Từ sau vụ Marbury kiện Madison, nhánh tư pháp ở Hoa Kỳ có quyền xem xét các đạo luật đã được ban hành liệu có vi hiến hay không … Tính đến nay, sự phân quyền và ràng buộc theo học thuyết
Trang 1Câu 3: Phân tích sự hình thành và phát triển của thuyết ‘‘Tam quyền phân lập’’ Ý nghĩa của nó?
Trả lời:
‘‘Tam quyền phân lập’’ hay còn hiểu theo nghĩa phân chia quyền lực là một mô hình quản lý nhà nước với mục tiêu kiềm chế quyền lực để hạn chế lạm quyền, bảo vệ
tự do và công bằng pháp luật
Mô hình và khái niệm này và khái niệm này được biết đến từ lâu, ít nhất là từ thời La Mã cổ đại và được thể chế hóa trong hiến pháp hiện đại của nhiều quốc gia Trong mô hình này, quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp được tách biệt
và giao cho ba cơ quan độc lập khác nhau thực hiện và qua đó ràng buộc, kiềm tra và giám sát hoạt động lẫn nhau Theo thể chế này, không một cơ quan hay cá nhân nào có quyền lực tuyệt đối trong sinh hoạt chính trị của một quốc gia
Người đưa ra ý tưởng phân chia quyền lực nhà nước đầu tiên là Platôn (427-347 trước công nguyên) thời kỳ Hy Lạp cổ đại Kế tiếp là Arixtốt (384-322 tr.CN) được xem như người khởi xứng tư tưởng tam quyền phân lập trong bối cảnh chế độ thành bang của Hy Lạp đang suy tàn, chế độ chiếm hữu nô lệ đã lung lay đến gốc rễ Tư tưởng về tam quyền của Arixtốt nhằm để tránh độc quyền của nhà nước, vì vậy theo ông cần phải phân chia quyền lực nhà nước thành ba nhánh cơ quan quyền lực, ông gọi là: lập pháp, hành pháp và phân xử
Bên cạnh Arixtốt, còn có John Locke (1632-1704) triết gia người Anh Theo John Locke, quyền lực của nhà nước là quyền lực của nhân dân Nhân dân nhường một phần quyền của mình cho nhà nước qua khế ước Và để chống độc tài phải thực hiện sự phân quyền kế thừa tư tưởng phân quyền của Arixtốt, John Locke cho rằng, quyền lưc phải phân chia ba lĩnh vực: lập pháp, hành pháp và liên hợp
Ngoài ra thì còn có người đóng góp lớn nhất trong việc phát triển nó một cách hoàn chỉnh, đó là nhà luật học người PhápS.Montesquieu (1689-1755) Montesquieu xây dựng những thể chế chính trị đảm bảo tự do cho các công dân Tự do chính trị của công dân là quyền mà người ta có thể làm mọi cái mà pháp luật cho phép Ông cho rằng, thể ché chính trị tự do là thể chế mà trong đó, quyền lực tối cao được phân thành
ba quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp
Tam quyền phân lập là nội dung học thuyết của Montesquieu, trong đó phân chia quyền lực nhà nước cho ba nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp Mục đích là để tạo cơ chế nội bộ giám sát, ngăn ngừa sự lạm quyền trong bộ máy nhà nước Trong
Trang 2thực tế, tư tưởng về việc phân chia quyền lực trong tổ chức nhà nước đã được đề cập bởi một số nhà triết học khác, bao gồm John Locke, và đã được áp dụng (ở mức độ nhất định) từ thời La Mã cổ đại
Tuy nhiên, chỉ đến Montesquieu thì tư tưởng này mới được phát triển thành một học thuyết độc lập, hoàn chỉnh Học thuyết tam quyền phân lập được áp dụng một cách phổ biến trong hiến pháp của các nước tư sản (mà điển hình là Hiến pháp Hoa Kỳ) Dựa trên học thuyết này, hiến pháp của các nước tư sản giao quyền lập pháp cho nghị viện (là cơ quan đại diện được bầu ra bằng tuyển cử, được coi là biểu hiện ý chí chung của quốc gia), quyền hành pháp cho chính phủ (là cơ quan có trách nhiệm thực thi luật pháp đã được nhà nước ban hành), quyền tư pháp cho toà án (để phán xử những vi phạm pháp luật)
Bên cạnh đó, tuỳ quốc gia, hiến pháp còn có nhiều quy định về mối quan hệ ràng buộc giữa ba cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp Ví dụ, theo Hiến pháp Hoa
Kỳ, Nghị viện có quyền thông qua luật nhưng để có hiệu lực phải được Tổng thống ký phê chuẩn Ngược lại, Tổng thống có quyền ký kết các điều ước quốc tế nhưng phải được Thượng viện phê chuẩn Từ sau vụ Marbury kiện Madison, nhánh tư pháp ở Hoa
