Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành chăm sóc trước, trong và sau sinh của bà mẹ .... Phân tích đơn biến một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hàn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
CHÂU HỒNG NGỌC
TĂNG CƯỜNG CHĂM SÓC TRƯỚC, TRONG VÀ SAU SINH CHO BÀ MẸ DÂN TỘC KHMER CÓ CON TỪ 0-2 TUỔI TẠI MỘT SỐ XÃ VÙNG VEN BIỂN HUYỆN HÒA BÌNH,
TỈNH BẠC LIÊU
LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 9720701
HÀ NỘI, NĂM 2022
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
CHÂU HỒNG NGỌC
TĂNG CƯỜNG CHĂM SÓC TRƯỚC, TRONG VÀ SAU SINH CHO BÀ MẸ DÂN TỘC KHMER CÓ CON TỪ 0-2 TUỔI TẠI MỘT SỐ XÃ VÙNG VEN BIỂN HUYỆN HÒA BÌNH,
TỈNH BẠC LIÊU
LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 9720701
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS NGUYỄN THANH HƯƠNG
PGS.TS LƯU THỊ HỒNG
HÀ NỘI, NĂM 2022
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi và nhóm nghiên cứu thực hiện tại xã Vĩnh Hậu, xã Vĩnh Thịnh, huyện Hòa Bình và xã Long Điền, xã Long Điền Đông, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu từ năm 2016-2019 Kết quả trong luận án là trung thực và chƣa đƣợc công bố trong bất kỳ một công trình nghiên cứu
nào khác ngoài các công bố trên tạp chí trong phạm vi của đề tài nghiên cứu này
Tác giả luận án
Châu Hồng Ngọc
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn đến Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau đại học,
các thầy, cô của trường Đại học Y tế công cộng, đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong
quá trình học tập và hoàn thành luận án
Tôi vô cùng biết ơn đến giáo viên trực tiếp hướng dẫn cho tôi; các cô đã hết
lòng nhiệt tình giúp đỡ và chia sẻ kinh nghiệm với tôi trong suốt quá trình học tập
Tôi xin cảm ơn đến lãnh đạo cơ quan và các đồng nghiệp đã tạo điều kiện cho
tôi tham gia việc học tập
Tôi xin cũng xin chân thành cảm ơn tới Ủy ban nhân dân xã, trạm y tế xã, các
nhân viên y tế, cán bộ Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên, ban truyền thông của xã trên
địa bàn nghiên cứu đã giúp đỡ và cho tôi được thực hiện các hoạt động nghiên cứu
Cuối cùng, tôi xin biết ơn đến gia đình của tôi, đã động viên và ủng hộ giúp tôi
hoàn thành luận án
Tác giả luận án
Châu Hồng Ngọc
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT x
DANH MỤC HÌNH xi
DANH MỤC BẢNG xii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Một số nội dung về chăm sóc trước, trong và sau sinh 4
1.1.1 Khái niệm Chăm sóc trước, trong và sau sinh 4
Chăm sóc trước sinh 4
1.1.2 Tầm quan trọng của Chăm sóc trước, trong và sau sinh 5
1.1.3 Sự khác biệt trong kết quả chăm sóc trước, trong và sau sinh giữa các vùng miền và dân tộc thiểu số 7
1.2 Kiến thức, thái độ, thực hành về chăm sóc trước, trong và sau sinh 10
1.2.1 Kiến thức chăm sóc trước, trong và sau sinh 11
1.2.1.1 Kiến thức chăm sóc trước sinh 11
1.2.1.2 Kiến thức chăm sóc trong sinh 12
1.2.1.3 Kiến thức chăm sóc sau sinh 13
1.2.2 Thái độ chăm sóc trước, trong và sau sinh 15
1.2.2.1 Thái độ chăm sóc trước sinh 15
1.2.2.2 Thái độ chăm sóc trong sinh 16
1.2.2.3 Thái độ chăm sóc sau sinh 16
1.2.3 Thực hành chăm sóc trước, trong và sau sinh 17
1.2.3.1 Thực hành chăm sóc trước sinh 17
1.2.3.2 Thực hành chăm sóc trong sinh 18
1.2.3.3 Thực hành chăm sóc sau sinh 19
1.3 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành chăm sóc trước, trong và sau sinh trên thế giới và ở Việt Nam 21
Trang 61.3.2 Một số yếu tố cá nhân liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành chăm sóc
trước, trong và sau sinh 22
1.3.2 Một số yếu tố gia đình liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành chăm sóc trước, trong và sau sinh 24
1.3.3 Yếu tố tiếp cận nguồn thông tin liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành chăm sóc trước, trong và sau sinh của bà mẹ 25
1.4 Cơ sở lý thuyết xây dựng chương trình can thiệp thay đổi hành vi 27
1.4.1 Mô hình lý thuyết PRECEDE- PROCEED 27
1.4.2 Áp dụng mô hình lý thuyết PRECEDE- PROCEED trong nghiên cứu tăng cường CSTTSS cho bà mẹ 29
1.5 Các can thiệp cải thiện kiến thức, thái độ , thực hành chăm sóc trước, trong và sau sinh 29
1.6 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu 36
1.6.1 Một số thông tin về tỉnh Bạc Liêu 36
1.6.2 Một số thông tin về địa bàn can thiệp 37
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39
2.1 Đối tượng nghiên cứu 39
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu định lượng 39
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu định tính 39
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 40
2.2.1 Thời gian 40
2.2.2 Địa điểm 40
2.3 Thiết kế nghiên cứu 40
2.3.1 Giai đoạn 1: Đánh giá trước can thiệp và chuẩn bị can thiệp 41
2.3.2 Giai đoạn 2: Can thiệp 42
2.3.3 Giai đoạn 3: Đánh giá sau can thiệp 42
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 43
2.4.1 Cỡ mẫu và chọn mẫu cho nghiên cứu định lượng 43
2.4.2 Cỡ mẫu và chọn mẫu cho nghiên cứu định tính 45
2.5 Phương pháp thu thập số liệu 47
Trang 72.5.1 Công cụ thu thập số liệu 47
2.5.2 Tổ chức thu thập số liệu 48
2.6 Biến số và chủ đề nghiên cứu 50
2.6.1 Các biến số của nghiên cứu định lượng 50
2.6.2 Các chủ đề nghiên cứu định tính 52
2.7 Các khái niệm, chỉ số và tiêu chuẩn đánh giá 53
2.7.1 Khái niệm trong nghiên cứu 53
2.7.2 Cách tính các chỉ số đánh giá Chăm sóc trước, trong và sau sinh 56
2.8 Phương pháp phân tích số liệu 56
2.8.1 Phân tích số liệu định lượng 56
2.8.2 Phân tích thông tin định tính 59
2.9 Hoạt động can thiệp 59
2.10 Đạo đức của nghiên cứu 64
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 65
3.1 Thông tin chung của bà mẹ 65
3.2 Kiến thức, thái độ, thực hành về chăm sóc trước, trong và sau sinh của bà mẹ dân tộc Khmer giai đoạn trước can thiệp 68
3.2.1 Kiến thức chăm sóc trước, trong và sau sinh 68
3.2.1.1 Kiến thức chăm sóc trước sinh 68
3.2.1.2 Kiến thức chăm sóc trong sinh 71
3.2.1.3 Kiến thức chăm sóc sau sinh 73
3.2.2 Thái độ chăm sóc trước, trong và sau sinh 76
3.2.2.1 Thái độ chăm sóc trước sinh 76
3.2.2.2 Thái độ chăm sóc trong sinh 77
3.2.2.3 Thái độ chăm sóc sau sinh 78
3.2.3 Thực hành chăm sóc trước, trong và sau sinh 80
3.2.3.1 Thực hành chăm sóc trước sinh 80
3.2.3.2 Thực hành chăm sóc trong sinh 81
3.2.3.3 Thực hành chăm sóc sau sinh 82
Trang 83.3 Một số yếu tố liên quan với kiến thức, thái độ, thực hành Chăm sóc trước, trong
và sau sinh 85
3.3.1 Yếu tố liên quan với kiến thức Chăm sóc trước, trong và sau sinh 85
3.3.1.1 Phân tích đơn biến 85
3.3.1.2 Phân tích đa biến 87
3.3.2 Yếu tố liên quan với thái độ Chăm sóc trước, trong và sau sinh 88
3.3.2.1 Phân tích đơn biến 88
3.3.2.2 Phân tích đa biến 89
3.3.3 Yếu tố liên quan với thực hành Chăm sóc trước, trong và sau sinh 90
3.3.3.1 Phân tích đơn biến 90
3.3.3.2 Phân tích đa biến 92
3.4 Đánh giá kết quả can thiệp cải thiện kiến thức, thái độ và thực hành chăm sóc trước, trong và sau sinh của bà mẹ dân tộc Khmer 94
3.4.1 Thay đổi kiến thức chăm sóc trước, trong và sau sinh 94
3.4.1.1 Thay đổi kiến thức chăm sóc trước sinh 94
3.4.1.2 Thay đổi kiến thức chăm sóc trong sinh 96
3.4.1.3 Thay đổi kiến thức chăm sóc sau sinh 97
3.4.2 Thay đổi thái độ chăm sóc trước, trong và sau sinh 99
3.4.2.1 Thay đổi thái độ chăm sóc trước sinh 99
3.4.2.2 Thay đổi thái độ chăm sóc trong sinh 100
3.4.2.3 Thay đổi về thái độ chăm sóc sau sinh 101
3.4.3 Thay đổi thực hành chăm sóc trước, trong và sau sinh 104
3.4.3.1 Thay đổi thực hành chăm sóc trước sinh 104
3.4.3.2 Thay đổi thực hành chăm sóc trong sinh 105
3.4.3.3 Thay đổi thực hành chăm sóc sau sinh 106
Chương 4 BÀN LUẬN 109
4.1 Thông tin chung của bà mẹ dân tộc Khmer 109
4.2 Kiến thức, thái độ và thực hành chăm sóc trước, trong và sau sinh của bà mẹ dân tộc Khmer giai đoạn trước can thiệp 110
4.2.1 Kiến thức chăm sóc trước, trong và sau sinh 110
Trang 94.2.1.1 Kiến thức chăm sóc trước sinh 110
4.2.1.2 Kiến thức chăm sóc trong sinh 111
4.2.1.3 Kiến thức chăm sóc sau sinh 112
4.2.2 Thái độ chăm sóc trước, trong và sau sinh 113
4.2.2.1 Thái độ chăm sóc trước sinh 113
4.2.2.2 Thái độ chăm sóc trong sinh 114
4.2.2.3 Thái độ chăm sóc sau sinh 114
4.2.3 Thực hành chăm sóc trước, trong và sau sinh 115
4.2.3.1 Thực hành chăm sóc trước sinh 115
4.2.3.2 Thực hành chăm sóc trong sinh 117
4.2.3.3 Thực hành chăm sóc sau sinh 118
4.3 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành chăm sóc trước, trong và sau sinh của bà mẹ 120
