1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN đồng tiền lịch sử tiền tệ việt nam

53 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 14,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kèm theo các tờ tiền giấy còn có độ bảo an như: mực đổi màu, hình chìm, dâychỉ, … Cùng với các đồng xu được đúc bằng máy và nhiều kim loại khác nhau để làm ra nó, cùng với độ bảo an như:

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐẠO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC HOA SEN

MÔN HỌC: Đạo đức nghề nghiệp

BÀI TIỂU LUẬN

Đồng tiền - Lịch sử tiền tệ Việt Nam

Họ tên sinh viên: Bùi Nguyễn Nhật Tân

TP Hồ Chí Minh, ngày 3 tháng 7 năm 2020

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐẠO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC HOA SEN

MÔN HỌC: Đạo đức nghề nghiệp

BÀI TIỂU LUẬN

Đồng tiền - Lịch sử tiền tệ Việt Nam

Họ tên sinh viên: Bùi Nguyễn Nhật Tân

TP Hồ Chí Minh, ngày 3 tháng 7 năm 2020

Trang 3

NHẬN XÉT VÀ Ý KIẾN CỦA ĐỘC GIẢ

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập ở trường đại học, tôi đã có được một lượng không

ít các kiến thức cơ bản để áp dụng trong tương lai Nhờ đó tôi có thể một cuốn tiểuluận với bố cục tương đối hoàn chỉnh Sẽ không bao giờ quên ân điển của các giảngviên trong suốt một quãng đường dài

Tôi mong các độc giả có cơ hội để đọc bài tiểu luận này và hy vọng mọi người

sẽ tìm và hiểu được mục đích được viết trong bài tiểu luận Đồng thời có thể hiểu thêmmột số kiến thức và phần tham khảo của đề tài này

Hy vọng rằng: sau khi đọc xong, nếu các độc giả có thắc mắc gì, hãy cùng tôitìm câu trả lời cho đề tài này và đóng góp ý kiến Từ đó tôi sẽ bổ sung và chấn chỉnhlại bài viết để sao cho chủ đề này có nhiều kiến thức và tốt hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Bùi Nguyễn Nhật Tân

Trang 6

MỤC LỤC

PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1

PHẦN 2: NỘI DUNG 3

Chương 1: Khái niệm 3

1.1 Khái niệm của tiền tệ 3

1.2 Khái niệm của đồng tiền 3

1.3 Khái niệm của ngoại tệ 3

Chương 2: Khái quát về lịch sử của tiền tệ - phương tiện mua và bán 4

2.1 Thời cổ đại 4

2.2 Thời trung cổ 4

2.3 Thời cận đại 5

2.4 Thời hiện đại 5

Chương 3: Tiền tệ Việt Nam – thời phong kiến 6

3.1 Thời nhà Đinh 6

3.2 Thời nhà tiền Lê 6

3.3 Thời nhà Lý 6

3.4 Thời nhà Trần và Hồ 7

3.5 Thời nhà hậu Lê 8

3.6 Thời nhà Mạc 9

3.7 Thời nhà Tây Sơn 10

3.8 Thời nhà Nguyễn 10

Chương 4: Tiền tệ Việt Nam – thế kỷ thứ XIX đến nay 13

Trang 7

4.2 Thời chiến tranh Việt Nam 16

4.3 Thời kỳ quốc gia thống nhất 19

4.4 Thời kỳ quốc gia đang phát triển 19

PHẦN 3: KẾT LUẬN 21

PHỤ LỤC 23

Trang 8

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình 1 Vỏ ốc Cypraea được sử dụng như là đơn vị tiền tệ xưa ở Việt Nam 23

Hình 2 Đồng xu electrum của Lydian, khoảng thế kỷ VI TCN 23

Hình 3 Đồng xu Anh ở trung cổ với giá trị ¼ Noble, 1361 - 1369 23

Hình 4 Tiền giấy được phát hành – lưu thông ở thời nhà Đường, thế kỷ VII – VIII 24

