1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN án TIẾN sĩ) các nhân tố tác động đến việc áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích hướng đến tính minh bạch thông tin kế toán tại các đơn vị hành chính sự nghiệp khu vực miền trung việt nam

314 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các nhân tố tác động đến việc áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích hướng đến tính minh bạch thông tin kế toán tại các đơn vị hành chính sự nghiệp khu vực miền trung Việt Nam
Tác giả Lâm Thị Mỹ Yến
Người hướng dẫn TS. Trần Văn Thảo, PGS. TS. Nguyễn Phong Nguyên
Trường học Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kế toán
Thể loại Luận án tiến sĩ kinh tế
Năm xuất bản 2021
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 314
Dung lượng 739,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do lựa chọn đề tài (14)
  • 2. Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu (16)
  • 3. Đối tượng nghiên cứu (17)
  • 4. Phạm vi nghiên cứu (17)
  • 5. Phương pháp nghiên cứu (18)
  • 6. Những đóng góp mới của luận án (19)
  • 7. Kết cấu của luận án (21)
  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC (22)
    • 1.1. Giới thiệu (22)
    • 1.2. Tổng quan các nghiên cứu trên thế giới (22)
      • 1.2.1. Nghiên cứu các nhân tố tác động đến áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích (22)
      • 1.2.2. Nghiên cứu sự tác động của việc áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích đến tính minh bạch thông tin kế toán trong khu vực công (32)
    • 1.3. Tổng quan các nghiên cứu ở Việt Nam (35)
      • 1.3.1. Nghiên cứu các nhân tố tác động đến áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích (35)
      • 1.3.2. Nghiên cứu sự tác động của việc áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích đến tính minh bạch thông tin kế toán trong khu vực công (37)
    • 1.4. Khe hổng nghiên cứu (37)
    • 1.5. Kết luận chương 1 (40)
  • CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT (42)
    • 2.1. Giới thiệu (42)
    • 2.2. Tổng quan về kế toán theo cơ sở dồn tích trong khu vực công (42)
      • 2.2.1. Khái niệm kế toán theo cơ sở dồn tích trong khu vực công (42)
      • 2.2.2. Vai trò của kế toán theo cơ sở dồn tích trong khu vực công (44)
    • 2.3. Tổng quan về tính minh bạch thông tin kế toán trong khu vực công (46)
      • 2.3.1. Khái niệm minh bạch thông tin kế toán trong khu vực công (46)
      • 2.3.2. Vai trò của minh bạch thông tin kế toán trong khu vực công (47)
    • 2.4. Tổng quan về các đơn vị hành chính sự nghiệp ở Việt Nam (49)
      • 2.4.1. Khái niệm đơn vị hành chính sự nghiệp (49)
      • 2.4.2. Phân loại các đơn vị hành chính sự nghiệp (50)
      • 2.4.3. Đặc điểm hoạt động của các đơn vị hành chính sự nghiệp (51)
    • 2.5. Các lý thuyết nền (52)
      • 2.5.1. Lý thuyết về mô hình dự phòng (52)
      • 2.5.2. Lý thuyết quản lý công mới (57)
      • 2.5.3. Lý thuyết ủy nhiệm (59)
      • 2.5.4. Lý thuyết thể chế (60)
      • 2.5.5. Lý thuyết bất cân xứng thông tin (61)
    • 2.6. Các giả thuyết và mô hình nghiên cứu (62)
      • 2.6.1. Xây dựng các giải thuyết nghiên cứu (62)
      • 2.6.2. Mô hình nghiên cứu đề xuất (69)
    • 2.7. Kết luận chương 2 (70)
  • CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (71)
    • 3.1. Giới thiệu (71)
    • 3.2. Thiết kế và quy trình nghiên cứu (71)
      • 3.2.1. Thiết kế nghiên cứu (71)
      • 3.2.2. Quy trình nghiên cứu (73)
    • 3.3. Tổng hợp thang đo của các khái niệm nghiên cứu (0)
      • 3.3.1. Thang đo của khái niệm “Kế toán theo cơ sở dồn tích” (76)
      • 3.3.2. Thang đo của khái niệm “Tính minh bạch thông tin kế toán” (78)
      • 3.3.3. Thang đo của khái niệm “Thể chế chính trị” (81)
      • 3.3.4. Thang đo của khái niệm “Hệ thống pháp lý” (84)
      • 3.3.5. Thang đo của khái niệm “Năng lực nhân viên kế toán” (87)
      • 3.3.6. Thang đo của khái niệm “Năng lực công nghệ thông tin” (90)
      • 3.3.7. Thang đo của khái niệm “Vai trò lãnh đạo của nhà quản lý” (92)
    • 3.4. Phương pháp nghiên cứu định tính (95)
      • 3.4.1. Phương pháp GT (95)
      • 3.4.2. Phương pháp thảo luận tay đôi (96)
      • 3.4.3. Khảo sát thử (100)
    • 3.5. Phương pháp nghiên cứu định lượng (100)
      • 3.5.1. Nghiên cứu định lượng sơ bộ (101)
      • 3.5.2. Nghiên cứu định lượng chính thức (104)
    • 3.6. Kết luận chương 3 (109)
  • CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN (110)
    • 4.1. Giới thiệu (110)
    • 4.2. Kết quả nghiên cứu định tính (110)
      • 4.2.1. Thống kê mô tả mẫu thảo luận tay đôi (110)
      • 4.2.2. Kết quả thảo luận tay đôi (111)
      • 4.2.3. Kết quả khảo sát thử (128)
    • 4.3. Kết quả nghiên cứu định lượng (128)
      • 4.3.1. Kết quả nghiên cứu sơ bộ (128)
      • 4.3.2. Kết quả nghiên cứu chính thức (131)
    • 4.4. Bàn luận về các kết quả nghiên cứu (146)
      • 4.4.1. Tổng hợp các kết quả nghiên cứu (146)
      • 4.4.2. Bàn luận về kết quả nghiên cứu (150)
    • 4.5. Kết luận chương 4 (162)
  • CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ CÁC HÀM Ý (163)
    • 5.1. Giới thiệu (163)
    • 5.2. Kết luận chung (163)
    • 5.3. Các hàm ý (165)
      • 5.3.1. Các hàm ý chính sách (165)
      • 5.3.2. Các hàm ý quản trị (166)
    • 5.4. Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo (172)
      • 5.4.1. Một số hạn chế (172)
      • 5.4.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo (172)
    • 5.5. Kết luận chương 5 (173)
  • KẾT LUẬN (174)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (176)

Nội dung

Vớimục tiêu xác định và đo lường các nhân tố tác động đến việc áp dụng kế toán theo cơ sởdồn tích hướng đến tính minh bạch thông tin kế toán tại các đơn vị này, phương phápnghiên cứu hỗn

Lý do lựa chọn đề tài

Ở nhiều quốc gia trên thế giới, cải cách khu vực công đi kèm với cải cách kế toán (Guthrie, 1998; Carlin, 2003; Connolly & Hyndman, 2006) Cải cách kế toán khu vực công được coi là một phần của cải thiện quản lý tài chính công (Chan, 2005), và các nghiên cứu trước đây xem cải cách kế toán dựa trên cơ sở dồn tích của chính phủ như một công cụ quản lý hiệu suất cao (Deaconu, Nistor và Filip, 2011); là công cụ để thực thi kỷ luật tài chính ở cấp độ kinh tế vĩ mô thông qua cân bằng ngân sách (McKinnon, 2003; Elwood và Newberry, 2007) và là phương tiện để giảm quy mô và sự thống trị của chính phủ đồng thời khuyến khích sự phát triển của khu vực công (Deaconu, Nistor và Filip, 2011) Cùng với đó, mối quan tâm đến tính minh bạch của thông tin kế toán trong khu vực công đã được quan tâm nhiều trong các nghiên cứu trước đây; tính minh bạch trở thành đặc điểm chính trong quản trị hiện đại (Etzioni, 2010; Keane, 2009) và được coi là một cách để tăng lòng tin vào chính phủ (Grimmelikhuijsen & Welch, 2012).

Porumbescu, 2015a), tính hợp pháp của nhà nước (De Fine Licht, 2011), sự tham gia của người dân (Porumbescu, 2015b) và giảm tham nhũng (Bauhr & Grimes, 2014).