4.3.1 Yếu tố liên quan với kiến thức chăm sóc trước, trong và sau sinh 120
4.3.2 Yếu tố liên quan với thái độ chăm sóc trước, trong và sau sinh 122
4.3.3 Yếu tố liên quan với thực hành chăm sóc trước, trong và sau sinh 123
4.4 Kết quả can thiệp cải thiện kiến thức, thái độ và thực hành chăm sóc trước, trong và sau sinh của bà mẹ dân tộc Khmer 125
4.4.1 Cải thiện kiến thức chăm sóc trước, trong và sau sinh của bà mẹ 125
4.4.1.1 Cải thiện kiến thức chăm sóc trước sinh 125
4.4.1.2 Cải thiện kiến thức chăm sóc trong sinh 125
4.4.1.3 Cải thiện kiến thức chăm sóc sau sinh 126
4.4.2 Cải thiện thái độ chăm sóc trước, trong và sau sinh của bà mẹ 127
4.4.2.1 Cải thiện thái độ chăm sóc trước sinh 127
4.4.2.2 Cải thiện thái độ chăm sóc trong sinh 128
4.4.2.3 Cải thiện thái độ chăm sóc sau sinh 128
4.4.3 Cải thiện thực hành chăm sóc trước, trong và sau sinh của bà mẹ 129
4.4.3.1 Cải thiện thực hành chăm sóc trước sinh 129
4.3.3.2 Cải thiện thực hành chăm sóc trong sinh 130
4.4.3.3 Cải thiện thực hành chăm sóc sau sinh 131
Trang 104.5 Bàn luận về ưu điểm và hạn chế của nghiên cứu 133
4.5.1 Ưu điểm của nghiên cứu 133
4.5.1.1 Tính phù hợp của nghiên cứu 133
4.5.1.2.Tính khả thi của nghiên cứu 135
4.5.1.3 Tính mới của nghiên cứu 135
4.5.2 Hạn chế của nghiên cứu 136
KẾT LUẬN 139
KHUYẾN NGHỊ 141
TÀI LIỆU THAM KHẢO 143
PHỤ LỤC 151
Phụ lục 1 Giấy đồng ý tham gia nghiên cứu 151
Phụ lục 3 Bảng câu hỏi phỏng vấn bà mẹ dân tộc Khmer (Tiếng Khmer) 168
Phụ lục 4 Hướng dẫn phỏng vấn lãnh đạo, quản lý trong ngành Y tế tuyến tỉnh, huyện 184
Phụ lục 5 Hướng dẫn phỏng vấn Trụ trì chùa 188
Phụ lục 6 Hướng dẫn phỏng vấn sâu lãnh đạo, quản lý ban ngành tuyến xã 191
Phụ lục 7 Hướng dẫn thảo luận nhóm nhân viên y tế tuyến xã 194
Phụ lục 8 Hướng dẫn thảo luận nhóm bà mẹ dân tộc Khmer có thực hành 197
Phụ lục 9 Hướng dẫn thảo luận nhóm bà mẹ dân tộc Khmer không thực hành Chăm sóc trước, trong và sau sinh 200
Phụ lục 10 Hướng dẫn thảo luận chồng/mẹ chồng/mẹ ruột của bà mẹ dân tộc Khmer không thực hành Chăm sóc trước, trong và sau sinh 201
Phụ lục 11 Khái niệm các biến số nghiên cứu 202
Phụ lục 12 Cách chấm điểm kiến thức, thái độ, thực hành Chăm sóc trước, trong và sau sinh 210
Phụ lục 13 Tính giá trị và độ tin cậy của thang đo đánh giá thái độ về Chăm sóc trước, trong và sau sinh của bà mẹ dân tộc Khmer 213
Phụ lục 14 Tổng hợp phân tích định tính trước can thiệp (cơ sở xây dựng chương trình can thiệp) và hiệu quả sau can thiệp 215
Trang 11Phụ lục 15 Phân tích lựa chọn giải pháp can thiệp Chăm sóc trước, trong và sau sinh cho bà mẹ dân tộc Khmer 226 Phụ lục 16 Bảng tóm tắt các nội dung, hoạt động trong các can thiệp chăm sóc trước, trong và sau sinh trên thế giới và ở Việt Nam 229 Phụ lục 17 Bảng tóm tắt các yếu tố liên quan của các nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam 236 Phụ lục 18 Bảng tóm tắt kết quả sau can thiệp của các nghiên cứu 240 Phụ lục 19 Phân tích đơn biến một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành Chăm sóc trước, trong và sau sinh của bà mẹ 243 Phụ lục 20 Sơ đồ tóm tắt các hoạt động can thiệp truyền thông về Chăm sóc trước, trong và sau sinh cho bà mẹ dân tộc Khmer 259 Phụ lục 21 Phân bố thời gian và các hoạt động can thiệp Chăm sóc trước, trong và sau sinh 260 Phụ lục 22 Một số thông tin địa bàn nghiên cứu 262 Phụ lục 23 Tờ rơi Chăm sóc trước, trong và sau sinh 266
Trang 12DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 13DANH MỤC HÌNH
Sơ đồ 1.1 Mô hình PRECEDE- PROCEED của Green và Kreuter 28
Sơ đồ 1.2 Khung lý thuyết can thiệp Chăm sóc trước, trong và sau sinh 30
Sơ đồ 2.1 Tóm tắt thiết kế can thiệp trước-sau có nhóm chứng 41
Sơ đồ 2.2 Các bước thực hiện chương trình can thiệp 59
Biều đồ 3.1 Các nguồn thông tin về mang thai hoặc sinh đẻ mà bà mẹ nhận được trước và sau can thiệp 67
Trang 14DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Một số nội dung cơ bản về Chăm sóc trước, trong và sau sinh cho bà mẹ
được khuyến cáo 10
Bảng 2.1 Đối tượng tham gia phỏng vấn định tính trước can thiệp 46
Bảng 2.2 Đối tượng tham gia phỏng vấn định tính sau can thiệp 46
Bảng 2.3 Tóm tắt các biến số trong nghiên cứu 51
Bảng 3.1 Một số đặc điểm cá nhân của bà mẹ tham gia điều tra trước và sau can thiệp 65
Bảng 3.2 Kiến thức đúng về Chăm sóc trước sinh của bà mẹ 68
Bảng 3.3 Kiến thức về dấu hiệu bất thường và cách xử trí giai đoạn trước sinh 70
Bảng 3.4 Kiến thức đúng về Chăm sóc trong sinh của bà mẹ 71
Bảng 3.5 Kiến thức về dấu hiệu bất thường và cách xử trí giai đoạn trong sinh 72
Bảng 3.6 Kiến thức đúng về Chăm sóc sau sinh của bà mẹ 73
Bảng 3.7 Kiến thức về dấu hiệu bất thường và cách xử trí giai đoạn sau sinh 74
Bảng 3.8 Thái độ Chăm sóc trước sinh của bà mẹ 76
Bảng 3.9 Thái độ Chăm sóc trong sinh của bà mẹ 77
Bảng 3.10 Thái độ Chăm sóc sau sinh của bà mẹ 78
Bảng 3.11 Thực hành đúng về Chăm sóc trước sinh của bà mẹ 80
Bảng 3.12 Thực hành đúng về Chăm sóc trong sinh của bà mẹ 82
Bảng 3.13 Thực hành đúng về Chăm sóc sau sinh của bà mẹ 83
Bảng 3.14 Mối liên quan giữa yếu tố cá nhân với kiến thức Chăm sóc trước, trong và sau sinh 87
Bảng 3.15 Mối liên quan giữa yếu tố cá nhân với thái độ Chăm sóc trước, trong và sau sinh 90
Bảng 3.16 Mối liên quan giữa yếu tố cá nhân với thực hành Chăm sóc trước, trong và sau sinh 93
Bảng 3.17 Kiến thức đúng về Chăm sóc trước sinh của bà mẹ trước và 94
sau can thiệp 94
Bảng 3.18 Kiến thức đúng về Chăm sóc trong sinh của bà mẹ trước và 96
Trang 15sau can thiệp 96
Bảng 3.19 Kiến thức đúng về Chăm sóc sau sinh của bà mẹ trước và 97
sau can thiệp 97
Bảng 3.20 Thái độ tích cực về Chăm sóc trước sinh của bà mẹ trước và 99
sau can thiệp 99
Bảng 3.21 Thái độ tích cực về Chăm sóc trong sinh của bà mẹ trước và 100
sau can thiệp 100
Bảng 3.22 Thái độ tích cực về Chăm sóc sau sinh của bà mẹ trước và 102
sau can thiệp 102
Bảng 3.23 Thực hành đúng về Chăm sóc trước sinh của bà mẹ trước và 104
sau can thiệp 104
Bảng 3.24 Thực hành đúng về Chăm sóc trong sinh của bà mẹ trước và 105
sau can thiệp 105
Bảng 3.25 Thực hành đúng về Chăm sóc sau sinh của bà mẹ trước và 106
sau can thiệp 106
Trang 16ĐẶT VẤN ĐỀ
Chăm sóc trước, trong và sau sinh là thực hiện chăm sóc y tế và cả tư vấn để cung cấp kiến thức về chăm sóc ở cả ba giai đoạn trước, trong và sau sinh cho bà mẹ; Phát hiện và xử trí kịp thời các dấu hiệu bất thường nhằm giảm các tai biến trong thời kỳ mang thai và sinh đẻ Thế giới mỗi năm có khoảng 289.000 phụ nữ tử vong liên quan đến mang thai và sinh đẻ; hơn 2 triệu trẻ tử vong chu sinh và hơn 2,9 triệu trẻ tử vong sơ sinh; và là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong, bệnh tật đối với phụ nữ và trẻ em Tại Việt Nam, theo Báo cáo của Vụ Sức khỏe Bà mẹ-Trẻ em năm 2016 (1) và Cuộc điều tra đánh giá các Mục tiêu trẻ em và phụ nữ Việt Nam năm 2014 (2) cũng cho thấy, tỷ suất tử vong mẹ và tỷ suất tử vong trẻ dưới 1 tuổi có chiều hướng giảm nhưng còn chênh lệch theo vùng miền và các nhóm dân tộc thiểu số, Theo đó, tỷ suất tử vong mẹ ở nông thôn cao gấp khoảng 2 lần thành thị; tử vong mẹ và trẻ dưới 1 tuổi của DTTS lần lượt cao gấp 3 lần, 2,5 lần
và 3,5 lần so với dân tộc Kinh (1-2)
Nhiều năm qua, Chăm sóc trước, trong và sau sinh ở Việt Nam cũng đã đạt được nhiều kết quả khích lệ Tuy nhiên, vẫn còn sự khác biệt đáng kể trong tiếp cận dịch vụ Chăm sóc trước, trong và sau sinh giữa vùng miền và các nhóm dân tộc
thiểu số: khám thai từ 4 lần trở lên ở bà mẹ dân tộc Kinh đạt 82,1% thì dân tộc thiểu
số chỉ 32,7%; tỷ lệ sinh được nhân viên y tế đỡ ở bà mẹ dân tộc Kinh cao hơn 30,7% so với bà mẹ dân tộc thiểu số Nguyên nhân là các bà mẹ dân tộc thiểu số thiếu kiến thức và thái độ về Chăm sóc trước, trong và sau sinh; Bên cạnh, còn tồn tại tập quán lạc hậu trong chăm sóc sức khỏe, độ bao phủ của các chương trình Chăm sóc trước, trong và sau sinh đến với dân tộc thiểu số, sống vùng sâu vùng xa, vùng đặc thù khó khăn còn nhiều hạn chế (3-4) Những năm qua, Chính phủ đã có nhiều chính sách nhằm tăng cường chất lượng dân số, cải thiện chăm sóc sức khỏe
Bà mẹ- Trẻ em, giảm tử vong mẹ và tử vong trẻ như: Nghị định số 05/2011/NĐ-CP
về công tác dân tộc (5); Quyết định số 52/2009/QĐ-TTg phê duyệt “Đề án kiểm soát dân số các vùng biển đảo và ven biển giai đoạn 2009- 2020” về tăng cường
chất lượng dân số sống vùng biển đảo, nhằm tăng tỷ lệ người dân sống vùng biển