Hình 5 Đồng xu 1 cent của Hoa Kỳ, năm 1820 24

Hình 6 Tờ tiền 5 livres của Pháp, năm 1791 24

Hình 7 Tờ 10 Euro của các quốc gia châu Âu với nhiều độ bảo an, năm 2013 25

Hình 8 Tờ 1 Ringgit của Mã Lai được làm bằng polymer, năm 2011 25

Hình 9 Đồng tiền “Thái Bình hưng bảo” 25

Hình 10 Đồng tiền “Thiên Phúc trấn bảo” 26

Hình 11 Đồng tiền “Càn Phù nguyên bảo” 26

Hình 12 Đồng tiền “Nguyên Phong thông bảo” 26

Hình 13 Đồng tiền “Đại Trị thông bảo” 26

Hình 14 Giấy bạc “Thông Bảo hội sao” 27

Hình 15 Đồng tiền “Thuận Thiên nguyên bảo” 27

Hình 16 "Quang Thuận thông bảo" và "Hồng Đức thông bảo" 27

Hình 17 Đồng tiền “Nguyên Hòa thông bảo”, được viết bằng Triện thư 28

Hình 18 Đồng tiền “Cảnh Hưng thông bảo”, có hai mặt sau 28

Hình 19 Đồng tiền “Chiêu Thống thông bảo”, có nhiều mặt sau 28

Hình 20 Đồng tiền "Minh Đức thông bảo" 28

Hình 21 Đồng tiền "Quang Trung thông bảo" 29

Hình 22 Đồng tiền "Cảnh Trịnh thông bảo" 29

Hình 23 Đồng tiền "Cảnh Trịnh đại bảo" 29

Trang 9

Hình 24 Đồng tiền "Vĩnh Lạc thông bảo" do người Trung Hoa đúc 30

Hình 25 Đồng tiền "Gia Long thông bảo" năm 1813 30

Hình 26 Bạc nén Phi Long thời Minh Mạng năm 1820 30

Hình 27 Bạc nén Phi Long thời Khải Định năm 1916 31

Hình 28 Vàng nén thời Thiệu Trị năm 1847 31

Hình 29 Đồng tiền "Tự Đức bản sao", mệnh giá 60 đồng 31

Hình 30 Đồng tiền "Thành Thái thông bảo", mặt sau có chữ "Thập Văn" 31

Hình 31 Đồng tiền "Bảo Đại thông bảo", được dập bằng máy 32

Hình 32 Đồng xu Đông Dương 1 xu, năm 1885 32

Hình 33 Đồng xu bạc Đông Dương 1 Piastre, Liên bang Đông Dương, 1896\ 32

Hình 34 Đồng xu 1/2 cent, 1937 và Đồng xu 5 cent, Liên bang Đông Dương, 1925 32

Hình 35 Giấy bạc 100 đồng bạc, Liên bang Đông Dương, 1932 33

Hình 36 Giấy bạc 500 đồng bạc, Liên bang Đông Dương, 1936 33

Hình 37 Đồng xu 5 hào, Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa, 1946 33

Hình 38 Đồng xu 2 đồng, Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa, 1946 33

Hình 39 Giấy bạc 5 đồng, Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa, 1946 34

Hình 40 Giấy bạc 5000 đồng, Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa, 1953 34

Hình 41 Đồng 20 xu, Quốc gia Việt Nam, 1953 34

Hình 42 Giấy bạc 200 đồng, Quốc gia Việt Nam, 1953 34

Hình 43 Giấy bạc 2 đồng, Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa, 1959 35

Hình 44 Đồng 2 xu, Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa, 1958 35

Hình 45 Giấy bạc 1 hào, Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa, 1972 35

Hình 46 Đồng 50 xu, Việt Nam Cộng Hòa, 1963 35

Trang 10

Hình 48 Giấy bạc 20 đồng, Việt Nam Cộng Hòa, 1962 36

Hình 49 Giấy bạc 500 đồng, Việt Nam Cộng Hòa, 1964 36

Hình 50 Giấy bạc 500 đồng, Việt Nam Cộng Hòa, 1966 36

Hình 51 Đồng xu 5 đồng, Việt Nam Cộng Hòa, 1966 37

Hình 52 Giấy bạc 100 đồng, Việt Nam Cộng Hòa, 1970 37

Hình 53 Đồng xu 20 đồng, Việt Nam Cộng Hòa, 1968 37

Hình 54 Giấy bạc 100 đồng, Việt Nam Cộng Hòa, 1972 37

Hình 55 Giấy bạc 50 đồng, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, 1968 38

Hình 56 Giấy bạc 50 đồng, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, 1975 38

Hình 57 Đồng xu 2 xu, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, 1975 38

Hình 58 Giấy bạc 5 đồng, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 1976 38

Hình 59 Giấy bạc 100 đồng, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 1980 39

Hình 60 Đồng xu 1 đồng, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 1976 39

Hình 61 Giấy bạc 500 đồng, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 1988 39

Hình 62 Giấy bạc 20.000 đồng, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 1991 39

Hình 63 Đồng xu 1.000 đồng, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2003 40

Hình 64.Giấy bạc 50.000 đồng, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2004 40

Trang 11

PHẦN 1: MỞ ĐẦU

Lý do chọn đề tài

Đề tài này được chọn nhằm giúp cho tất cả mọi người có thể nhìn nhận đượclịch sử và giá trị thực sự của đồng tiền Việt Nam Ngoài giá trị thực, còn có giá trị vềnghệ thuật giúp cho mọi người có thể đánh giá về chi tiết khắc họa của nó Khôngnhững, đồng tiền – tiền tệ thường là vật được trao đổi, mà còn mang tính nghệ thuậtcủa nó và có thể nó sẽ có giá trị cao hơn so với mệnh giá được ghi trên đồng tiền

Mục tiêu của chủ đề

Chủ đề này được chọn với mục đích giúp cho các độc giả có thể hiểu đượcnhững kiến thức cơ bản về lịch sử hình thành đồng tiền Đề cập tới các lịch sử - giá trịcủa đồng tiền của các triều đại phong kiến, cận đại và hiện đại

Đối tượng nghiên cứu

Bài tiểu luận được viết để nhấn mạnh tới lịch sử hình thành của đồng tiền, cùngvới chất liệu và các chi tiết của nó ở các triều đại như: Lý, Trần, Lê,…, thời Phápthuộc, chiến tranh Việt Nam và ngày nay

Phương pháp nghiên cứu

Không những chủ đề này có nhiều nguồn thông tin – tài liệu, mà còn có cáccách nhìn khách quan của một số người về đồng tiền Việt Nam

Mở rộng thêm là các chi tiết – cấu tạo – phân loại của các đồng tiền được thayđổi như thế nào qua các thời kỳ Chưa kể, còn một số biện pháp để phân biệt tiền thật –giả Với hy vọng giúp cho độc giả có cái nhìn tổng quát hơn về đồng tiền Việt Nam

Quá trình nghiên cứu

Tuần 11: Viết lời cảm ơn, trích yếu, tóm tắt chủ đề và phần 1

Tuần 12: Soạn tiểu luận cho phần 2, nghiên cứu cho chương 1, 2 Tìm hìnhTuần 13: Nghiên cứu chương 3, 4 của phần 2 cùng với tìm hình, từ đó viết phần

Trang 12

Giới hạn của đề tài

Đề tài này chỉ tập trung vào chuyên đề tiền tệ ở Việt Nam qua từng thời kỳ và

sự thay đổi và phát triển của đồng tiền theo thời gian

Giả thuyết khoa học của đề tài/ Câu hỏi nghiên cứu Nguồn gốc, cấu tạo của đồng

tiền – tiền tệ là gì?