Việc chuyển đổi từ kế toán dựa trên cơ sở tiền mặt hoặc kế toán ngân sách sang kế toán theo cơ sở dồn tích là một yếu tố then chốt trong cải cách khu vực công, có tác động đáng kể đến tính minh bạch của thông tin kế toán Kế toán theo cơ sở dồn tích ghi nhận chi phí và nghĩa vụ ở thời điểm phát sinh thay vì khi thanh toán, giúp bảng cân đối và báo cáo tài chính phản ánh đúng tình hình tài chính công và tăng khả năng đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn lực Tuy nhiên, quá trình này đi kèm thách thức về năng lực hệ thống thông tin, nguồn lực và quản trị rủi ro, đòi hỏi đầu tư và đổi mới quy trình để đảm bảo tính nhất quán và bền vững, như Gray & các nhà nghiên cứu nhấn mạnh.

Laughlin (2012) đề xuất kế toán theo cơ sở dồn tích là một xu hướng khá mới trong kế toán khu vực công Việc áp dụng kế toán dồn tích ở các nước phát triển cho thấy nhiều lợi ích, bao gồm hỗ trợ quản lý hoạt động hiệu quả, cải thiện quản trị tài chính, nâng cao hiểu biết về chi phí, cải thiện thông tin phân bổ nguồn lực và báo cáo tài chính, cũng như tạo điều kiện và nâng cao quản lý tài sản của các tổ chức công Do đó, kế toán theo cơ sở dồn tích giúp thông tin minh bạch hơn về các hoạt động của khu vực công, tăng cường trách nhiệm giải trình và nâng cao chất lượng ra quyết định của chính phủ.

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam phải cung cấp những thông tin có tính chuẩn mực, so sánh được và được quốc tế thừa nhận; đồng thời tuân thủ lộ trình minh bạch hóa thông tin kế toán, đặc biệt ở lĩnh vực kế toán công Việt Nam đã có bước tiến đáng kể trong nghiên cứu và xây dựng các quy định kế toán công hướng tới hòa nhập với thông lệ quốc tế, bao gồm việc áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích cho khu vực công và các đơn vị hành chính sự nghiệp Tuy vậy, quá trình này còn bộc lộ nhiều hạn chế như hệ thống văn bản pháp lý chưa thống nhất giữa các lĩnh vực, năng lực kế toán còn hạn chế trong thu thập và xử lý thông tin, và công nghệ thông tin chưa đủ đáp ứng yêu cầu của đơn vị Vì thế, việc áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích ở khu vực công Việt Nam so với các nước đang phát triển còn chậm, khiến thông tin chưa thực sự chất lượng và minh bạch, đặc biệt tại miền Trung do điều kiện kinh tế xã hội và năng lực đội ngũ kế toán còn hạn chế Nhà nước đã quan tâm tới minh bạch thông tin kế toán bằng cách bổ sung Báo cáo tài chính của đơn vị và Báo cáo tài chính Nhà nước trong Luật kế toán 2015 nhằm phản ánh nguồn lực, kết quả hoạt động và dòng tiền theo cơ sở dồn tích để phục vụ cho công tác điều hành; tuy vậy báo cáo tài chính nhà nước vẫn chưa được công bố đầy đủ khi vẫn thiếu một số thông tin trọng yếu như tài sản kết cấu hạ tầng và đất đai Mặc dù Bộ Tài chính đã ban hành 5 chuẩn mực kế toán công Việt Nam nhằm chuẩn hóa và nâng cao chất lượng thông tin kế toán của các đơn vị, việc áp dụng các chuẩn mực này vào các đơn vị công vẫn đối mặt với nhiều khó khăn do khác biệt cơ chế chính sách và chuẩn mực kế toán công, chất lượng đội ngũ kế toán và các yếu tố văn hóa, tư duy.

Nhìn chung, để áp dụng thành công kế toán theo cơ sở dồn tích theo chuẩn mực kế toán công Việt Nam cần một quá trình dài và phải đối mặt với khá nhiều thách thức Với mục đích giúp các nhà nghiên cứu có cơ sở để hoàn thiện mô hình triển khai áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích và chuẩn mực kế toán công Việt Nam hướng đến tính minh bạch thông tin kế toán, giúp nhà quản lý các đơn vị công dễ dàng kiểm soát được những yếu tố có tác động đến việc áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích, tác giả lựa chọn đề tài “Các nhân tố tác động đến việc áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích hướng đến tính minh bạch thông tin kế toán tại các đơn vị hành chính sự nghiệp khu vực miền Trung Việt Nam” để làm luận án.

Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành nhằm xác định và đo lường mức độ tác động của các nhân tố lên việc áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích và đánh giá tác động của việc áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích đối với tính minh bạch của thông tin kế toán tại các đơn vị hành chính sự nghiệp ở miền Trung Việt Nam.

Bài viết xác định và đo lường mức độ tác động của các yếu tố đến việc áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích tại các đơn vị hành chính sự nghiệp khu vực miền Trung Việt Nam Nghiên cứu phân tích các nhân tố như năng lực quản trị, cơ sở hạ tầng CNTT, chất lượng hệ thống thông tin tài chính, trình độ và nhận thức của đội ngũ kế toán, cùng các yếu tố tổ chức và áp lực từ môi trường bên ngoài, nhằm đánh giá tác động lên quá trình chuyển đổi sang kế toán theo cơ sở dồn tích Việc đo lường được thực hiện thông qua các chỉ tiêu định lượng và định tính nhằm xác định mức độ ảnh hưởng và mức độ sẵn sàng của các đơn vị, từ đó đề xuất các giải pháp tối ưu hóa việc áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích ở miền Trung Việt Nam.

Việc áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích tại các đơn vị hành chính sự nghiệp khu vực miền Trung Việt Nam được xác định và đo lường mức độ tác động đến tính minh bạch của thông tin kế toán Nghiên cứu tập trung đánh giá mức độ cải thiện về tính đầy đủ, kịp thời và nhất quán của báo cáo tài chính so với thực tế quản lý nguồn lực và chi tiêu ngân sách, từ đó làm rõ ảnh hưởng của cơ sở dồn tích lên tính minh bạch Kết quả cho thấy cơ sở dồn tích góp phần nâng cao tính minh bạch thông tin kế toán, đồng thời đặt ra thách thức về năng lực cán bộ, hệ thống kiểm soát nội bộ và sự phù hợp với quy định hiện hành tại miền Trung Để tối ưu hóa tác động tích cực, đề xuất tập trung vào nâng cao đào tạo nghề nghiệp, chuẩn hóa chuẩn mực kế toán và tăng cường giám sát, kiểm tra nhằm tăng cường tin cậy và minh bạch của thông tin kế toán tại các đơn vị hành chính sự nghiệp khu vực miền Trung.

Câu hỏi nghiên cứu của luận án được thiết kế để giải quyết các mục tiêu đã đề ra, nổi bật là Câu hỏi 1 nhắm xác định các nhân tố có tác động đến việc áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích tại các đơn vị hành chính sự nghiệp ở khu vực miền Trung Việt Nam Việc làm rõ các yếu tố này giúp đánh giá mức độ phù hợp và hiệu quả của kế toán dồn tích trong quản lý tài chính công, đồng thời cung cấp cơ sở thực tiễn cho các khuyến nghị về cải thiện quy trình kế toán, nguồn lực và ứng dụng công nghệ tại các đơn vị hành chính sự nghiệp ở miền Trung.

Đề tài nghiên cứu tập trung đánh giá mức độ tác động của các yếu tố đến việc áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích tại các đơn vị hành chính sự nghiệp ở khu vực miền Trung Việt Nam Các yếu tố được xem xét bao gồm yếu tố nội bộ như năng lực đội ngũ kế toán, hạ tầng CNTT và hệ thống kiểm soát nội bộ, cùng yếu tố quản trị và sự hỗ trợ từ cấp trên; và yếu tố bên ngoài như khung pháp lý, chuẩn mực kế toán và sự minh bạch thông tin công khai Nghiên cứu sẽ đo lường tác động của từng yếu tố đối với quá trình chuyển đổi sang kế toán dồn tích, từ quy trình ghi nhận và phân bổ chi phí đến báo cáo tài chính và công khai ngân sách Kết quả mong đợi là cung cấp cái nhìn rõ ràng cho các đơn vị miền Trung về các yếu tố ảnh hưởng và đề xuất các giải pháp nhằm tối ưu hóa việc áp dụng kế toán dồn tích, tăng cường tính minh bạch và hiệu quả quản lý tài chính công ở khu vực này.