Trang 17được tiếp cận các dịch vụ Chăm sóc sức khỏe sinh sản (6), Chiến lược Dân số- Sức khỏe sinh sản giai đoạn 2011-2020 nhằm nâng cao sức khỏe Bà mẹ- Trẻ em, tăng cường tiếp cận các dịch vụ Chăm sóc trước, trong và sau sinh có chất lượng, ưu tiên vùng khó khăn để thu hẹp sự khác biệt về các chỉ số sức khỏe Bà mẹ- Trẻ em giữa các vùng, miền, nhóm dân tộc thiểu số (7) hay gần nhất là Nghị quyết số 21-NQ/TW/2017 về công tác dân số trong tình hình mới, chú trọng chăm sóc Bà mẹ- Trẻ em, tạo sự phát triển bền vững chất lượng dân số (8) Các chính sách đều đưa ra các giải pháp can thiệp nhằm tăng cường tiếp cận các dịch vụ Chăm sóc trước, trong
và sau sinh có chất lượng đến các bà mẹ sinh sống vùng khó khăn, nhóm dân tộc thiểu số Theo đó, các giải pháp về nâng cao nhận thức, hành vi Chăm sóc trước, trong và sau sinh của các bà mẹ cũng được nhấn mạnh Đặc biệt, chú trọng công tác truyền thông giáo dục sức khỏe với sự cải tiến nội dung, đa dạng hình thức phù hợp
đến nhóm đối tượng ưu tiên
Hòa Bình là huyện ven biển của tỉnh Bạc Liêu, có dân tộc Khmer sống tập trung và chiếm khoảng 35,0% dân số của huyện Theo báo cáo của huyện Hòa Bình năm 2016 (9), chỉ số về Chăm sóc trước, trong và sau sinh của bà mẹ dân tộc Khmer đạt thấp: khám thai ≥ 3 lần chỉ 50,0% (và chưa thực hiện khám thai ≥ 4 lần), sinh con tại CSYT là 85,0%, khám lại sau sinh 60,0% Các chỉ số này thấp hơn so với trung bình của 2 huyện lần lượt lượt là 85,0%; 98,5% và 86,5%; và thấp hơn so với trung bình cả nước lần lượt là 91,7%; 99,9% và 92,0% (1), (10) Chương trình CSSKSS đang triển khai vẫn chưa có những giải pháp mang tính đặc thù về yếu tố KT- VH- XH của dân tộc Khmer, sinh sống vùng ven biển (11) Câu hỏi đặt ra là những giải pháp can thiệp nào phù hợp để cải thiện Chăm sóc trước, trong và sau sinh cho bà mẹ dân tộc Khmer sống vùng ven biển, nhằm thay đổi kiến thức, thái
độ, thực hành Chăm sóc trước, trong và sau sinh (đạt ≥ 70,0%) sau khi thực hiện các giải pháp can thiệp; hướng đến đạt được các mục tiêu chung của quốc gia về Chăm sóc trước, trong và sau sinh Từ bối cảnh thực tế đó, nghiên cứu sinh thực
hiện đề tài: “Tăng cường chăm sóc trước, trong và sau sinh cho bà mẹ dân tộc Khmer có con từ 0- 2 tuổi tại một số xã vùng ven biển huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu”
Trang 18MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành về chăm sóc trước, trong và sau sinh của bà
mẹ dân tộc Khmer có con từ 0-2 tuổi tại 4 xã ven biển huyện Hòa Bình và Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu năm 2017
2 Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành về chăm sóc trước, trong và sau sinh của bà mẹ dân tộc Khmer có con từ 0-2 tuổi tại 4 xã ven biển huyện Hòa Bình và Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu năm 2017
3 Đánh giá kết quả can thiệp tăng cường kiến thức, thái độ, thực hành về chăm sóc trước, trong và sau sinh của bà mẹ dân tộc Khmer có con từ 0-2 tuổi tại 2 xã ven biển huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu (can thiệp từ tháng 7/2018 đến tháng 12/2019)
Trang 19Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số nội dung về chăm sóc trước, trong và sau sinh
1.1.1 Khái niệm Chăm sóc trước, trong và sau sinh
Chăm sóc trước trong và sau sinh (CSTTSS) là một trong những nội dung quan trọng của chương trình Chăm sóc sức khỏe sinh sản (CSSKSS), là những cấu phần chính của chương trình Làm mẹ an toàn trong Hướng dẫn quốc gia về các dịch
vụ CSSKSS- Bộ Y tế (12) Trong đó, bà mẹ mamg thai được quản lý, chăm sóc thời
kỳ trước, trong và sau sinh; phát hiện và xử trí kip thời các dấu hiệu bất thường của
mẹ và con Những bất thường này có thể xảy ra từ từ nhưng cũng có khi xuất hiện đột ngột và diễn biến rất nhanh chóng dẫn đến tử vong hoặc để lại di chứng nặng nề cho mẹ, con hoặc cả mẹ lẫn con Vì vậy, CSTTSS giúp hỗ trợ chăm sóc y tế kịp thời nhằm giảm tai biến cho mẹ và con trong thời kỳ mang thai, khi đẻ và sau đẻ (13)
Chăm sóc trước sinh
Chăm sóc trước sinh (CSTS) là chăm sóc, giáo dục cho phụ nữ mang thai trong thời kỳ thai nghén, quản lý thai tốt từ khi bắt đầu mang thai cho đến khi chuyển dạ,
có tác động rất lớn đến an toàn của mẹ và thai (12-13)
Nội dung khuyến cáo CSTS cho các bà mẹ bao gồm: khám thai tại CSYT (CSYT) để được nhân viên y tế (NVYT) thực hiện đầy đủ 9 bước khám thai (12) Các bà mẹ cần hiểu rõ và thực hành được các nội dung CSTS cơ bản như: Về khám thai: cần khám thai đúng lịch và khám từ 4 lần trở lên; tiêm VAT đầy đủ; uống bổ sung viên sắt; Về chế độ ăn uống hợp lý, bà mẹ cần ăn đủ 4 nhóm thức ăn,
ăn nhiều hơn bình thường, không ăn mặn, uống nhiều nước; Về chế độ lao động hợp lý bà mẹ cần: lao động nhẹ vừa sức; tránh tiếp xúc hóa chất độc hại, tránh ngâm mình dưới nước, nghỉ ngơi) Về các dấu hiệu bất thường và cách xử trí, bà mẹ cần biết đến CSYT khi gặp các dấu hiệu nguy hiểm thường gặp như: Đau bụng, chảy máu âm đạo, đau đầu, phù, co giật) (12-14)
Chăm sóc trong sinh
Chăm sóc trong sinh (CSTgS) là theo dõi và chăm sóc bà mẹ chuyển dạ đẻ Điều quan trọng là bà mẹ biết sự cần thiết sinh con tại CSYT để được NVYT chăm
Trang 20sóc và theo dõi Bà mẹ cần biết những dấu hiệu nguy hiểm và cách xử trí thể xảy ra trong chuyển dạ như: vỡ ối sớm, rặn lâu không sinh, đau bụng dữ dội, chảy máu nhiều, ngôi thai bất thường, nhau không bong, co giật; để bà mẹ an tâm và hợp tác với NVYT trong việc xử trí bất thường (12-13)
Chăm sóc sau sinh
Chăm sóc sau sinh (CSSS) là chăm sóc từ khi cuộc đẻ được hoàn tất đến 42 ngày sau sinh Bà mẹ cần biết và thực hiện việc chăm sóc bản thân và chăm sóc trẻ trong giờ đầu, tuần đầu và 6 tuần sau sinh Về chăm sóc bản thân, bà mẹ cần vệ sinh thân thể hàng ngày, lau sạch vú, làm việc nhẹ nhàng và nghỉ ngơi Về dinh dưỡng,
bà mẹ cần ăn đủ 4 nhóm thức ăn, uống nhiều nước, không ăn mặn và ăn nhiều hơn bình thường; Về chăm sóc trẻ, bà mẹ cần cho trẻ bú sớm, lau khô, ủ ấm, giữ rốn khô thoáng, nhỏ mắt và nuôi con bằng sữa mẹ Bên cạnh, bà mẹ cần phát hiện sớm các dấu hiệu bất thường để kịp thời đến CSYT để xử trí Các bất thường ở bà mẹ như: đau bụng, chảy máu âm đạo, sốt, sản dịch hôi, co giật; và các bất thường ở con như:
da tím tái/trắng, sốt/hạ thân nhiệt, co cứng, bỏ bú, không tiêu tiểu, ngủ li bì, vàng da sớm Ngoài ra, bà mẹ cần đến CSYT khám lại sau sinh, để được NVYT hướng dẫn
và theo dỡi sức khỏe cho mẹ và con để đảm bảo sự hồi phục của người mẹ cũng
như sự phát triển của trẻ (12-13)
1.1.2 Tầm quan trọng của Chăm sóc trước, trong và sau sinh
CSTTSS là một lĩnh vực ưu tiên trong chăm sóc sức khỏe (CSSK) Bà mẹ- Trẻ em (BM-TE) ở tất cả các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển nhằm đảm bảo mẹ an toàn con khỏe mạnh, giảm tỷ suất tử vong mẹ (MMR) và tỷ suất trẻ dưới 1 tuổi (IMR) (15-16) Thế giới, mỗi ngày có khoảng 830 bà mẹ tử vong do các nguyên nhân liên quan đến thai sản Trong đó, 99,0% ở các nước đang phát triển và hơn một nửa số ca tử vong này xảy ra ở cận Sahara châu Phi, gần 1/3 xảy ra ở Nam Á; đặc biệt, tại châu Á thì Nam Á và Đông Nam Á chiếm tới 88,0% các ca tử vong ở bà mẹ và chiếm 83,0% tử vong trẻ sơ sinh (15, 17) Tại Việt Nam, theo Báo cáo của Vụ Sức khỏe BM-TE (2016) (18) và Tổng cục Thống kê (2015) (3), hàng năm có khoảng 580- 600 trường hợp tử vong mẹ liên quan đến thai sản; Trong đó, dân tộc thiểu số (DTTS) sinh sống vùng khó khăn chiếm tỷ lệ cao IMR
Trang 21có giảm nhưng còn chậm, tử vong sơ sinh chiếm hơn 70,0% IMR Thế giới đang nổ lực nhằm giảm MMR, vì một bà mẹ mất đi không chỉ tổn thất cho gia đình mà còn mất đi nguồn lao động cho xã hội Hơn nữa, sự mất mát đó ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe và đời sống của những đứa con đang sống của họ (13, 19) Những đứa trẻ của những bà mẹ bị tử vong thì có nguy cơ tử vong trong năm đầu gấp từ 3 đến 10 lần so với những đứa trẻ khác và không được chăm sóc, giáo dục thích hợp cho đến khi khôn lớn Những bà mẹ sống sót sau các biến chứng trong quá trình mang thai
và sinh đẻ cũng cần thời gian hồi phục và có thể ảnh hưởng đến thể chất, tinh thần, KT-XH Tại Việt Nam, CSTTSS được chú trọng hàng đầu nhằm giảm tối đa MMR
và IMR, được thể hiện qua Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ, trong đó, mục tiêu 4
và 5 là Giảm tử vong trẻ em và Cải thiện sức khỏe bà mẹ được xem là các mục