Tại sao đồng tiền Việt Nam lại có một bề dày lịch sử lâu đời?

Cấu trúc của đề tài

PHẦN 1: MỞ ĐẦU

PHẦN 2: NỘI DUNG

Chương 1 Khái niệmChương 2 Khái quát về lịch sử của tiền tệ - phương tiện mua và bán Chương 3 Tiền tệ Việt Nam – thời phong kiến

Chương 4 Tiền tệ Việt Nam – thế kỷ thứ XIX đến nayPHẦN 3: KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 13

PHẦN 2: NỘI DUNG

Chương 1: Khái niệm

1.1 Khái niệm của tiền tệ

Tiền tệ thường là vật trung gian để mà trao đổi hàng hóa – dịch vụ giữa hai bênvới nhau, được pháp luật thừa nhận và phát hành Đồng thời, tiền tệ còn là thước đo để

đo giá trị của từng hàng hóa và có đơn vị tiền tệ nhất định

Tiền tệ dựa trên các tính chất như: tính lưu thông, độ bền bỉ, tính dễ nhận biết,

độ khan hiếm, sự đa dạng của đơn vị tiền tệ, tính vận chuyện, độ khan hiếm và sựthống nhất của đơn vị tiền tệ

1.2 Khái niệm của đồng tiền

Đồng tiền, giống như tiền tệ thường được sử dụng trong mục đích mua – bán.Nhưng khác ở chỗ nó còn là phương tiện để dự trữ không ảnh hưởng tới giá trị thật sự,

dù đơn vị tiền tệ bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau

1.3 Khái niệm của ngoại tệ

Ngoại tệ, không những đảm nhận chứng năng của tiền tệ, những đồng tiền nàythường chỉ có giá trị ở ngoại địa Tùy trường hợp, cũng có một số quốc gia chấp nhậnviệc trao đổi hàng hóa – dịch vụ bằng ngoại tệ dựa trên tỉ lệ chênh lệnh của hai loạiđơn vị tiền tệ khác nhau

Trang 14

Chương 2: Khái quát về lịch sử của tiền tệ - phương tiện mua và bán

2.1 Thời cổ đại

Chúng ta cũng đã biết được, thời nguyên thủy con người đã trao đổi hàng hóa –dịch vụ dựa trên sự trao đổi giữa hai bên lẫn nhau Lúc đó, con người nguyên thủy cònđang tự lực cánh sinh tạo ra sản phẩm để cung cấp nhu yếu phẩm cho bản thân họ thìviệc trao đổi hàng hóa – dịch vụ, thì tình cờ xuất hiện vật trung gian được gọi là “tiềntệ”

Tiền tệ ở thời cổ đại, thường là các “quặng kim loại, động vật – gia súc, muối –gia vị, và các loại vỏ ốc” được biết là thước đo chính để thực hiện trao đổi hàng hóa –dịch vụ lúc đó Về đơn vị tiền tệ lúc đó, thì dựa trên độ khan hiếm, kích thước của cácsản vật trên (Hình 1)

Cho tới khoảng thế kỷ thứ VI TCN, Lydia là tiểu vương quốc đầu tiên cho phépđúc và lưu thông các đồng tiền được làm bằng hỗn hợp kim loại vàng và bạc, nhằm dễnhận biết và khó làm giả (Hình 2)

2.2 Thời trung cổ

Trong thời kỳ trung cổ, đồng xu vẫn được tiếp tục lưu hành dù nó được ra đời ởthời cổ đại, điểm đặc biệt là nó được được chạm khắc chi tiết hơn bao gồm: chữ cái,hình ảnh, chân dung,… và khó làm giả hơn so với thời kỳ cổ đại Hơn nữa, các đồng

xu này ngoài được làm bằng vàng và bạc ra, nó còn được làm bằng đồng và kẽm đểtiết kiệm chi phí cho việc sản xuất đồng xu (Hình 3)

Dù đồng xu một ngày phát triển thì còn có một số loại tiền đã ra đời mặc dù vẫnchưa được sử dụng rộng rãi, nhưng nó có thể tránh được các chi phí vận chuyển và bớt đi

sự cồng kềnh của tiền xu Và đó chính là tiền giấy Được ra đời vào khoảng thế kỷ thứ 7 –

8, thời nhà Đường, Trung Quốc Tờ tiền giấy được in bằng các khuông vẽ với các họa tiếtnhư kiến trúc, thiên nhiên kể cả người, cùng với số tiền được tính dựa trên

Trang 15

số lượng đồng xu, các dòng chữ Sau này còn có đóng dấu của con ấn bởi triều đình (Hình 4)

2.3 Thời cận đại

Thời kỳ này, con người vẫn tiếp tục sử dụng đồng xu như là tiền tệ để thực hiệnviệc trao đổi hàng hóa Tuy nhiên việc sử dụng tiền giấy ngày càng phổ biến hơn, đặcbiệt chúng thường được sử dụng cho các ngân hàng và các tập đoàn công ty lớn Độbảo mật của tờ tiền giấy ngày càng phát triển và khiến cho việc làm giả tờ tiền, kể cảviệc đúc tiền xu được cải thiện hơi so với hai thời kỳ trước đó (Hình 5 và 6)