Câu hỏi 3 nghiên cứu xem việc áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích có tác động thế nào đến tính minh bạch của thông tin kế toán tại các đơn vị hành chính sự nghiệp ở khu vực miền Trung Việt Nam, phân tích liệu phương pháp ghi nhận và trình bày dồn tích có tăng sự đầy đủ, kịp thời và đáng tin cậy của thông tin tài chính công, đồng thời đánh giá ảnh hưởng của nó đến công khai ngân sách, quản lý nguồn lực và niềm tin của các bên liên quan trong khu vực, nhằm gợi ý các biện pháp cải thiện chất lượng báo cáo kế toán cũng như hệ thống kiểm soát nội bộ để nâng cao tính minh bạch ở các đơn vị này.

Việc áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích tại các đơn vị hành chính sự nghiệp ở khu vực miền Trung Việt Nam góp phần nâng cao tính minh bạch của thông tin kế toán bằng cách ghi nhận và báo cáo đầy đủ các yếu tố tài chính: tài sản, nợ phải trả, doanh thu, chi phí và các nguồn vốn ngay khi phát sinh, giúp phản ánh đúng diễn biến tài chính và kết quả sử dụng ngân sách Qua đó, thông tin kế toán trở nên dễ so sánh giữa các kỳ, dễ kiểm tra và đánh giá hiệu quả quản lý tài chính công, tăng cường tính trách nhiệm và sự phục vụ người dân Tuy nhiên, mức độ tác động còn phụ thuộc vào năng lực cán bộ, chất lượng dữ liệu và sự đồng bộ của hệ thống công nghệ thông tin với chuẩn mực kế toán công và các quy định của nhà nước Các đơn vị cần tăng cường huấn luyện, chuẩn hóa quy trình ghi nhận và tinh giản quy trình báo cáo, đồng thời đẩy mạnh tích hợp dữ liệu từ các cấp dưới lên cấp trên, nhằm giảm chi phí chuyển đổi và nâng cao chất lượng thông tin Nói chung, áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích ở miền Trung Việt Nam có tiềm năng cải thiện đáng kể sự minh bạch, tin cậy và trách nhiệm giải trình của thông tin kế toán trong khu vực.

Phương pháp nghiên cứu

Với mục đích giải quyết các vấn đề đã đặt ra của luận án, tác giả đã lựa chọn phương pháp hỗn hợp khám phá làm nền tảng cho nghiên cứu, nhằm kết hợp các yếu tố định tính và định lượng để khám phá sâu các hiện tượng và đáp ứng yêu cầu đặt ra Cụ thể, phương pháp này thiết lập khung nghiên cứu linh hoạt, hướng tới thu thập và phân tích dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau, từ đó rút ra các kết quả có ý nghĩa và có thể áp dụng trong thực tiễn.

“phương pháp định tính được sử dụng để xây dựng các giả thuyết nghiên cứu, sau đó dùng phương pháp định lượng để kiểm định chúng” (Nguyễn Đình Thọ, 2014).

Nghiên cứu định tính bao gồm nhiều phương pháp và công cụ khác nhau, khó phân loại hoàn chỉnh; nhìn chung có thể chia thành hai nhóm chính: nhóm phương pháp (bao gồm phương pháp GT và phương pháp tình huống) và ba công cụ chủ yếu là thảo luận nhóm, thảo luận tay đôi và quan sát Trong luận án này, phương pháp GT được sử dụng để tổng hợp các nghiên cứu trước về các nhân tố tác động đến việc áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích và sự tác động của việc áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích đến tính minh bạch thông tin kế toán trong khu vực công, từ đó xây dựng các giả thuyết và mô hình nghiên cứu Bên cạnh đó, tác giả lựa chọn công cụ thảo luận tay đôi với các chuyên gia để xác định tính khả thi của mô hình nghiên cứu đề xuất và củng cố, điều chỉnh thang đo của các khái niệm nghiên cứu cho phù hợp với bối cảnh khu vực công ở miền Trung Việt Nam.

Nghiên cứu định lượng được sử dụng để khám phá quy luật của hiện tượng khoa học với mục đích thu thập dữ liệu nhằm kiểm định các lý thuyết khoa học được suy diễn từ các giả thiết đã có Phương pháp nghiên cứu định lượng gồm hai nhánh chính là khảo sát (survey method) và thử nghiệm (experimentation) Để có được kết quả phân tích từ thực nghiệm, nghiên cứu định lượng giúp cho tác giả luận án thu thập dữ liệu phục vụ cho luận án thông qua phương pháp khảo sát với công cụ là bảng câu hỏi Kết quả cuối cùng của luận án được trình bày bằng các công cụ xử lý dữ liệu (phần mềm SPSS, AMOS) để thực hiện các phân tích: khám phá nhân tố EFA, phân tích nhân tố khẳng định CFA và mô hình cấu trúc tuyến tính SEM.

Những đóng góp mới của luận án

Luận án bổ sung và hoàn thiện các lý luận cơ bản về kế toán theo cơ sở dồn tích và cải cách kế toán nói chung, đồng thời làm rõ thang đo của các khái niệm quan trọng như minh bạch thông tin kế toán, thể chế chính trị, hệ thống pháp lý, năng lực nhân sự kế toán, năng lực công nghệ thông tin và vai trò lãnh đạo của nhà quản lý trong bối cảnh miền Trung Việt Nam Hầu hết các đơn vị hành chính sự nghiệp ở Việt Nam đã và đang áp dụng chế độ kế toán theo Thông tư 107/2017/TT-BTC và hạch toán trên cơ sở dồn tích, tuy nhiên sự khác biệt giữa các loại hình đơn vị và thiếu đồng bộ gây ra thông tin kế toán chưa đồng nhất, chưa chính xác và chưa minh bạch, làm giảm niềm tin của nhà đầu tư và các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước Kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác động của các nhân tố đến việc áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích và sự tác động của nó tới tính minh bạch thông tin kế toán, đồng thời góp phần bổ sung cơ sở lý thuyết và làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu sau về mô hình các nhân tố tác động đến áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích hướng tới tính minh bạch thông tin trên cơ sở Chuẩn mực kế toán công Việt Nam, nhằm đảm bảo thông tin của các đơn vị công chính xác, minh bạch và phù hợp với thông lệ quốc tế, đặc biệt ở khu vực có đặc thù kinh tế–xã hội như miền Trung và trên toàn quốc.

Nghiên cứu cung cấp căn cứ giá trị cho nhà quản lý các đơn vị công nhận diện sự tác động của các yếu tố như thể chế chính trị, hệ thống pháp lý, năng lực nhân viên kế toán, năng lực CNTT và vai trò lãnh đạo đến việc áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích; từ đó đánh giá quá trình thực hiện và đề xuất các biện pháp kiểm soát nhằm tạo ra dòng thông tin kế toán minh bạch và có trách nhiệm giải trình cao Phân tích các yếu tố tác động và thảo luận về các hạn chế của chúng giúp các đơn vị nhận diện lỗ hổng, điều tiết và kiểm soát các nhân tố để quá trình áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích diễn ra thuận lợi và hiệu quả, hướng tới tính minh bạch của thông tin kế toán Việc chứng minh sự tác động của áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích đối với tính minh bạch giúp kế toán viên và lãnh đạo hiểu rõ nguyên nhân và ý nghĩa của việc áp dụng chuẩn mực kế toán công Việt Nam theo cơ sở dồn tích, từ đó tăng động lực nâng cao hiệu quả hoạt động và sự tự chủ của đơn vị Kết quả nghiên cứu cũng làm cơ sở khoa học cho cơ quan quản lý Nhà nước và các bên liên quan ban hành chính sách kế toán, đồng thời đề xuất các hướng dẫn cụ thể và giải pháp phù hợp để áp dụng chuẩn mực kế toán công Việt Nam trên cơ sở dồn tích, nhằm tạo ra dòng thông tin kế toán chất lượng và thực sự minh bạch.