tiêu cốt lõi cần cải thiện bền vững (3) và nhằm giảm MMR xuống còn 52/100.000; giảm tỷ suất tử vong trẻ em dưới 5 tuổi xuống còn 16/1000; ngăn ngừa và xử trí kịp thời các biến chứng và mang lại lợi ích lớn nhất cho BM-TE, nhất là các nước đang phát triển, tổ chức Y tế thế giới (WHO) (13, 19-20) đã khuyến cáo, tất cả bà mẹ đều được tiếp cận dịch vụ CSTS, CSTgS, CSSS vì những lợi ích sau:
CSTS có ý nghĩa như là một phương pháp tiếp cận một cách tổng thể để cải thiện sức khỏe bà mẹ và trẻ sơ sinh Khám thai đầy đủ và quản lý thai tốt được cho
là làm giảm MMR và IMR trực tiếp thông qua việc phát hiện, điều trị bệnh và gián tiếp bằng cách cải thiện hành vi sức khỏe của bà mẹ Phòng ngừa, tầm soát và điều trị các bệnh nhiễm trùng ngăn ngừa bệnh tật mẹ và trẻ sơ sinh: tiêm VAT, bổ sung sắt làm giảm thiếu máu, điều trị tiền sản giật Cải thiện hành vi dinh dưỡng hợp lý Mặc dù, một số biến chứng không thể lường trước, nhưng hầu hết các biến chứng
có thể phòng ngừa, chẩn đoán và điều trị kịp thời nếu được chăm sóc và quản lý tốt trong suốt thời kỳ thai sản (13, 19)
CSTgS là sinh con tại CSYT với sự hỗ trợ của NVYT và thực hiện tốt các chăm sóc sản khoa thiết yếu cho các bà mẹ Bởi vì, 30,0% từ vong mẹ xảy ra ở ngoài CSYT và chiếm 50,0% là chảy máu sau đẻ (đặc biệt 48 giờ đầu sau đẻ), 20,0%-30,0% còn lại là các bệnh lý liên quan đến sản giật, vỡ tử cung) (3) Sinh con tại CSYT với môi trường sạch sẽ, đầy đủ thuốc, trang thiết bị y tế, NVYT có kỹ
Trang 22năng quản lý chuyển dạ bình thường, nhận ra các biến chứng và điều trị sớm được coi là can thiệp quan trọng nhất để đảm bảo an toàn cho mẹ và con (13, 17, 19)
CSSS cũng quan trọng như chăm sóc trước sinh Hơn 50,0% MMR liên quan đến tai biến sản khoa (băng huyết, sản giật, nhiễm khuẩn hậu sản, vỡ tử cung); Về IMR, 40,0% trẻ tử vong 24 giờ đầu, 50,0% trẻ tử vong ngày thứ 2 -10, 10,0% còn lại tử vong ngày thứ 10-14 sau sinh và phần lớn nguyên nhân tử vong là do suy hô hấp sơ sinh và nhiễm trùng sơ sinh (3, 18) Vì vậy, khuyến cáo khám lại sau sinh bởi NVYT rất cần thiết trong việc theo dõi CSSK cho cả mẹ và trẻ sơ sinh cũng như
góp phần giảm MMR và IMR trong giai đoạn này (13, 17, 19)
1.1.3 Sự khác biệt trong kết quả chăm sóc trước, trong và sau sinh giữa các vùng miền và dân tộc thiểu số
Việt Nam là nước có 54 dân tộc sinh sống, trong đó dân tộc Kinh chiếm tỷ lệ cao nhất (gần 85,4% dân số); 53 dân tộc còn lại chỉ chiếm 14,6% Quyền bình đẳng giữa các dân tộc đã được Hiến pháp nước Việt Nam năm 1992 quy định Tuy nhiên, DTTS vẫn còn thiệt thòi, khó khăn và kém phát triển hơn so với dân tộc Kinh (21)
Sự khác biệt về mức sống giữa dân tộc Kinh và DTTS theo phân tích của Tổng cục Thống kê năm 2017 (21) cho thấy, tỷ lệ người nghèo cả nước trung bình
là 8,4%, thì ở DTTS cao đến 32,5%; và mức sống nghèo ở dân tộc Kinh chỉ 2,7 thì DTTS cao đến 24,3 Chênh lệch về đói nghèo giữa DTTS và dân tộc Kinh ngày càng tăng, chênh lệch khoảng cách số hộ nghèo ngày càng lớn và kể cả chênh lệch tiếp cận dịch vụ CSSKSS Các DTTS vẫn phải đối mặt với MMR, IMR cao (21-22)
Một nghiên cứu đánh giá thực trạng về CSSK của DTTS của Bộ Y tế (2014) (23) đã cho thấy hạn chế cung cấp và tiếp cận các dịch vụ CSSK của DTTS: Nhiều nhu cầu CSSK chưa được đáp ứng đặc biệt là về truyền thông GDSK; dịch vụ CSSK cho phụ nữ và trẻ em có chất lượng tại TYT Những nhu cầu CSSK mang tính đặc thù của mỗi DTTS còn chưa được quan tâm do các chính sách CSSK chưa
có sự điều chỉnh linh hoạt để phù hợp với đặc thù văn hóa của từng DT Những rào cản trong tiếp cận dịch vụ CSSK ban đầu gồm: khoảng cách địa lý và phương tiện
đi lại; thói quen không đi khám chữa bệnh khi bị ốm; thói quen mời thầy mo, thày cúng để chữa bệnh; tập quán đẻ tại nhà không cần có sự hỗ trợ của NVYT; không
Trang 23đủ khả năng để chi trả phí khám chữa bệnh; bất đồng về ngôn ngữ trong giao tiếp Các yếu tố nguy cơ đã, đang và sẽ tiếp tục gây bất lợi đối với sức khỏe cho DTTS gồm: làm nhà ở trên rẫy; sống không cố định, ăn uống không hợp vệ sinh
Phân tích cụ thể kết quả của CSTTSS từ phân tích của Thống kê Y tế (2018) (24), qua các kết quả các nghiên cứu (2, 10, 23, 25-28) và báo cáo của Vụ Sức khỏe BM-TE năm 2018 (4), cho thấy những khác biệt sau:
Thứ nhất: Có sự khác biệt khá lớn về MMR, IMR giữa các vùng miền, các
nhóm DTTS: MMR trung bình cả nước là 58/100.000, thì MMR ở nông thôn cao gấp 2 lần thành thị và MMR người DTTS cao gấp 4 lần so với dân tộc Kinh IMR trung bình cả nước là 14,7‰, thì IMR ở trẻ DTTS cao gấp 3 lần và tử vong sơ sinh
ờ trẻ DTTS vẫn còn cao gấp 4,3 so với trẻ dân tộc Kinh và sự khác biệt này có xu hướng ngày càng tăng (1-2, 24)
Thứ hai: Khả năng tiếp cận CSTTSS của bà mẹ DTTS còn nhiều hạn chế,
ngoài những rào cản về ngôn ngữ và văn hóa DTTS, còn các yếu tố KT-VH-XH khác tạo nên sự khác biệt trong CSTTSS (4)
Khám thai từ 3 lần trở lên trung bình cả nước là 88,3% (thì DTTS chỉ 58,1%)
và dân tộc Kinh đạt 82,1% (thì ở DTTS chỉ là 32,7%) Mụ vườn khám thai dân tộc Kinh 0,1% thì DTTS đến 0,8% (2)
Sinh con tại CSYT vẫn còn khác biệt giữa thành thị và nông thôn (thành thị
là 99,3%, nông thôn là 91,3%), còn khác biệt giữa dân tộc Kinh và DTTS (dân tộc Kinh là 99,1%; DTTS chỉ 66,9%) (28) Bà mẹ DTTS sinh con tại nhà và được NVYT đỡ sinh còn chiếm tỷ lệ khá cao (69,5% và 37,6%), trong khi đó, tỷ lệ này ở dân tộc Kinh lần lượt chỉ là 9,8% và 86,6% (2)
Trong 74,7% bà mẹ không khám lại sau sinh thì thành thị là 67,1% và nông thôn là 77,8%; dân tộc Kinh là 72,6% và DTTS là 85,5% (28)
Thứ ba: Hoạt động truyền thông nâng cao kiến thức, nhận thức, thay đổi dần
các phong tục tập quán lạc hậu trong CSTTSS, nhất là ở vùng đồng bào DTTS còn hạn chế cả về phương thức tiếp cận lẫn cách thức truyền thông (4)
Qua đó cho thấy, các thách thức khó khăn tập trung vào nhóm DTTS Theo báo cáo Dân số và nhà ở năm 2015 (29) Việt Nam là nước có 54 dân tộc sinh sống
Trang 2453 DTTS chỉ chiếm hơn 14,6% (dân tộc Kinh chiếm 86,0%), nhưng tỷ lệ người nghèo ở DTTS cao đến 32,5% (trung bình cả nước chỉ 8,4%); mức sống nghèo ở DTTS đến 24,3 (dân tộc Kinh chỉ 2,7) Chênh lệch về nghèo đói giữa DTTS và dân tộc Kinh ngày càng tăng, chênh lệch khoảng cách số hộ nghèo ngày càng lớn
Bên cạnh, DTTS còn đối mặt với MMR, IMR cao vì chênh lệch tiếp cận dịch
vụ CSSKSS (29) Nghiên cứu của Bộ Y tế và tổ chức Pathfinder International về cung cấp và tiếp cận dịch vụ CSSK của DTTS (10, 23, 25, 30) đã cho thấy hạn chế tiếp cận dịch vụ CSSK và nhu cầu CSSK chưa được đáp ứng, đặc biệt là về truyền thông GDSK của DTTS Những nhu cầu CSSK mang tính đặc thù của mỗi DTTS chưa được quan tâm do các chính sách CSSK chưa có sự điều chỉnh linh hoạt để phù hợp với đặc thù văn hóa của từng dân tộc Những rào cản trong tiếp cận dịch vụ CSSK gồm: khoảng cách địa lý và phương tiện đi lại; thói quen không đi đến CSYT khi bị ốm mà mời thầy mo, thầy cúng để chữa bệnh; tập quán đẻ tại nhà không cần
hỗ trợ của NVYT; không đủ khả năng để chi trả phí khám chữa bệnh; bất đồng về ngôn ngữ trong giao tiếp với NVYT Các yếu tố nguy cơ đã, đang và sẽ tiếp tục gây bất lợi đối với sức khỏe cho người DTTS bao gồm: di cư không ổn định, làm nhà ở trên rẫy, vệ sinh kém; ăn uống, lao động không theo khuyến cáo khoa học
Ngoài ra, Việt Nam còn đối mặt với chênh lệch trong tiếp cận các dịch vụ CSTTSS của vùng miền, đặc biệt trong nhóm dân cư sống vùng ven biển (31) Đặc điểm, tập quán, nhận thức của người dân vùng biển còn hạn chế về mang thai, sinh
đẻ và phòng ngừa các yếu tố có nguy cơ ảnh hưởng đến sự phát triển của bào thai, sức khỏe của bà mẹ; CSYT cấp xã tại các vùng ven biển chưa tổ chức cung cấp dịch
vụ CSSKSS thường xuyên và đạt chất lượng, chưa đáp ứng nhu cầu cho người lao động nghèo, chi phí cho dịch vụ CSSKSS cao so với thu nhập của người dân, điều kiện địa lý khó khăn, ảnh hưởng của môi trường biển; tỷ suất sinh, tỷ lệ sinh con thứ
3 trở lên cao; MMR và IMR cao Chương trình mục tiêu quốc gia về CSSKSS chưa
đủ điều kiện giải quyết các đặc thù, đặc điểm KT-XH của người dân sống vùng ven biển để nâng cao chất lượng dân số (31) Nhằm nâng cao chất lượng dân số các vùng biển, ven biển, Chính phủ đã phê duyệt “Đề án kiểm soát dân số các vùng biển đảo và ven biển giai đoạn 2009-2020” (Quyết định số 52/2009/QĐ- TTg) (6) với
Trang 25mục tiêu: người dân sinh sống ở vùng biển, ven biển được tiếp cận các dịch vụ CSSKSS đạt 95,0% vào năm 2020 và cần có các chính sách xã hội tập trung y tế cho vùng ven biển Bên cạnh, cần có các giải pháp nâng cao kiến thức, thay đổi nhận thức để làm tăng các hành vi CSSKSS cho người dân sống vùng này