2.4 Thời hiện đại

Ngày nay kinh tế thị trường đã phát triển, thế giới đã bắt đầu mở cửa chuẩn bịcho xu hướng hội nhập trên toàn thế giới Tiền giấy và tiền xu vẫn tiếp tục được pháthành và lưu thông, cùng với ra đời của tờ tiền polymer Giá trị của đơn vị tiền tệ ngàynay được tính dựa trên rất nhiều yếu tố như: tổng sản lượng, chứng khoán, con người,

… để hình thành một đơn vị tiền tệ riêng cho một quốc gia nhất định

Kèm theo các tờ tiền giấy còn có độ bảo an như: mực đổi màu, hình chìm, dâychỉ, … Cùng với các đồng xu được đúc bằng máy và nhiều kim loại khác nhau để làm

ra nó, cùng với độ bảo an như: sọc ở mép đồng xu, hình ảo 3D, …

Thêm vào đó, là sự ra đời của thẻ ghi nợ và tín dụng giúp tiền tệ được trao đổimột các dễ dàng hơn

Kèm theo đó là sự ra đời của thẻ ghi nợ và tín dụng giúp tiền tệ được trao đổimột các dễ dàng hơn (Hình 7 và 8)

Trang 16

Chương 3: Tiền tệ Việt Nam – thời phong kiến

3.1 Thời nhà Đinh

Đây là thời kỳ đầu tiên cho phát hành đồng tiên đầu tiên của người Việt Lúc

đó, những đồng tiền này chưa phân bố rộng rãi vì còn có một số vấn đề về kinh tế còntrên đà đang phát triển Lương bổng của các thợ thủ công, binh sĩ và quan lại thường làcác hiện vật như: gạo, vải, muối,…

Khi vua Đinh Tiên Hoàng lên ngôi, ông đã cho các thợ đúc các đồng tiền đượclàm bằng đồng, hình tròn có đường kính là khoảng 22mm, có lỗ vuông ở chính giữacùng với việc viết chéo tên của đồng tiền “Thái Bình hưng bảo” là đồng tiền đầu tiêncủa người Việt trong thời khi lập quốc Trong đó mặt trước của đồng tiền là “TháiBình hưng bảo”, mặt sau là chữ “Đinh” hoặc không có chữ (Hình 9)

3.2 Thời nhà tiền Lê

Tuy sử sách không đề cập nhiều về các loại tiền tệ của thời tiền Lê, nhưng có ítnhất một đồng tiền được xác định là của nhà tiền Lê Trong đó có chữ “Thiên Phúctrấn bảo” được vết chéo ở mặt trước, mặt sau là chữ “Lê”, hoặc không có chữ Đồngtiền này nặng khoảng 2.3 – 3,2 g Tuy nhiên đồng xu này có lúc được đúc không sửdụng 1 trong 2 khung đúc (Hình 10)

3.3 Thời nhà Lý

Khi Lý Công Uẩn, một vị quan võ được lên ngôi làm vua, lập ra triều Lý vàonăm 1009, tự xưng là Lý Thái Tổ Ông đã cho đúc đồng tiền giống như các thời củanhà Đinh và tiền Lê, lấy niên hiệu là Thuận Thiên để tạo ra đồng tiền Thế là đồng tiền

“Thuận Thiên đại bảo” đã ra đời Trong đó “đại bảo” là đồng tiền có giá trị lớn

Lý Thái Tông là một vị vua đã cho đúc hai loại tiền: Trong đó có “Minh Đạothông bảo” và “Càn Phù nguyên bảo” Được biết “Minh Đạo thông bảo” vẫn chưa biết

có đúc hay không, nhưng “Càn Phù nguyên bảo” là đồng tiền đã được đúc vào thời trị

Trang 17

vì của ông Cho biết “thông bảo” là đồng tiền được lưu hành, và “nguyên bảo” là đồngtiền đầu tiền được phát hành (Hình 11)

“Thiên Phù nguyên bảo” và “Thiên Cảm thông bảo” là hai đồng tiền đã đượcđúc vào thời trị vì của vua Lý Nhân Tông Những đồng xu này có đường kính khoảng20mm Riêng đồng xu “Thiên Phù nguyên bảo” được đúc với số lượng ít do nước ĐạiViệt thường xuyên có chiến tranh

3.4 Thời nhà Trần và Hồ

Qua tới thời nhà Trần, thì việc cân đo đơn vị tiền tệ ngày càng khác hơn so vớitriều đại nhà Lý Ở thời nhà Lý, cứ 1 quan đổi được 10 tiền, và cứ 1 tiền thì bằng 100đồng Còn ở triều đại nhà Trần thì cứ 1 tiền bằng 70 đồng

“Nguyên Phong thông bảo” là loại đồng tiền được vua Trần Thái Tông phát hành – lưu thông vào năm 1226 (Hình 12)

Ngoài ra còn có một số đồng tiền như “Khai Thái nguyên bảo” do Trần MinhTông cho phép đúc Kể cả còn có “Thiệu Phong bình bảo” có kích thước là 21mm và

“Thiệu Phong nguyên bảo” có kích thước là 40mm, chữ thập, đó là hai loại đồng tiền

do Trần Dụ Tông cho đúc Thêm vào đó còn có “Đại Trị thông bảo” có kích thước làkhá lớn các đồng xu ở thời nhà Trần (Hình 13)