Kết cấu của luận án

Chương 1 trình bày tổng quan về các nghiên cứu trước trên thế giới và tại Việt Nam về các nhân tố tác động đến việc áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích và sự tác động của kế toán theo cơ sở dồn tích đến tính minh bạch của thông tin kế toán Các nghiên cứu cho thấy các yếu tố như môi trường pháp lý, chuẩn mực kế toán, áp lực quản trị, nguồn lực tổ chức và đặc điểm doanh nghiệp ảnh hưởng đến quyết định áp dụng kế toán dồn tích Đồng thời, việc áp dụng kế toán dồn tích được xem xét có tác động đến tính minh bạch của thông tin kế toán thông qua chất lượng báo cáo, mức độ so sánh và khả năng ra quyết định của các bên liên quan Từ tổng hợp này, tác giả luận án tiến hành đánh giá, phân tích và tổng hợp các kết quả nghiên cứu để xác định khe hở nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo nhằm góp phần nâng cao tính minh bạch của thông tin kế toán ở Việt Nam.

Chương 2 giới thiệu cơ sở lý thuyết cho kế toán theo cơ sở dồn tích và tính minh bạch thông tin kế toán trong khu vực công, đồng thời trình bày các lý thuyết nền quan trọng như lý thuyết mô hình dự phòng, lý thuyết quản lý công mới và lý thuyết thể chế; dựa trên khung lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước, bài viết đề xuất một mô hình nghiên cứu cho luận án và xác định thang đo cho các khái niệm nghiên cứu, nhằm cung cấp nền tảng cho kiểm định giả thuyết và định hướng thực nghiệm.

Chương 3 trình bày căn cứ khoa học của phương pháp hỗn hợp khám phá được áp dụng trong luận án, nhấn mạnh sự kết hợp giữa nghiên cứu định tính và định lượng để làm rõ các vấn đề nghiên cứu Trong chương, tác giả trình bày chi tiết nghiên cứu định tính với phương pháp Grounded Theory (GT) và công cụ thảo luận tay đôi, nhằm khai thác sâu hiện tượng và xây dựng khung lý thuyết ban đầu Đồng thời, nghiên cứu định lượng được thực hiện qua hai giai đoạn, gồm sơ bộ và chính thức, sử dụng phương pháp khảo sát và các công cụ xử lý dữ liệu để kiểm chứng và bổ sung kết quả từ phần định tính.

Chương 4, Kết quả nghiên cứu và bàn luận, trình bày chi tiết các kết quả nghiên cứu ở hai khuôn khổ định tính và định lượng của luận án đồng thời tiến hành bàn luận nhằm làm rõ ý nghĩa và tác động của các phát hiện Phần kết quả mô tả một cách có hệ thống dữ liệu thu thập được, các kết quả phân tích và các biến liên quan, từ đó rút ra các kết luận được hỗ trợ bằng chứng số liệu Phần bàn luận so sánh các phát hiện với các nghiên cứu trước, nêu bật đóng góp khoa học của luận án, nhận diện giới hạn và các giả thiết còn mở, và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo cũng như ứng dụng thực tiễn nhằm tăng giá trị của nghiên cứu.

Chương 5 trình bày kết luận chung về các kết quả nghiên cứu và từ đó rút ra các hàm ý nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện kế toán theo cơ sở dồn tích, hướng tới tính minh bạch thông tin kế toán tại các đơn vị hành chính sự nghiệp khu vực miền Trung Việt Nam Đồng thời luận án trình bày các hạn chế của nghiên cứu và đề xuất một số hướng nghiên cứu tiếp theo để mở rộng và ứng dụng các kết quả vào thực tiễn và lý thuyết kế toán ở Việt Nam.

TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC

Giới thiệu

Chương này trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu trước đây trên thế giới và ở Việt Nam liên quan đến các nội dung của luận án Mục tiêu của chương là thu thập các luận giải quan trọng, xây dựng nền tảng lý luận và hệ thống hóa kết quả từ các nghiên cứu trước đây để luận án có cơ sở tham chiếu vững chắc Từ đó, tác giả nhận xét và chỉ ra khe hở nghiên cứu nhằm định hướng nội dung, phương pháp và hướng đi của luận án dựa trên sự kết nối giữa lý thuyết và thực nghiệm.

Để xây dựng phần tổng quan, tác giả tiếp cận các nghiên cứu nước ngoài thuộc danh mục Scopus, Web of Science (ISI) và các luận án cùng lĩnh vực thông qua các công cụ như Google Scholar, Science Direct, Emerald và các nền tảng uy tín khác Quá trình tìm kiếm bắt đầu bằng Google Scholar để xác định từ khóa liên quan, sau đó vào các trang Scopus (https://www.scimagojr.com) và ISI (http://mjl.clarivate.com) để kiểm tra xem các tạp chí có thuộc danh mục Scopus, ISI hay ABDC hay không và lựa chọn các bài nghiên cứu phù hợp đưa vào phần tổng quan Đối với các nghiên cứu trong nước, tác giả luận án cũng sử dụng Google Scholar để tìm kiếm các từ khóa liên quan đến nội dung luận án, sau đó tuyển chọn các luận án, bài báo hoặc bài hội thảo trên các tạp chí và hội thảo uy tín để đọc, tìm hiểu và đưa vào phần tổng quan.

Tổng quan các nghiên cứu trên thế giới

Khung ban đầu về thay đổi kế toán công dựa trên lý thuyết dự phòng của Lũder (1992) đã được chỉnh sửa, bổ sung và hoàn thiện qua các nghiên cứu thực nghiệm của Lũder (1994, 2002) Đây được coi là một trong những mô hình hàng đầu để giải thích quá trình đổi mới kế toán khu vực công, cho thấy sự thay đổi kế toán phụ thuộc vào các biến ngữ cảnh ảnh hưởng đến thái độ và hành vi của người sử dụng khi khai báo thông tin tài chính của chính phủ Sự kết hợp giữa các điều kiện thuận lợi theo ngữ cảnh và thái độ/hành vi tạo điều kiện cho sự thay đổi thành công Mô hình này đã được các nhà nghiên cứu khác kế thừa để so sánh giữa các quốc gia có cùng bối cảnh nhằm xác định động lực chính thúc đẩy đổi mới Nghiên cứu về cải cách kế toán dựa trên cơ sở dồn tích trong khu vực công phần lớn đề xuất một khung mô hình giải thích sự đổi mới nhằm xây dựng hệ thống thông tin chất lượng và đáng tin cậy hơn thông qua mô hình dự phòng của Lũder Dựa trên kế thừa của Lũder (1992, 1994) và bằng phương pháp nghiên cứu định tính, các dòng nghiên cứu sau đã lần lượt phát hiện các nhân tố hạn chế quá trình áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích ở nhiều quốc gia: Jaruga và Nowak (1996) không chỉ xem xét hành vi và thái độ của các tác nhân chính mà còn quá trình thực hiện kế toán chính phủ theo cơ sở dồn tích, đồng thời nêu ra sáu rào cản trong quá trình chuyển đổi, trong đó hai yếu tố kế thừa từ mô hình của Lũder là hệ thống pháp lý và quyền tài phán; còn lại là hệ thống các giá trị, phương thức tư duy, nội dung trách nhiệm và hệ thống giáo dục Thêm vào đó, mô hình dự phòng khuếch tán của Godfrey và cộng sự được dùng để giải thích cách thức lan tỏa và các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình cải cách.

Các nghiên cứu cho rằng rào cản chuyển đổi kế toán công có đặc điểm tương tự Jaruga và Nowak (1996) và bổ sung yếu tố biến dạng của viện trợ như một rào cản đáng kể Christensen (2001) lại xem thiếu kỹ năng kế toán trong khu vực công và hồ sơ tài sản không đầy đủ là hai rào cản quan trọng của quá trình chuyển đổi sang kế toán theo cơ sở dồn tích Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào về rào cản chuyển đổi kế toán dựa trên cơ sở dồn tích trong khu vực công được phân tích chi tiết cả về mặt lý thuyết lẫn thực nghiệm Các nghiên cứu này đều gặp hạn chế là thiếu bằng chứng thực nghiệm để minh chứng, dẫn đến độ tin cậy của kết quả thấp (Broadbent và Guthrie, 2008).

Để tăng tính tin cậy, các nghiên cứu sau này hầu như theo hướng thực nghiệm, phân tích các yếu tố tích cực và tiêu cực tác động đến quá trình áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích ở nước phát triển và nước đang phát triển Mở màn cho dòng nghiên cứu này là các công trình của Ouda (2003, 2004, 2005b, 2008), đã xây dựng một mô hình các yếu tố tác động đến sự thành công của việc áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích trong khu vực công ở cả các nước phát triển và đang phát triển.