1.2 Kiến thức, thái độ, thực hành về chăm sóc trước, trong và sau sinh
Để đánh giá KT-TĐ-TH CSTTSS, các nghiên cứu trên thế giới dựa trên nội dung khuyến cáo về CSTS, CSTgS và CSSS của WHO (32-35); các nghiên cứu tại Việt Nam cũng trên cơ sở khuyến cáo của WHO và được cụ thể bằng Hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ CSSKSS (Bộ Y tế ban hành năm 2009, bổ sung năm 2016) (12) và được áp dụng để đánh giá các chỉ số CSTTSS thuộc chương trình CSSKSS đang triển khai (4) (Bảng 1.1 trình bày các nội dung được đánh giá trong các nghiên cứu CSTTSS)
Bảng 1.1 Một số nội dung cơ bản về Chăm sóc trước, trong và sau sinh cho bà
mẹ được khuyến cáo
Khuyến
cáo
Nội dung Chăm sóc
trước sinh
Chăm sóc trong sinh
Chăm sóc sau sinh
Xét nghiệm máu, nước tiểu; GDSK về CSTS (dinh dưỡng và lao động hơp lý, chuẩn bị sinh);
Phát hiện nguy cơ (chảy máu âm đạo nhiều, đau bụng, cao huyết áp, phù)
2 nội dung chính: Sinh tại CSYT và
sinh; Nhận biết dấu hiệu
4 nội dung chính: Khám lại sau sinh (khám 4 lần: ngày
đầu, ngày 3, khoảng ngày
7-14,6 tuần, NVYT khám); Chăm sóc trẻ sơ sinh (bú sớm, lau khô, ủ ấm, chăm sóc mắt); Chăm sóc bà mẹ: dinh dưõng, lao động, vệ sinh; GDSK: nuôi con bằng sữa mẹ, biết các dấu hiệu bất thường và xử trí: ở
mẹ (chảy máu, sản giật,
nhiễm trùng); và ở trẻ (sốt,
bỏ bú, tím tái, vàng da sớm)
Trang 261.2.1 Kiến thức chăm sóc trước, trong và sau sinh
1.2.1.1 Kiến thức chăm sóc trước sinh
Nghiên cứu ở một số nước đang phát triển trên thế giới cho thấy, kiến thức CSTS của các bà mẹ còn hạn chế, đặc biệt các bà mẹ DTTS
Các kiến thức chính trong CSTS gồm: khám thai (các nghiên cứu từ năm
2016 trở về trước vẫn còn tính khám thai từ 3 lần trở lên), tiêm VAT và uống bố sung viên sắt ở các nghiên cứu chỉ đạt trong khoảng 20,0%-70,0% (36-39)
Nghiên cứu của Araya (2013) (36), khảo sát 201 bà mẹ sống vùng nghèo Eritrea cho thấy, chỉ 32,1% bà mẹ biết khám thai từ 3 lần trở lên và còn 61,2% bà
mẹ không biết thời điểm khám thai và họ hiểu sai rằng “Bắt đầu khám thai vào 3 tháng giữa thai kỳ” Nghiên cứu của Hajela (2014) (37) thực hiện trên 250 bà mẹ tại huyện nghèo Sagar, Ấn Độ, cho thấy, còn đến 32,4% bà mẹ không biết cần khám thai 3 lần và nghiên cứu gần đây là của tác giả Lilungulu và cộng sự (2016) (38), khảo sát 500 bà mẹ tại Tanzania thì còn 7,8% bà mẹ “không biết khám thai 3 lần”, 20,2% bà mẹ không biết “NVYT là người khám thai”; còn12,4% bà mẹ hiểu sai rằng “bắt đầu khám thai từ tháng thứ 3 thai kỳ” và có đến 76,8% bà mẹ không biết cần uống bổ sung sắt khi mang thai (38); còn đến 38,0% bà mẹ không biết cần tiêm VAT đầy đủ và 23,2% bà mẹ không biết ăn uống hợp lý (37) Nghiên cứu của Mesko ở vùng nghèo Nepal (2013) (39) đã phỏng vấn 8.798 bà mẹ, kết quả cho thấy, đến 50,0% bà mẹ hiểu sai rằng “mang thai vẫn làm việc bình thường đến khi
có dấu hiệu chuyển dạ” và “không cần nghỉ ngơi hay hạn chế lao động nặng” Ngoài ra, một số nghiên cứu định tính cũng chỉ ra sự tín ngưỡng dân gian và sự thiếu kiến thức CSTS của các bà mẹ DTTS Nghiên cứu định tính tác giả Sarfraz và cộng sự (2015) (40), thực hiện 4 cuộc thảo luận với 20 bà mẹ sống quận Attock- Punjab, vùng nông thôn Pakistan cho thấy, sự thiếu kiến thức của các bà mẹ trong việc ăn uống, nghỉ ngơi; tập tục tôn thờ thánh Allah và họ luôn tin tưởng rằng thánh Allah đem lại sức khỏe cho họ
Tại Việt Nam, các nghiên cứu cho thấy, kiến thức về CSTS của bà mẹ, nhất
là bà mẹ DTTS, sống vùng sâu, vùng xa vẫn còn hạn chế (10) Các chỉ số kiến thức
Trang 27quan trọng (khám thai từ 3 lần trở lên, tiêm VAT, uống bổ sung viên sắt) cũng chỉ trong khoảng 50,0%-80,0% (26, 41)
Nghiên cứu gần đây của Hà Thanh Trang (2016) tại huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang (26), phỏng vấn trên 216 bà mẹ dân tộc Tày thì còn khoảng 10,0%-20,0% không biết khám thai từ 3 lần trở lên và tiêm VAT Nghiên cứu của Lại Thị Minh Trà (2016) (42) tại huyện Vân Canh, Bình Định, đã tìm hiểu trên 152 bà mẹ dân tộc Chăm cho thấy, 50,0% bà mẹ không cần biết khám thai Nghiên cứu của Phạm Đình Đạt (2013) (41) tại Yên Bái, nơi có nhiều DTTS sinh sống như: Tày, Thái, H’mông; thực hiện phỏng vấn 516 bà mẹ thì đến 45,1% không biết khám thai
từ 3 lần trở lên, 40,0% không biết tiêm VAT và 28,5% không biết uống bổ sung viên sắt Tác giả Bùi Thị Thu Hà và cộng sự (2012) (10) đã tổng hợp các kết quả của các nghiên cứu về SKSS Trong giai đoạn 2006- 2011, cho thấy, khoảng 50,0%-70,0% bà mẹ không biết khám thai từ 3 lần trở lên, không biết tiêm VAT và không biết uống bổ sung sắt; và trong số bà mẹ này tập trung nhiều ở các bà mẹ DTTS Cũng theo tác giả Bùi Thị Thu Hà (10), các bà mẹ dân tộc Cơ-tu biết cần khám thai
≥3 lần, tiêm VAT, uống viên sắt chỉ đạt khoảng 50,0%; hiểu biết về dinh dưỡng, lao động, vệ sinh thân thể chỉ khoảng 60,0%
1.2.1.2 Kiến thức chăm sóc trong sinh
Nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy, còn tỷ lệ tương đối bà mẹ không
biết nơi sinh con là CSYT và NVYT là người đỡ sinh, nhất là các bà mẹ DTTS sinh sống vùng khó khăn Các nghiên cứu của Hajala (43) (2014), (37) nghiên cứu của Belda và Gebremariam (2014) (37), nghiên cứu của Khamphanh Prabouasone (2013) (44), đã cho thấy, vẫn còn 20,0%-30,0% bà mẹ nhắc đến sinh con tại nhà và
mụ vườn đỡ sinh Theo tác giả Hajala (2014), còn 12,0% bà mẹ không biết sinh con tại CSYT (43) và Nghiên cứu của Belda và Gebremariam (2014) trên 403 bà mẹ vùng Goba, Ethiopia, tỷ lệ này là 5,9% (37) và nghiên cứu của Khamphanh Prabouasone (2013) (44) tại huyện Bo Lị Khăm Xay, Lào, phỏng vấn 869 bà mẹ DTTS (Lào Soung và Lào ther) thì tỷ lệ này là 26,6% Các nghiên cứu trên cũng cho thấy, tỷ lệ bà mẹ không biết NVYT đỡ sinh khoảng 25,0%-38,1% (37, 43-44)
Trang 28Các nghiên cứu tại Việt Nam cũng cho thấy, vẫn còn một số bà mẹ cho rằng
sinh con tại và mụ vườn đỡ sinh là tốt nhất Chiếm đa số nhận thức này là các bà mẹ DTTS, sinh sống ở vùng sâu vùng xa (10) Cũng theo tác giả Lại Thị Minh Trà (2016) (42), còn đến 50,0% bà mẹ dân tộc Chăm cho rằng nhà là nơi sinh con tốt nhất và biết người thân hoặc mụ vườn đỡ sinh Tương tự, tỷ lệ này ở bà mẹ dân tộc Tày trong nghiên cứu của Hà Thanh Trang (2016) là 40,2% (26)
1.2.1.3 Kiến thức chăm sóc sau sinh
Một số nghiên cứu trên thế giới cho thấy, yếu tố văn hóa truyền thống trong
CSSS của các bà mẹ DTTS có xu hướng nổi bật
Cũng theo tác giả Hajela (2014) (37) còn đến 58,0% bà mẹ không biết chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ sơ sinh, chỉ hai nội dung chăm sóc được nhắc nhiều nhất là:
chăm sóc rốn (52,4%) và ủ ấm (27,4%) Theo tác giả Khamphanh Prabouasone
(2013) (44) có đến 41,0% bà mẹ không biết cần cho trẻ bú sớm trong giờ đầu sau sinh Nghiên cứu của Manisha Silwal (2011) (45), phỏng vấn trên 168 bà mẹ dân tộc Raute thì cho rằng, bà mẹ còn hạn chế, hiểu biết về chế độ kiêng cử trong ăn uống
và vệ sinh sau khi sinh hơn là kiến thức chăm sóc được khuyến cáo theo khoa học;
và có đến 61,2% bà mẹ không biết cần cho trẻ bú mẹ hoàn toàn
Các nghiên cứu tại Viêt Nam cũng cho thấy, kiến thức của bà mẹ về chăm
sóc bản thân và chăm sóc trẻ sau sinh cũng còn hạn chế Biết các hoạt động chăm sóc bản thân, chăm sóc trẻ, đặc biệt biết các dấu hiệu bất thường để xử trí chỉ đạt ở mức thấp đến trung bình Theo tác giả Bùi Thị Thu Hà và cộng sự (2012) (10) còn khoảng 25,0% bà mẹ thiếu hiểu biết về chăm sóc bản thân và không biết việc cần làm ngay khi trẻ vừa sinh ra.Các bà mẹ dân tộc Chăm còn phong tục tắm nước lá,
hơ lửa, nằm than nóng và ăn uống kiêng cữ trong khoảng 1 tuần và sau đó đi nương rẫy (42) Kết quả nghiên cứu của Lê Thiện Thái và Ngô Văn Toàn (2011) (46) tại 3 tỉnh Thái Nguyên, Huế, Vĩnh Long, phỏng vấn 2079 bà mẹ cho thấy, chỉ khoảng 50,0% bà mẹ có kiến thức về 5 hoạt động chăm sóc trẻ sơ sinh (gồm: biết lau khô trẻ (61,8%), biết giữ ấm trẻ (56,7%), biết cho bú sớm (51,5%) và biết chăm sóc mắt (5,6%)) Nghiên cứu tại huyện Nà Rì, Bắc Kạn (2011) (47) phỏng vấn 269 bà mẹ thì
Trang 29chỉ 25,4% bà mẹ biết cho trẻ bú sớm Về biết khám lại sau sinh, bà mẹ dân tộc H’mông chỉ đạt 20,3% (48) và bà mẹ dân tộc Tày chỉ 17,0% (41, 46)
Kiến thức về dấu hiệu bất thường và cách xử trí cả ba giai đoạn trước, trong và sau sinh
Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy, chỉ khoảng 20,0%-60,0% bà mẹ biết
về dấu hiệu bất thường nhưng chưa đầy đủ cả ba giai đoạn trước, trong và sau sinh nghiên cứu của Gebremeskel, Dibaba và Admassu (2015) (49) trên 408 bà mẹ tại Ethiopia, có đến 46,4% bà mẹ không biết bất cứ dấu hiệu bất thường nào Theo tác giả Araya (2013) (36), tỷ lệ không biết đến 80,0%, chỉ 17,4% bà mẹ biết “ra máu
