1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐỀ TÀI MÔN HỌC XUẤT SẮC UEH500 NĂM 2017 TÊN CÔNG TRÌNH: “PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH ÁP DỤNG HỆ THỐNG QUẢN LÝ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI SA8000 TẠI VIỆT NAM. BẰNG CHỨNG THỰC TIỄN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN PHỤ LIỆU MAY NHA TRANG (ISE)”

56 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý thuyết chung về SA8000 (12)
    • 1.1. Sự ra đời của tiêu chuẩn SA8000 (12)
    • 1.2. Định nghĩa và các thuật ngữ (12)
      • 1.2.1. Định nghĩa (12)
      • 1.2.2. Các thuật ngữ (12)
    • 1.3. Nội dung cơ bản của SA8000 (13)
      • 1.3.1. Lao động trẻ em (13)
      • 1.3.2. Lao động cưỡng bức và bắt buộc (13)
      • 1.3.3. Sức khỏe và an toàn (14)
      • 1.3.4. Tự do thành lập hiệp hội và quyền thương lượng tập thể (14)
      • 1.3.5. Phân biệt đối xử (15)
      • 1.3.6. Hình thức kỷ luật (15)
      • 1.3.7. Giờ làm việc (15)
      • 1.3.8. Lương bổng (15)
      • 1.3.9. Hệ thống quản lý (16)
    • 1.4. Qui trình chứng nhận tiêu chuẩn SA 8000 (18)
    • 1.5. Lợi ích của tiêu chuẩn SA 8000 (19)
    • 1.6. Tình hình áp dụng SA 8000 trên thế giới (20)
  • 2. Thực trạng áp dụng SA 8000 ở các doanh nghiệp dệt may tại Việt Nam (24)
    • 2.1. Tình hình xuất khẩu ngành dệt may ở Việt Nam (24)
    • 2.2. Tầm quan trọng của SA 8000 đối với các doanh nghiệp xuất khẩu ở Việt (25)
    • 2.4. Tổng công ty cổ phần dệt Phong Phú – công ty áp dụng thành công tiêu chuẩn SA8000 (39)
    • 2.5. Những khó khăn khiến phần lớn các doanh nghiệp dệt may Việt Nam chưa có chứng nhận SA8000 (41)
  • 3. Khảo sát thực tiễn từ Công ty cổ phần Phụ liệu May Nha Trang (ISE) (44)
    • 3.1. Vấn đề về lao động trẻ em (45)
    • 3.2. Vấn đề về lao động cưỡng bức và bắt buộc (45)
    • 3.3. Vấn đề về sức khỏe và an toàn lao động (46)
    • 3.4. Vấn đề về tự do thành lập hiệp hội và thương lượng tập thể (47)
    • 3.5. Vấn đề về phân biệt đối xử (47)
    • 3.6. Vấn đề về nguyên tắc kỷ luật (48)
    • 3.7. Vấn đề về giờ làm việc (48)
    • 3.8. Vấn đề về lương bổng (48)
    • 3.9. Vấn đề về hệ thống quản lý (48)
  • 4. Giải pháp (49)
    • 4.1. Đối với doanh nghiệp (49)
    • 4.2. Đối với chính phủ (50)
  • 5. Kết luận (51)

Nội dung

Bước sang thế kỷ 21, kỉ nguyên kinh tế tri thức, nhu cầu của khách hàng đối với nhà sản xuất ngày càng cao. Thông thường, khách hàng không chỉ quan tâm đến việc đáp ứng về chất lượng sản phẩm, giá cả phù hợp, việc dễ dàng tìm kiếm hàng hoá và đảm bảo giao hàng tốt mà còn về việc đáp ứng các yêu cầu về trách nhiệm xã hội. Hiện nay, họ chú trọng cao đến cách thức làm ra sản phẩm, cụ thể là hàng hoá phải được sản xuất bởi “lao động xanh”. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp vì thế trở thành mối quan tâm của quốc tế, của mọi quốc gia, nói cách khác là sự quan tâm của thời đại. Hệ thống Quản lý Trách nhiệm Xã hội SA8000 – một trong những bộ quy tắc ứng xử đang được áp dụng rộng rãi trên thế giới, đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu và khu vực, nhu cầu cấp thiết cho các doanh nghiệp Việt Nam là phải không ngừng tăng khả năng cạnh tranh, tăng năng suất lao động và cải tiến chất lượng sản phẩm; đồng thời phải mang đến hình ảnh gần gũi, tích cực với xã hội tại các quốc gia Châu Âu và Bắc Mỹ những thị trường tiêu thụ tiềm năng. Tuy nhiên, một trong những yêu cầu nghiêm ngặt của người tiêu dùng ở những quốc gia này là vấn đề cam kết chặt chẽ về trách nhiệm xã hội từ các nhà sản xuất và các nhà cung ứng dịch vụ. Khách hàng châu Âu và Bắc Mỹ vì thế sẽ gây áp lực cho các doanh nghiệp Việt Nam nhiều hơn nữa, đặc biệt trong lĩnh vực dệt may. Tại sao lại là dệt may? Việt Nam hiện đang mở rộng quan hệ thương mại với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Trong đó, Hoa Kỳ là đối tác thương mại hàng đầu của nước ta. Hiệp định Thương mại Việt Nam Hoa Kỳ (BTA) đã có hiệu lực, đưa ngành dệt may Việt Nam có cơ hội vươn ra thị trường lớn để đẩy mạnh phát triển, nhưng nó cũng tạo ra một số thách thức cần phải vượt qua. Trong tình hình lúc bấy giờ, thách thức lớn nhất đối với các doanh nghiệp này là vượt qua rào cản phi thuế quan. Bởi khi mà hàng rào thuế quan giảm, hàng rào phi thuế quan sẽ tăng lên. Trong tương lai không xa, tại thời điểm các Hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đã kí kết có hiệu lực, các rào cản thuế quan giữa các quốc gia sẽ bị bãi bỏ và rào cản phi thuế sẽ lên ngôi. Lúc này, thế giới sẽ trở thành một thị trường chung và các nước nhập khẩu ở châu Âu và Bắc Mỹ sẽ xem xét SA 8000 như một rào cản phi thuế quan để hạn chế nhập khẩu từ họ trong tương lai gần. Các doanh nghiệp dệt may cần nhìn thấy được lợi ích của mình nói riêng và của nền kinh tế Việt Nam nói chung trong việc chủ động áp dụng SA 8000 ngay bây giờ. Đó là lý do nhóm chúng em lựa chọn đề tài “Phân tích tình hình áp dụng Hệ thống Quản lí trách nhiệm xã hội SA8000 tại các doanh nghiệp dệt may ở Việt Nam. Bằng chứng thực nghiệm tại Công ty cổ phần Phụ liệu May Nha Trang (ISE Corp.)

Lý thuyết chung về SA8000

Sự ra đời của tiêu chuẩn SA8000

Tiêu chuẩn SA 8000 do Hội đồng công nhận Quyền ưu tiên Kinh tế 1 ban hành năm

Kể từ năm 1997 tới nay, SA 8000 đã trải qua 4 phiên bản điều chỉnh vào các năm 2001, 2004, 2008 và 2014 nhằm cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động trên toàn cầu SA 8000 được SAI (Social Accountability International) công nhận dựa trên nền tảng 17 công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế ILO, đồng thời dựa trên Tuyên bố về Quyền con người của Liên Hiệp Quốc và Công ước về Quyền trẻ em của Liên Hợp Quốc.

Định nghĩa và các thuật ngữ

SA 8000 là một hệ thống tiêu chuẩn quốc tế đặt ra các yêu cầu về quản lý trách nhiệm xã hội nhằm cải thiện điều kiện làm việc tại các tổ chức và doanh nghiệp trên toàn cầu, do Social Accountability International (SAI) phát triển và giám sát Hệ thống này tập trung vào quyền lợi người lao động, an toàn và sức khỏe tại nơi làm việc, cũng như tuân thủ các chuẩn mực đạo đức và minh bạch trong chuỗi cung ứng Việc áp dụng SA 8000 giúp doanh nghiệp chứng minh cam kết tuân thủ các tiêu chuẩn xã hội, nâng cao uy tín với khách hàng và đối tác trên toàn cầu Đây là công cụ hỗ trợ quản trị sao cho các tổ chức có thể đạt được sự phát triển bền vững và trách nhiệm xã hội tốt hơn trong hoạt động kinh doanh.

1.2.2.1 Lao động trẻ em Được xác định là dưới 15 tuổi, trường hợp tại những nước có quy định độ tuổi trẻ em cao hơn thì sử dụng độ tuổi đó Nếu tại những nước đang phát triển quy định độ tuổi trẻ là 14, theo thông lệ quốc tế quy định ILO công ước 138, vẫn được chấp nhận

1.2.2.2 Lao động trẻ (lao động vị thành niên) Được xác định dưới 18 tuổi và trên độ tuổi lao động trẻ em được xác định ở trên

Một tổ chức cung cấp cho công ty nguyên liệu; dịch vụ hoặc hàng hóa cho việc sản xuất và cung cấp dịch vụ cho công ty

Hội đồng Công nhận Quyền ưu tiên Kinh tế là một tổ chức phi chính phủ được thành lập tại New York, Hoa Kỳ vào năm 1969, chuyên hoạt động trong lĩnh vực hợp tác và trách nhiệm xã hội Hoạt động của hội đồng tập trung vào nâng cao nhận thức về trách nhiệm xã hội và quyền lợi kinh tế, đồng thời thúc đẩy sự phối hợp giữa các tổ chức nhằm đóng góp vào sự phát triển bền vững và công bằng xã hội.