Trong các công trình của Ouda (2003, 2005b, 2004, 2008) tác giả mở rộng nghiên cứu về các rào cản trong quá trình chuyển đổi sang kế toán dồn tích nhằm làm sáng rõ những yếu tố ảnh hưởng đến thành công của đổi mới ở cả nước phát triển và đang phát triển; bằng cách đo lường hiệu suất, hiệu quả và giá trị đồng tiền cũng như sự hài lòng của người dùng ở các nước New Zealand, Anh và Úc theo phương pháp định tính, Ouda (2004) cho thấy các yếu tố như quản lý sự thay đổi, chiến lược tuyên truyền, sự ủng hộ về mặt chính trị từ các cơ quan hành pháp, lập pháp và mặt học thuật của các hiệp hội kế toán, kiểm toán, cùng với sự sẵn sàng của các tổ chức đổi mới, tư vấn và phối hợp với chính quyền địa phương và trung ương là những nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện đổi mới kế toán nói chung và chuyển đổi lên cơ sở dồn tích nói riêng; hai nghiên cứu của Ouda (2003) và Ouda (2005b) sử dụng phương pháp thống kê và mô tả để chỉ ra những rào cản trong quá trình chuyển đổi sang cơ sở dồn tích ở cả nước phát triển và đang phát triển, được chia thành rào cản thực tế (pháp lý, chi phí thiết kế và lắp đặt hệ thống kế toán mới, thiếu chuẩn mực kế toán chính phủ, thiếu nhân viên kế toán có trình độ, chống lại sự thay đổi, thiếu hệ thống khuyến khích đúng đắn, văn hóa quản lý quan liêu, thiếu thống nhất nội bộ, thiếu áp lực từ bên ngoài, thiếu cam kết chính trị, thiếu thông tin về quá trình cải cách, thiếu năng lực công nghệ thông tin và thiếu hụt nguồn tài chính) và rào cản khái niệm (thiếu động cơ lợi nhuận, tăng lạm phát gây khó khăn trong việc định giá tài sản và nợ của chính phủ, sự mơ hồ của một số nguyên tắc và quy định kế toán theo cơ sở dồn tích).

…) Ngoài ra, kế thừa hàng loạt các nghiên cứu của Lũder (1992, 1994), Pallot

Trong các nghiên cứu trước đây, Ball (1994, 2000), Jaruga và Nowak (1996), Guthrie (1998), Godfrey và cộng sự (2001), Christensen (2001) và Ouda (2003, 2005, 2008) đã thực hiện phỏng vấn có cấu trúc dựa trên các câu hỏi mở với các cơ quan, ban ngành nhằm thu thập dữ liệu và hiểu rõ vai trò của từng cơ quan trong hệ thống quản lý.

Nghiên cứu của Ouda và cộng sự nhằm làm sáng tỏ các yếu tố ảnh hưởng tới sự thành công và rào cản trong quá trình chuyển đổi sang kế toán theo cơ sở dồn tích ở các nước phát triển và đang phát triển Dữ liệu thu thập từ khảo sát với 300 người gồm kế toán viên, quản lý tài chính, kiểm toán viên, giám đốc điều hành và học giả, cùng với phân tích tại Bộ Tài chính và tổ chức kiểm toán trung ương Kết quả cho thấy ở Hà Lan, đại diện cho các nước phát triển, các rào cản chủ yếu là đặc điểm nhân sự, yếu tố chính trị, rào cản giao tiếp, rào cản pháp lý và văn hóa quản lý quan liêu, và các trở ngại này liên quan nhiều hơn tới văn hóa quan liêu chứ không phải thiếu động lực lợi nhuận Ở Ai Cập, đại diện cho các nước đang phát triển, rào cản chính là nguyên tắc kế toán theo cơ sở dồn tích, thiếu chuẩn mực kế toán, yếu tố chính trị, nguồn lực tài chính, đặc điểm tổ chức, vấn đề kế toán cụ thể và đặc điểm nhân sự Tóm lại, các nghiên cứu của Ouda (2003, 2004, 2005b và 2008) theo hướng định lượng nhằm cung cấp cái nhìn rõ hơn về các yếu tố tác động đến sự thành công, các rào cản trong quá trình chuyển đổi và thực hiện kế toán theo cơ sở dồn tích ở cả nước phát triển và đang phát triển, do đó có độ tin cậy khá cao.

Có thể nói rằng phần lớn các nghiên cứu về kế toán theo cơ sở dồn tích ở các nước đang phát triển tập trung vào sự cần thiết của cải cách kế toán chính phủ nhằm đạt các mục tiêu kinh tế xã hội, trong đó xóa đói giảm nghèo được xem là một chỉ số quan trọng Chan (2005) cho rằng để tăng cường tính toàn vẹn tài chính và tạo điều kiện cho IPSAS hữu ích hơn trong cải cách kế toán công, các nước này nên áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích Tuy vậy, vẫn tồn tại nhiều thách thức như gian lận, tham nhũng và hệ thống chính trị phi dân chủ, cùng với hạn chế về nhân sự có trình độ chuyên môn, công nghệ thông tin và sự sẵn lòng của quản lý đối với thay đổi hệ thống kế toán; những yếu tố này làm ảnh hưởng đến việc áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích ở các nước đang phát triển và chưa tạo áp lực đủ mạnh để thúc đẩy cung cấp thông tin kế toán khu vực công (Ouda, 2004) Tuy nhiên, với tầm quan trọng của kế toán theo cơ sở dồn tích trong việc tuân thủ IPSAS, tác giả vẫn ủng hộ các nước đang phát triển thực hiện đổi mới kế toán theo hướng này để tạo ra nhiều giá trị xã hội và lợi ích kinh tế Bên cạnh đó, Chan (2005) khuyến nghị các tổ chức quốc tế, Liên hợp quốc chỉ nên tài trợ cho các nước phát triển đã đáp ứng các điều kiện cơ bản, sẵn sàng thực hiện hệ thống kế toán tuân thủ IPSAS và không tham nhũng.

Ngoài ra, có nhiều nghiên cứu xem xét các yếu tố tác động đến đổi mới kế toán ở các lĩnh vực như giáo dục và y tế Ví dụ, Phetphrairin Upping và Judy Olive (2011) đã kết hợp phân tích, tổng hợp và so sánh để tích hợp các yếu tố tiềm ẩn—động lực, rào cản và người thúc đẩy—vào một mô hình dự phòng về đổi mới kế toán, được phát triển dựa trên mô hình của Ludder (1992) cho khu vực công và Innes & Mitchell (1990) cho khu vực tư nhân, nhằm tìm hiểu nguyên nhân, động cơ, động lực và rào cản đối với sự thay đổi kế toán ở các trường đại học công lập của Thái Lan Kết quả cho thấy các yếu tố môi trường khác nhau ảnh hưởng đến sự thay đổi kế toán ở các tổ chức khác nhau, ủng hộ quan điểm của lý thuyết dự phòng Trong đó, các yếu tố động lực và chất xúc tác (bao gồm các hoạt động hỗ trợ những người thực hiện sự thay đổi và các nhà truyền thông của sự thay đổi) cùng nhóm kích thích đổi mới (áp lực tài chính, bê bối tài chính, thị trường vốn, cơ quan ban hành chuẩn mực) là những sự kiện diễn ra ở giai đoạn khởi đầu của quá trình thay đổi Những người tạo ra thông tin, những người sử dụng thông tin và các nhà lãnh đạo được xem là nhóm yếu tố hỗ trợ thúc đẩy quá trình đổi mới, trong khi các người thúc đẩy sự thay đổi và các rào cản (văn hóa, chính trị, pháp luật, giáo dục, sự biến dạng các hình thức tài trợ,…) góp phần định hình thành công của quá trình đổi mới tại các trường đại học công lập ở Thái Lan Như vậy, nghiên cứu của Phetphrairin Upping và Judy Olive cho thấy sự tương tác giữa động lực, chất xúc tác và rào cản dựa trên thời điểm và hoàn cảnh tổ chức có thể quyết định mức độ thành công của đổi mới kế toán.

Nghiên cứu năm 2011 cho thấy áp lực nội bộ và áp lực từ bên ngoài tác động tích cực đến quá trình thay đổi trong một tổ chức, nhưng hiệu quả của những thay đổi chỉ xuất hiện khi tồn tại trong điều kiện thích hợp Mô hình này đồng thời cung cấp một khuôn khổ khái niệm tích hợp các yếu tố nội bộ và bên ngoài ảnh hưởng tới sự thay đổi kế toán, trong đó các yếu tố này có thể đóng vai trò là rào cản hoặc là động lực tạo điều kiện cho những thay đổi ở các nước đang phát triển.