Kỳ có quyền xem xét các đạo luật đã được ban hành liệu có vi hiến hay không … Tính đến nay, sự phân quyền và ràng buộc theo học thuyết tam quyền phân lập tạo ra cơ chế nội bộ hữu hiệu nhất để các nhánh quyền lực nhà nước giám sát, kiềm chế và đối trọng nhau, ngăn ngừa sự lạm quyền; đồng thời vẫn bảo đảm những mối liên hệ cần thiết giữa các nhánh quyền lực bị chia tách để những cơ quan này có thể cộng tác với nhau
vì lợi ích chung của đất nước…Chính vì vậy, không chỉ hiến pháp các nước tư sản mà hiến pháp của hầu hết quốc gia trên thế giới hiện nay đều được xây dựng dựa theo lý thuyết tam quyền phân lập, dù mức độ và cách thức áp dụng ít
Học thuyết về sự phân chia quyền lực gắn liền với lí luận về pháp luật tự nhiên
đã đóng vai trò quyết định trong lịch sự đấu tranh của giai cấp tư sản chống lại sự độc đoán, chuyên quyền của nhà vua chế độ phong kiến Cùng với sự hình thành chế độ tư bản, nguyên tắc phân chia quyền lực đã trở thành một trong những nguyên tắc chính của chủ nghĩa lập hiến tư sản, lần đầu tiên được thể hiện trong các đạo luật mang tính hiến định của cuộc cách mạng Pháp và sau đó thể hiện đẩy đủ trong Hiến pháp Hoa kỳ
1787 Học thuyết pháp luật – chính trị (thuyết phân quyền) với quyền lực nhà nước được hiểu không phải là một thể thống nhất, mà là sự phân chia thành ba quyền: quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, các quyền này được thực hiện độc lập với nhau, kiếm soát lẫn nhau, kiếm chế và đối trọng lẫn nhau
Trang 3Trước chế độ dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa, mọi quyền lực nhà nước đều tập trung vào trong tay một cá nhân Chính đây là căn nguyên cho mọi hành
vi độc tài, chuyên chế của các công việc nhà nước Vì vậy, muốn chống chế độ này, một lý thuyết của nhiều học giả tư sản đã được nêu ra, đó là thuyết phân chia quyền lực
Nội dung cốt lõi của hoc thuyết này cho rằng, quyền lực nhà nước luôn có xu hướng tự mở rộng, tự tăng cường vai trò của mình Bất cứ ở đâu có quyền lực sẽ xuất hiện xu thế lạm quyền và chuyên quyền, cho dù quyền lực ấy thuộc về ai Do vậy, để đảm bảo các quyền tự do cơ bản của công dân, ngăn ngừa hành vi lạm quyền của các chủ thể nắm giữ quyền lực nhà nước phải thuyết lập pháp chế nhằm giới hạn quyền lực
Sự hình thành và phát triển của lý thuyết này gắn liện với quá trình đấu tranh cho bình đẳng, tự do và tiến bộ xã hội Lấy pháp luật làm tối thượng, lấy bảo đảm các quyền tự do công dân làm mục đích cuối cùng Không chỉ vậy, với cơ chế kiếm chế và đối trọng, kiểm tra và chế ước lẫn nhau giữa ba nhánh quyền lực đã loại trừ được nguy
cơ tập trung tất cả quyền lực nhà nước vào tay một cá nhân, nhóm người hay một cơ quan quyền lực duy nhất nào đó – nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự tha hóa trong quá trình thực thi quyền lực Nhờ cơ chế này mà không cơ quan nhà nước nào có thể chi phối hoặc lấn át hoàn toàn hoạt động của cơ quan khác
Ý nghĩa của nó: Trong khuôn khổ lý thuyết phân quyền, thực tiễn đã hình thành những chính thể khác nhau phù hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội và truyền thống văn hóa của mỗi nước Ở các nước tư bản, các nhánh quyền lực nhà nước được thể chế hóa cao độ Các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp được chuyên nghiệp hóa rất cao Cơ chế kiểm soát quyền lực tỏ rõ tính hiểu quả trong việc hạn chế tình trạng lạm quyền, chuyên quyền, quan liêu, tham nhũng trong bộ máy nhà nước Có thể thấy cho đến nay, học thuyết phân quyền đã thể hiện và khẳng định những giá trị tiến bộ của nó Những giá trị này đã được kiểm chứng trong thực tiễn chính trị hàng trăm năm ở các nước tư bản phát triển Đúng như đánh giá của Ăngghen: phân quyền được xem như là nguyên tắc thiêng liêng và không thể xâm phạm trên thực tế, về thực chất nó không có
gì khác là sự phân công công việc lao động được áp dụng đối với bộ máy nhà nước nhằm đơn giản hóa và để kiểm tra./
Câu 4:
Phân tích giá trị tư tưởng chính trị C.Mác-Ăngghen và sự vận dụng trong giai đoạn hiện nay?