Nhà Trần còn cho lưu thông tờ tiền giấy đầu tiên cho người Việt đó là “Thôngbảo hội sao” do Trần Thuận Tông phát hành Dù tờ tiền này được pháp hành bởi nhàTrần, nhưng khi Hồ Qúy Ly lật đổ nhà Trần và lập nên nhà Hồ, ông vẫn cho “Thôngbảo hội sao” lưu thông với nhiều mệnh giá khác nhau (Hình 14)

10 đồng vẽ rong, 30 đồng vẽ sóng, 1 tiền vẽ mây, 2 tiền vẽ rùa, 3 tiền vẽ lân, 5 tiền vẽ phượng, 1 quan vẽ rồng

Hồ Qúy Ly, ngoài phát hành tiền giấy ra còn cho đúc đồng “Thánh Nguyênthông bảo” có hình tròn, lỗ vuông, đường kính 19 – 20 mm Mặt trước cho 4 bốn dòngchữ đọc chéo, mặt sau để trơn

Trang 18

3.5 Thời nhà hậu Lê

Sau khi Lê Lợi giành được độc lập cho dân tộc khỏi ách đô hộ của nhà Minh,ông thành lập nhà Hậu Lê vào năm 1428, ông cho phát hành và đúc đồng “ThuậnThiên thông bảo”, được thiết kế với kích thước lớn hơn và đẹp hơn so với các đồngtiền của các thời đại trước đó (Hình 15)

“Thiệu Bình thông bảo” và “Đại Bình thông bảo” là hai đồng tiền do vua LêThái Tông phát hành Năm 1434, cứ 1 tiền bằng 50 tiền, 5 năm sau thì 1 tiền bằng 60đồng “Thiệu Bình” và “Đại Bình” cùng với tên còn lại được đúc trong đồng tiền làniên hiệu của các vị vua trì vị của từng triều đại

“Thái Hòa thông bảo” và “Diên Ninh thông bảo” là hai đồng tiền do vua LêNhân Tông phát hành Tiếp đến là các đồng tiền “Quang Thuận thông bảo” và “HồngĐức thông bảo” do ông vua Lê Thánh Tông cho đúc, được biết là một vua tài giỏi cóđược lòng dân và công trong việc mở rộng bờ cõi (Hình 16)

Ngoài ra còn rất nhiều đồng tiền của nhà Hậu Lê trong thời Lê Sơ bao gồm:

“Cảnh Thống thông bảo”, “Đoan Khánh thông bảo”, “Hồng Thuận thông bảo” và một

số đồng tiền khác Sau đó nhà Lê đã bị lật đổ bởi Mạc Đặc Dung, cho tới nhà Mạc sụp

đổ thì nhà Lê mới chính thức được phục hồi nhưng quyền lực thực sự lại thuộc về nhàTrịnh Cùng với đó, hệ thống tiền tẽ cũng không thay đổi gì

• Nhà Lê trưng hưng

Dù cho nhà hậu Lê bị lật đổ, tuy nhiên nhà Lê vẫn được sự tin tưởng của thầndân và các đại thần trước đó Cho nên nhà hậu Lê, được thành lập trở lại vào năm 1533sau khi nhà Hậu Lê mất thực quyền 6 năm trước đó

Sau khi khôi phục được nhà Lê “Nguyên Hòa thông bảo” được cho đúc bởi LêTrang Tông, nhà vua đầu tiên ở thời Lê trung hưng, đồng xu này được viết bằng Triệnthư Ngoài ra còn có đồng tiền “Vĩnh Thọ thông bảo” được đúc bằng đồng với đườngkính khoảng 23 mm (Hình 17)

Trang 19

Lê Hy Tông là vị vua thứ 21 của nhà hậu Lê đã cho phát hành “Vĩnh Trị nguyênbảo” và “Vĩnh Trị thông bảo” có cùng kích thước là 23 mm, cùng với đồng tiền

“Chính Hòa thông bảo” cũng do ông vua này cho lưu thông loại đồng tiền này

Riêng thời kỳ Lê trung hưng là thời kỳ đầy biến động lịch sử, do kinh tế khókhăn Các vua Lê và chúa Trịnh đều ăn chơi, tiêu tiền phung phí Hệ thống tiền tệ ởthời điểm đó đều gần như bị suy sụp Cộng với việc các cuộc chiến Lê – Mạc, Trịnh –Nguyễn phân tranh, khởi nghĩa Tây Sơn,… Cho nên tiền của thời điểm đó là tiền CảnhHưng với nhiều loại khác nhau Mặt trước có chữ “Cảnh hưng” mặt sau có một số loạinhư chữ “Công”, hoặc không có chữ và còn có một số chữ khác (Hình 18)

Tiền Cảnh Hưng gồm 40 loại khác nhau, theo ông Đỗ Văn Ninh Cũng có khi có

80 loại tiền khác nhau rất đa dạng với nhiều mẫu mã, kích thước và trọng lượng khácnhau, phổ biến nhất gồm có: Cảnh Hưng thông bảo, Cảnh Hưng trung bảo, Cảnh Hưngchí bảo, Cảnh Hưng vĩnh bảo, Cảnh Hưng đại bảo, Cảnh Hưng thái bảo, Cảnh Hưng

cự bảo, Cảnh Hưng trọng bảo, Cảnh Hưng tuyền bảo, Cảnh Hưng thuận bảo, CảnhHưng chính bảo, Cảnh Hưng nội bảo, Cảnh Hưng dụng bảo, Cảnh Hưng lai bảo, CảnhHưng thận bảo, Cảnh Hưng, Cảnh Hưng thọ trường