2 Social Accountability International (SAI), http://www.sa- intl.org/

Một đơn vị kinh doanh có thể cung cấp trực tiếp hoặc gián tiếp cho nhà cung cấp các hàng hóa và/hoặc dịch vụ cần thiết, phù hợp với việc sản xuất và cung cấp dịch vụ cho công ty Hoạt động này củng cố chuỗi cung ứng và đảm bảo nguyên vật liệu, thiết bị, cũng như các dịch vụ hỗ trợ được giao đúng thời gian và đúng chất lượng Việc tối ưu hóa quy trình cung cấp giúp công ty nâng cao hiệu quả sản xuất, giảm thiểu chi phí và nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng.

1.2.2.5 Lao động cưỡng bức và lao động bắt buộc

Đây là khái niệm liên quan đến lao động cưỡng bức và nô lệ nợ: bao gồm tất cả các công việc mà một người thực hiện, dù không mong muốn hay có thể đồng ý tự nguyện, khi bị đe dọa hoặc trả thù, hoặc được yêu cầu làm để trả nợ.

Nội dung cơ bản của SA8000

Theo bản cập nhật mới nhất của SA8000:2014, tiêu chuẩn này bao gồm 9 nhóm yêu cầu đối với doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn:

Doanh nghiệp và tổ chức cam kết không sử dụng lao động trẻ em và tuân thủ nghiêm ngặt quy định về lao động vị thành niên Đối với lao động vị thành niên đang theo học bắt buộc, họ chỉ được làm việc ngoài giờ học và không được làm việc quá 8 giờ mỗi ngày; tổng thời gian làm việc cộng với thời gian di chuyển tới nơi làm việc không vượt quá 10 giờ mỗi ngày Lao động vị thành niên không được làm việc vào ban đêm Doanh nghiệp và tổ chức không bố trí trẻ em hoặc lao động vị thành niên vào các điều kiện làm việc nguy hiểm, không an toàn hoặc có hại cho sức khỏe, thể chất và sự phát triển, dù ở trong hay ngoài nơi làm việc.

1.3.2 Lao động cưỡng bức và bắt buộc

Doanh nghiệp và tổ chức cam kết không tham gia hay ủng hộ việc sử dụng lao động cưỡng bức hoặc lao động bắt buộc, kể cả tù nhân theo định nghĩa tại ILO 29(3); không đòi hỏi thế chấp hoặc các giấy tờ tùy thân khi lao động làm việc cho doanh nghiệp; và không được phép giữ lại bất kỳ phần nào tiền lương, tài sản hoặc tài liệu của nhân viên để buộc họ tiếp tục làm việc Lao động được thực hiện trên cơ sở tự nguyện, tôn trọng quyền của người lao động và tuân thủ các quy định pháp luật liên quan.

Công ước số 29 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về Lao động cưỡng bức quy định quyền nghỉ việc sau khi hoàn thành các tiêu chuẩn về ngày làm việc và quyền tự do chấm dứt hợp đồng với điều kiện thông báo trước hợp lý; đồng thời khẳng định không có lao động nào bị ép buộc tham gia vào các hoạt động xuất khẩu lao động trái phép.

1.3.3 Sức khỏe và an toàn Đảm bảo cung cấp một môi trường làm việc an toàn, lành mạnh, ngăn ngừa các yếu tố có nguy cơ gây tai nạn hoặc tổn hại đến sức khỏe, có khả năng gây thương tích hoặc bệnh tật cho người lao động Tổ chức đánh giá mới tất cả các rủi ro từ nơi làm việc, thực hiện loại bỏ hoặc giảm thiểu bớt rủi ro đối với sức khỏe và sự an toàn của người lao động Đối với trường hợp các rủi ro vẫn còn sau quá trình loại bỏ và giảm thiểu, thì doanh nghiệp và tổ chức phải cung cấp cho người lao động dụng cụ bảo hộ cần thiết Trường hợp thương tích xảy ra xuất phát từ quá trình lao động, công ty phải cung cấp các biện pháp cấp cứu cần thiết và theo dõi quá trình điều trị của người lao động Công ty phải đảm nhận việc đánh giá các rủi ro đối với nhân viên thai sản từ các thao tác trong công việc và đảm bảo việc loại trừ khả năng rủi ro ảnh hưởng đến sức khỏe của nhân viên này bao gồm viêc thuyên chuyển đến nơi làm việc nhẹ hơn, it rủi ro hơn

Doanh nghiệp, tổ chức phải bổ nhiệm đại diện ban lãnh đạo phụ trách sức khỏe và an toàn lao động cho toàn thể người lao động và chịu trách nhiệm thực hiện các quy định về sức khỏe và an toàn lao động trong hệ thống tiêu chuẩn; thường xuyên tổ chức các chương trình huấn luyện về sức khỏe và an toàn lao động, đặc biệt đối với nhân viên mới hoặc người được tái bổ nhiệm cũng phải được huấn luyện lặp lại; thiết lập và công bố các văn bản thông báo về các nguy cơ tiềm ẩn đối với sức khỏe và an toàn tại nơi làm việc; doanh nghiệp phải duy trì hồ sơ tai nạn lao động xảy ra tại nơi làm việc và trong phạm vi quản lý của công ty; cung cấp cho tất cả người lao động các tiện ích cơ bản như nhà vệ sinh sạch sẽ, nước uống, thời gian nghỉ phù hợp và nơi lưu trữ thức ăn sạch sẽ (nếu có); các doanh nghiệp có hoạt động tổ chức nơi ở cho lao động phải đảm bảo yếu tố an toàn và vệ sinh, kể cả khi thuê dịch vụ lưu trú từ bên thứ ba.

1.3.4 Tự do thành lập hiệp hội và quyền thương lượng tập thể

Người lao động có quyền thành lập và gia nhập công đoàn mà không bị cản trở bởi doanh nghiệp hay bất kỳ tổ chức nào Đồng thời, doanh nghiệp phải tôn trọng ý kiến của đại diện công đoàn và không gây khó khăn hay cản trở cho hoạt động công đoàn Trong trường hợp tự do lập hội đoàn và thương lượng tập thể bị ngăn cản, công ty phải đảm bảo nhân viên có quyền bầu đại diện cho họ.

Doanh nghiệp cam kết không có bất cứ hành vi phân biệt đối xử nào trong mọi hoạt động kinh doanh dựa trên chủng tộc, giai cấp, nguồn gốc dân tộc, tôn giáo, giới tính, khuyết tật, thành viên công đoàn, chính kiến, tuổi tác hoặc bất kỳ điều kiện nào có thể dẫn đến phân biệt đối xử; đồng thời đảm bảo công bằng trong tuyển dụng, tiền lương, cơ hội thăng tiến, nghỉ việc và nghỉ hưu cho mọi người Công ty phải ngăn chặn và không cho phép những hành vi đe dọa, lạm dụng, bóc lột hoặc cưỡng bức tình dục, bao gồm các cử chỉ, ngôn ngữ và tiếp xúc thân thể tại nơi làm việc hoặc tại các cơ sở của công ty.

Chúng tôi ngăn chặn mọi hành vi lăng mạ và xúc phạm, tuyệt đối không cho phép các biện pháp thô bạo hay vô nhân đạo trong môi trường làm việc Việc xử lý kỷ luật được thực hiện dựa trên tinh thần tôn trọng và thái độ chân thành đối với nhân viên, đảm bảo công bằng và minh bạch trong quản lý nhân sự.

Tuân theo quy định của luật pháp nước sở tại Đảm bảo các ngày nghỉ lễ theo quy định của nhà nước Số giờ làm việc không quá 48h trên một tuần (không bao gồm giờ làm làm thêm) Được nghỉ ít nhất 1 ngày sau 6 ngày làm việc liên tục Ngoại trừ các trường hợp ngoại lệ Giờ làm thêm cũng trên nguyên tắc tự nguyện và không quá 12h/tuần

Doanh nghiệp phải trả lương tối thiểu đúng quy định của nước sở tại, bảo đảm mức sống tối thiểu và các khoản dự phòng cho người lao động Không được trừ lương cho mục đích kỷ luật nếu không có thỏa thuận lao động đã ký kết trước giữa người lao động và doanh nghiệp; mọi khoản trừ chỉ được phép theo quy định của pháp luật nước sở tại Đồng thời, doanh nghiệp cần liệt kê rõ ràng lương và phúc lợi được trả cho người lao động ở mỗi kỳ trả lương Không được trì hoãn trả lương hoặc giới hạn số tiền lương được chi trả Đối với lương từ làm thêm giờ, phải tuân thủ quy định của nước sở tại hoặc theo thỏa thuận hợp đồng lao động cao hơn mức lương cơ bản.

1.3.9.1 Chính sách, thủ tục và hồ sơ ghi chép

Doanh nghiệp phải tuyên bố và cam kết tuân thủ các điều kiện SA 8000 kết hợp với luật pháp nước sở tại, đồng thời phát triển chính sách và quy trình thực hiện dựa trên tiêu chuẩn SA8000 Chính sách này được công bố rõ ràng và dễ tiếp cận đối với người lao động tại mọi nơi thuộc phạm vi quản lý của tổ chức Ngoài người lao động, doanh nghiệp cũng cần thông báo những cam kết này đến khách hàng, nhà cung ứng và nhà thầu phụ.