Trả lời:
Trang 4Mở bài:
Phriđrich Ăngghen (1820 – 1895) là người bạn, người đồng chí gần gũi thân thiết của C.C.Mác, người đã cùng với C.Mác sáng lập học thuyết C.Mác – học thuyết khoa học và cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên thế giới
Ph.Ăngghen đã cống hiến rất to lớn về tư tưởng, lý luận trở thành lãnh tụ vĩ đại của giai cấp công nhân và quần chúng cần lao Những giá trị bền vững của chủ nghĩa C.Mác - Lênin gắn liền với những giá trị bền vững của tư tưởng Ph.Ăngghen bên cạnh
tư tưởng của C.Mác Những giá trị đó đã và đang có ý nghĩa soi sáng cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế Tuy nhiên, trong điều kiện mới, với những yêu cầu thực tiễn mới mẻ, đòi hỏi giai cấp công nhân, các Đảng Cộng sản, đảng công nhân phải vận dụng sáng tạo những tư tưởng của Ph.Ăngghen tiếp tục đấu tranh cho CNXH, CNCS nhằm thực hiện lý tưởng giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, xóa bỏ mọi áp bức, bất công, mang lại cuộc sống hạnh phúc và sự phát triển toàn diện cho con người
Sinh thời Ph.Ăngghen rất khiêm tốn, luôn tự nhận mình là “cây vĩ cầm thứ hai bên cạnh C.Mác”, song những cống hiến to lớn về tư tưởng của Ph.Ăngghen đã được
bản thân C.Mác ghi nhậnlà một khối óc sắc sảo, một pho bách khoa toàn thư.
V.I.Lênin khẳng định: “Muốn đánh giá đúng đắn những quan điểm của C.Mác, tuyệt đối phải đọc những tác phẩm của người cùng tư tưởng và người cộng tác gần gũi nhất
của C.Mác là Phriđrich Ăngghen Không thể nào hiểu được chủ nghĩa C.Mác, nếu không chú ý đến toàn bộ những tác phẩm của Ăngghen”(1) Những ai nghiên cứu về chủ nghĩa C.Mác đều thừa nhận tư tưởng vĩ đại của Ph.Ăngghen bên cạnh tư tưởng của C.Mác
Tuyên ngôn của chủ nghĩa Mác là cải tạo thế giới Trong Luận cương 11 về Phoiơbắc, Mác viết: “Các nhà triết học đã chỉ giải thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau, song vấn đề là cải tạo thế giới” Và với cả cuộc đời mình, Mác đã đưa hết trí tuệ, tài năng, tâm huyết, phấn đấu hy sinh thực hiện Tuyên ngôn nhân đạo và cách mạng vì
sự tiến bộ của loài người Trưng cất tinh hoa của nhân loại, Mác đã xây dựng nên Học thuyết duy vật biện chứng khoa học, chứng minh quy luật vận động và phát triển của thế giới, vạch ra sự tất yếu đi lên của xã hội, làm công cụ sắc bén cho giai cấp công nhân lao động tiến bộ toàn thế giới thực hiện sứ mệnh trọng đại là cải tạo thế giới theo
lý tưởng cao đẹp xã hội chủ nghĩa
Thân bài:
(Nội dung tham khảo bài viết trên Báo Đảng Cộng sản): Tư tưởng chính trị của
C.Mác, Ph.Ăngghen được hình thành từ cuộc đấu tranh của gia cấp vô sản chống gia cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản đầu thế kỷ XIX trên cả hai địa hạt lý luận và thực tiễn với tinh thần phê phán và cách mạng, C.Mác, Ph.Ăngghen đã xây dựng nên cơ sở thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng cho việc hình thành quan niệm khoa học mới về chính trị Chính trị là vấn đề giai cấp, quan hệ giai cấp, đấu tranh giai cấp và đỉnh cao của cuộc đấu tranh này là đấu tranh giành quyền lực cho một giai cấp
Trang 5nhất định Bước ngoặt của đấu tranh chính trị là sự bùng nổ cách mạng xã hội, giành lấy chính quyền nhà nước, lật đổ chế độ cũ và thiết lập chế độ mới Chính trị là vấn đề quyền lực, biểu hiện trực tiếp là quyền lực nhà nước và tính hiện thực của quyền lực lại là lợi ích, mà trước hết là lợi ích kinh tế Từ hoạt động thực tiễn và lý luận mà Mác