Chiêu Thống thông bảo là loại đồng tiền được đúc với nhiều loại khác nhau cólúc được bảo hộ bởi nhà Trịnh, có lúc được bảo hộ bởi nhà Tây Sơn nên tình hình vềtiền tệ trở nên hỗn loạn, các địa phương lần lượt đúc đồng tiền với nhiều kích thước,mẫu mã khác nhau Đặc biệt, mặt sau được đúc bởi một số chữ như “Nam Sơn”,

“Chính”, “Trung”, hoặc để trơn, … (Hình 19)

3.6 Thời nhà Mạc

Mạc Đăng Dụng lập nhà triều đại nhà Mạc vào năm 1527 đã cho phát hành

“Minh Đức thông bảo” và “Minh Đức nguyên bảo” với kích thước là 23 – 24.5 mm.Minh Đức thông bảo” được làm bằng đồng thuộc loại thứ nhất, kẽm thuộc loại thứ hai.Đồng tiền còn lại thì được làm bằng sắt pha trộn với kẽm (Hình 20)

“Đại Chính thông bảo” và “Quảng Hòa thông bảo” là hai loại đồng tiền tiếp theo

Trang 20

“Vĩnh Định thông bảo” và “Vĩnh Định chí bảo” là hai loại đồng tiền được pháthành và lưu thông dưới thời của vua MạAc Tuyên Tông “Vĩnh Định thông bảo” đượcđúc bằng đồng có đường kính là 21.5 mm có viền nổi Đồng tiền còn lại thì không cóviền nổi.

3.7 Thời nhà Tây Sơn

“Thái Đức thông bảo” là đồng tiên do vua Nguyễn Nhạc cho phát hành, đượcđúc cẩn thận, chữ rất dễ đọc, có đường kính khoảng 22,5 đến 24 mm

Sau khi Quang Trung đánh bại được quân Mãn Thanh và lật đổ triều đại nhà hậu

Lê do Lê Chiêu Thống cầm quyền vào năm 1789 Quang Trung cho đúc “Quang Trungthông bảo” và “Quang Trung đại bảo” có đường kính từ 23 cho đến 26 mm, riêng có chữ

“bảo” được viết theo giản thể Và mặt sau gồm có nhiều loại khác nhau (Hình 21)

Ngoài ra còn có “Cảnh Trịnh đại bảo” được đúc dưới thời của vua NguyễnQuang Toản, tiền đó tuy được đúc giống như tiền Cảnh Hưng của nhà hậu Lê, nhưng

nó lại đẹp hơn so với các đồng tiền khác Mặt trước được in bốn dòng chữ đọc chéo,mặt sau thì có hoạ tiết của rồng (Hình 22 và 23)

3.8 Thời nhà Nguyễn

Sau khi nhà Mạc bị đánh bại, cũng là lúc chúa Nguyễn bắt đầu đòi ly khai vàchuẩn bị xây dựng tư thế riêng tức là Đàng Trong Trong suốt 100 năm độc lập, cácchúa Nguyễn lại phải chịu đựng việc thiếu nguồn tiền luân chuyển Việc đúc đồng tiềnriêng là chuyện gần như không thể Và phải sử dụng các đồng tiền của Nhật, TrungQuốc và Hà Lan vào miền nam

Do có một số loại đồng tiền như “Toraisen” và “Bitasen” bị hao mòn, sức mẻcho nên người Nhật khi làm ăn buôn bán ở Đàng Trong không muốn nhận Để giảiquyết vấn đề tiền cũ, nên mạc phủ Nhật cho đúc đồng “Khoan Vĩnh thông bảo” ngoàicho người Nhật sử dụng, còn cho Đàng Trong lưu hành Ngoài ra còn có “Vĩnh Lạcthông bảo” được đúc từ Trung Quốc (Hình 24)

Trang 21

Sau khi Nhật Bản tuyên bố “bế quan tỏa cảng”, ngoại trừ họ giao thương với HàLan và Trung Quốc Các chúa Nguyễn phải tự đúc riêng đồng tiền cho Đàng Trong.

“Thiên Minh thông bảo” là đồng tiền duy nhất do các chúa Nguyễn cho phép các thươngnhân đúc Đồng tiền này được làm bằng kẽm trắng, có khi pha thêm chì (Hình 25)

Mặc dù Đàng Trong do chúa Nguyễn cầm quyền đã bị đánh bại vào năm 1774,dòng dõi của nhà Nguyễn vẫn còn Những người thuộc họ Nguyễn còn sót lại, trong đó

có Nguyễn Ánh, sau này đem quân quay trở lại đánh bại nhà Tây Sơn Thành lập triềuNguyễn, xưng là vua Gia Long

Vua Gia Long đã cho đúc tiền “Gia Long thông bảo”, mặt trước có 4 chữ đọcchéo, mặt sau để mặt trơn (năm 1802) và mặt sai để chữ “ Bảy phân”, đọc từ bên phải(năm 1813) Nó được làm bằng đồng, thiếc, kẽm, chì,… (Hình 25)

“Minh Mạng thông bảo” là đồng tiền được đúc dưới thời của vua Minh Mạng.Gồm có bốn loại đồng tiền “Minh Mạng thông bảo”, tiêu biểu là:

Đồng tiền được đúc bằng hợp kim đồng, kẽm và thiếc (năm 1820) có kích thướclớn từ 22 đến 25 mm, nặng 6 phân

Đồng tiền được đúc bằng hợp kim đồng và kẽm (năm 1825) có kích thước lớn

Thành Thái là vị vua thứ 10 của triều Nguyễn cho phát thành “Thành Tháithông bảo”, mặt trước đọc chéo, mặt sau để trơn hoặc có chữ “thập văn” Riêng mặtsau điều có ở đồng tiền “Duy Tân thông bảo” và “Bảo Đại thông bảo” (Hình 30)