Việc duy trì ghi chép đầy đủ và minh bạch thể hiện sự tuân thủ và thực hiện đúng tiêu chuẩn SA8000, tạo nền tảng cho đánh giá kết quả định kỳ nhằm đo lường mức độ tuân thủ và hiệu quả của hệ thống quản lý xã hội Thông qua đánh giá kết quả định kỳ, tổ chức có thể nhận diện điểm mạnh, hạn chế và đề xuất các cải tiến nâng cao quy trình, nhằm tối ưu hóa hiệu quả quản lý và đảm bảo quyền lợi cho người lao động.

1.3.9.2 Ban quản lý tiêu chuẩn

Để đảm bảo tuân thủ đầy đủ các yêu cầu của tiêu chuẩn SA8000, doanh nghiệp thành lập Ban quản lý tiêu chuẩn gồm đại diện từ phía doanh nghiệp và đại diện từ phía người lao động được công đoàn công nhận (nếu doanh nghiệp có tổ chức công đoàn).

1.3.9.3 Xác định và đánh giá rủi ro

Ban quản lý tiêu chuẩn thực hiện đánh giá rủi ro định kỳ bằng hình thức văn bản để xác định những nơi trong tổ chức không đảm bảo hoặc tiềm tàng khả năng không tuân thủ các tiêu chuẩn SA8000 Báo cáo lên ban quản trị cấp cao đưa ra giải pháp và sắp xếp các rủi ro theo thứ tự ưu tiên dựa trên mức độ tác hại trong văn bản báo cáo Quá trình đánh giá dựa trên tiêu chuẩn SA8000 và sự tư vấn của các bên liên quan để đảm bảo tính khách quan và đầy đủ thông tin.

Ban quản lý tiêu chuẩn phải giám sát hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp để đảm bảo tuân thủ SA8000; đồng thời xác định, triển khai và theo dõi các hành động giải quyết hiệu quả các rủi ro đã được xác định Việc này nhằm tăng tính hiệu quả của việc áp dụng tiêu chuẩn SA8000 vào mọi hoạt động của doanh nghiệp, cải thiện điều kiện làm việc, quản trị rủi ro và nâng cao uy tín của doanh nghiệp trên thị trường.

Qui trình chứng nhận tiêu chuẩn SA 8000

Bước 1: Doanh nghiệp tự thực hiện đánh giá nội bộ thông qua hệ thống trực tuyến của SAI Mục đích của bước này là giúp doanh nghiệp hiểu rõ tiêu chuẩn SA8000 và đánh giá mức độ đáp ứng tiêu chuẩn SA8000 của mình để có thể định hình được qui trình hiệu chỉnh phù hợp.

Bước 2 trong quy trình là chọn một trong 23 cơ quan chứng nhận của SAAS 4 (theo bảng) để bắt đầu tiến trình đánh giá Những cơ quan này thực hiện việc đánh giá bằng cách xem xét tài liệu báo cáo của doanh nghiệp liên quan đến các hoạt động đáp ứng tiêu chuẩn, thực hiện kiểm định thực tế điều kiện làm việc và phỏng vấn trực tiếp người lao động.

Bảng 1 Các tổ chức được quyền chứng nhận tiêu chuẩn SA8000

STT Tổ chức chứng nhận Trụ sở chính Số lượng chi nhánh quốc tế

1 ABS Quality Evaluations, Inc USA 202

6 CISE (Centro per l'Innovazione e lo Sviluppo Italy 689

4 SAAS(Social accountablity accreditation service): Hỗ trợ SAI trong việc chứng nhận tiêu chuẩn SA8000

8 DNV (Det Norske Veritas) India 563

9 HKQAA (Hong Kong Quality Assurance

12 Globalgroup of Companies Limited India 65

17 LRQA (Lloyd's Register Quality Assurance Ltd.) UK 48

18 RINA S.P.A (Registro Italiano Navale Group) Italy 1286

20 TUV NORD Group (TUV Asia Pacific) Hong Kong 308

21 TUV Rheinland Group Hong Kong 452

22 TUV SUD South Asia India 313

Nguồn: SAAS (Social Accountablity Accreditation Service), http://www.saasaccreditation.org

Bước 3: Sau khi tổ chức công nhận công bố kết quả đánh giá, doanh nghiệp sẽ tiến hành các hành động điều chỉnh nhằm hoàn thiện hệ thống quản lý điều kiện làm việc theo tiêu chuẩn SA8000 Tiếp đó, doanh nghiệp thông báo với tổ chức công nhận để thực hiện rà soát lần cuối Nếu kết quả rà soát lần cuối đạt yêu cầu, doanh nghiệp sẽ được cấp giấy chứng nhận SA8000 và phải duy trì các cam kết ban đầu trong vòng 3 năm.

Lợi ích của tiêu chuẩn SA 8000

1.5.1.1 Đối với doanh nghiệp Được công nhận là doanh nghiệp hoạt động có trách nhiệm với cộng đồng Tiêu chuẩn SA8000 giúp doanh nghiệp nâng cao uy tín, sự đánh giá, lòng tin của khách hàng về sản phẩm, làm tăng giá trị cho sản phẩm Xét về lâu về dài, hình ảnh của doanh nghiệp sẽ trở nên đẹp hơn trong thị trường lao động, trong cái nhìn của giới phân tích, nhà đầu tư và cả khách hàng

Cải thiện môi trường làm việc cho người lao động là yếu tố then chốt giúp doanh nghiệp tăng năng suất lao động và nâng cao chất lượng sản phẩm Khi môi trường làm việc được cải thiện, chi phí giám sát sẽ được giảm thiểu, đồng thời doanh nghiệp giữ chân lao động có kỹ năng và thu hút lao động có chất lượng cao hơn Nhờ những cải tiến này, doanh nghiệp có thể phát triển bền vững trong môi trường cạnh tranh khốc liệt.

1.5.1.2 Đối với người lao động

Được làm việc trong một doanh nghiệp được cấp chứng nhận SA8000 mang lại lợi thế lớn cho người lao động, khi họ được tôn trọng và bảo vệ nhân quyền, được đảm bảo an toàn lao động và sức khỏe, tránh được những nguy cơ hại đến tính mạng và tinh thần, không bị phân biệt đối xử, và được đảm bảo lương, giờ làm việc đúng qui định cùng với các chế độ phúc lợi tối ưu mà doanh nghiệp mang lại; ở một khía cạnh khác của quyền lao động, quyền tự do thành lập hiệp hội và quyền được thương lượng tập thể cho phép người lao động lên tiếng bảo vệ lợi ích chính đáng cho bản thân và cho cộng đồng người lao động trong doanh nghiệp.

Tình hình áp dụng SA 8000 trên thế giới

Bảng 2 Tình hình áp dụng tiêu chuẩn SA 8000 của các nước trên thế giới (Cập nhật đến ngày 25/08/2017) Quốc gia

Số lượng các tổ chức được chứng nhận tiêu chuẩn SA

Tổng số lượng lao động trong những tổ chức được công nhận

Quy mô công nhân trung bình của tổ chức

Nguồn: SAAS , http://www.saasaccreditation.org

Theo bảng số liệu về tình hình áp dụng tiêu chuẩn SA8000 tính đến tháng 8/2017, có tới 72 nước trên thế giới có tổ chức đạt chứng nhận SA8000 Italy đứng đầu thế giới về số lượng tổ chức được công nhận SA8000, với 1.081 tổ chức; tiếp theo là Ấn Độ với 953 tổ chức và Trung Quốc với 654 tổ chức Việt Nam xếp thứ 6 toàn cầu với 91 tổ chức đạt chứng nhận SA8000.

Theo biểu đồ về tỷ trọng các ngành có tổ chức được công nhận tiêu chuẩn SA8000, ngành dệt may (Textiles) chiếm tỷ lệ cao nhất Tính đến tháng 8/2017, theo thông tin từ SAAS, có 522 doanh nghiệp dệt may được chứng nhận SA8000, chiếm gần 15% tổng số doanh nghiệp có chứng nhận tiêu chuẩn SA8000 Tiếp theo là ngành may mặc với gần 10,9% và ngành điện tử chiếm 5,4%.

Nguồn: SAAS (Social Accountablity Accreditation Service), http://www.saasaccreditation.org

Từ năm 1998 đến năm 2016 cho thấy tốc độ tăng trưởng khá nhanh của số tổ chức được công nhận Số lượng tổ chức được công nhận có xu hướng tăng nhưng chưa đồng đều, với biên độ biến động lớn dao động từ 1% đến 17% Dữ liệu được lấy từ SAAS và được cập nhật đến tháng 8/2017.

5 SAAS(Social accountablity accreditation service): Hỗ trợ SAI trong việc chứng nhận tiêu chuẩn SA8000

Biểu đồ 1 Tình hình áp dụng tiêu chuẩn

SA 8000 của các ngành trên thế giới

Biểu đồ 2 Số lượng tổ chức được chứng nhận bởi SA8000 hằng năm

Thực trạng áp dụng SA 8000 ở các doanh nghiệp dệt may tại Việt Nam

Tình hình xuất khẩu ngành dệt may ở Việt Nam

Năm 2017 được coi là mốc thời gian đánh dấu nhiều sự kiện kinh tế toàn cầu có tác động sâu rộng đến xuất khẩu hàng hóa, đặc biệt là ngành dệt may Việt Nam Hai sự kiện nổi bật có tác động lớn là Brexit Anh rời khỏi Liên minh châu Âu và Mỹ tuyên bố rút khỏi Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) Bên cạnh đó, sự cạnh tranh gay gắt từ các thị trường như Bangladesh, Pakistan và Ấn Độ đã khiến các doanh nghiệp dệt may Việt Nam phải đối mặt với những thách thức lớn để duy trì thị phần và tăng trưởng Để thích nghi và phát triển, Việt Nam cần đẩy mạnh cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu nhằm củng cố vị thế trên bản đồ dệt may toàn cầu.