âm đạo” Theo tác giả Sarfraz và cộng sự (2015) (40) và tác giả Lilungulu (2016) (34), thì cho rằng, số ít (<18,0%) bà mẹ chỉ biết “phù” và “tăng huyết áp” Theo tác giả Khamphanh Prabouasone (2013) (44) và Belda và Gebremariam (2014) (43) bà
mẹ chỉ đạt dưới 30,0% các dấu hiệu bất thường trong lúc sinh Theo tác giả Hajala (2014) (37), bà mẹ chỉ biết hai dấu hiệu bất thường của trẻ sơ sinh: hạ thân nhiệt (27,4%) và vàng da sớm (18,2%) và biết 6 dấu hiệu nguy hiểm ở mẹ sau sinh chỉ ở mức 3,1%-33,0% (44) Về xử trí dấu hiệu bất thường, khoảng 50,0% bà mẹ biết đến CSYT, số còn lại nhắc đến việc sử dụng thuốc nam, khấn vái, cầu nguyện thần linh (37, 39-40) (43-45) Một số bà mẹ công giáo không tìm đến CSYT với bất cứ lý do
gì, họ tin rằng: “Thiên Chúa quyết định liệu một người sẽ chết hoặc sống” Bà mẹ không có niềm tin vào NVYT, họ chỉ muốn cộng đồng DTTS của họ chăm sóc cho nhau (37, 40)
Các nghiên cứu tại Việt Nam cũng cho thấy, bà mẹ biết dấu hiệu bất thường
và cách xử trí cũng rất hạn chế Khảo sát của Bộ Y tế (25) về chăm sóc bà mẹ sau sinh ở một số tỉnh, thì có đến 31,5% bà mẹ không biết bất cứ dấu hiệu nào trong 5 dấu hiệu: chảy máu, đau bụng, phù, tăng huyết áp, co giật) và tỷ lệ biết mỗi dấu hiệu chỉ trong khoảng 8,3%-37,2% Theo tác giả Hà Thanh Trang (2016) (26), bà
mẹ biết chỉ 2 dấu hiệu với tỷ lệ cao (đau bụng là 81,5% và ra huyết là 79,6%) Theo tác giả Phạm Đình Đạt (2013) (41), còn khoảng 30,0% bà mẹ không biết dấu hiệu bất thường nào trong chuyển dạ; Theo tác giả Bùi Thị Thu Hà và cộng sự 2012)
Trang 30(10), cho rằng, còn 25,0%- 50,0% bà mẹ không biết bất cứ dấu hiệu nguy hiểm nào
ở mẹ và con và “không khám chữa gì” hoặc “tự chữa trị”
1.2.2 Thái độ chăm sóc trước, trong và sau sinh
Để đo lường thái độ CSTTSS của bà mẹ, các nghiên cứu có cách đo lường khác nhau: nghiên cứu của Finlayson (2015) (50) đo lường bằng cách tổng hợp 32 nghiên cứu định tính về thái độ chăm sóc thai sản; nghiên cứu Sarfraz và cộng sự (2015) (40) đo lường bằng các câu hỏi định tính Nghiên cứu Villadsen và Negussie (2015) và nghiên cứu của Khamphanh Prabouasone (2013) (44) đo lường bằng câu hỏi (trả lời có, không); nghiên cứu của Yang và Yoshitoku (2010) (51) đo lường bằng 10 câu hỏi thái độ với 3 sự lựa chọn (đồng ý, không chắc chắn và không đồng ý) Tại Việt Nam, nghiên cứu Lại Thị Minh Trà (2016) (42) đo lường bằng câu hỏi (trả lời có, không) Nghiên cứu của Hà Thanh Trang (2016) (26) đo lường bằng các câu hỏi định tính
1.2.2.1 Thái độ chăm sóc trước sinh
Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy, bà mẹ vẫn còn thái độ chưa tích cực
trong chăm sóc thai nghén, đặc biệt là các bà mẹ DTTS Vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm dân gian lạc hậu tác động đến thái độ của bà mẹ về khám thai, đến CSYT khi
có bất thường
Trong nghiên của Finlayson (2015) (50) tác giả đã lý giải một số quan điểm nổi bật của CSTS tại các nước có nguồn lực y tế hạn chế, quan điểm của bà mẹ DTTS sống vùng nông thôn về CSTS còn mâu thuẫn với những hiểu biết hiện đại Một số bà mẹ vẫn có thái độ e dè với khám thai, họ ngại ngùng khi nhắc đến việc có thai vì liên quan đến quan hệ tình dục và xem như một điều xấu hổ; thậm chí, họ còn che giấu sự có thai vì sợ nguyền rủa, mê hoặc của ma quỷ Theo tác giả Sarfraz
và cộng sự (2015) (40) đa số các bà mẹ DTTS cho rằng không cần thiết biết dấu hiệu nguy hiểm vì mang thai là chuyện bình thường Theo Khamphanh Prabouasone (2013) (44) bà mẹ DTTS còn quan điểm xem nhẹ việc khám thai (12,2%), không cần thiết tiêm VAT (13,8%) và không cần thiết uống viên sắt (15,6%) Cũng trong nghiên cứu của Yang và Yoshitoku (2010) (51) tại huyện nghèo Xiengkhouang, Lào, phỏng vấn trên 310 bà mẹ thì còn đến 61,9% bà mẹ có thái độ tiêu cực về
Trang 31khám thai, quan niệm không xem việc khám thai là cần thiết và cho rằng CSYT không đem lại lợi ích tốt hơn việc chăm sóc tại nhà Đến CSYT để được NVYT khám thai được cho không cần thiết, không đem lại lợi ích gì (40, 44, 50-51)
Tại Việt Nam, theo tác giả Lại Thị Minh Trà (2016) (42), bà mẹ dân tộc
Chăm còn quan niệm tin tưởng vào tập quán ma chay, cúng thần; cho rằng, “chỉ cần
cúng để ma không bắt đi là được” Theo tác giả Bùi Thị Thu Hà và cộng sự (2012) (10) cho thấy, thái độ CSTS của bà mẹ DTTS còn hạn chế
1.2.2.2 Thái độ chăm sóc trong sinh
Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy, còn tồn tại quan điểm sinh con tại nhà
là tốt nhất ở các bà mẹ sống vùng nông thôn Nghiên cứu của Villadsen và Negussie (2015) tại Jimma, Ethiopia (52), phỏng vấn 1399 bà mẹ thì có đến 49,8%
bà mẹ cho rằng không cần thiết sinh tại CSYT vì họ không nhận được sự thân thiện
từ các NVYT và không nhận được lời khuyên gì từ họ (45) Theo tác giả Sarfraz và cộng sự (2015) (40) các bà mẹ vùng nông thôn Pakistan vẫn và muốn sinh tại nhà
và muốn mụ vườn đỡ sinh Các bà mẹ dân tộc Raute tại Nepal (45) vẫn muốn sinh theo cách truyền thống của họ, họ muốn người thân hoặc tự họ đỡ sinh và họ từ chối việc chăm sóc y tế hiện đại Quan điểm của bà mẹ DTTS còn cho rằng sử dụng thuốc nam, cúng bái thần linh là cách tốt nhất khi có bất thường (43-44)
Nghiên cứu tại Việt Nam, khoảng 1/2 số bà me có quan điểm chưa tích cực
về sinh con tại CSYT (10) Theo tác giả Lại Thị Minh Trà (2016) (42), còn đến 50,0% bà mẹ dân tộc Chăm cho rằng “nhà là nơi sinh con tốt nhất”, họ có niềm tin ở
mụ vườn và cho rằng mụ vườn xoa bụng nhẹ hơn NVYT Theo tác giả Hà Thanh Trang (2016) (26) có đến 40,2% bà mẹ dân tộc Tày vẫn còn cho rằng họ muốn đẻ tại nhà vì thuận lợi Đa số bà mẹ DTTS cho rằng, không cần thiết biết và xử trí các dấu hiệu bất thường trong sinh vì cho là việc của NVYT (10)
1.2.2.3 Thái độ chăm sóc sau sinh
Một số nghiên cứu trên thế giới cho rằng, còn tỷ lệ không nhỏ bà mẹ có thái
độ chưa tích cực về CSSS còn những quan điểm sai lầm về nuôi con bằng sữa mẹ Theo tác giả Banda (2013) (53) còn 22,0% bà mẹ cho rằng, “CSSS là không cần thiết vì nguy cơ thường xảy ra lúc sinh” Bà mẹ DTTS có quan điểm chăm sóc bà
Trang 32mẹ và trẻ sơ sinh theo cách “không kết nối với thế giới bên ngoài” mặc dù quan điểm đó không phù hợp với khoa học hiện đại (37, 45) Theo tác giả Khamphanh Prabouasone (2013) (44) còn 52,4% bà mẹ cho rằng sữa non không sạch và có hại
Tại Việt Nam, một số nghiên cứu cũng cho thấy, các bà mẹ DTTS còn nhều
quan điểm sai lầm về chăm sóc bà mẹ và trẻ sơ sinh Nghiên cứu tại huyện Nà Rì, Bắc Kạn (2013) (47), các bà mẹ còn những nhận thức sai lầm về nuôi con bằng sữa
mẹ như: cần phải vắt bỏ sữa non (16,9%), vú nhỏ sẽ không thể đủ sữa cho con bú (19,5%) và bà mẹ có thai thì ngừng cho trẻ bú (43,1%) Theo tác giả Bùi Thị Thu
Hà và cộng sự (2012) (10), đa số các bà mẹ chưa có thái độ tích cực về khám lại sau sinh Trong CSSK bản thân, bà mẹ còn quan điểm y học phương Đông về âm dương, sau sinh, còn kiêng nước, ít tắm, nằm than mặc dù trời nóng và dẫn đến bà
mẹ có thể bị bỏng Có đến 68,3% bà mẹ dân tộc Chăm và khoảng 20,3% bà mẹ H’mông, Tày, Thái có quan điểm rằng,“không cần thiết khám lại sau sinh”, “không đồng ý cho trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn”; chỉ cần mẹ và con được tắm, uống nước lá sau sinh và trẻ cần bú kèm theo các loại thức uống khác Thái độ về dấu hiệu bất thường
ở mẹ và con còn tiêu cực, các bà mẹ DTTS còn cho rằng, việc tử vong mẹ hay con
là do “ma bắt” (12, 23)
1.2.3 Thực hành chăm sóc trước, trong và sau sinh
1.2.3.1 Thực hành chăm sóc trước sinh
Nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy, các bà mẹ ở các nước đang phát
triển thực hành CSTS chưa đúng và chưa đầy đủ Các chỉ số chính về thực hành
CSTS như: khám thai từ 3 lần trở lên, tiêm VAT 2 mũi và uống bổ sung viên sắt trong các nghiên cứu chỉ khoảng 20,0%-40,0% và vẫn còn bà mẹ chọn mụ vườn khám thai (36-39, 45, 49, 54)
Theo các tác giả Lilungulu, Matovelo và Gesase, (2016) (38) thì chỉ 39,0%
bà mẹ khám thai từ 3 lần trở lên Cuộc điều tra về CSTS tại Malawi (2016) (54) cho rằng, 1/2 trong số các bà mẹ vẫn còn chọn mụ vườn khám thai Đa số bà mẹ DTTS
ở Nepal thì không khám thai ở CSYT và từ chối việc khám thai của NVYT tại nhà (45) Nghiên cứu tại vùng nghèo Arba Minch, Ethiopia của các tác giả Gebremeskel, Dibaba và Admassu (2015) (49) trên 409 bà mẹ thì còn đến 61,0% bà