Trang 22

Bảo Đại là vị vua cuối cùng của triều Nguyễn và là vị vua cuối cùng của thờiphong kiến cho phát thành “Bảo Đại thông bảo” Khác với các đồng tiền ngày xưa,đồng tiền này thay vì đúc thì được dập bằng máy với những lá đồng có sẵn (Hình 31)

Trang 23

Chương 4: Tiền tệ Việt Nam – thế kỷ thứ XIX đến nay

4.1 Thời Pháp thuộc

• Đồng Đông Dương (đồng Piastre)

Sau khi quân Pháp đô hộ Việt Nam vào 1884, vài năm sau chiếm luôn vươngquốc Ai Lao và Cam Bốt, từ đó thành lập Liên bang Đông Dương Người Pháp co lưuhành các Đồng Đông Dương (tức là: Piastre), từ đồng xu cho đến các giấy bạc của cácngân hàng Đông Dương Cứ 1 đồng bạc Đồng Dương đổi được từ 200 cho đến 600đồng xu của Việt Nam do triều đình cho lưu thông

Ban đầu cứ 1 đồng Piastre bạc tương đương với 1 đồng Peso Mexico bạc Ngày

25 tháng 8 năm 1883, triều đình nhà Nguyễn đã ký Hòa ước Qúy Mùi với Pháp thì cảnước Việt Nam sẽ sử dụng đồng bạc Piastre Ở cuối thế kỷ thứ 19, Việt Nam có ba loạitiền: tiền Việt Nam, tiền peso Mexico và tiền Đông Dương

Về tiền kim loại, năm 1885, người Pháp đã cho phát hành đồng xu bạc vớimệnh giá là 1 xu Hai năm sau, thì cho đúc đồng xu có đục lỗ Năm 1895 các đồng xubằng bạc bị giảm khối lượng, do giảm tỉ lệ tiền so với bạc Năm 1923, phát hành đồng

5 xu bằng hợp kim đồng và niken và năm 1935 thì cho lưu thông đồng nữa xu Trong

Đệ Nhị thế chiến, thi cho lưu thông đồng xu kẽm 10 và 20 xu Sau khi Pháp bị Đứcchiếm vào năm 1940, thì đã cho đúc đồng xu tiếp theo Và đồng xu cuối cùng đượcđúc vào năm 1945 được làm bằng nhôm (Hình 32, 33 và 34)

Bên cạn tiền kim loại thì Pháp đã cho lưu hành tiền giấy vào năm 1875, với bamệnh giá: $5, $20 và $100 Mặt trước ghi bằng hai thứ tiếng Anh và Pháp, mặt sau ghichữ Hán và chữ Quốc ngữ Cùng với dòng chữ để răng đe những người làm giả giấybạc Chúng có độ bảo an khá là tốt, gồm mực in màu rất đẹp, hình chìm, chữ ký tên và

mã số được in trên tờ tiền Chất liệu của chúng được làm bằng giấy bông sợi cô-tông.(Hình 35)

Trang 24

Từ năm 1919, thì Pháp co phát hành giấy bạc 10, 20 và 50 cents tại Liên bangĐông Dương Tuy nhiên do cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu và phải cố gắng khôiphục các cơ sở hạ tầng do Đệ nhất thế chiến gây ra cho nên đồng tiền mất giá và phải

in tờ $500 Việt Nam là một số thuộc địa bị ảnh hưởng nặng nề bởi cuộc khủng hoảng.Tính từ những năm 30 của thế kỷ 20 thì mệnh giá tờ tiền được ước tính với tỉ giá củabản vị vàng Sau này giấy bạc còn có sợi chỉ để chống lại nạn làm tiền giấy bạc giả.(Hình 36)

Vào năm 1940, chính quyền Pháp lúc bấy giờ là chính quyền Vichy đã hợp tácvới Đế quốc Nhật đã cho phát hành tiền giấy mới với dòng chữ “GouvernementGeneral de l'Indochine” thay vì dòng chữ “Banque de l'Indochine” trước đây Trongsuốt 5 năm, thì nền kinh tế của Đông Dương (Trong đó có Việt Nam) bị thiệt hại nặng

và sau năm 1945 mới bắt đầu cải cách lại tiền tệ trước đây

Mãi cho đến đầu thập niên 50, thì tầm ảnh hưởng của tiền Đông Dương đã giảmxuống, các nước Ai Lao, Cam Bốt và Việt Nam đã phát hành tiền tệ riêng lần lượt làKíp, Riel và Đồng Đồng Piastre chính thức đã biến mất vào năm 1955

Ngày 2/9/1945, là ngày mà Hồ Chí Minh đã đọc bản “Tuyên ngôn độc lập”, lập

ra nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Đồng thời cho phát hành các đồng tiền vớimệnh giá từ: 20 xu, 5 hào, 1 đồng và 2 đồng Những đồng xu này được làm bằngnhôm, loại 5 hào có trang trí ngôi sao và lư hương Riêng loại 1 và 2 đồng có đúc hìnhcủa Hồ Chí Minh và hình ngôi sao (Hình 37 và 38)

Việt Nam Dân chủ Cộng hòa còn cho in ra thêm tiền giấy, những năm đầu thìcho phát hành các loại tiền với nhiều mệnh giá khác nhau và mẫu mã khác nhau.Những tờ tiền những năm đầu in không được đẹp, mực in dễ bị lem, màu củ yếu làmàu đỏ, xanh dương, xanh lục và nâu Mặt trước tờ tiền, chân dung thường là Hồ ChíMinh, nhưng mặt sau thì tờ tiền được vẽ với nhiều bức họa khác nhau chủ yếu là về:

“công – nông – binh” Cùng với 2 ngôn ngữ là tiếng Trung và tiếng Việt

Trang 25

Hơn nữa độ bảo an của chúng rất là kém, dễ bị làm giả tờ tiền, do không cómực in chìm và sợi chỉ (Hình 39)

Từ năm 1951, kĩ thuật in tiền của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã được cảithiện, mực in tốt hơn so với những năm đầu ngoài ra còn có con dấu và số seri đỏ đểtránh nạn làm giả, tuy nhiên vẫn chưa cải thiện phần bảo an của tờ tiền, nên tờ tiền dễ

bị làm giả Ngoài ra còn có các mệnh giá như: 100, 200, 500, 1000 và 5000 đồng được

in đầu tiên vào năm 1953 (Hình 40)

• Đồng (Quốc gia Việt Nam)

Năm 1953, Quốc gia Việt Nam thành lập “Ngân hàng Quốc gia Việt Nam” đã cho

ra tiền tệ riêng đối lập với tiền của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Loại tiền này được lưuhành trên các lãnh thổ dưới quyền kiểm soát của chính phủ Quốc gia Việt Nam

Việc kiểm soát hối suất giữa tiền Quốc gia Việt Nam và các ngoại tệ thuộc ViệnHối đoái Hối suất được quy định vào năm 1953 là cứ 1 đô la Mỹ đổi lấy 35 đồng ViệtNam, 1 bảng Anh lấy 98 đồng, 10 franc Pháp lấy 1 đồng

Trong thời gian đó, chỉnh phủ quốc gia đã cho đúc đồng xu với mệnh giá lầnlượt là 10, 20 và 50 xu Mặt trước, đúc hình 3 cô gái miền Bắc – Trung – Nam, riêngmặt sau đồng 10 và 20 xu là hình cây lúa và 50 xu là hình con rồng (Hình 41)

Bên cạnh đó, còn có các loại giấy bạc được in với mẫu mã giống của nướcPháp, kể cả vận dụng độ bảo an mà người Pháp để lại trước đây Ngoài ra còn có một

số tờ tiền có thiết kế mới hơn, có tiền in kiến trúc, chân dung của cựu hoàng Bảo Đại,hoa văn, … Với mệnh giá tứ 1 cho đến 200 đồng (Hình 42)

Vào năm 1954, Pháp ký quyết định trao trả độc lập cho Việt Nam, kể cả chotrao trả việc tự chủ tiền tệ của Việt Nam, tuy nhiên chính phủ Quốc gia Việt Nam cầnphải làm giảm tầm ảnh hưởng của đồng franc Pháp để chuyển sang tiền đồng

Trang 26

4.2 Thời chiến tranh Việt Nam

Sau khi Pháp dần dần rút khỏi tầm ảnh hưởng của mình lên bán đảo Đông Dương,thì liên bang Đông Dương được chia làm: Ai Lao, Cam Bốt và Việt Nam Riêng Việt Namđược chia ra bởi vĩ tuyến 17: miền bắc Việt Nam và miền nam Việt Nam

Hai chính phủ của hai quốc gia đã phát hành tiền tệ có cùng đơn vị tiền tệ là

“đồng” Tuy nhiên, hai bên có mệnh giá, mẫu mã, độ bảo an và đợt phát hành khác nhau

• Đồng (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa)

Sau khi quân đội Việt Minh tập kết vào miền Bắc và lập chính phủ hợp pháp vàonăm 1954 Ngày 28 tháng 2 năm 1959, thì chính phủ đã bắt đầu đổi tiền, từ tiền in trướcđây sang tờ tiền Việt Nam in từ Tiệp Khắc Với tỉ giá từ 1000 đồng – 1951 sang 1 đồng– 1959 Việc in và đổi tiền với mục đích xóa bỏ nền kinh tế của tư nhân chuyển sangnền kinh tế công xã Để phục hồi và xây dựng nền kinh tế của Bắc Việt Các loại tiềngiấy được phát hành với mệnh giá: từ 1 hào, 2 hào, 5 hào, 1 đồng, 2 đồng, 5 đồng chođến 10 đồng, có hình chìm hình ngôi sao 5 cánh là bảo an cho tờ tiền (Hình 43)

Bên cạnh đó còn đó cả đồng xu được đúc bằng nhôm với mệnh giá từ 1 xu, 2 xu

và 5 xu năm 1958 (Hình 44)

Tỉ lệ tiền tệ của Bắc Việt Nam, cứ 70 đồng miền bắc đổi lấy 1 đồng miền nam,vào năm 1959 Đối với Liên Xô thì, 1 rúp bằng 3.27 đồng Họa sĩ thiết kết giấy bạctiêu biểu là: Nguyễn Đỗ Cung, Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Huyến

Mặc dù giá trị tiền tệ là do chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa quy địnhtrên khắp miền Bắc Nhưng với tình trạng ngân sách thiếu hụt vì lý do chi tiêu chochiến tranh đánh vào miền nam, đồng tiền trở nên mất giá Chính vì vậy, nhà nước chophát hành số lượng tiền giấy bạc càng ngày càng lớn (Hình 45)

Tiền của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được lưu hành cho đến ngày 2 tháng 5năm 1978, thì Việt Nam sử dụng đồng tiền mới mang tên “Cộng hòa Xã hội chủ nghĩaViệt Nam” của “Ngân hàng nhà nước Việt Nam”

• Đồng (Việt Nam Cộng Hòa)

Ngày đăng: 16/08/2022, 04:57

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w