và Ăngghen ngày càng thấy rõ hơn về vị trí và tầm quan trọng của vấn đề dân chủ trong cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản và toàn bộ chế độ tư bản Ăngghen cho rằng đó chính là quá trình xây dựng một chế độ dân chủ mới Bởi
vì, “Trước hết, nó tạo ra một chế độ dân chủ và nhờ đó mà trực tiếp hay gián tiếp tạo
ra quyền thống trị của giai cấp vô sản” Mác và Ăngghen đã xác định những vấn đề có tính nguyên tắc về dân chủ trong chính đảng của gia cấp vô sản Trong các nguyên tắc
ấy có nguyên tắc bảo đảm dân chủ và tập trung dân chủ trong quá trình xây dựng tổ chức chính đảng của gia cấp vô sản Tập trung dân chủ trở thành một trong những nguyên tắc có tầm quan trọng hàng đầu trong việc xây dựng chính đảng nhằm tập hợp, đoàn kết giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh chống lại giai cấp tư sản Bàn về chống quan liêu, tham nhũng theo Mác là lợi ích của các giai cấp thống trị áp bức và bóc lột, những lợi ích vật chất của giai cấp tư sản quện rất chặt với việc duy trì bộ máy rộng lớn, tha hóa lao động, tha hóa quyền lực là nguồn gốc của quan liêu, tham nhũng Biện pháp chủ yếu để chống quan liêu, tham nhũng là khắc phục sự tha hóa là việc cải tạo lại xã hội theo nguyên tắc của chủ nghĩa cộng sản trong đó có xóa bỏ nhà nước của giai cấp áp bức bóc lột xây dựng nhà nước kiểu mới của giai cấp vô sản - Trước hết Lênin đã bảo vệ thành công chủ nghĩa Mác nói chung và tư tưởng chính trị của chủ nghĩa Mác nói riêng trước sự xuyên tạc và phản bội của chủ nghĩa cơ hội và xét lại Đồng thời, tiếp tục phát triển tư tưởng và làm phong phú và sâu sắc thêm những kiến giải lý luận của chủ nghĩa Mác trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản, giải phóng gia cấp vô sản, xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện lịch sử mới
- (Nội dung trả lời theo sách giáo khoa): Giá trị của tư tưởng chính trị C.Mác
và Ăngghen:
+ Thứ nhất, giá trị trong quan niệm về chính trị.
Quan niệm của C mác và Ăng ghen về chính trị dựa trên cơ sở quan niệm duy vật về lịch sử và phép biện chứng duy vật về sự phát triển xã hội Theo đó, chính trị là một hiện tượng xã hội có tính lịch sử, xuất hiện từ khi xã hội loài người có giai cấp, đối kháng và xung đột giai cấp Cốt lõi của chính trị là vấn đề quyền lực chính trị mà biểu hiện tập trung của nó là quyền lực nhà nước Nhà nước là hình thức tổ chức và thực thi quyền lực của một giai cấp này đối với một giai cấp khác
Giá trị lý luận lớn nhất của tư tưởng về chính trị là quan điểm: chính trị là việc giải quyết các mối quan hệ giữa các giai cấp và tầng lớp xã hội trong vấn đề quyền lực
Trang 6và phân bổ lợi ích Còn nhà nước không gì khác hơn là bộ máy cưỡng bức của một giai cấp này đối với một giai cấp khác vì những lợi ích nhất định, nhất là lợi ích kinh
tế Tham gia vào động chính trị là tham gia vào cuộc đấu tranh vì lợi ích của một giai cấp này hay một giai cấp khác Chính trị là hoạt độn tất yếu khách quan của con người song luôn có nội dung cụ thể phù hợp với một phương thức sản xuất nhất định Cơ cấu
và các quan hệ kinh tế là cơ sở chủ yếu của chính trị và những thay đổi trong chính trị Chính trị hiểu theo nghĩa trực tiếp là vấn đề chính quyền nhà nước, là quyền lực nhà nước, là công việc quản lý nhà nước đối với xã hội C Mác và Ăngghen chỉ rõ:”… giai cấp nào muốn nắm quyền thống trị- ngay cả khi quyền thống trị của nó đòi hỏi phải thủ tiêu toàn bộ hình thức xã hội cũ và sự thống trị nói chung, như trong trường hợp của giai cấp vô sản- thì giai cấp ấy trước hết phải chiếm lấy chính quyền để đến lượt mình, có thể biểu hiện lợi ích của bản thân mình như là lợi ích phổ biến, điều mà giai cấp ấy buộc phải thực hiện trong bước đầu”