Trang 33mẹ không khám thai từ 3 lần trở lên và không khám đúng kỳ; Tương tự, các bà mẹ các bà mẹ DTTS tại Nepal hầu như khám thai muộn là do che giấu việc có thai (39) Theo tác giả Hajela (2014) (37), còn đến 38,0% bà mẹ không tiêm VAT đầy đủ, 16,4% bà mẹ không uống sắt và 23,2% bà mẹ không ăn uống đầy đủ Chế độ dinh dưỡng khi mang thai của các bà mẹ DTTS cũng không uống bổ sung sắt, không ăn uống theo chế độ ăn khoa học mà chỉ ăn theo thức ăn dự trữ có sẵn (thức ăn truyền thống); các bà mẹ DTTS không nghỉ ngơi như khuyến cáo và làm việc bình thường cho đến khi chuyển dạ (37, 39, 45)
Tại Việt Nam, một số nghiên cứu và báo cáo cho thấy, CSTS còn chênh lệch
vùng miền và DTTS (2, 4, 55) Các chỉ số chính (như: khám thai từ 3 lần trở lên, tiêm VAT đủ mũi và uống bổ sung viên sắt) chỉ đạt tối đa 50,0% và chưa được NVYT khám thai (22, 25-26, 41-42, 56)
Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Hà và cộng sự (2014) (56) tại tỉnh Ninh Thuận và Kon Tum, tỉnh có nhiều DTTS sinh sống, còn đến 51,4% bà mẹ không khám thai từ 3 lần trở lên và không được NVYT khám Theo tác giả Lại Thị Minh Trà (2016) (42), tỷ lệ bà mẹ DTTS khám thai theo ba giai đoạn của thai kỳ lần lượt trong ba tháng đầu, ba tháng giữa và ba tháng cuối lần lượt chỉ 34,9%, 22,6% và 42,5% Tương tự, tác giả Hà Thanh Trang (2016) (26) cũng đã chỉ ra rằng, còn 32,4% bà mẹ dân tộc Tày không khám thai từ 3 lần trở lên; hay trong Báo cáo khảo sát dịch vụ CSTTSS tại 3 huyện miền núi Quế Phong, Bảo Lạc, Tu Mơ Rông của
Bộ Y tế (2015) bà mẹ miền núi Nam Đông không khám thai từ 3 lần trở lên và không được NVYT khám đến 50,0% Tỷ lệ không khám thai của các bà mẹ thấp hơn trong nghiên cứu của Phạm Đình Đạt (2013), các bà mẹ dân tộc H’mông, Tày không khám thai (25,8%) và không khám thai từ 3 lần trở lên (29,0%) (41) Còn khoảng 25,0% bà mẹ không tiêm VAT đủ mũi (25, 41) Còn 25,5%-35,0% bà mẹ DTTS ăn uống, làm việc và nghỉ ngơi không hợp lý (10)
1.2.3.2 Thực hành chăm sóc trong sinh
Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy, mặc dù sinh con tại CSYT được cải thiện, nhưng vẫn còn tỷ lệ không nhỏ nhu cầu chưa được đáp ứng về sinh con tại
Trang 34CSYT Bà mẹ DTTS sinh con tại nhà và không được NVYT hỗ trợ còn khoảng 30,0%-50,0%
Theo báo cáo của UNFPA (2015) (57), hàng năm, trên thế giới có khoảng 34,4% bà mẹ không sinh con tại CSYT Theo tác giả Disha và cộng sự (2015) (58) thì có đến 27,0% bà mẹ được mụ vườn đỡ sinh và 50,0% do người thân trong gia đình đỡ Theo tác giả Kenneth (2015) (50) đã chỉ ra rằng, các bà mẹ không đến CSYT sinh con là do họ e ngại tiếp xúc, sự kỳ thị của NVYT và vì thông tin cá nhân của họ sẽ không được giữ kín Theo tác giả Reuben và Margaret (2013) (59), còn 21,0% bà mẹ sinh con tại nhà và 43,3% bà mẹ không được NVYT đỡ sinh Theo tác giả Mesko và cộng sự (2013) (39) cho rằng, chỉ có 6,0% bà mẹ sinh con tại nhà được NVYT hỗ trợ và 12,0% bà mẹ tự đỡ sinh cho mình
Tại Việt Nam, bà mẹ DTTS sinh con tại nhà và đặc biệt không được NVYT
hỗ trợ chiếm 50,0%, đặc biệt là các bà mẹ vùng miền núi, vùng sâu vùng xa (2,
25-26, 28, 41-42, 55)
Báo cáo của Bộ Y tế (2016) (25) ở một số huyện nghèo như Quế Phong, Bảo Lạc, Tu Mơ Rông thì còn đến 60,0% bà mẹ sinh con tại nhà Báo cáo MICS (2014) (2) cũng cho thấy, tỷ lệ sinh con tại CSYT còn khác biệt giữa thành thị (99,3%) và nông thôn (91,3%), khác biệt giữa dân tộc Kinh (99,1%) và DTTS (66,9%); bà mẹ sinh con tại nhà do tồn tại phong tục tập quán lạc hậu của các bà mẹ DTTS (25, 55) Theo tác giả Phạm Đình Đạt (2013) (41) cho rằng, còn 38,8% bà mẹ dân tộc H’mông, Thái, Tày sinh tại nhà, trong đó có đến 76,4% do người nhà đỡ sinh, 9,6%
mụ vườn đỡ, 9,0% bà mẹ tự đỡ và chỉ 5,0% được NVYT đỡ Nghiên cứu của Hà Ngọc Trinh (2012) (28) cho thấy, bà mẹ DTTS sinh con tại nhà được NVYT đỡ sinh lần lượt là 69,5% và 37,6% Bà mẹ dân tộc Chăm, dân tộc Tày muốn được người thân hoặc mụ vườn đỡ sinh vì không muốn người lạ nhìn thấy bộ phận sinh dục của mình và e ngại CSYT quá đông người (26, 42)
1.2.3.3 Thực hành chăm sóc sau sinh
Nghiên cứu trên thế giới cho thấy, việc chăm sóc bà mẹ và trẻ sau sinh vẫn
chưa được cải thiện Đặc biệt, ở các nước đang phát triển và các bà mẹ DTTS vẫn còn áp dụng các phong tục tập quán lạc hậu trong chăm sóc bà mẹ và trẻ sơ sinh
Trang 35Theo tác giả Mesko và cộng sự (2013) (39), các bà mẹ ở vùng nông thôn nghèo Nepal còn tập tục như: kiêng cử ăn uống, ở nơi riêng 3-11 ngày và không được chăm sóc theo khuyến cáo Theo tác giả Hajela (2014) (37), các bà mẹ Ấn Độ còn ăn kiêng theo chế độ ăn “Kajal” (chủ yếu ăn tinh bột); 18,8% bà mẹ chưa thực hiện việc vệ sinh thân thể; 47,6% chưa chăm sóc rốn và 27,6% chưa ủ ấm trẻ Bên cạnh, còn nhiều lý do nên việc nuôi con bằng sữa mẹ bị hạn chế Ở Nepal (45), sữa
non được cho là “không sạch”nên đa số trẻ không được bú sớm Tại Ấn Độ (37) và
tại Ethiopa (58), lần lượt 58,8% và 63,0% trẻ không được bú sớm giờ đầu và bú mẹ
hoàn toàn Tại Malawi (54), tỷ lệ trẻ bú sữa mẹ là 61,0% nhưng không có trẻ được
bú sữa mẹ hoàn toàn, vẫn còn 9,0% bà mẹ cho trẻ uống thêm nước, 12,0% trẻ ăn thực phẩm bổ sung, 2,0% trẻ uống sữa nhân tạo (54); Còn đến 83,6% bà mẹ pha loãng sữa với loại thức uống và 52,4% bà mẹ sử dụng thức ăn thay thế sữa mẹ (37)
Thực hành khám lại sau sinh chưa đầy đủ, tại nước nghèo Malawi (2016) (54)
và vùng nông thôn Nepal (39), bà mẹ khám lại 1 lần trong tuần đầu sau sinh lần lượt
chỉ 39,0% và 22,0% Nghiên cứu định tính của Silwal (2011) (45) đã khái quát khá
rõ hành vi của bà mẹ trong CSSS: các bà mẹ hầu như không đến CSYT để thực hiện khám lại sau sinh (kể cả không cho NVYT đến nhà thăm khám), lý do được cho là:
họ sợ hãi, lo lắng việc đem con đi ra khỏi nhà giống như là khoe con thì thần linh sẽ bắt, chăm sóc hiện đại sẽ tác động tiêu cực đến nền văn hóa của họ (mô hình văn hóa của cộng đồng Raute cho rằng vấn đề riêng tư không nên đem ra khỏi nhà)
Tại Việt Nam, nhiều nghiên cứu đã nêu bật những hạn chế của bà mẹ DTTS,
tập tục lạc hậu trong việc chăm sóc bà mẹ và trẻ sơ sinh Chỉ số cơ bản trong CSSS
là khám lại sau sinh và cho trẻ bú sớm giờ đầu chỉ đạt khoảng 30,0%- 60,0%
(41-42, 46, 60-61)
Nghiên cứu của Nguyễn Vân Hà tại các xã nông thôn tỉnh Hà Nam (2014) (61) đã phỏng vấn 1258 bà mẹ có con dưới 36 tháng tuổi đã cho rằng, các bà mẹ cho trẻ uống sữa công thức trong ngày đầu, trong tuần đầu, trong 6 tuần đầu, 4 tháng và
6 tháng đầu sau đẻ lần lượt là: 24,0%, 56,0%, 60,6%, 84,3% và 89,0% Theo báo cáo MICS (2014) (2), trẻ được bú sữa mẹ hoàn toàn dưới 6 tháng tuổi chỉ 24,3% và tỷ lệ trẻ bú sớm 1 giờ đầu chỉ đạt 26,5% Theo tác giả Bùi Thị Thu Hà và cộng sự (2012)
Trang 36(60) cho rằng, các bà mẹ vẫn còn thực hành CSSS dựa trên quan điểm từ kiến thức y học phương Đông về âm dương (mẹ chồng hay mẹ đẻ truyền những kinh nghiệm này cho con dâu/con gái) Bà mẹ DTTS vệ sinh hàng ngày bằng nước lá rừng (nhiều loại lá nấu lẫn với nhau) và ít khi tắm toàn thân trong tuần đầu sau sinh Các bà mẹ kiêng mỡ, chất tanh, uống nước lá rừng cho đến 4-5 tháng, ăn mặn và ít ăn rau xanh, hoa quả Vẫn còn nhiều các tập tục lạc hậu trong chăm sóc trẻ sơ sinh, các bà mẹ DTTS còn đưa về nhà sớm ngay sau sinh để đốt lửa, đốt vía và sưởi ấm cho trẻ Theo tác giả Lê Thiện Thái và Ngô Văn Toàn (2011) (46), bà mẹ thực hiện: ủ ấm trẻ chỉ 22,6%, cho trẻ tiếp xúc da kề da chỉ 3,4%
Khám lại sau sinh còn hạn chế ở các bà mẹ DTTS sống ở các vùng miền khó khăn (55) Theo báo cáo MICS (2014) (2), có đến 74,7% bà mẹ không khám lại sau sinh (thành thị là 67,1%; nông thôn là 77,8% và dân tộc Kinh là 72,6%, DTTS là 85,5%) Bà mẹ dân tộc H’mông, Thái, Tày, Chăm khám lại trong tuần đầu đạt khoảng 41,3%- 64,9% (41, 56) Tỷ lệ này ở các bà mẹ dân tộc Chăm tại Bình Định cũng chỉ 19,6% (42)
Xử trí bất thường ở cả ba giai đoạn trước, trong và sau sinh
Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy, bà mẹ đến CSYT để xử trí dấu hiệu
bất thường ở cả ba giai đoạn trước, trong và sau sinh chỉ khoảng 20,0%-50,0% (36, 39) Tác giả Mesko và cộng sự (2013) (39) cho rằng, bà mẹ phát hiện được dấu hiệu bất thường (5,0%-11,0%) thì có đến 77,0% tìm đến thầy lang và 70,0% sau 12 giờ mới đến CSYT (39)
Các nghiên cứu tại Việt Nam cho rằng, bà mẹ xử trí dấu hiệu bất thường
cũng chậm trễ và đa số họ tự điều trị tại nhà (41-42) Theo tác giả Phạm Đình Đạt (2013) (41), còn đến 25,6% bà mẹ DTTS không đến CSYT và 13,5% tự điều trị tại nhà khi gặp bất thường