Nghiên cứu của N Eriotis và cộng sự (2011) về quá trình áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích trong khuôn khổ thể chế đã chỉ ra các yếu tố dẫn đến tiến độ thực hiện cải cách kế toán theo cơ sở dồn tích bị chậm lại bao gồm áp lực cưỡng chế chính thức của trung ương không đi theo hình thức hạn chế về tài chính; các bệnh viện tập trung vào các hoạt động trên cơ sở tiền và không có một quy định pháp lý nào tồn tại để kiểm soát về kiểm toán tài chính hoặc về sự phù hợp với hệ thống kế toán mới, cụ thể hầu hết các bệnh viện công đều đánh giá và kiểm soát các báo cáo dựa trên cơ sở tiền (ngân sách hàng năm và số tiền thu chi thực tế hàng năm) và không có cơ chế kiểm soát thích hợp về kế toán cơ sở dồn tích; thiếu các hàm ý chính trị (sự hỗ trợ về chính trị) và sự quan tâm của các cấp chính quyền trung ương; thiếu một cơ chế thực thi hiệu quả cho quá trình thực hiện việc cắt giảm ngân sách, phát hiện này là phù hợp với nghiên cứu của Berry và Jacobs (1981) (trích trong Cohen et al., 2007), rằng việc thiếu một hệ thống thực thi có hiệu quả là một lý do hàng đầu của việc không tuân thủ; thiếu một mô hình hạch toán chi phí (như cấu trúc trung tâm chi phí, biểu đồ tài khoản, ) của từng đơn vị công lập; và đa số những người được phỏng vấn đều cho rằng việc thực hiện kế toán cơ sở dồn tích và hệ thống kế toán chi phí trong tổ chức là một việc khó khăn và tốn nhiều thời gian thực hiện và họ cho rằng họ không có năng lực tổ chức cần thiết trong việc quản lý các thay đổi Các bằng chứng thực nghiệm trong nghiên cứu của N Eriotis và F Stamatiadas (2012) được khảo sát bằng bảng câu hỏi ở 132 bệnh viện công lập ở Hy Lạp và được phân tích bằng phương pháp kết hợp giữa định tính và định lượng một lần nữa chứng minh được các yếu tố đã đề cập trong nghiên cứu N Eriotis và F Stamatiadas (2011) đã làm cho mức độ thực hiện kế toán theo cơ sở dồn tích và đặc biệt là việc áp dụng kế toán chi phí tại các bệnh viện công lập ở Hy Lạp chỉ được an an tien si TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com thực hiện ở mức độ hạn chế Ngoài ra, nghiên cứu còn cho thấy các yếu tố về khả năng tổ chức như thiếu các nhân viên của phòng kế toán được huấn luyện, đào tạo đầy đủ, sự vắng mặt của cán bộ tài chính và kế toán được đào tạo để hỗ trợ, hiểu được giá trị của cải cách và bắt đầu thực hiện cải cách kế toán; sự kém hiệu quả của các hệ thống thông tin hiện có để cung cấp số liệu kịp thời, tin cậy và có giá trị trong một định dạng dễ tiếp cận; và thiếu sự hỗ trợ chuyên nghiệp từ chuyên gia tư vấn chuyên nghiệp tất cả làm cản trở đáng kể quá trình thực hiện kế toán theo cơ sở dồn tích Mặt khác, quy mô bệnh viện, kiến thức hành chính của các nhà quản lý bệnh viện, sự hỗ trợ từ các đối tác chính của các tổ chức, và các cuộc xung đột giữa người quản lý là bác sĩ dường như không thể hiện bất kỳ vai trò là cho phép hay phủ nhận ý nghĩa thống kê trong việc thực hiện và quá trình áp dụng kế toán theo cơ sở dôn tích theo trường hợp Hy Lạp.

Harun Harun & Haryono Kamase (2012) đã vận dụng lý thuyết thể chế chính trị và phương pháp nghiên cứu tình huống để nghiên cứu về sự thay đổi kế toán công ở Indonesia Tác giả thực hiện thu thập dữ liệu từ các nguồn thông tin như tài liệu; phỏng vấn chuyên sâu và bảng câu hỏi nhằm xem xét sự thay đổi hệ thống báo cáo của một chính quyền thuộc tỉnh của Indonesia, đưa ra lý thuyết về cách mà hệ thống kế toán được chính quyền áp dụng Kết quả nghiên cứu cho thấy phải có sự tách biệt giữa những người làm chính trị và người làm quản lý trong tổ chức khi thực hiện chính sách quản lý tài chính công mới (trong nghiên cứu của nhóm nghiên cứu gọi là quan điểm kinh tế) và phải tuân thủ theo các nguyên tắc kế toán do chính quyền trung ương ban hành (quan điểm về thể chế); chính sự khác nhau của hai quan điểm này sẽ làm cho việc thực hiện cải cách kế toán bị thất bại ở Indonesia.

Những nền tảng lịch sử và thể chế khác nhau giữa các quốc gia định hình hình thức và nội dung của cải cách hành chính Nghiên cứu cho thấy sự đa dạng này ảnh hưởng tới cách thiết kế, triển khai và mục tiêu của cải cách hành chính ở mỗi nước Bên cạnh đó, các nguyên nhân dẫn tới thất bại của cải cách hành chính được chỉ ra là thiếu hụt nguồn nhân lực thể chế và sự hiện diện của các rào cản khi thực thi, đòi hỏi bổ sung nguồn lực và cải thiện môi trường vận hành để đạt được hiệu quả.

Trong nghiên cứu của Azmi và Mohamed (2014) với đối tượng là nhân viên kế toán tại Bộ Giáo dục Malaysia, phương pháp định tính gồm khảo sát bảng câu hỏi, quan sát và phỏng vấn cho thấy nhân viên kế toán sẵn sàng thay đổi tư duy và thực hiện kế toán dồn tích vì tin rằng nó tăng tính minh bạch và hiệu quả của kế toán nhà nước, nhưng tồn tại nhiều rào cản như trình độ, kỹ năng xử lý kế toán còn hạn chế, thiếu các khóa đào tạo liên tục và lộ trình thực hiện cụ thể, đồng thời phụ thuộc quá nhiều vào tư vấn bên ngoài gây chi phí cao; từ đó cho thấy sẵn sàng đổi mới chưa đủ để áp dụng kế toán dồn tích thành công và các nước đang phát triển cần vượt qua thách thức về đào tạo, thu thập dữ liệu tài sản, hòa nhập hệ thống CNTT hiện có với hệ thống mới, thiếu sự ủng hộ từ quản trị cấp cao và thiếu khung thời gian thực hiện Tương tự, Ross & Harun (2014) phân tích thách thức ở Indonesia trong quá trình chuyển đổi kế toán công sang cơ sở dồn tích đầy đủ bằng cách rà soát pháp lý, quy định và phỏng vấn các nhà hoạch định chính sách, cho thấy trở ngại lớn do thiếu nhân sự có kỹ năng kế toán và nhấn mạnh sự cần thiết của các điều kiện tiên quyết cũng như bổ sung quản trị nguồn nhân lực để hỗ trợ cải cách Dựa trên khung lý thuyết của Ouda (2008), Suparman và cộng sự (2015) nhắc lại rằng đào tạo không đủ ảnh hưởng đến khả năng hiểu và triển khai kế toán dồn tích, đồng thời kỹ năng và năng lực của quan chức khu vực công còn yếu, đặc biệt ở cấp địa phương, và sự không sẵn lòng thay đổi thói quen là rào cản lớn; do đó, để thúc đẩy thay đổi kế toán ở Indonesia và các nước đang phát triển nói chung, cần có sự hỗ trợ chính trị mạnh mẽ, chiến lược truyền thông hiệu quả, các khóa đào tạo kế toán dồn tích, hệ thống CNTT tích hợp, cải thiện kiểm soát nội bộ và tích hợp ngân sách với hệ thống kế toán tài chính.