Theo quan điểm duy vật lịch sử, nhân tố quyết định cuối cùng trong lịch sử xét đến cùng là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống hiện thực Chính trị xuất hiện trên cơ
sở kinh tế và xét đến cùng, đều do kinh tế quy định C Mác và Ph.Ăng ghen khẳng định: “Sự phát triển của chính trị, pháp luật, triết học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật… đều dự trên cơ sở sự phát triển kinh tế” Tuy nhiên, chính trị cũng có tính độc lập tương đối và tác động trở lại đói với kinh tế: “Nhưng tất cả chúng cũng có ảnh hưởng lẫn nhau và ảnh hưởng đến cơ sở kinh tế Vấn đề hoàn toàn không phải là chỉ có hoàn cảnh kinh tế mới là nguyên nhân, chỉ có nó là tích cực, còn tất cả những cái còn lại đều chỉ là hậu quả thụ động” Tình hình kinh tế là cơ sở của chính trị, nhưng những yếu tố khác của kiến trúc thượng tầng cũng ảnh hưởng đến chính trị và trong nhiều trường hợp còn chiếm ưu thế trong việc quyết định hình thức của chính trị
Nhận xét về dặc điểm của chính trị, C Mác và ăng ghen cho rằng, chính trị là một hiện tượng xã hội có tính lịch sử, là một phạm trù lịch sử, xuất hiện từ khi xã hội loài người có giai cấp, đối kháng và xung đột giai cấp Chính trị sẽ tự tiêu vung khi những điều kiện cho sự tồn tại của nó không còn nữa, khi chính trị đi hết lô gíc của sự vận động của nó, khi tính tất yếu kinh tế làm chi tính tất yếu chính trị của sự tiêu vong
đã chín muồi Về mặt lịch sử, có thể xem xã hội cộng sản nguyên thủy là một xã hội tiền chính trị Các chế đội chiếm hữu nỗ lệ, phong kiến, tư bản và cả xã hội chủ nghĩa đều là những xã hội chính trị, mặc dù xã hội chủ nghĩa là một xã hội chính trị kiểu mới, trong đó chính trị quá độ tới sự tự tiêu vong Chính trị trong chủ nghĩa xã hội khác về bản chất so với chính trị trong các xã hội dựa trên nền tảng của chế độ tư hữu
về tư liệu sản xuất và đối kháng giai cấp Là một hiện tượng tạm thời của lịch sử, nhưng chính trị tồn tại rất lâu dài, từ khi có chế độ nô lệ tới khi chủ nghĩa cộng sản văn minh được xác lập hoàn toàn Các quan điểm nêu trên đã cung cấp cơ sở phương pháp
Trang 7luận để luận giải những vấn đề chính trị thực tiễn hiện nay, tránh xu hướng ảo tưởng vào “từ tâm” của chủ nghĩa tư bản, vào nhà nước phi giai cấp – như quan điểm dân chủ xã hội, “con đường thứ ba”
Chính trị xuất hiện vào giai đoạn xã hội cộng sản nguyên thủy tan rã và chế độ chiễm hữu nô lực ra đời cách đây hàng vạn năm Chủ nô là giai cấp thống trị đầu tiên trong lịch sử nắm quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước và đối lạp trực tiếp với số đông là quần chúng nô lệ các cuộc nổi dậy của nô lệ chống lại giai cấp chủ nô là sự kiện lịch sử đàu tiên về đấu tranh giai cấp C Mác và Ăngghe xác định: “Lịch sử tất cả các xã hội tồn tại từ trước đến ngày nay chỉ là lịch sử đấu tranh giai cấp”
Người tự do và người nô lực, quý tộc và bình dân, chúa đất và nông nô, thợi cả phường hội và thợ bạn, nói tóm lại là những kẻ áp bức và những người bị áp bức, luôn luôn đối kháng với nhau, đã tiến hành một cuộc đấu tranh không ngừng, lúc công khai, lúc ngấm ngầm, một cuộc đấu tranh bao giờ cũng kết thức hoặc bằng một cuộc cải tạo cách mạng toàn bộ xã hội hoặc bằng sự diệt vong của hai giai cấp đấu tranh với nhau.”
C mác và Ăngghen cho rằng chính trị mang bản chất giai cấp thực chất của chính trj là việc iair quyết vấn đề lợi ích mà trước hết là lợi ích kinh tế chính trị là vấn
đề giai cấp, quan hệ giai cấp, đấu tranh giai cấp và đỉnh cao của cuộc đấu tranh ấy là đấu tranh giành quyền lực cho một giai cấp nhất định Bước ngoặt của đấu tranh chính trị là sự bùng nổ cách mạng xã hội, giành lấy chính quyền nhà nước, lật đổ chế độ cũ
và thiết lập chế đội mới Theo C mác, ăng ghen: “… cách mạng là chính động chính trị cao nhất… chính trị cần làm là chính trị công nhân? Chính trị công nhân; chính đảng công nhân không được theo đuôi chính đảng tư sản này hoặc kia mà phải trở thành một đảng độc lập có mục đích của mình, chính sách của mình” Những luận điểm này đến nay vẫn còn nguyên giá trị trong cuộc đáu tranh tư tưởng chống các quan điểm sai trái, thù địch
Thuộc tính nổi bật của chính trị là tính giai cấp, mọi thuộc tính khác của chính trị đều biểu hiện qua lăng kính giai cấp, bị chi phối và chế ước bởi tính giai cấp Hệ tư tưởng chính trị, nhà nước, đảng phái chính trị, đường lối, chính sách, luật pháp cho đến văn hóa chính trị luôn luôn mang dấu ấn của giai cấp thống chính Đồng thời chính trị còn mang tính dân tộc, vì chính trị trước hết là tồn tại trong lòng mỗi quốc gia, dân tộc và chịu sự chế định của yếu tố dân tộc chính trị còn mang tính thế giới, là một lĩnh vực của đời sống thế giới, là quan hệ giữa các nhà nước, các chính phủ…
Tư tưởng có giá trị thời đại của C.Mác và ăng ghen là: đấu tanh chính trị, cách mạng chính trị là hệ quả tất yếu của đấu tranh giai cấp Tư tưởng này được nhận thức một cách khoa học và hợp quy luật khách quan Cách mạng là hành động sáng tạo, có
tổ chức và được lãnh đạo chặt chẽ bởi giai cấp tiên tiến nhất định, ở vị trí trung tâm
Trang 8của sự vận động lịch sử nhằm sáng tạo ra một kiểu chế độ mới tính chất chính trị gắn với vấn đề lật đổ nhà nước cũ, thiết lập nhà nước mới tính chất chính trị gắn với vấn
đề lật đổ nhà nước cũ, thiết lập nhà nước mới, thay đổi chủ thể quyền lực nhà nước tính chất xã hội liên quan tới các vấn đề của cách mạng, cải tạo các quan hệ xã hội, tổ chức đời sống xã hội, quản lý xã hội… phải nhận thức tính tất yếu, tính phổ biến và những khả năng của việc giành chính quyền; xác định các nhân tố khách quan và chủ quan chi phối hành động chính trị của giai cấp cách mạng; kiên định trong những vấn
đề có tính nguyên tắc, mềm dẻo, sáng tạo trong những vấn đề có tính phương pháp và sách lược của cách mạng Những người cộng sản chân chính cần vận dụng sáng tạo những tư tường này vào sự nghiệp đấu tranh cách mạng hiện nay
- Thứ hai, giá trị của quan niệm về quyền lực chính trị
C.M và ăng ghen đã có những đóng góp khoa học trong việc tiếp cận và nhận thức vấn đề quyền lực, đặt nền móng cho một quan niệm mới về quyền lực chính trị trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử và phương pháp biện chứng quan hệ quyền lực được các ông tiếp cận trên hai bình diện cá nhân và xã hội tư tưởng chủ đạo của CM và ăng ghen là xem xét quyền lực và các mối quan hệ phái sinh từ các quan hệ
vĩ mô, từ quan hệ giữa các giai tầng xã hội quyền lực giữa các cá nhân và mỗi cá nhân
có rất ít ảnh hưởng các ông chú ý tới tính khách quan của quyền lực như là những quy luật khách quan trong hoạt động chính trị
Quyền lực là một trong những khái niệm chủ yếu được đề cập trong các nghiên cứu của C.M và ăng ghen ở cả cấp độ cá nhân và nhóm, trực tiếp và gián tiếp cách tiếp cận vấn đề, phương pháp luận nghiên cứu về quyền lực của các ông mang tính khoa học và tính hiện đại
CM và ăng ghen coi quyền lực là mối quan hệ tất yếu, khách quan đối với đời sống xã hội không thể tạo ra một chế độ xã hội mà không cần quywnd lực các quan
hệ quyền lực mang tính phổ quát trong mọi tổ chức xã hội sự hình thành quyền lực là tất yếu khách quan của đời sống xã hội, đó là do con người từ bản chất tự nhiên đã cần đến một xã hội và xã hội cần đến một quyền lực quan hệ quyền lực là quan hệ xã hội lấy sự phục tùng làm tiền đề Quan hệ quyền lực phát sinh là do con người phải kết hợp với nhau trong quá trình sản xuất như một tất yếu khách quan
Sự phức tạp hóa các quá trình sản xuất tùy thuộc lẫn nhau đã từng bước thay thế cho hoạt động độc lập của cá nhân riêng lẻ hoạt động liên hợp là tổ chức nhau lại, mà
tổ chức thì tất yếu cần đến quyền lực sự phát sinh ra quan hệ quyền lực còn do tính tất yếu kỹ thuật của quá trình sản xuất quyền lực công trở nên tất yếu, thậm chí trở nên độc đoán khi cần thiết, nhất là khi sinh mệnh của một cồng đồng phụ thuộc vào sự phục tùng tức khắc và không điều kiện của tất cả mọi người vào ý chí của một người
Trang 9quyền lực công là quyền lực của các thành viên xã hội góp một phần quyền của mình tạo nên khhi tham gia vào đời sống cộng đồng Quyền lực công trở thành ý chí chung
mà mọi người phải tuân thủ, phục tùng
Trong xã hội nguyên thủy, quyền lực công biểu hiện thành các chuẩn mực đạo đức, văn hóa, phong tục tập quán Quyền lực của hội đồng công xã trao cho người thủ lĩnh thừa hành, và vì là người thừa hành nên thủ lĩnh không có quyền hành cá nhân Quyền hành cá nhân của người thủ lĩnh thị tộc, bộ lác nguyên thủy rất ít Trong xã hội hiện đại, không thể xóa bỏ được quyền lực, vì nếu xóa bỏ quyền lực tỏng thời đại công nghiệp thì phải xóa bỏ bản thân đại công nghiệp, xóa bỏ nhà máy sợi để trở về với cái
xa kéo sợi
Quyền lực công chuyển hóa dần thành quyền lực chính trị khi xã hội xuất hiện chế độ tư hữu, phân chia thành giai cấp và đấu tranh giai cấp Khi xã hội nguyên thủy tan rã và ra đời xã hội chiếm hữu nô lực thì quyền lực công được tổ chức thành nhà nước các giai cấp, các lực lượng xã hội đấu tranh với nhau để đoạt lấy quyền lực nhà nước, trở thành giai cấp thống trị và quyền lực chính trị tập trung thành quyền lực nhà nước Nhà nước có hai đặc trưng cơ bản, vừa là quyền lực của giai cấp có thế lực nhất vừa là quyền lực công
Giai cấp thống trị nắm giữ quyền lực nhà nước thường là giai cấp thống trị về kinh tế, nắm giữ quyền sở hữu tư liệu sản xuất cơ bản của xã hội khi nắm giữ được quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước, giai cấp thống trị lại có thêm phương tiện bóc lột, tước đoạt của cải của nhân dân
CM và ăng ghen khẳng định, quyền lực chính trị tất yếu thuộc về giai cấp, giai tầng xã hội đại biểu cho phương thức sản xuất tiên tiến, cho xu hướng tiến bộ của sản xuất và do đó đại biểu cho lợi ích chung của xã hội việc đấu tranh giành quyền thống trị tất yếu và trước hết phải giành lấy chính quyền nhà nước nhà nước là tổ chức bạo lực của giai cấp này chống lại giai cấp kia, là hình thức hoàn chỉnh nhất của quyền lực chính trị Việc giành lấy nhà nước tất yếu cần tới bạo lực, với những hình thức khác nhau, bạo lực quân sự và bạo lực chính trị Việc giành và giữ quyền lực chính trị tất yếu cần tới sự liên minh giữa giai cấp cách mạng, giai cấp cầm quyền với các giai cấp, tầng lớp xã hội có liên quan Quyền lực nhà nước bao hàm hai mặt chuyên chính và dân chủ, vì lợi ích của giai cấp cầm quyền chuyên chính và dân chủ luôn có tính giai cấp việc giữ quyền lực chính trị cần thiết phải củng cố chế độ sở hữu như là nền tảng của phương thức sản xuất và của giai cấp đang nắm quyền lực chính trị
Quá trình quyền lực chính trị được tổ chức thành nhà nước chính là quá trình giải quyết mâu thuẫn xuất hiện từ sự thay đổi của các điều kiện kinh tế trong sự tồn tại của mình, trong đó yếu tố chủ đạo là xuất hiện nền sản xuất hàng hóa Chính trong sự
Trang 10ngẫu nhiên đó, những quá trình xã hội càng khẳng định các quy luật nội tại vốn có, với một sự tất yếu tự nhiên Cho nên theo lệ thường, nhà nước là nhà nước của giai cấp có thế lực nhất, của cái giai cấp thống trị về mặt kinh tế và nhờ có nhà nước mà cũng trở thành giai cấp thống trị về mặt chính trị và do đó thêm được nhwungx phương tiện mới để đàn áp và bóc lột giai cấp bị áp bức trong đó, hai đặc trưng quan trọng đã được Ăng ghen tổng kết là cách tổ chức công dân theo địa vực và sự thiết lập một quyền lực công cộng gồm lực lượng vũ trang và các công cụ vật chất phụ thêm, trong đó quan trọng nhất là quyền thu thuế
Trong nhiều trường hợp, CM- Ăng ghen sử dụng khái niệm quyền lực chính trị đồng nghĩa với quyền lực nhà nước bởi ngoài nhà nước, không một chủ thể chính trị bào có năng lực cưỡng chế hợp pháp và được xã hội thừa nhận Nếu chủ thể của quyền lực chính trị không phải là nhà nước thì sẽ không có tính cưỡng chế, thuộc tính vốn có
và căn bản của quyền lực trong xã hội hiện nay xuất hiện khá nhiều chủ thể chính trị,
sự phân biệt quyền lực chính trị và quyền lực nhà nước là cần thiết để nhấn mạnh vai trò của các thể chế, tác nhân ngoài nhà nước, điều kiện chính trị mới đòi hỏi phải nghiên cứu kỹ các luận điểm của C.M và awngghen để vận dụng giải quyết các vấn đề nảy sinh
Thứ ba, giá trị của tư tưởng về đấu tranh giải phóng giai cấp vô sản
Theo CM ăng ghen, trước hết giai cấp vô sản cần ý thức được sứ mệnh lịch sử của mình và xác định được những phương thức thực hiện sứ mệnh ấy như một tất yếu khác quan Theo đó, cuộc đấu tranh giữa giai cấp vô sản và tư sản diễn ra theo quá trình phát triển từ thấp đến cao, từ đấu tranh kinh tế đến đấu tranh tư tưởng và đấu tranh chính trị Đến trình độ đấu tranh chính trị, giai cấp vô sản mới có thể hành động
để lật đổ quyền thống trị tư sản, giành lấy chính quyền về tay minh Để hoàn thành được sứ mệnh lịch sử ấy, họ cần tổ chức ra chính đảng tiên phong của mình
Giành chính quyền giai đoạn thứ nhất, là điều kiện để giai cấp vô sản trở thành lực lượng thống trị xã hội khi đó, chức năng, nhiệm vụ chủ yếu của nhà nước vô sản
là cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới Đây là thời kỳ cải biến cách mạng lâu dài-thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản Thích ứng với dài-thời kỳ đó, hình thức chính trị không phải cái gì khác là chuyên chính vô sản cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống giai cấp tư sản cũng là cuộc đấu tranh của các giai cấp, tầng lớp
và dân tộc bị áp bức chống chủ nghĩa tư bản, vì vậy giai cấp vô sản cần liên minh với giai cấp nông dân và các tầng lớp lai động khác Giai cấp vô sản đại diện cho lợi ích của tất cả những người lao động, cho sự giải phóng lao động khi giành chính quyền cũng như khi cầm quyền giành chính quyền chỉ là “giai đoạn thứ nhất của cuộc cách mạng công nhân”, là điều kiện để giai cấp công nhân trở thành lực lượng thống trị