hữu dụng biên trong bảng 3.3

Vấn đề đặt ra là B nên mua bao nhiêu đơn vị sản phẩm X, bao nhiêu đơn vị sản phẩm Y để đạt TUXYmax.

X(kg) MUx(đvhd) Y(lít) MUy(đvhd)

Gọi x, y là số lượng của sản phẩm X và Y Để tối đa hóa mức độ thỏa mãn của người tiêu dùng, họ phải chọn một tổ hợp hai sản phẩm sao cho hai điều kiện đã được nêu ở trên được đáp ứng.

(1) Mục đích tiêu dùng: hữu dụng tối đa tức là TU(X,Y) => max

(2) Điều kiện ràng buộc: là phân phối tổng số tiền chi tiêu cho hai sản phẩm phải nằm trong giới hạn thu nhập sao cho:

MUx      Để thỏa m n điều kiện (1) ta chọn các cặp phối hợp sao cho hữu dụng biên của X cũng gấp 2 lần hữu dụng biên của Y (vì P X = 2P Y )

Các cặp thỏa điều kiện (1): x = 1 và y = 3 x = 2 và y = 4 x = 3 và y = 5 x = 4 và y = 6 x = 6 và y = 7 Trong đó chỉ số phối hợp: X = 4 và Y = 6 là thỏa m n điều kiện (2): 4 x 2 +

Như vậy phương án tiêu dùng tối ưu là X = 4 và Y = 6

TU XYmax = TU x4 + TU y6 = 125 đvhd

Ví dụ 3: Nếu thu nhập B tăng lên I 2 = 15 đồng để chi mua 2 sản phẩm thì phối hợp tối ƣu mới là gì ?

14 đồng coi nhƣ đ chọn hợp lý, còn đồng thứ 15 ta so sánh: dvhd

5   Đồng 15 sẽ chi mua ẵ kg X dvhd

Phương án tiêu dùng tối ưu: X = 4,5 và Y = 6 dvhd

Nhưng không có cách phân phối sản phẩm nào tối ưu hơn Trong thực tế, để tối đa hóa hữu dụng, chúng ta chọn các tổ hợp sản phẩm sao cho thỏa mãn hai điều kiện quan trọng, nhằm tối ưu hóa giá trị cho người tiêu dùng và hiệu quả kinh doanh.

X.Px + Y.Py = 1 (2) Trong thực tế chúng ta thường không có nhiều lựa chọn đủ để đạt nguyên tắc lý thuyết

LÝ THUYẾT HÀNH VI CỦA DOANH NGHIỆP

CẤU TRÚC THỊ TRƯỜNG

Ngày đăng: 17/08/2022, 11:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] GS.TS Lê Thế Giới (2001), Giáo trình kinh tế học Vi mô, Đại học Đà Nẵng [2] PGS.TS Phí Mạnh Hồng, Giáo trình kinh tế học Vi mô, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế học Vi mô", Đại học Đà Nẵng [2] PGS.TS Phí Mạnh Hồng, "Giáo trình kinh tế học Vi mô
Tác giả: GS.TS Lê Thế Giới
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
[3] PGS.TS.Lê Bảo Lâm (2006), Tài liệu hướng dẫn học tập Kinh tế học vi mô, Đại học Mở TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hướng dẫn học tập Kinh tế học vi mô
Tác giả: PGS.TS.Lê Bảo Lâm
Năm: 2006
[4] TS Lê Khương Ninh, Ths Nguyễn Tấn Nhân, Ths Phạm Lê Thông (2003), Kinh tế học vi mô, Đại học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học vi mô
Tác giả: TS Lê Khương Ninh, Ths Nguyễn Tấn Nhân, Ths Phạm Lê Thông
Năm: 2003
[5] TS.Trần Nguyễn Ngọc Anh Thƣ (2006), Giáo trình Kinh tế vi mô, Đại học Kinh tế TP.HCM, NXB Phương Đông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế vi mô
Tác giả: TS.Trần Nguyễn Ngọc Anh Thƣ
Nhà XB: NXB Phương Đông
Năm: 2006
[6] TS Nguyễn Nhƣ Ý, TS Nguyễn Hoàng Bảo (2007), Câu hỏi – Bài tập – Trắc nghiệm Kinh tế vi mô, NXB Lao động xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu hỏi – Bài tập – Trắc nghiệm Kinh tế vi mô
Tác giả: TS Nguyễn Nhƣ Ý, TS Nguyễn Hoàng Bảo
Nhà XB: NXB Lao động xã hội
Năm: 2007

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm