1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo " Tính phổ biến và tính đặc thù của quyền con người từ phương diện giáo dục " docx

6 675 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 235,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quan niệm về quyền con người từ phương diện giáo dục Từ phương diện giáo dục, có thể quan niệm quyền con người là đối tượng tác động của chính sách nhà nước về giáo dục chính sách giáo

Trang 1

1 Quan niệm về quyền con người từ

phương diện giáo dục

Từ phương diện giáo dục, có thể quan

niệm quyền con người là đối tượng tác

động của chính sách nhà nước về giáo dục

(chính sách giáo dục quyền con người), đối

tượng điều chỉnh của pháp luật về giáo dục

(pháp luật về giáo dục quyền con người) và

là quyền cơ bản của con người trong lĩnh

vực giáo dục (quyền của con người được

hưởng nền giáo dục tiến bộ), là nội dung

quan trọng của công tác giáo dục của xã

hội đối với con người (công tác giáo dục

quyền con người của xã hội)

1.1 Quyền con người - đối tượng tác

động của chính sách nhà nước về giáo dục

Khi quyền con người trở thành đối tượng

tác động của chính sách nhà nước về giáo

dục thì từ góc độ hệ thống, trong hệ thống

các chính sách giáo dục của nhà nước xuất

hiện bộ phận mới (hay chính sách mới hoặc

phân hệ chính sách mới) - bộ phận (chính

sách, phân hệ chính sách) giáo dục quyền

con người

Chính sách (hay phân hệ chính sách)

giáo dục quyền con người của nhà nước là

toàn bộ các quan điểm, thái độ của nhà

nước đối với việc giáo dục quyền con

người, trong đó chứa đựng những chủ trương lớn, mang tính tổng thể, khái quát

về mục tiêu, tính chất, nội dung, nguyên tắc, hình thức, phương pháp giáo dục quyền con người… nhằm hình thành ở mỗi

cá nhân những tri thức và phẩm chất nhất định, trên cơ sở đó cá nhân mới có đủ khả năng và điều kiện thực hiện quyền con người của mình một cách đúng đắn Chính sách giáo dục quyền con người của nhà nước được thể chế hoá thành pháp luật về giáo dục quyền con người, có giá trị bắt buộc đối với mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội và được nhà nước bảo đảm thực hiện bằng tất cả các biện pháp, trong đó có biện pháp cưỡng chế

Việc xây dựng và hoàn thiện chính sách giáo dục quyền con người là nghĩa vụ của mỗi nhà nước trong thời đại ngày nay nhằm tạo cơ sở, nền tảng để xây dựng và hoàn thiện pháp luật giáo dục quyền con người

1.2 Quyền con người - đối tượng điều chỉnh của pháp luật về giáo dục

Như trên đã nói, chính sách giáo dục quyền con người phải được thể chế hoá thành pháp luật về giáo dục quyền con người

* Giảng viên chính Khoa hành chính-nhà nước

Trường Đại học Luật Hà Nội

Trang 2

để cho xã hội phải thực hiện thì chính sách

giáo dục quyền con người của nhà nước mới

được "hiện thực hoá", "vật chất hoá" Khi

quyền con người là đối tượng tác động của

chính sách giáo dục của nhà nước thì nó

cũng trở thành đối tượng điều chỉnh của

pháp luật về giáo dục Như vậy, từ góc độ hệ

thống, trong hệ thống pháp luật về giáo dục

cũng xuất hiện bộ phận pháp luật mới (hay

hệ thống pháp luật nhỏ mới hoặc phân hệ

pháp luật mới) - bộ phận pháp luật (hệ thống

pháp luật nhỏ hay phân hệ pháp luật) về giáo

dục quyền con người

Pháp luật về giáo dục quyền con người là

toàn bộ các quy phạm pháp luật về giáo dục

quyền con người, do nhà nước đặt ra (hoặc

thừa nhận), thể hiện ý chí nhà nước và được

nhà nước bảo đảm thực hiện

Trên cơ sở chính sách giáo dục quyền

con người, các nhà nước đều có nghĩa vụ

xây dựng và hoàn thiện pháp luật về giáo

dục quyền con người

1.3 Quyền con người - quyền cơ bản của

con người trong lĩnh vực giáo dục (quyền của

con người được hưởng nền giáo dục tiến bộ)

Quyền của con người được hưởng nền

giáo dục tiến bộ là khả năng của con người

được đòi hỏi, được yêu cầu nhà nước và xã

hội đáp ứng các nhu cầu chính đáng của

mình về học tập, nâng cao trình độ hiểu biết

mang tính tích cực về tự nhiên, xã hội và về

chính con người; được tự mình thực hiện

những hành vi hợp pháp, chính đáng nhằm

thoả mãn các nhu cầu hợp pháp, chính đáng

của mình về tri thức văn hoá tiến bộ và những hiểu biết, khám phá khác

Mỗi nhà nước trong thời đại ngày nay không những có nghĩa vụ ghi nhận và bảo đảm thực hiện quyền của con người được hưởng nền giáo dục tiến bộ mà còn thường xuyên mở rộng nội dung và hoàn thiện những bảo đảm pháp lí cho việc thực hiện quyền này phù hợp với sự phát triển và thay đổi của xã hội và của thời đại

1.4 Quyền con người - nội dung quan trọng trong công tác giáo dục của xã hội đối với con người (công tác giáo dục quyền con người của xã hội)

Trong xu thế xã hội hoá giáo dục thì giáo dục quyền con người đã và đang trở thành bộ phận, nội dung quan trọng của công tác giáo dục của xã hội Công tác giáo dục của xã hội là toàn bộ những hoạt động

có mục tiêu, định hướng, nguyên tắc, nội dung, hình thức, phương pháp nhất định, do các tổ chức xã hội và mọi cá nhân tiến hành đối với con người nhằm cung cấp cho con người những tri thức cần thiết và phẩm chất cần có để họ có suy nghĩ đúng và thực hiện hành vi đúng phù hợp với ý chí và lợi ích chung của xã hội Với ý nghĩa như vậy, giáo dục quyền con người từ phía xã hội là hoạt động của xã hội nhằm cung cấp cho con người những tri thức cần thiết về quyền con người, hình thành ở con người những phẩm chất cần có để thực hiện quyền con người một cách đúng đắn, phù hợp với ý chí và lợi ích chung của xã hội

Trang 3

Các tổ chức xã hội và các đoàn thể

quần chúng trong mỗi quốc gia đương đại

có nghĩa vụ thường xuyên đổi mới, hoàn

thiện nội dung, hình thức, phương pháp

giáo dục quyền con người, nhằm hình

thành và bồi dưỡng kiến thức chung về

quyền con người trong xã hội, trên cơ sở

đó định hướng hành vi đúng đắn của con

người trong xã hội

2 Tính phổ biến và tính đặc thù của

quyền con người từ phương diện giáo dục

2.1 Tính phổ biến và tính đặc thù của

quyền con người

Quyền con người - giá trị xã hội được

thừa nhận chung trên toàn thế giới tự bản

thân nó đã có tính phổ biến và tính đặc thù

Tính phổ biến của quyền con người đã

được tuyên bố từ Tuyên ngôn độc lập của

Mỹ năm 1776, Tuyên ngôn nhân quyền và

dân quyền của Pháp năm 1789 và đặc biệt

được tiếp tục khẳng định trong Tuyên ngôn

thế giới về nhân quyền của Liên hợp quốc

năm 1948: "Mọi người sinh ra đều tự do và

bình đẳng về phẩm giá và các quyền"

(Điều 1); "Mọi người đều được hưởng tất

cả các quyền và tự do nêu trong bản Tuyên

ngôn này, không có bất kì sự phân biệt đối

xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính,

ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hoặc quan

điểm khác, nguồn gốc dân tộc hoặc xã

hội, tài sản, giống nòi hay các tình trạng

khác" (Điều 2).(1)

Như vậy, theo tinh thần của lời văn trong

các bản tuyên ngôn thì tính phổ biến của

quyền con người được hiểu là bất cứ ai dù người đó ở đâu, thuộc về dân tộc nào, chủng tộc nào, nam hay nữ, tình trạng tài sản ra sao, có chính kiến gì… đều có các quyền con người vốn có của mình, không ai có thể tước đoạt được

Tuy vậy, quyền con người còn có tính đặc thù của nó Tính đặc thù này có được là

do quyền con người luôn luôn gắn chặt với con người mà mỗi con người đều là thành viên của một cộng đồng người có chung nguồn gốc hình thành, tâm lí-tư tưởng, ngôn ngữ, lối sống, sinh hoạt cộng đồng, văn hoá, phong tục, tập quán, phương thức sản xuất, v.v.; cho nên việc chuyển hoá quyền con người từ chỗ là những khả năng có được, có thể sang trạng thái hiện thực hoá các khả năng đó trong mỗi cá nhân luôn luôn bị chi phối (hay chịu sự tác động) bởi các nhân tố hình thành và tồn tại con người cũng như các nhân tố quyết định sự hoạt động (hay sinh hoạt) của con người Nói cách khác, sự

"hiện thực hoá", "vật chất hoá" quyền con người của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng người đều chịu ảnh hưởng của các nhân tố

về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội… trong mỗi quốc gia, dân tộc, mỗi khu vực trên thế giới

Với nhận thức như trên về nguyên cớ sinh ra "tính đặc thù của quyền con người",

có thể khẳng định rằng tính đặc thù của quyền con người không nằm ở nội dung bản chất của quyền con người mà tồn tại ở khâu

"hiện thực hoá", "vật chất hoá" quyền con

Trang 4

người trong mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, mỗi

khu vực của thế giới đương đại

2.2 Biểu hiện của tính phổ biến và tính

đặc thù của quyền con người từ phương diện

giáo dục

- Về chính sách giáo dục quyền con

người của mỗi quốc gia

Chúng tôi cho rằng giáo dục quyền con

người có thể đã trở thành chủ trương chung

của nhiều quốc gia trên thế giới theo tinh

thần của các văn bản mang tính tuyên ngôn

và mang tính pháp lí của Liên hợp quốc về

quyền con người (biểu hiện của tính phổ

biến của quyền con người từ phương diện

giáo dục) Tuy nhiên, việc chuyển hoá từ chủ

trương giáo dục quyền con người thành

chính sách quốc gia về giáo dục quyền con

người và thực hiện chính sách quốc gia về

giáo dục quyền con người ở mỗi quốc gia

cũng có những điểm khác nhau, tùy thuộc

vào đặc điểm về tâm lí-tư tưởng, văn hoá,

chính trị, xã hội, kinh tế, khả năng và điều

kiện trong từng quốc gia, dân tộc (biểu hiện

của tính đặc thù của quyền con người từ

phương diện giáo dục) Bên cạnh đó, cũng

thấy được rằng nội dung, mức độ hoàn thiện

trong chính sách quốc gia về giáo dục quyền

con người ở mỗi quốc gia cũng khác nhau

tùy thuộc vào mức độ và khả năng nhận thức

của giới lãnh đạo và điều hành quốc gia về ý

nghĩa, tầm quan trọng của giáo dục quyền

con người đối với việc thực hiện quyền con

người ở nước mình

- Đối với pháp luật về giáo dục quyền

con người Các quốc gia thành viên Liên hợp quốc, đặc biệt là các quốc gia thành viên các công ước của Liên hợp quốc về quyền con người đã xây dựng được ở nước mình hệ thống pháp luật về quyền con người Nhưng có thể ít quốc gia, nếu như không muốn nói là không quốc gia nào xây dựng được cho riêng mình hệ thống pháp luật về giáo dục quyền con người Tình hình đó đang đặt ra trước nhiều quốc gia trên thế

giới nhiệm vụ cần sớm xây dựng (đối với

những quốc gia chưa có hệ thống pháp luật này) và hoàn thiện (đối với các quốc gia đã xây dựng nhưng chưa đầy đủ hệ thống pháp luật đó) hệ thống pháp luật về giáo dục quyền con người

Chắc chắn nhiều quốc gia trên thế giới đều có nhận thức chung về sự cần thiết phải

có pháp luật điều chỉnh vấn đề giáo dục quyền con người phù hợp với quan điểm của Liên hợp quốc đã được ghi nhận trong các văn bản mang tính tuyên ngôn và mang tính pháp lí về quyền con người (biểu hiện của tính phổ biến của quyền con người từ phương diện giáo dục) nhưng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về giáo dục quyền con người chắc chắn

sẽ nổi lên những nét riêng biệt của mỗi quốc gia (biểu hiện của tính đặc thù của quyền con người từ phương diện giáo dục),

vì pháp luật luôn luôn chịu sự chi phối (sự tác động) của các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội… trong từng nước, từng

Trang 5

dân tộc Sự khác nhau và nét riêng biệt đó

được thể hiện ở phạm vi và mức độ điều

chỉnh của pháp luật, nội dung của pháp luật

và hình thức thể hiện của pháp luật (ví dụ:

có nước ban hành đạo luật nhưng có quốc

gia chỉ có một văn bản dưới luật); mức độ,

khả năng nhận thức của nhà nước và nhà

làm luật về đối tượng điều chỉnh của pháp

luật cũng như trình độ kĩ thuật xây dựng

pháp luật

Ở Việt Nam hiện nay, tuy chưa có văn

bản quy phạm pháp luật riêng về giáo dục

quyền con người nhưng đã có những quy

phạm pháp luật quy định về nghĩa vụ của

Nhà nước, gia đình và xã hội trong việc giáo

dục thanh thiếu niên và các công dân khác

mà các quy phạm pháp luật ấy nằm rải rác

trong nhiều đạo luật, bộ luật và các văn bản

quy phạm pháp luật dưới luật khác thuộc các

ngành luật khác nhau

- Về quyền của con người được hưởng

nền giáo dục tiến bộ

Quyền của con người được hưởng nền

giáo dục tiến bộ đã được ghi nhận trong

Tuyên ngôn nhân quyền của Liên hợp quốc

năm 1948 (Điều 26) và Công ước của Liên

hợp quốc về các quyền kinh tế, xã hội và

văn hoá năm 1966 (Điều 13) Đây chính là

một biểu hiện của tính phổ biến của quyền

con người từ phương diện giáo dục Tuy

vậy, mức độ và phạm vi mà pháp luật ghi

nhận, mở rộng cũng như bảo đảm thực hiện

quyền này của con người ở mỗi quốc gia

cũng không thể giống nhau do mỗi quốc gia

có những hoàn cảnh, điều kiện và khả năng khác nhau về kinh tế, chính trị, văn hoá, giáo dục, khoa học, xã hội… (biểu hiện của tính đặc thù của quyền con người từ phương diện giáo dục)

Chẳng hạn, ở Việt Nam hiện nay, mức

độ và phạm vi mà pháp luật ghi nhận, mở rộng, bảo đảm thực hiện cũng như nội dung của quyền con người được hưởng nền giáo dục tiến bộ được thể hiện trong Hiến pháp năm 1992 (Chương III: Văn hoá, giáo dục, khoa học, công nghệ; Điều 59…), Luật bảo

vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, Luật giáo dục năm 2005… Bên cạnh đó, nếu xét từ góc độ lịch sử hình thành và phát triển, quyền hiến định của con người được hưởng nền giáo dục tiến bộ ở nước ta cũng

có những nét đặc thù do hoàn cảnh và điều kiện phát triển đặc thù của Việt Nam: Trong Hiến pháp năm 1946, do hoàn cảnh nước ta vừa mới giành được độc lập chưa có khả năng và điều kiện để bảo đảm đầy đủ việc học tập của người dân nên quyền học tập của công dân được quy định một cách gián tiếp thông qua việc quy định những bảo đảm của Nhà nước đối với bậc sơ học, học sinh nghèo, mở trường tư (Điều 15); Hiến pháp năm 1959 không những quy định quyền học tập của công dân một cách trực tiếp mà còn bổ sung nghĩa vụ của Nhà nước bảo đảm quyền này (Điều 33); Hiến pháp năm 1980 dành hẳn một chương - Chương III quy định về văn hoá, giáo dục, khoa học,

kĩ thuật, trong đó xác định rõ mục tiêu,

Trang 6

nguyên tắc phát triển nền giáo dục (Điều

40) và tiếp tục quy định quyền học tập của

công dân nhưng bổ sung quy định việc học

tập không chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụ

của công dân và mở rộng nghĩa vụ của Nhà

nước đối với quyền học tập của công dân

(Điều 60); Hiến pháp năm 1992 bổ sung

nhiều quy định mới về giáo dục và quản lí

giáo dục (Chương III) đồng thời vẫn dành

một điều luật riêng quy định quyền và nghĩa

vụ học tập của công dân (Điều 59), trong đó

có những điểm mới như người học phải trả

học phí (trừ bậc tiểu học), công dân có

quyền học văn hoá và học nghề bằng nhiều

hình thức; học sinh có năng khiếu được Nhà

nước và xã hội tạo điều kiện học tập để phát

triển tài năng; Nhà nước và xã hội tạo điều

kiện cho trẻ em khuyết tật, trẻ em có hoàn

cảnh đặc biệt khó khăn khác được học văn

hoá và học nghề phù hợp…

- Đối với công tác giáo dục quyền con

người của xã hội

Trong nhiều quốc gia trên thế giới hiện

nay, giáo dục quyền con người đã và đang

được coi là nhiệm vụ quan trọng của toàn

xã hội, là bộ phận quan trọng trong nội

dung giáo dục nói chung của xã hội, cụ thể

là của các tổ chức chính trị, các tổ chức

chính trị-xã hội, các tổ chức xã hội, gia

đình và của cả xã hội (biểu hiện của tính

phổ biến của quyền con người từ phương

diện giáo dục) Tuy vậy, quy mô, mức độ,

phạm vi, nội dung, hình thức, phương pháp

giáo dục quyền con người mà xã hội tiến

hành cũng có sự khác nhau giữa các quốc gia, tùy thuộc vào mức độ nhận thức của

xã hội và các nhà lãnh đạo, điều hành xã hội, cũng như hoàn cảnh, điều kiện và khả năng thực tế của mỗi quốc gia (biểu hiện của tính phổ biến của quyền con người từ phương diện giáo dục) Ở Việt Nam hiện nay đang thực hiện xã hội hoá giáo dục nhằm thu hút cả xã hội vào công tác giáo dục (trong đó có giáo dục quyền con người)

và xã hội hoá giáo dục đã được pháp luật

hoá Ví dụ: các đoàn thể nhân dân, các tổ

chức xã hội, các tổ chức kinh tế, gia đình cùng với nhà trường đều có trách nhiệm giáo dục thanh niên, thiếu niên và nhi đồng (Điều 36 Hiến pháp năm 1992); Mặt trận

Tổ quốc Việt Nam có nhiệm vụ tuyên truyền, động viên nhân dân phát huy quyền làm chủ, thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật (Điều 2 Luật mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngày 12/6/1999); nhà trường có trách nhiệm chủ động phối hợp với gia đình và xã hội thực hiện mục tiêu, nguyên lí giáo dục (Điều 93 Luật giáo dục năm 2005); cha mẹ, người giám hộ và mọi người trong gia đình có trách nhiệm giáo dục con em về mọi mặt (Điều 94 Luật giáo dục năm 2005)…

(1).Xem: Hoàng Văn Hảo và Chu Hồng Thanh (chủ biên) “Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền” trong

sách Các văn k iện quốc tế về quyền con người, xuất

bản lần thứ hai (có sửa chữa, bổ sung), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr 63

Ngày đăng: 06/03/2014, 04:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w