Mặc dù vậy, kim ngạch xuất khẩu ngành dệt may vẫn có dấu hiệu khả quan, cho thấy Việt Nam luôn giữ ưu thế trên thị trường quốc tế Theo Bộ Công Thương, trong 6 tháng đầu năm 2017, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may tăng 11.3% so với cùng kỳ năm trước, là bước đột phá trong bối cảnh kinh tế toàn cầu bất ổn Dù nhu cầu nhập khẩu ở các thị trường chủ chốt như Mỹ, EU và Nhật Bản giảm nhẹ lần lượt 1%, 2% và 0.6%, Việt Nam vẫn ghi nhận tăng trưởng tại các thị trường này: Mỹ gần 9%, EU 8%, Nhật Bản 12%, còn Hàn Quốc ước tăng tới 18% So với các đối thủ mạnh như Bangladesh, Indonesia, Ấn Độ và đặc biệt là Trung Quốc, Việt Nam vẫn dẫn đầu về tốc độ tăng trưởng; theo Trade Map, Ấn Độ chỉ tăng 5% trong khi ba thị trường còn lại suy giảm trên 5%.

Thực chất, tăng trưởng xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam vẫn chưa thực sự ổn định Nguyên nhân chính là sự tăng lãi suất từ Fed và đặc biệt là khuynh hướng bảo hộ mậu dịch tiêu cực dưới thời Donald Trump Để đối phó với những biến động này, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam cần trang bị những biện pháp phù hợp nhất nhằm duy trì và nâng cao năng lực cạnh tranh Tuy nhiên, phần lớn các doanh nghiệp này vẫn chưa có sự chuẩn bị đầy đủ để thích ứng với các thách thức của thị trường.

6 Trade Map: Bản đồ Thông tin thương mại

Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) có quy mô vừa và nhỏ, khiến vị thế của ngân hàng trung ương này ở thị trường nội địa chưa thực sự ổn định Đồng thời, giải quyết vấn đề cạnh tranh trên thương trường quốc tế vẫn là một thách thức lớn mà Fed phải đối mặt để duy trì sự cân bằng và tăng cường hiệu quả hoạt động trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu.

Tầm quan trọng của SA 8000 đối với các doanh nghiệp xuất khẩu ở Việt

Thách thức lớn nhất mà doanh nghiệp Việt Nam đang đối mặt hiện nay là rào cản về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) Ngoài yếu tố chất lượng sản phẩm, đạo đức kinh doanh ngày càng được khách hàng tại các thị trường nhập khẩu chú trọng Họ không chỉ quan tâm đến mẫu mã, chất lượng và giá thành mà còn xem xét cách thức sản xuất có nhân đạo và lành mạnh hay không Người tiêu dùng thực sự tin dùng và sẵn sàng mua những sản phẩm được sản xuất bởi lao động xanh — những lao động làm việc trong môi trường công bằng, không bị bóc lột, cưỡng bức hay phân biệt đối xử.

Phong trào bảo vệ quyền lợi người lao động đang bùng nổ ở các nước phát triển, nổi bật với các chiến dịch tẩy chay Nike và Gap do cáo buộc bóc lột sức lao động và lao động trẻ em Phong trào Fair Trade được thúc đẩy nhằm bảo vệ quyền lợi người lao động về lương công bằng, quyền tham gia công đoàn và điều kiện chỗ ở Những cuộc đấu tranh cho những quyền lợi thích đáng khiến người tiêu dùng ở các nước tiên tiến ngày càng thận trọng khi mua sản phẩm từ châu Phi và đặc biệt là châu Á, nơi xã hội lên tiếng mạnh mẽ chống lại các trường hợp vi phạm nhân quyền SA8000, hệ thống tiêu chuẩn tập trung vào điều kiện làm việc của người lao động, được xem như một giải pháp khẳng định giá trị đạo đức của sản phẩm và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.

Rào cản kỹ thuật nghiêm ngặt như SA8000 rõ ràng là một thách thức lớn đối với các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, các doanh nghiệp nhanh nhạy nỗ lực đạt được chứng chỉ SA8000 sẽ gia tăng lợi thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế nhờ việc thu hút nguồn lực lao động Nhân lực được chứng nhận sẽ cảm thấy được đối xử công bằng và tốt hơn, từ đó làm việc hiệu quả hơn và đóng góp tích cực cho sự phát triển của doanh nghiệp.

8 Fair Trade: “Thương mại công bằng” gồm 10 tiêu chuẩn do Tổ chức Thương mại Công bằng Thế giới (WFTO) đặt ra

Hiện nay, nhiều doanh nghiệp đang theo đuổi xu hướng phát triển bền vững, nhằm kết hợp tối ưu hóa lợi nhuận với các trách nhiệm xã hội và bảo vệ môi trường Các doanh nghiệp không chỉ tối đa hóa lợi nhuận mà còn nỗ lực tối thiểu hóa tác động tiêu cực tới môi trường và gia tăng tác động tích cực tới xã hội Tiêu chuẩn SA8000 sẽ đóng vai trò quan trọng giúp rút ngắn khoảng cách giữa mục tiêu phát triển bền vững và thực thi trong quản trị lao động SA8000 hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng hệ thống quản trị lao động bền vững, cải thiện điều kiện làm việc, minh bạch thông tin và tăng cường uy tín, từ đó nâng cao cạnh tranh và đóng góp tích cực cho xã hội.

2.3 Khái quát chung về tình hình áp dụng SA8000 tại các doanh nghiệp dệt may Việt Nam

Theo báo cáo của tổ chức SAI, tính đến tháng 8 năm 2017 Việt Nam có 91 doanh nghiệp thuộc 57 ngành hàng được chứng nhận đạt chuẩn SA8000 So với thời điểm trước đây, khi SA8000 mới xuất hiện tại Việt Nam, số doanh nghiệp tự giác áp dụng và thành công với SA8000 rất ít, đặc biệt trong lĩnh vực dệt may chỉ có 25 doanh nghiệp sở hữu chứng nhận nghiêm ngặt này Trải qua 10 năm, số lượng doanh nghiệp đã tăng lên gần gấp 4 lần; cụ thể tính đến tháng 8 năm 2017 có tới 82 doanh nghiệp dệt may Việt Nam đạt yêu cầu của bộ tiêu chuẩn khắt khe này (Bảng 1) Các doanh nghiệp hiện nay đã cho thấy dấu hiệu khả quan trong việc đáp ứng các yêu cầu trách nhiệm xã hội.

Xét trên quy mô 6.000 doanh nghiệp dệt may hiện nay tại Việt Nam, chỉ có 81 doanh nghiệp đạt chuẩn S8000, chiếm khoảng 1,37%, một tỷ lệ quá thấp Vậy tại sao 98,63% doanh nghiệp còn lại chưa đạt tiêu chuẩn này? Các nguyên nhân dẫn đến thực trạng này sẽ được phân tích chi tiết ở phần sau bài viết.

Bảng 3 Danh sách các doanh nghiệp dệt may Việt Nam được chứng nhận SA8000

Danh sách bao gồm các tổ chức được chứng nhận thông qua: Ngày 30 tháng 6 năm 2017

Cập nhật lần cuối: Ngày 25 tháng 8 năm 2017

Organisation Address of Certified Head Office Scope of Certification

PHONG PHU GUSTON MOLINEL GARMENT FACTORY

TANG NHON PHU, TANG NHON PHU B WARD, DISTRICT 9, HOCHIMINH CITY, VIETNAM

MANUFACTURING PROTECTIVE, WORK WEAR, LEISURE, FASHION CLOTHES AND BABY CARRIERS

PHUONG DONG GARMENT JOINT STOCK COMPANY

HO: 934 QUANG TRUNG STREET, WARD 8,

GO VAP DISTRICT, HOCHIMINH CITY, VIETNAM

MANUFACTURE OF BLAZER, COATS, VESTON, JEANS, SHORTS, PANTS, SPORT WEARS AND KNIT ITEMS

VIET HUNG JOINT STOCK COMPANY

206 NATIONAL ROAD 22, TRUNG MY TAY WARD, DIST.12 HOCHIMINH CITY,

MANUFACTURING AND PROCESSING OF GARMENT PRODUCTS: SHIRT & T-SHIRT

BINH MINH GARMENT JOINT STOCK COMPANY

440 No Trang Long Street, Ward 13, Binh Thanh District , Ho Chi Minh City

BINH PHU JOINT STOCK COMPANY

No.22, Street No.19, Neighbourhood 4, Hiep Binh Chanh Ward, Thu Duc District, Ho Chi Minh City, Vietnam

The production and supply of garment product

Branch of HNMC Company Limited

B2 D11/12A, Hamlet 4, Vinh Loc A Ward, Binh Chanh District, Ho Chi Minh City, Vietnam

Manufacture of Backpacks and bags

DET MAY 7 ONE MEMBER LIMITED LIABILITY COMPANY - GARMENT FACTORY NO 2 (ex TEXTILE AND GARMENT

109A Tran Van Du Street, Ward 13, Tan Binh District, Ho Chi Minh City

COMPANY N 7 (TEGACO.7) GARMENT FACTORY NO

17/6A Pham Van Chieu Street, Ward 12, Go Vap District, Ho Chi Minh City, Vietnam

Manufacture of garment product including tie, bow tie

17/6A PHAM VAN CHIEU, GO VAP, HO CHI MINH

IND99042 Lawnyard Vietnam Co Ltd F4 / F5 / F6 - No 4 Street - Zone Industry, Le

Minh Xuan, Binh Chanh District, Ho Chi Minh City, Vietnam

Lot F4 – F6 Le Minh Xuan Industrial Zone, Binh Chanh Dist., Ho Chi Minh City, Vietnam

Manufacturing of garment products including under wear, swimming suits, kids clothing, T-shirt, polo shirt

Mountech Company Ltd 131 Hong Ha Street, Ward 9, Phu Nhuan District,

Ho Chi Minh City, Vietnam

Manufacturing of Backpacks, Bags, Tent and Garment Products

225175 Nobland Vietnam Co., Ltd 1-8A1, 1-2B1, E1 Tan Thoi Hiep Industrial Zone,

Hiep Thanh Ward, District 12, Ho Chi Minh City, Vietnam

Processing of Knits, Woven Products (dress, active wears, baby clothes)

THAI DUONG Co., Ltd D11/12A, Hamlet 4, Vinh Loc A Ward, Binh

Chanh District, Ho Chi Minh City

Manufcture of backpacks and bags

165A Long Phuoc Street, Long Thuan Hamlet, Long Phuoc Ward, District 9,Ho Chi Minh City

Manufacture of Garment (Knitted Wear, T-shirts, Polo- shirts, Pants, Sweaters & Sports Wear)

THAI SON S.P Co., Ltd 165A Long Phuoc Street, Long Thuan Hamlet,

Long Phuoc Ward, District 9,Ho Chi Minh City

Manufacture of Garment (Knitted Wear, T-shirts, Polo- shirts, Pants, Sweaters & Sports Wear)

VIET THINH GARMENT JOINT STOCK COMPANY

No 58 THOAI NGOC HAU STREET, HOA THANH WARD, TAN PHU DIST, HO CHI

MANUFACTURING AND PROCESSING GARMENT PRODUCTS INCLUDING: JACKETS, TROUSERS,

Certification MINH CITY, VIETNAM SPORT WEARS, SUITS, EMBROIDERY

VIETNAM PAIHO LIMITED Lot 30-32-34, Road 3, Tan Tao Industrial Park,

Tan Tao A Ward, Binh Tan District, Ho Chi Minh City, Vietnam

MANUFACTURE OF SHOES AND GARMENT ACCESSORIES INCLUDING SHOE-LACE, DRAWCORD, TOUCH FASTENER, ELASTIC, WEBBING AND RECYCLE BAG

No.7, Le Minh Xuan Street, Ward 7, Tan Binh District, Ho Chi Minh City, Vietnam

VIKING VIET NAM CO., LTD

LOT B23-B24, B3 STREET, XUAN THOI SON HANDCRAFT INDUSTRIAL

ZONE, NO 5A, NATIONAL ROAD 22, XUAN THOI SON VILLAGE,

HOC MON DISTRICT, HO CHI MINH CITY, VIETNAM

MANUFACTURE OF GARMENT PRODUCTS (RAIN, WORKWEAR AND UNIFORMS)

225183 Viet Tien Garment Export and

7 Le Minh Xuan St., Ward 7, Tan Binh Dist., HCMC, Vietnam

Manufacture and processing textile products - shirts, jackets, trousers, suits, polo shirts, sport wears, and t-shirts

COATS PHONG PHU CO., LTD

TANG NHON PHU B WARD, DISTRICT 9, HCM CITY, VIETNAM

MANUFACTURING OF SEWING AND EMBROIDERY THREADS FOR APPAREL, FOOTWEAR AND

Thanh Cong Textile – Garment – Investment – Trading Joint Stock Company

No 36, Tay Thanh Street, Tay Thanh Ward, Tan Phu District, HCMC

Manufacture and Trade of Yarns, Grey Fabrics, Finished Fabrics and Garments

24 SGS Viet Thang Textile Co

Linh Trung Ward, Thu Duc District, Vietnam Manufacture of garments

A & A GREEN PHENIX JOINT STOCK COMPANY (PHENIKAA JSC)

High Tech Industrial Zone 2, Hoa Lac High Tech Park, Phu Cat Commune, Quoc Oai District and Thach Hoa Commune, Thach That District, Hanoi, Vietnam

The manufacture and supply of engineered stone through the product realization process as receiving of raw material, inspection of raw material, materials mixing, pressing, sharpening, polishing, packing & warehouse

26 TUV Nord 74 Viet Pacific Apparel Co, Ltd No 10, Mo Lao, Ha Dong Town, Ha Tay

Manufacture and supply of Garments and Feather

Sai Dong Ward, Long Bien District, Hanoi, Vietnam

The manufacture and supply of garment products

GARMENT 10 CORPORATION JOINT STOCK COMPANY (GARCO10., JSC)

Sai Dong Ward, Long Bien District, Hanoi City Manufacture and supply of garment products

Ngoa Hoa Industrial Group, Ngoc Gia Village, Ngoc Hoa Commune, Chuong My District, Hanoi, Vietnam

30 SGS Tay do Garment Company 79 Mau Than Street, Can Tho City, Vietnam Manufacture of garments

28 DA NANG JOINT STOCK COMPANY

67 Duy Tan St., Hai Chau Dist., Da Nang City, Vietnam

Processing of uniforms and workwears

Dacotex Da Nang Co., Ltd Lot C2, Road 10, Hoa Khanh Industrial Zone,

Lien Chieu District, Danang City, Vietnam

An Nhon Garment Joint Stock Company

71 Nguyen Dinh Chieu, Binh Dinh Ward, An Nhon Town,

Production and import-export business of garments

AN PHAT INVEST JOINT STOCK COMPANY

Tam Quan Industrial Park, Hoai Nhon District, Binh Dinh Province, Vietnam

The manufacture and processing of garments

12 Mai Hac De Street, Ghenh Rang Ward, Quy Nhon City,

Manufacturing & processing of garment products

PHU CAT GARMENT JONT STOCK COPANY

Phu Kim Hamlet, Cat Trinh Commune, Phu Cat District, The manufacture & processing of garments

Tay Son Garment Joint Stock Company

Phu Xuan Ward, Phu Phong Tower, Tay Son District,

Manufacturing and Processing Garment Products

7/2 Binh Phuoc, Binh Chuan, Thuan An Dist., Binh Duong Province, Vietnam

Manufacture of Leather & Fabric Gloves

No.73/1 Nguyen Thai Binh Road, Phu Hoa Ward, Thu Dau Mot Town, Binh Duong Province, Viet Nam

MANUFACTURE AND SUPPLY OF T-SHIRT BAGS, PE BAGS, PP BAGS, MULTIWALL BAGS, JUMBO BAGS AND PP WOVEN FABRICS

No 7/128 , Binh Duc 1 Group , Binh Hoa Ward , Thuan An District , Binh Duong Province – Viet Nam

MANUFACTURE OF GARMENT’S PRODUCTS: JEANS, SHIRTS, CASUAL PANTS

National Highway 13, Binh Duc Hamlet, Binh Hoa Ward, Thuan An Town, Binh Duong Province, VIETNAM

MANUFACTURING AND PROCESSING GARMENT PRODUCTS INCLUDING: SHIRT, T-SHIRT, JACKETS, JEAN, SPORT-WEAR, SKIRTS, TROUSERS, SUITS, BLOUSES AND EMBROIDERY GARMENT

BINH THUAN NHA BE GARMENT JOINT STOCK COMPANY

204 Thong Nhat Street, Tan Thien Ward, Lagi Township, Binh Thuan Province

BRANCH OF BINH THUAN NHA BE GARMENT JOINT STOCK COMPANY - TUY PHONG GARMENT FACTORY

Industrial Zone of North of Tuy Phuong, Lac Tri Village, Phu Lac Commune, Binh Thuan Province, Tuy Phuong District

THUAN TIEN GARMENT EXPORT CO., LTD

LOT 2/15 PHAN THIET INDUSTRIAL ZONE, HAM LIEM HAMLET, HAM THUAN BAC DISTRICT, PHAN THIET CITY, BINH THUAN

MANUFACTURING AND PROCESSING OF SHIRT PRODUCTS

IND99125 Dap Cau Garment Import

G Area Thai Cau Ward, Bac Ninh Town, Bac Ninh Province, Vietnam

ELEGANT TEAM MANUFACTURER CO., LTD

Lot I2-03, I2-04 within Lot I2, Que Vo Industrial Zone Extension, Phuong Mao Commune, Que Vo District,

Manufacture and processing the garment products through processes fabric and accessories cutting, sewing, finishing, packing, warehouse

Unit G1-B Que Vo Industrial Zone, Phuong Lieu Commune, Que Vo District, Bac Ninh Province, Vietnam

THUAN THANH INTERNATIONAL FASHION JOINT STOCK COMPANY

XUAN LAM COMMUNE, THUAN THANH DISTRICT, BAC NINH PROVINCE

MANUFACTURE OF WOVEN TOP, WOVEN BOTTOM (DOWN JACKET, PADDED JACKET, QUILTED JACKET, PANT, KNIT ITEMS)

DACOTEX BLUE BIRD CO., LTD

Chu Lai Industrial Zone, Tam Hiep Commune, Nui Thanh District, Quang Nam Province, Vietnam

Dai Cat Tuong Joint Stock Company

Lot C6, Tinh Phong Industrial Zone, VN - Quang Ngai Province, Vietnam

Manufacuture and Export of Garment

SHINWON EBENEZER VIETNAM CO., LTD

CN14, Khai Quang Industrial Zone, Vinh Yen City, Vinh Phuc Province, Vietnam

The manufacture and supply of knitted garment products

VINA-KOREA Co., LTD CN 13, Khai Quang Industrial Zone, Vinh Yen

Town, Vinh Phuc Province, Vietnam

Manufacture and Export of Garments

CN13, Khai Quang IZ,Vinh Yen City, Vinh Phuc Province,Vietnam

The Manufacture and Export of Garments

54 TUV Nord 44 Dong Tai International Ltd Phu Thai- Kim Thanh- Hai Duong Provience Manufacture and supply of fashion clothes for men and

DONG TAI INTERNATIONAL(VIETNA M) CO., LTD

Phu Thai, Kim Thanh, Hai Duong Province, Vietnam

The manufacture and supply of fashion garment products

GLOBAL MFG VIETNAM CO.,LTD

KM 50 + 460, NATIONAL ROAD NO.5 - CAM THUONG WARD - HAI DUONG CITY- HAI DUONG PROVINCE, VIET NAM

Manufacture garment product: Jacket and Pants for export

JEANS LIFE CO., LTD Lot E3,E4,E5, Phuc Dien Industrial Zone, Cam

Giang District, Hai Duong Province, Vietnam

The manufacture of garment products through the process of Raw material receiving, cutting, printing, embroidering, sewing, washing, finishing, packing & Dispatch

Outsourced processes: Nil Contracted processes: Nil

Lot CN3.1, Tan Truong Industrial zone,

Tu Minh Ward, Cam Giang District, Hai Duong City, Hai Duong Province, Vietnam

The manufacture of garment products and bonded warehouse management through the process of raw material (fabric and accessories ), cutting, sewing, finishing, packing, custom clearance, warehouse (bonded), dispatch

Outsourcing process: Nil Outsourcing services: Nil

Van An Ward, Chi Linh Town, Hai Duong Province, Vietnam

The manufacture and supply of garment products (shirts) through fabric cutting, sewing, finishing, packing, warehouse

60 TUV Nord no longer available

Song Ha Garment Co, Ltd Km 41, Highway 5A, lai Cach commune Hai

Manufacture and supply of garment products

Km 40, Highway 5A, Lai Cach Commune, Hai Duong Provience, Vietnam

Manufacture and supply of garment products

Km 40, Highway No.5A, Lai Cach, Cam Giang, Hai Duong Province, Vietnam

The manufacture and supply of garment products (protection uniform through the process of materials (fabric and accessories), cutting, sewing, finishing, packing & warehouse Outsourced process: Nil

63 TUV Nord 73 Garnment company No 2

(Natexco 2), Namdinh textile garnment joint stock corporation

No 91 Nguyen Van Troi Road, Nam Dinh Ciy, Vietnam

Manufacture and supply of Garnments

NAM AN GARMENT JOINT STOCK COMPANY

No 01, Giai Phong Street, Nam Dinh City Manufacture of clothes & trouses

105 Nguyen Duc Thuan, Nam Dinh City, Nam Dinh Province, Vietnam

MANUFACTURE OF GARMENT PRODUCTS ( JACKET, KNITTED GARMENTS, PANTS)

SPECTRE GARMENT TECHNOLOGIES VIETNAM COMPANY LIMITED

Lot O1, Road N5A, Hoa Xa Industrial Zone, My

Xa Commune, Nam Dinh City, Nam Dinh Province, Vietnam

Manufacturing garment products of outdoor sports wear, next-to-skin, insulation and weather protection including fleece jackets, softshells and base layer

Tan Cuong Hamlet, Phu Cuong Commune, Tam Nong District, Dong Thap Province, Vietnam

Social Accountability Management System Associated with The manufacture and supply of fashion garment products

Ho Guom Garment Joint Stock Company km 22, Highway 5, Ban Yen Nhan Town, My Hao, Hung

THYGESEN TEXTILE VIETNAM CO., Ltd

Tan Quang Commune, Van Lam District, Hung Yen Province

Manufacture of knitted fabrics, garment, bandage, mop & hoisery products

193777 Tien Thuan Garment Co Ltd 16/4 Street, Phan Rang, Thap Cham Town, Ninh

Manufacturing and processing garment products such as jacket, trouser and sport wear

Tex-Giang Joint Stock Company

Lot BII-8, D3 Road, Tan Huong Industrial Zone, Tien Giang Province, Vietnam

Tien Tien Garment Joint Stock Company

No 234 – Area 6 – Ward 9 – Myt Tho City – Tien Giang Province – Vietnam

Manufacture of Jacket, Blouse, Pants, Skirt, Dress and Coats for women

Thai Anh Investment Trading Service Joint Stock Company

Km34, 10A National Highway, An Lao District, Hai Phong City

WELL MART LIMITED COMPANY (ex HUNG NAM HAI COMPANY LIMITED - BAO HAN FOOTWEAR FACTORY)

Ang Duong Village, Trung Lap Commune, Vinh Bao District, Hai Phong City

Manufacture of footwears, gloves, sport clothes

ASEAN-LINK (VIETNAM) CO., LTD

Lot C4, C5 Dinh Tram Industrial zone, Viet Yen District, Bac Giang Province

76 TUV Nord 97 Flexcon Vietnam Joint Venture

Dinh Tri Commune, Lang Giang District, Bac Giang Province, Vietnam

Kim Trang Hamlet, Viet Lap Commune, Tan Yen District, Bac Giang Province, Vietnam

Kim Trang Hamlet, Viet Lap Commune, Tan Yen District, Bac Giang Province, Vietnam

DE M COVINA COMPANY LIMITED Lot HB3-HB4, Street No 5, Xuyen A Industrial

My Hanh Bac Town, Duc Hoa, Long An Province, Vietnam

The manufacture, processing and washing of jean, kaki garment products

DE.M.CO Vina Co., Ltd Lot HB3 – HB4, Street 5, Xuyen A Industrial

Park, My Hanh Bac Ward, Duc Hoa District, Long An Province

Manufacture of Garment; Wash of Jean and Khaki

Lot P-1A, Street No.6, Long Hau Industrial Zone, Long Hau Commune, Can Giuoc District, Long An Province, Vietnam

The manufacture of Garment product and Knitting Wear Product

36 Hoang Anh, Tan Khanh Ward, Tan An City – 85000,Long An

Manufacturing and processing of garments, stuffed toys, backpacks and bags

109523 Shilla Bags CHANH HAMLET, DUC LAP HA COMMUNE,

DUC HOA DISTRICT, LONG AN PROVINCE, VIETNAM

SHINSUNG VINA CO., LTD Duc Lap Ha Commune, Duc Hoa Town, Long An

Manufacture of Garments (Knitted Garments)

No 6, Street 2, An Hoa IP, Hue City, Thua Thien Hue Province, Vietnam

LU AN GARMENT CO.,LTD Binh Hoa Commune, Chau Thanh County, / VN-

Manufacture and Sale of High-grade Shirts and Garment Products

Luthai (Vietnam)Co., Ltd 850000 Tay Ninh Province,Bau Don Commune,

Manufacturing of Spinning Products, Weaving Products, Bleaching & Dyeing Products

ROAD TRAN THI DUNG, PHUC KHANH INDUSTRIAL PARK, THAI BINH CITY, THAI BINH PROVINCE, VIETNAM

PROCESSING OF JEAN GARMENT PRODUCTS

SPECTRE VIETNAM JOINT STOCK COMPANY

NGUYEN DUC CANH INDUSTRIAL ZONE, BUI VIEN STREET, TIEN PHONG WARD, THAI BINH CITY, THAI BINH PROVINCE, VIETNAM

Manufacturing garment products of outdoor sports wear, next-to-skin, insulation and weather protection including fleece jackets, softshells and base layer

NORFOLK HATEXCO JOINT STOCK COMPANY

DONG VAN I INDUSTRIAL ZONE, DUY MINH COMMUNE, DUY TIEN DISTRICT, HANAM PROVINCE, VIETNAM

Manufacturing and processing knitwear and light weight woven wear

PROMADE LINGERIE LIMITED LIABILITY COMPANY

LOT A7, No.1 STREET, SMALL INDUSTRIAL ZONE, VI THANH CITY, HAU GIANG PROVINCE, VIETNAM

VIET AN INTERNATIONAL COMPANY LIMITED

Sec G, Hac Dich Industrial Zone, Ba Ria Vung Tau Province

Manufacture and Export of Garment Products

Vietnam Leioula Garment Co., Ltd

Lot A, No 2 Street, Long Duc Industrial Park, Long Duc Ward, Tra Vinh City, Tra Vinh Province, Vietnam

Manufacturing of Ladies Brassieres and Ladies Briefs

Km 116, Highway 20, Phu Loi Commune, Dinh Quan District, Dong Nai Province

Production of jacket, pants, overall, blouson, shirt

95 SGS Dona Bochang International Quoc Lo1, Phuong Tan Hoa, Bien Hoa, Dong

96 SGS Dona Botron Textile Co Bac Son Village, Thong Nhat Dist., Dongnai

Manufacture of towels and household textiles, bathrobe, bedspreads, slippers, bedsheets, cushions, kitchen aprons

Dong Nai Garment Corporation - Donagamex

Road 2, Bien Hoa Industrial Zone 1, Bien Hoa City, Dong Nai Province

Dong Tien Joint Stock Company DOVITEC

No 10 Phan Trung Street, Tan Tien Ward, Bien Hoa City, Dong Nai Province, Vietnam

SAITEX INTERNATIONAL DONG NAI (VN) LTD

226/8 Road 2, Amata Industrial Zone, Bien Hoa City, Dong Nai Province, Vietnam

The Manufacture and Washing of Garment Jean Products

TAN MAI GENERAL WOOD JOINT STOCK COMPAN- DONG THINH GARMENT COMPANY LIMITED

Thanh Phu – Thien Tan Industrial Area, Thanh Phu Commune, Vinh Cuu District, Dong Nai Province, Vietnam

Manufacturing and Exporting Garments ( Jacket, Vest, Trousers)

VIET DUC INTERNATIONAL INVESTMENT COMPANY LIMITED

2 Hamlet, Xuan Tam Commune, Xuan Loc District, Dong Nai Province, Vietnam

Nguồn: Social Accountability Accreditation Services (SAAS), http://www.saasaccreditation.org/certfacilitieslist

Hiện nay, gần một nửa số tỉnh, thành tại Việt Nam có các doanh nghiệp dệt may tự giác tìm hiểu và áp dụng thành công tiêu chuẩn SA8000 (Biểu đồ 1) Tuy nhiên, sự phân bổ số lượng giữa các địa phương không đồng đều: TP Hồ Chí Minh, Hải Dương, Đồng Nai, Hà Nội, Bình Dương là nơi tập trung nhiều doanh nghiệp dệt may có kinh nghiệm và được quan tâm phát triển; ngược lại, ở một số thành phố trọng điểm lại có rất ít hoặc thậm chí không có doanh nghiệp đạt chuẩn SA8000, điển hình là Nha Trang, Vũng Tàu và Đà Nẵng.

Biểu đồ 3 Số lượng doanh nghiệp dệt may đạt chuẩn SA8000 tại 29 tỉnh (thành phố) của

Việt Nam (tính đến tháng 8 năm 2017)

Thành phố Hồ Chí Minh luôn là đơn vị tiên phong, dẫn đầu về số lượng doanh nghiệp được cấp chứng nhận đạt tiêu chuẩn SA 8000 trong ngành dệt may, cụ thể là 24 trên tổng số 101 doanh nghiệp (Biểu đồ 1) Điều này cho thấy thành phố là điểm sáng về tuân thủ chuẩn SA 8000 và quản trị chuỗi cung ứng trong lĩnh vực dệt may Có nhiều lý do giải thích cho hiện tượng này, bao gồm môi trường đầu tư thuận lợi, sự hỗ trợ từ chính quyền địa phương và ý thức ngày càng cao của doanh nghiệp về quyền lao động và điều kiện làm việc.

Phần lớn doanh nghiệp dệt may Việt Nam hiện tập trung tại miền Nam, chiếm 62% tổng số doanh nghiệp Tiếp theo là miền Bắc với 30%, trong khi miền Trung và Tây Nguyên chỉ chiếm khoảng 8% Sự phân bổ này cho thấy miền Nam là khu vực chủ đạo cho sản xuất và kinh doanh dệt may tại nước ta.

Theo Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp Dệt may do Bộ Công Thương ban hành, quyết định số 3218/QĐ-BCT, ngành dệt may được chia thành 7 khu vực chính nhằm tối ưu hóa nguồn lực và phát triển bền vững Trong đó, khu vực 5 – Vùng Đông Nam Bộ được xác định lấy thành phố Hồ Chí Minh làm trung tâm, tạo động lực cho phát triển ngành dệt may khu vực và cả nước.

25 yếu tố đóng vai trò quan trọng nhất trong việc định hướng các giai đoạn thiết kế thời trang, sản xuất mẫu mã, cung cấp dịch vụ và quản trị nguyên phụ liệu cùng công nghệ dệt may Việc nắm bắt và tối ưu 25 yếu tố này giúp hình thành xu hướng thiết kế, nâng cao chất lượng mẫu mã và tối ưu chu trình cung cấp dịch vụ cho khách hàng Đồng thời, cân nhắc kỹ lưỡng các yếu tố liên quan đến nguyên phụ liệu và công nghệ dệt may đảm bảo sự nhất quán về chất lượng, chi phí và thời gian sản xuất Do đó, 25 yếu tố này trở thành nền tảng chiến lược cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp trong ngành thời trang.

Theo nhiều chuyên gia kinh tế, việc triển khai SA 8000 tại TP.HCM và các tỉnh thành ngày càng thuận lợi nhờ sự tương đồng giữa yêu cầu của chuẩn SA 8000 và các văn bản pháp luật liên quan đến quyền lợi người lao động tại Việt Nam Bộ luật Lao động đóng vai trò là khung pháp lý mà doanh nghiệp phải tuân thủ, khi đáp ứng đầy đủ các điều khoản của bộ luật này, con đường đạt chuẩn SA 8000 sẽ trở nên dễ dàng hơn Ví dụ, Bộ luật quy định giới hạn giờ làm thêm cho công nhân (không quá 4 giờ/ngày và 200 giờ/năm), và SA 8000 có mức quy định tương đương (8 giờ/ngày hoặc 48 giờ/tuần).

Tổng công ty cổ phần dệt Phong Phú – công ty áp dụng thành công tiêu chuẩn SA8000

Phong Phú là Tổng công ty cổ phần dệt may, thành viên của Tổng Công ty Dệt May Việt Nam – VINATEX với 51% vốn sở hữu Công ty chuyên sản xuất các loại chỉ, sợi và đặc biệt là khăn với đa dạng mẫu mã, thị trường nội địa tập trung tại các vùng trọng điểm như TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng, Huế, Cần Thơ và Phan Thiết Trong thị trường xuất khẩu, sản phẩm khăn bông Mollis và áo choàng tắm của Phong Phú được ưa chuộng và đơn đặt hàng ngày càng gia tăng tại các thị trường như Trung Quốc, Nhật Bản, EU và Mỹ Việc áp dụng SA8000 giúp Phong Phú nâng cao quản lý lao động một cách hiệu quả, từ đó nhận được sự ủng hộ từ các cấp quản lý lẫn chính công nhân, gia tăng tính cạnh tranh và uy tín của doanh nghiệp.

Phong Phú là tổng công ty cổ phần có bề dày 53 năm trong ngành dệt may, luôn dẫn đầu về sợi và dệt vải Thành lập từ năm 1964, Phong Phú đã hình thành nền tảng vững chắc cho hoạt động sản xuất và cung cấp sợi, vải chất lượng Đến năm 1975, Sicovina Phong Phú được Nhà nước tiếp quản và giao cho cán bộ công nhân viên nhà máy quản lý, duy trì sản xuất.

Năm 1993, đổi tên thành Công ty dệt Phong Phú, gồm 5 nhà máy thành viên và 2 đơn vị liên doanh hợp tác gia công xuất khẩu với 4.531 nhân viên Năm 2007, thành lập Tổng công ty.

Phong Phú đã hoàn tất cổ phần hóa vào năm 2009 và chính thức đổi tên thành Tổng công ty Cổ phần Phong Phú, đánh dấu bước chuyển mình quan trọng về quy mô và quản trị Năm 2014, công ty thực hiện sáp nhập các công ty con để phát triển toàn diện, từ đó giữ vững vị thế dẫn đầu ngành dệt may Việt Nam.

Công ty đã đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của hệ thống SA8000, đặc biệt là chuẩn An toàn sức khỏe, với nhiều chương trình đãi ngộ cho người lao động Phong Phú xem đội ngũ nhân viên là nguồn tài sản vô giá, như lời Tổng Giám đốc Phạm Xuân Trình: "Tài sản quý giá nhất của công ty chính là công nhân" Tổng công ty đã mở bán dự án nhà và chung cư Nhân Phú, gồm 11 tầng và 194 căn hộ dành cho cán bộ công nhân viên với giá ưu đãi đặc biệt, đi kèm khuôn viên cây xanh, khu sinh hoạt cộng đồng, bãi đậu xe, siêu thị mini, khu nhà ăn, cửa hàng tiện lợi, khu vui chơi giải trí và luyện tập thể thao; đặc biệt, khu nhà trẻ 3K phục vụ chăm sóc và giữ trẻ 24/24 giờ khai giảng tháng 7 năm 2014 nhằm tạo điều kiện cho cán bộ công nhân viên yên tâm công tác và chăm sóc cho thế hệ tương lai của Phong Phú Ngoài ra, căn tin phục vụ bữa ăn cho công nhân được trang bị đầy đủ với quy trình an toàn vệ sinh thực phẩm chặt chẽ Phong Phú còn có thư viện sách báo và Internet để phục vụ nhu cầu giải trí, cập nhật tin tức và nâng cao kiến thức cho cán bộ công nhân viên Bên cạnh đó, công ty thường xuyên tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao như hội diễn văn nghệ, liên hoan mừng xuân, hội thao, các buổi báo cáo chuyên đề về tư vấn pháp luật và sức khỏe Gần đây, Công đoàn Công ty TNHH Coats Phong Phú đã phối hợp với công ty tổ chức sự kiện và du lịch Ánh Dương tổ chức cuộc thi "Nam nữ thanh lịch Coats Phong Phú năm 2016" nhằm tạo sân chơi phát triển tài năng và đam mê cho tất cả thành viên công ty.

Công nhân là lực lượng nòng cốt của mỗi doanh nghiệp, trực tiếp tạo ra của cải vật chất để duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh và phát triển bền vững Đối với Phong Phú, lực lượng công nhân luôn được đề cao và trân trọng; họ mang theo ý thức sáng tạo, tốc độ và tính khoa học để nhắm đúng các mục tiêu chiến lược, tranh thủ từng giây phút và dốc toàn lực vươn lên Công nhân Phong Phú luôn ghi nhớ: chúng ta là một phần của xã hội, sự sống còn và phát triển của chúng ta liên quan hài hòa và chặt chẽ với xã hội Đó là sự tổng hợp của nền tảng vững chắc, tầm nhìn chiến lược, sứ mạng quan trọng và nguồn nhân lực dồi dào kinh nghiệm, giúp Phong Phú gìn giữ những thế mạnh hiện tại và phát triển mạnh mẽ cho tương lai.

Những khó khăn khiến phần lớn các doanh nghiệp dệt may Việt Nam chưa có chứng nhận SA8000

Hiện nay, phần lớn doanh nghiệp dệt may Việt Nam chưa có chứng nhận SA8000, phần lớn nguyên nhân bắt nguồn từ nhận thức của chính doanh nghiệp còn hạn chế Điều này đồng nghĩa với việc họ chưa nhận ra lợi thế cạnh tranh khi có chứng nhận SA8000 và chưa thấy được các lợi ích từ việc bỏ ra chi phí xin cấp chứng nhận và duy trì hệ thống Thêm vào đó, nhiều nhà quản lý không muốn công khai thông tin tài chính và rất e ngại trước sự kiểm tra định kỳ khi duy trì tiêu chuẩn SA8000, cùng với một số khó khăn khác.

Trước tiên, nhận thức về trách nhiệm xã hội và đạo đức trong các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và ngành dệt may nói riêng còn nhiều hạn chế; phần lớn doanh nghiệp chưa hiểu đúng rằng trách nhiệm xã hội gồm thị trường, người tiêu dùng, bảo vệ môi trường, người lao động và cộng đồng, mà họ thường cho rằng CSR chỉ là từ thiện Vì thế, vẫn có một bộ phận doanh nghiệp vừa tích cực làm từ thiện vừa lao vào vòng quay lợi nhuận cao bằng các hoạt động kinh doanh thiếu lành mạnh, dẫn đến tàn phá môi trường, bóc lột sức lao động, vi phạm đạo đức kinh doanh và lợi dụng lơi lỏng pháp lý — đó không phải là thực hiện trách nhiệm xã hội Do nhận thức sai lệch này, nhiều doanh nghiệp chưa biết đến SA8000; một số biết đến nhưng hiểu sai nên thực hiện các hoạt động không phù hợp với tiêu chuẩn, khiến họ không thể được cấp chứng nhận Hệ thống trách nhiệm xã hội SA8000.

Đến nay, nhiều doanh nghiệp vẫn cho rằng SA8000 chưa phải là tiêu chuẩn cần thiết để tăng xuất khẩu sang các thị trường khó tính như EU, Hoa Kỳ và Nhật Bản Ngày nay, người tiêu dùng không chỉ yêu cầu chất lượng và mẫu mã mà còn đặc biệt quan tâm đến nguồn gốc xuất xứ và quy trình sản xuất có đáp ứng các tiêu chí phát triển bền vững liên quan đến bảo vệ môi trường, điều kiện làm việc cho người lao động và trách nhiệm với cộng đồng xã hội Với những yêu cầu ngày càng khắt khe, việc đạt chứng nhận SA8000 đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đáp ứng mục tiêu phát triển bền vững, thể hiện tinh thần trách nhiệm với cộng đồng và tạo niềm tin đối với khách hàng, cộng đồng địa phương và người tiêu dùng, đồng thời mang lại lợi thế cạnh tranh so với các doanh nghiệp chưa có chứng nhận Tuy nhiên, phần lớn doanh nghiệp Việt Nam nói chung và ngành dệt may nói riêng vẫn bị động ở chỗ chỉ cố gắng có được giấy chứng nhận khi có khách hàng yêu cầu, chứ chưa chủ động đáp ứng để mở rộng sang các thị trường tiềm năng chú trọng trách nhiệm xã hội, điều này khiến doanh nghiệp thiếu động lực để đạt được mục tiêu SA8000.

Chi phí cấp chứng nhận SA8000 và duy trì chuẩn SA8000 là một trong những rào cản lớn đối với doanh nghiệp Chi phí ban đầu để cải thiện cơ sở hạ tầng và thực hiện quy trình cấp chứng nhận chiếm một phần đáng kể tổng chi phí, chưa kể chi phí duy trì các tiêu chuẩn và chi phí cho các cuộc kiểm tra định kỳ Theo bà Alice Tepper Marlin, Chủ tịch kiêm Giám đốc điều hành của Tổ chức Trách nhiệm xã hội quốc tế (SAI), toàn bộ chi phí cho các hoạt động này có thể lên tới vài ngàn đến hàng chục ngàn đô la, và cứ mỗi ba năm doanh nghiệp sẽ phải chi tiếp khoản tương tự cho việc duy trì cải thiện Với Việt Nam, phần lớn doanh nghiệp dệt may là vừa và nhỏ, nên chi phí như vậy sẽ là rào cản lớn khiến nhiều doanh nghiệp không mặn mà với bộ tiêu chuẩn SA8000.

Nhận thức tiêu cực của các nhà quản trị về công khai báo cáo tài chính và kiểm tra định kỳ theo yêu cầu SA8000 được xem như rào cản khiến nhiều doanh nghiệp chưa tiếp cận chứng nhận Các doanh nghiệp chưa niêm yết hoặc chưa công khai báo cáo tài chính cho rằng công khai sẽ gây rủi ro và tiết lộ tình hình hoạt động, trong khi kiểm tra định kỳ được cho là xao nhãng hoạt động và làm giảm lợi nhuận Tuy nhiên, các giai đoạn kiểm kê và đánh giá điều kiện làm việc lại giúp ban lãnh đạo quan tâm kịp thời tới các điều kiện làm việc, tránh những hậu quả nghiêm trọng do bỏ sót Theo lý thuyết giá trị - lao động của Adam Smith, lao động là nguồn gốc và vốn tạo ra của cải; vì vậy đầu tư vào nguồn nhân lực luôn được ưu tiên Việc kiểm tra nhằm cải thiện điều kiện cho công nhân sẽ tăng sự gắn bó, nâng cao năng suất và từ đó kéo theo tăng lợi nhuận Do đó, đây là hoạt động thiết yếu mà doanh nghiệp nên tiếp cận với thái độ tích cực để tận dụng tối đa lợi thế từ SA8000 và kiểm tra định kỳ.

Hoạt động công đoàn cơ sở hiện vẫn yếu, mang tính hình thức và chưa thấu hiểu đầy đủ nhu cầu thực tế của người lao động nên chưa thể trở thành người đại diện đắc lực hay dẫn dắt người lao động nhận thức quyền và nghĩa vụ của mình với doanh nghiệp; từ đó công đoàn khó thu hút đoàn viên tham gia và không bảo vệ hiệu quả các lợi ích thiết thực, khiến doanh nghiệp khó đáp ứng các yêu cầu của SA8000 về tự do đoàn thể và quyền thương lượng tập thể Trong tương lai, doanh nghiệp cần đầu tư phát triển hoạt động công đoàn cơ sở phù hợp với thực tiễn như một công cụ hỗ trợ đắc lực để dễ dàng đạt được các tiêu chuẩn SA8000, đồng thời tăng cường sự tham gia, đại diện và bảo vệ quyền lợi cho người lao động.

Hơn thế nữa, tính pháp lý của SA8000 tại Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế và bất cập Bộ tiêu chuẩn này không được triển khai như một quy định do chính phủ các nước ban hành, mà chỉ là điều kiện ràng buộc giữa các đối tác xuất nhập khẩu với nhau Xét ở góc độ toàn cầu, SA8000 mới chỉ nhận được sự công nhận từ Bộ Ngoại giao Mỹ, Ủy ban châu Âu và Tổ chức Ân xá quốc tế Chính vì thiếu tính pháp định của thông lệ quốc tế và của quốc gia nên các doanh nghiệp e ngại khi có sai phạm tranh chấp sẽ rất khó được giải quyết kịp thời và thỏa đáng, từ đó tạo khoảng cách giữa doanh nghiệp và bộ tiêu chuẩn SA8000.

Như đã phân tích ở trên, hiện nay vẫn còn rất nhiều rào cản khiến phần lớn doanh nghiệp chưa đạt được chứng nhận Hệ thống trách nhiệm xã hội SA8000 Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày càng mạnh mẽ, yêu cầu về trách nhiệm xã hội và đạo đức kinh doanh cũng sẽ ngày càng cao Để tạo lợi thế cạnh tranh và giá trị riêng cho doanh nghiệp, các nhà quản trị cần chủ động nhận diện và vượt qua các khó khăn cản trở tiến trình hội nhập, hướng tới đạt chuẩn SA8000 và thúc đẩy sự phát triển vượt trội.

Khảo sát thực tiễn từ Công ty cổ phần Phụ liệu May Nha Trang (ISE)

Giải pháp

Ngày đăng: 15/08/2022, 22:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w