Mehrolhassani và cộng sự (2015) áp dụng phương pháp định lượng thông qua bảng câu hỏi Likert để khảo sát 32 đơn vị trực thuộc Đại học Khoa học Y tế Kerman ở Iran, gồm mạng lưới trung tâm y tế, bệnh viện, phòng khám, dịch vụ y tế, trụ sở chính và các khoa trực thuộc; kết quả cho thấy việc thiết lập hệ thống kế toán dồn tích đối mặt với thách thức về quản lý và lãnh đạo, cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, người kế thừa, cơ cấu tổ chức, nhân lực, quy trình làm việc và kiến thức của nhân viên kế toán Đặc biệt, vị trí quản lý và lãnh đạo được đánh giá ở mức thấp nhất do thiếu sự quan tâm, nhận thức và cam kết, không hợp tác trong thu thập báo cáo dồn tích và không ủng hộ thay đổi; do đó cần phát triển các biện pháp nhằm khắc phục những trở ngại tập trung vào thành phần này Việc hướng tới kế toán dồn tích đòi hỏi một cách tiếp cận thay đổi dần dần để cải thiện hệ thống báo cáo và kế toán tài chính, đáp ứng các điều kiện chung và cần thiết, đồng thời thay đổi thái độ của các nhà chức trách đối với văn hóa trách nhiệm giải trình và niềm tin của họ vào trách nhiệm giải trình đối với người dùng thông tin (Babakhani, 2006).

Nghiên cứu của Suparman và cộng sự (2015) dựa trên khuôn khổ được Chính phủ New Zealand thông qua (Ouda, 2008) để phân tích mức độ sẵn sàng của khu vực công ở Indonesia trong kế toán dồn tích, thông qua việc xem xét các luật, hướng dẫn và quy định liên quan và kiểm tra dữ liệu cùng thông tin thứ cấp cũng như đánh giá chiến lược kế toán dồn tích tại Indonesia Các phát hiện cho thấy một số sáng kiến đã được triển khai nhằm hỗ trợ việc áp dụng hệ thống mới, cụ thể là ban hành các quy định và luật mới, sử dụng nhiều kênh liên lạc để giải thích hệ thống (chiến lược truyền thông) và lấy ý kiến từ cộng đồng kế toán chuyên nghiệp và học thuật Tuy nhiên, việc áp dụng kế toán dồn tích vẫn gặp nhiều thách thức và bất cập, bao gồm đào tạo chưa đầy đủ, thiếu cán bộ kế toán khu vực công chuyên nghiệp, đặc biệt ở cấp chính quyền địa phương, tiếp tục thực hiện ngân sách dựa trên tiền mặt và thiếu sự tích hợp công nghệ thông tin cùng với các hệ thống khác.

Tổng quan các nghiên cứu ở Việt Nam

Liên quan đến vận dụng IPSAS theo cơ sở dồn tích để trình bày BCTC nhà nước theo mô hình tổng kế toán nhà nước, Việt Nam đang ở giai đoạn chuyển tiếp và chế độ kế toán hành chính sự nghiệp hiện có có sự điều chỉnh riêng; thực tế, việc áp dụng cơ sở dồn tích không đồng nhất giữa các đơn vị khiến thông tin kế toán giữa đơn vị khó so sánh Vì vậy, hầu hết các nghiên cứu sau này ở Việt Nam đều đề cập đến việc áp dụng IPSAS nói chung, phân tích hạn chế của hệ thống kế toán công Việt Nam và sự cần thiết phải áp dụng IPSAS theo hướng cơ sở dồn tích đầy đủ, ít chú ý đến các nhân tố tác động tới quá trình đổi mới kế toán Ví dụ, Nguyễn Thị Thu Hiền (2015) chỉ ra một số yếu tố thuộc các môi trường: chính trị (sự hỗ trợ và cạnh tranh của hệ thống hành pháp–lập pháp), pháp lý (quy định công bố thông tin BCTC khu vực công), giáo dục (trình độ văn hóa–giáo dục và trình độ chuyên môn của người làm kế toán), quốc tế (hỗ trợ chuyên môn từ các chuyên gia nước ngoài, áp lực hội nhập), kinh tế và văn hóa (áp lực tài chính khu vực công, chuẩn mực đạo đức và tham nhũng) nhằm tạo điều kiện lập và trình bày BCTC phù hợp với thông lệ kế toán quốc tế và tăng tính hữu ích của thông tin trên BCTC.

Gần đây nhất, Phuong & cộng sự (2020) thực hiện nghiên cứu nhằm xác định các nhân tố và mức độ ảnh hưởng của chúng đến việc thực hiện kế toán theo cơ sở dồn tích tại các đơn vị công ở Việt Nam Nghiên cứu kết hợp cả phương pháp định tính và định lượng, đồng thời phân tích và xử lý số liệu từ khảo sát thực tiễn với 268 kế toán, kiểm soát viên và kiểm toán viên đang làm việc trong các cơ quan nhà nước như Sở Tài chính, Kho bạc nhà nước và các đơn vị nhận nguồn thu từ NSNN năm 2019.

Những yếu tố như môi trường pháp lý, đội ngũ kế toán với trình độ học vấn, năng lực và kinh nghiệm làm việc, hoạt động đào tạo, sự tham gia của các chuyên gia tư vấn, trình độ ứng dụng công nghệ thông tin, tài trợ và sự hỗ trợ từ các tổ chức quốc tế, cùng với chi phí thực hiện có ảnh hưởng đáng kể đến quá trình áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích; môi trường pháp lý được xem là yếu tố quyết định lớn nhất Nghiên cứu của Yến & Tuấn nhấn mạnh rằng sự đồng bộ giữa khung pháp lý ổn định và năng lực của nhân sự, cùng đầu tư cho CNTT và đào tạo, sẽ tạo nền tảng cho hiệu quả của hệ thống kế toán theo cơ sở dồn tích.

Vào năm 2020, một nghiên cứu được thực hiện bằng phương pháp hỗn hợp trên 300 đơn vị hành chính sự nghiệp tại Việt Nam cho thấy năng lực của nhân viên kế toán, thể chế chính trị và nhà quản lý là những yếu tố có tác động đáng kể đến việc áp dụng kế toán dồn tích Việc áp dụng kế toán dồn tích nhằm tăng cường tính minh bạch của thông tin kế toán và nâng cao chất lượng báo cáo tài chính Kết quả này nhấn mạnh vai trò của nguồn lực con người và khung thể chế trong quá trình chuyển đổi sang kế toán dồn tích ở Việt Nam.

Ở Việt Nam, hầu hết các nghiên cứu về kế toán theo cơ sở dồn tích cho rằng cần vận dụng IPSAS đầy đủ và xây dựng một chuẩn mực kế toán công quốc gia để thông tin kế toán minh bạch và có trách nhiệm giải trình Việc chuyển đổi này phải được thực hiện đồng bộ với lộ trình đổi mới cơ sở kế toán NSNN và cơ sở lập dự toán Tuy nhiên còn tồn tại nhiều hạn chế như dữ liệu kế toán giữa các đơn vị chưa đồng bộ, tổ chức và thực thi chính sách chưa phát huy đầy đủ chức năng, nguồn lực tài chính còn hạn chế và sự chậm trễ trong lộ trình cải cách hành chính nhà nước; do đó khu vực công và các đơn vị hành chính sự nghiệp cần một khoảng thời gian nhất định để triển khai và đánh giá Dù có thách thức, Việt Nam có những thuận lợi như sự viện trợ của Ngân hàng Thế giới và sự chuẩn bị về kinh tế, xã hội, pháp lý, văn hóa, chính trị cho việc vận dụng IPSAS và chuẩn mực kế toán công Việt Nam.

1.3.2 Nghiên cứu sự tác động của việc áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích đến tính minh bạch thông tin kế toán trong khu vực công

Qua khảo sát thực tế các đề tài nghiên cứu tại Việt Nam, có thể thấy còn rất ít nghiên cứu đề cập đến mức độ ảnh hưởng của kế toán theo cơ sở dồn tích đến tính minh bạch của thông tin kế toán Nguyên nhân được cho là cách vận dụng kế toán theo cơ sở dồn tích trong khu vực công nhằm mục đích tạo ra thông tin minh bạch hơn, giúp đánh giá đầy đủ và rõ ràng thông tin tài chính của đơn vị, từ đó đánh giá chính xác các hoạt động và tăng khả năng so sánh giữa Việt Nam và các quốc gia khác cũng như nhận được sự thừa nhận của quốc tế (Đỗ Đăng Bình, 2017) Để làm rõ hơn về sự ảnh hưởng này, gần đây có nghiên cứu của Phuong và cộng sự.