1.3 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành chăm sóc trước, trong và sau sinh trên thế giới và ở Việt Nam
Đa số các nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam phân tích các mối liên quan đến KT-TĐ-TH CSTTSS của bà mẹ chủ yếu tập trung vào các yếu tố: cá nhân,
Trang 37gia đình và tiếp cận truyền thông Tìm hiểu rào cản tiếp cận CSTTSS của bà mẹ dựa vào các nghiên cứu định tính chủ yếu khai thác khía cạnh văn hóa truyền thống dân tộc (Bảng tóm tắt các yếu tố liên quan của một số nghiên cứu tại Phụ lục 17)
1.3.2 Một số yếu tố cá nhân liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành chăm sóc trước, trong và sau sinh
Mối liên quan với tuổi của bà mẹ
Tuổi của bà mẹ được cho là có liên quan đến thực hành khám thai, sinh con tại nhà nghiên cứu của Nwaru, Wu và Hemminki (2010) (62) cho rằng, những bà
mẹ trên 25 tuổi khám thai ≥ 3 lần và khám đúng kỳ hơn dưới 25 tuổi (p<0,05) Nghiên cứu của Abdurahmen, Addissie và Molla (2102) (63) cho rằng, tỷ lệ sinh con tại nhà ở nhóm bà mẹ ở độ tuổi từ 15-19 tuổi cao hơn gấp 6,3 lần so với nhóm
bà mẹ có độ tuổi lớn hơn; (p<0,05)
Tác giả Phạm Phương Lan (2014) (60) cho rằng, tuổi bà mẹ có liên quan đến kiến thức và thực hành CSSS của bà mẹ Nhóm bà mẹ ≥ 30 tuổi có kiến thức và thực hành CSSS cao gấp 2,8 lần và 3,3 lần so với nhóm bà mẹ < 30 tuổi, (p<0,001)
Mối liên quan với học vấn của bà mẹ
Một số nghiên cứu trên thế giới đều cho thấy phụ nữ có học vấn cao sẽ có KT-TĐ-TH tốt hơn phụ nữ có học vấn thấp Nghiên cứu của Yang và Yoshitoku (2010) (51) cho thấy, tỷ lệ khám thai ≥ 3 lần ở nhóm bà mẹ có học vấn từ THCS trở lên cao gấp 6,8 lần so với nhóm học vấn từ tiểu học trở xuống Nghiên cứu của Khamphanh Prabouasone (2013) (44) thi cho rằng học vấn có liên quan đến việc chọn NVYT đỡ sinh và khám lại sau sinh của các bà mẹ Nhóm bà mẹ học vấn trên THCS chọn NVYT đỡ sinh và khám lại sau sinh ít nhất 1 lần trong 42 ngày cao gấp lần lượt là 4,1 lần và 2,3 lần nhóm bà mẹ học vấn thấp hơn; (p<0,05)
Tác giả Bùi Thị Thu Hà và cộng sự (2012) (10) cho rằng, học vấn có liên quan đến hiểu biết dấu hiệu nguy hiểm của bà mẹ khi mang thai Tác giả Nguyễn Xuân Oanh (2015) (64) cho thấy, tỷ lệ bà mẹ khám thai ≥3 lần ở nhóm bà mẹ học vấn ≥ THCS gấp 5,5 lần so với nhóm bà mẹ học vấn <THCS, nhóm bà mẹ có học vấn ≥ THCS thì NVYT đỡ sinh cao gấp 7,2 lần so nhóm <THCS (p<0,01) (42)
Mối liên quan với thu nhập của bà mẹ
Trang 38Tác giả Yang và Yoshitoku (2010) (51) cũng cho rằng, các bà mẹ có thu nhập cao có thực hành CSTS cao gấp 2,6 lần so với nhóm thu nhập thấp Tác giả Abdurahmen, Addissie và Molla (2102) (63) thì chỉ ra rằng, sinh con tại nhà ở nhóm bà mẹ có thu nhập dưới 1530 USD/tháng cao hơn gấp 4,2 lần so với nhóm bà
mẹ có thu nhập cao hơn (p<0,05)
Tác giả Nguyễn Xuân Oanh (2015) (64) còn chỉ ra, nhóm bà mẹ không khám thai đầy đủ ≥3 lần và sinh tại nhà thì cao hơn lần lượt là 5,2 lần và 4,3 lần so với nhóm bà mẹ mức sống khá trở lên (p<0,01), (p<0,01)
Mối liên quan với nghề nghiệp của bà mẹ
Các bà mẹ làm nghề tự do thực hành khám thai (≥ 4 lần) thấp hơn 3,7 lần các
mà mẹ làm việc công sở, nội trợ (p<0,01) (51)
Nghiên cứu của Bùi Thị Thu Hà và cộng sự (2012) (10) cũng chỉ ra nghề nghiệp có liên quan đến hiểu biết dấu hiệu nguy hiểm của bà mẹ khi mang thai Tác giả Nguyễn Xuân Oanh (2015) (64) cho rằng, nhóm bà me làm nông thì không khám thai (≥3 lần) gấp 7,5 lần so với nhóm bà mẹ làm nghề khác, (p<0,01)
Mối liên quan với dân tộc của bà mẹ
Cũng theo các tác giả Yang và Yoshitoku (2010) (51), khám thai của nhóm
bà mẹ DTTS (Lào Soung và Lào Ther) ít hơn gấp 2,6 lần so với nhóm dân tộc Lào
Lùm (Lào phổ thông), (p<0,05) Tác giả Khamphanh Prabouasone (2013) (44) cũng
cho thấy, bà mẹ không chọn NVYT đỡ sinh có liên quan đến DTTS Sinh con không có NVYT đỡ ở nhóm bà mẹ DTTS cao gấp 2,1 lần so với nhóm bà mẹ phổ thông; nhóm bà mẹ nói tiếng DTTS cao gấp 1,3 lần so với nhóm bà mẹ nói tiếng phổ thông; (p<0,01) Nghiên cứu định tính của Silwal (2011) (45) cho rằng, quan điểm bà mẹ DTTS muốn được sinh con mà không muốn có sự giúp đỡ nào từ NVYT Nghiên cứu của Sartika NA và cộng sự (2021) (65) cho rằng, các bà mẹ dân tộc Melayu tại Indonesia có kiến thức về chăm sóc thai, nuôi dưỡng trẻ nhỏ thấp hơn và gây nên trẻ sinh non gấp 14 lần, nhẹ cân gấp 4,1 lần, trẻ bị tiêu chảy gấp 3,2 lần, không khám lại sau sinh gấp 4,9 lần nhóm bà mẹ khác
Nghiên cứu của Bùi Thị Thu Hà và cộng sự (2012) (10) cho rằng, các bà mẹ DTTS, sinh sống vùng khó khăn thì hiểu biết kém hơn về việc cho trẻ bú sớm so với
Trang 39bà mẹ người Kinh Tỷ lệ không khám thai ở nhóm bà mẹ DTTS cao gấp 5,0 lần so với nhóm bà mẹ dân tộc Kinh, nhóm bà mẹ có tôn giáo cao gấp 4,3 lần so với nhóm
bà mẹ không theo tôn giáo; Tỷ lệ bà mẹ không khám lại sau sinh ở nhóm bà mẹ
DTTS cao gấp 2,1 lần so với nhóm bà mẹ người Kinh, (p< 0,05) (64)
Mối liên quan với số con và số lần mang thai của bà mẹ
Kết quả nghiên cứu của Khamphanh Prabouasone (2013) (44) cũng xác định,
tỷ lệ bà mẹ không chọn NVYT đỡ sinh có liên quan đến số con và số lần mang thai Nhóm bà mẹ có ≤ 2 con và ≤ 2 lần mang thai thì chọn NVYT đỡ sinh cao gấp 1,4 lần và 2,1 lần so với nhóm bà mẹ có > 2 con và mang thai > 2 lần (p<0,01)
Theo tác giả Lại Thị Minh Trà (2016) (42), tỷ lệ khám thai đầy đủ ở nhóm bà
mẹ kết hôn ≥ 18 tuổi cao hơn 2,2 lần so với nhóm bà mẹ kết hôn với <18 tuổi (p<0,05) Tác giả Phạm Phương Lan (2014) (60) cho rằng, tỷ lệ bà mẹ có ≥ 2 con có kiến thức chăm sóc trẻ sơ sinh cao hơn 3,1 lần so với nhóm có 1 con, (p<0,001)
Mối liên quan với tình trạng hôn nhân của bà mẹ
Cũng theo tác giả Araya (2013) (36), phụ nữ chưa lập gia đình ít có khả năng tìm kiếm sự chăm sóc thai hơn những phụ nữ đã lập gia đình Tác giả Esena và Sappor (2013) (59) cũng cho thấy, chỉ có 20,1% bà mẹ có chồng được tự quyết định việc chọn nơi sinh của mình
1.3.2 Một số yếu tố gia đình liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành chăm sóc trước, trong và sau sinh
Mối liên quan với nơi sinh sống và khoảng cách đến CSYT của bà mẹ
Cuộc điều tra tại Maliwi (2016) (54) cho rằng tỷ lệ sinh con tại CSYT thấp hơn đối với các ở vùng nông thôn này Ở vùng Sahara châu Phi (16) trong số các bà
mẹ có mức sống nghèo nhất thì chỉ có 26,0% sinh con tại CSYT, các bà mẹ có mức sống khá thì tỷ lệ sinh con tại CSYT lên đến 81,0% Nghiên cứu của Yang và Yoshitoku (2010) (51) cho rằng, tỷ lệ CSTS của các bà mẹ có nhà cách CSYT
<4km cao gấp 2,9 lần so với nhóm bà mẹ có nhà xa CSYT >4km, (p<0,05)
Tác giả Lại Thị Minh Trà (2016) (42) cho thấy, khám thai đầy đủ ở nhóm bà
mẹ có nhà xa CSYT ≤5 km cao gấp 6,9 lần so với nhóm nhà xa CSYT >5km;
Trang 40(p<0,05); Tỷ lệ bà mẹ sinh không có NVYT cao hơn và nhóm bà mẹ nhà xa CSYT (≥5km) cao gấp 4,9 lần so với nhóm bà mẹ nhà gần CSYT (<5km) (p<0,001)
Mối liên quan với chồng/người thân trong gia đình/cộng đồng của bà mẹ
Tác giả Araya (36) cho rằng, phụ nữ chưa lập gia đình ít có khả năng tìm kiếm sự chăm sóc thai hơn những phụ nữ đã lập gia đình Ngược lại, trong nghiên cứu của Banda (2013) (53) tác giả cho rằng bà mẹ sống cùng chồng sẽ chịu ảnh hưởng từ phía chồng trong việc đi khám thai Tác giả Abdurahmen, Addissie và Molla (2012) (63) thì cho thấy, tỷ lệ sinh con tại nhà cao ở nhóm bà mẹ không nhận được ủng hộ của chồng cao gấp 4,8 lần so với nhóm bà mẹ được chồng ủng hộ việc sinh tại CSYT, (p<0,05) Đặc biệt, trong nghiên cứu của Mesko và cộng sự (2013) (39) và nghiên cứu của Kariuki và Seruwagi (2016) (66), các tác giả đã nhấn mạnh tầm quan trọng của nam giới và cho rằng, người chồng quyết định mọi vấn đề trong CSSK của mẹ và con và bà mẹ cũng bị tác động bởi những người trong gia đình và hàng xóm của họ
Tác giả Nguyễn Xuân Oanh (2015) (64) còn chỉ ra, có mối liên quan đến không khám thai đầy đủ Nhóm bà mẹ sống cùng nhiều thế hệ không khám thai từ
3 lần trở lên cao gấp 1,9 lần so với nhóm bà mẹ chỉ sống với chồng và con; (p<0,05) Khoảng 25,0% bà mẹ đi khám thai do được tuyên truyền vận động, bà mẹ được gia đình và người thân khuyên đi là 2,6% (10) Tác giả Nguyễn Văn Ty (2016) (67) cho rằng, khoảng 30,0% người chồng còn có quan điềm lạc hậu trong chăm sóc thai và có tác động đến bà mẹ làm cho bà mẹ thực hành CSTS chưa tốt và cũng không có dự định nuôi con bằng sữa mẹ Nhóm bà mẹ sống cùng nhiều thế hệ thì tỷ
lệ sinh con tại nhà cao gấp 2,7 lần so với nhóm bà mẹ chỉ sống cùng chồng; (p<0,01); Tỷ lệ bà mẹ không khám lại sau sinh ở nhóm bà mẹ sống cùng nhiều thế