Trong năm 2020, một nghiên cứu dựa trên thực nghiệm cho thấy cải cách kế toán theo cơ sở dồn tích từ hệ thống kế toán hiện tại có thể nâng cao tính minh bạch, tăng cường trách nhiệm kế toán và cải thiện hiệu quả hoạt động trong khu vực công.

Nghiên cứu của Tuấn (2020) cho thấy việc áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích trong khu vực công Việt Nam để lập báo cáo tài chính toàn diện đạt độ tin cậy cao và có tác động tích cực đến tính minh bạch của thông tin kế toán.

Khe hổng nghiên cứu

Qua tổng kết các nghiên cứu trên thế giới trong hơn 30 năm qua, những cải cách về quản lý công, đặc biệt là áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích, đã tạo nên những đặc điểm riêng cho từng quốc gia Các nghiên cứu đều khẳng định rằng để thực hiện cải cách kế toán công thành công và hiệu quả, cần vận dụng các nguyên tắc và công cụ kế toán phù hợp với bối cảnh pháp lý và kinh tế của mỗi nước.

IPSAS theo cơ sở dồn tích là cần thiết để đảm bảo thông tin hữu ích, trung thực và đáp ứng nhu cầu ra quyết định của các bên liên quan Các nghiên cứu thực nghiệm về chuyển đổi kế toán sang cơ sở dồn tích cho thấy có sự tác động của nhiều yếu tố ở cả nước phát triển và đang phát triển; nổi bật là vai trò của sự hỗ trợ từ các cơ quan lập pháp và hành pháp (Ouda Hassan, 2004; Phetphrairin Upping và Judy Olive, 2011; Mnif Sellami và Gafsi, 2017) cũng như sự đồng hành của các tổ chức chuyên nghiệp như động lực thúc đẩy quá trình chuyển đổi về IPSAS.

Việc áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích ở các nước đang phát triển chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố như sự phối hợp của chính quyền địa phương, chi phí thực hiện và khả năng công nghệ thông tin, cùng với các rào cản từ gian lận, tham nhũng, yếu tố chính trị và văn hóa; bên cạnh đó là thiếu nhân sự có trình độ chuyên môn và khó khăn trong việc thiết lập các chuẩn mực kế toán Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng để nâng cao tính minh bạch của thông tin kế toán, các quốc gia cần thực hiện cải cách kế toán tích cực theo IPSAS, cụ thể là áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích (IFAC, 2014; Rogosic và cộng sự, 2017), và các công trình như Shakirat (2013) với Khalil Abushamsieh (2014) cho thấy mối quan hệ đồng chiều giữa áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích, trách nhiệm giải trình và tính minh bạch thông tin kế toán Ở Việt Nam, kế toán khu vực công ngày càng được quan tâm và phần lớn nghiên cứu khẳng định sự cần thiết của việc áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích nhằm nâng cao chất lượng, trách nhiệm giải trình và tính minh bạch Tuy nhiên, sau khi Bộ Tài chính ban hành Thông tư 107/2017/TT-BTC hướng dẫn việc áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích đầy đủ, các nghiên cứu phân tích về các yếu tố tác động đến việc áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích bắt đầu được thực hiện, thay vì tập trung vào tác động đến IPSAS như trước đây (Phuong và cộng sự, 2020; Yến & Tuấn, 2020), nhưng các nghiên cứu này mới chỉ đánh giá mức độ tác động mà chưa phân tích sâu các yếu tố liên quan tới thực trạng áp dụng trong khu vực công Việt Nam Bên cạnh đó, nội dung về tác động của kế toán theo cơ sở dồn tích đến tính minh bạch của thông tin kế toán vẫn chưa được nghiên cứu sâu, và chưa có phân tích chuyên sâu về sự tác động của các yếu tố đến việc thực hiện kế toán theo cơ sở dồn tích hướng tới tính minh bạch tại Việt Nam.

Từ những đánh giá về các nghiên cứu trước, một số khe hổng nghiên cứu được tác giả luận án xác định như sau:

Trong lĩnh vực kế toán khu vực công, các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam chủ yếu tập trung vào đánh giá các nhân tố tác động đến việc áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích và các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch của thông tin kế toán, nhưng vẫn chưa có sự liên kết giữa hai yếu tố này trong một nghiên cứu duy nhất Đối với khu vực công ở Việt Nam, chưa có nghiên cứu nào phân tích đầy đủ mức độ ảnh hưởng của việc áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích đối với tính minh bạch của thông tin kế toán, cũng như lý giải các yếu tố tác động gắn với thực trạng áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích Vì vậy, luận án sẽ xem xét mối quan hệ giữa hai yếu tố này tại Việt Nam bằng phương pháp định lượng và dựa trên thực trạng kế toán công, nhằm củng cố và mở rộng các nghiên cứu trước đó.

Khu vực công Việt Nam bao gồm Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, các cơ quan nhà nước thực thi quyền hành pháp, cơ quan hành chính địa phương; các đơn vị sự nghiệp trực thuộc các cơ quan nhà nước; và các tổ chức chính trị - xã hội – nghề nghiệp, cùng với các tổ chức xã hội khác (theo Quốc hội, 2013) Mặc dù các đề tài nghiên cứu hiện nay xem phạm vi là toàn bộ khu vực công, kết quả thực nghiệm lại tập trung vào một số hình thức nhất định như đơn vị hành chính sự nghiệp và các tổ chức xã hội - nghề nghiệp, khiến các kết quả mang tính khái quát và chưa đại diện cho toàn bộ khu vực công ở Việt Nam Do đó, để tăng cường sự tập trung cho vấn đề nghiên cứu và chú trọng phân tích sâu các yếu tố, luận án giới hạn phạm vi ngay từ đầu ở các đơn vị hành chính sự nghiệp trên địa bàn miền Trung Việt Nam, vì các đơn vị công thuộc khu vực này có đặc điểm đặc trưng như thiếu nhân lực có trình độ và năng lực công nghệ thông tin chưa đáp ứng được nhu cầu thu thập, xử lý và cung cấp thông tin như ở các thành phố lớn, và điều này ảnh hưởng đến việc áp dụng kế toán theo cơ sở dồn của các đơn vị. -**Support Pollinations.AI:** -🌸 **Ad** 🌸Powered by Pollinations.AI free text APIs [Support our mission](https://pollinations.ai/redirect/kofi) to keep AI accessible for everyone.

Việc nâng cao chất lượng và tính minh bạch của thông tin kế toán trong khu vực công Việt Nam đang rất cần thiết trước bối cảnh đất nước tiến hành hội nhập với chuẩn mực kế toán quốc tế Đồng thời, việc áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích đầy đủ trong khu vực công nói chung và các đơn vị hành chính sự nghiệp ở miền Trung nói riêng vẫn ở giai đoạn đầu với nhiều thách thức và hạn chế Do đó, luận án phân tích sâu các yếu tố tác động nhằm đề xuất các hàm ý chính sách sát với thực tế, giúp các đơn vị thực hiện kế toán theo cơ sở dồn tích hiệu quả hơn và hướng tới thông tin kế toán đạt chất lượng và minh bạch, điều mà các nghiên cứu trước chưa đáp ứng đầy đủ.

Kết luận chương 1

Các nghiên cứu trước nước ngoài và Việt Nam cho thấy có nhiều yếu tố quyết định đến sự thành công của quá trình đổi mới kế toán, bao gồm sự hỗ trợ chính trị, chiến lược truyền thông, sự sẵn sàng thay đổi và nguồn ngân sách đủ chi phí thực hiện; ngược lại, thể chế chính trị, trình độ nhân viên hạn chế và chi phí thực hiện không đủ cũng là những rào cản khiến quá trình này bị chậm lại hoặc thất bại Để làm rõ nội dung nghiên cứu của luận án, chương này tổng hợp các nghiên cứu trước về mối quan hệ giữa áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích và tính minh bạch của thông tin kế toán nhằm làm nổi bật sự cần thiết của việc áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích tại các đơn vị hành chính sự nghiệp khu vực miền Trung hiện nay Từ đó, tác giả tổng kết, nhận xét về các nghiên cứu trước, cùng với việc chỉ ra các khe hở cần nghiên cứu tiếp và đề xuất các kết luận và hàm ý chính sách phù hợp để thúc đẩy quá trình cải cách.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

Ngày đăng: 16/08/2022, 04:46

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w