Vai trò của Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam từ năm 1960 đến năm 1975.Vai trò của Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam từ năm 1960 đến năm 1975.Vai trò của Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam từ năm 1960 đến năm 1975.Vai trò của Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam từ năm 1960 đến năm 1975.Vai trò của Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam từ năm 1960 đến năm 1975.Vai trò của Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam từ năm 1960 đến năm 1975.Vai trò của Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam từ năm 1960 đến năm 1975.Vai trò của Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam từ năm 1960 đến năm 1975.Vai trò của Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam từ năm 1960 đến năm 1975.Vai trò của Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam từ năm 1960 đến năm 1975.
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS.NGUYỄN BÌNH BAN
Phản biện 1: PGS.TS Nguyễn Đức Nhuệ
Phản biện 2: PGS.TS Lê Đình Sỹ
Phản biện 3: PGS.TS Nguyễn Đình Lê
Luận án được bảo vệ tại Hội đồng đánh giá Luận án cấp cơ sở tại
Học viện Khoa học xã hội Vào hồi phút, ngày tháng năm 2022
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Học viện Khoa học xã hội
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong 21 năm (1954-1975) tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đã chiến đấu bền bỉ, anh dũng, mưu trí, sáng tạo với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, vượt qua mọi khó khăn gian khổ, chịu nhiều đau thương mất mát, đã đánh bại hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa, làm sụp đổ bộ máy chiến tranh khổng lồ do đế quốc Mỹ dựng lên ở miền Nam Việt Nam
Trong thắng lợi vĩ đại đó có sự đóng góp to lớn của Công an nhân dân (CAND) nói chung và Ban An ninh Trung ương Cục (BANTƯC) miền Nam nói riêng Xuất phát từ tình hình và yêu cầu đặc thù của cách mạng miền Nam sau năm 1954, Trung ương Cục (TƯC) miền Nam quyết định thành lập Ban Bảo vệ an ninh Xứ ủy (sau đổi thành BANTƯC miền Nam năm 1960), đây là một “tổ chức cách mạng đặc biệt”, có chức năng, nhiệm vụ giúp TƯC lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức công tác an ninh ở miền Nam và xây dựng, chỉ đạo lực lượng ANMN tiến hành cuộc đấu tranh với các thế lực phản cách mạng, tình báo, gián điệp, công an, cảnh sát, phản động của Mỹ và chính quyền Sài Gòn ở miền Nam trong suốt thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước cho đến ngày toàn thắng 30-4-1975
BANTƯC từ khi ra đời đã không ngừng phát triển lớn mạnh về lực lượng, xây dựng bộ máy tổ chức hoàn chỉnh và đội ngũ cán bộ an ninh kiên cường bám trụ trên khắp các mặt trận làm thất bại mọi âm mưu thâm độc và các chương trình, kế hoạch chống phá cách mạng của các cơ quan tình báo, gián điệp Mỹ và chính quyền Sài Gòn BANTƯC đã trực tiếp chỉ đạo lực lượng ANMN khám phá nhiều vụ nội gián nguy hiểm, bảo vệ nội bộ, bảo vệ Đảng, bảo vệ căn cứ và lực lượng cách mạng; phát động quần chúng nhân dân tham gia phong trào “ngũ gia liên bảo”, “phòng gian bảo mật”; cùng các lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam liên tục tiến công địch, diệt ác, phá kìm, từng bước đánh thắng các chiến lược chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà
Chiến tranh đã lùi xa hơn 45 năm, nhưng đến nay chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu, chuyên biệt một cách đầy đủ, toàn diện, có hệ thống về vai trò, hoạt động tham mưu, lãnh đạo, chỉ đạo của BANTƯC trong giai đoạn lịch sử oanh liệt này Nghiên cứu vấn đề này, còn nhiều khoảng trống, trước hết cần luận giải tại sao nhất thiết phải có “một tổ chức trực tiếp lãnh đạo lực lượng an ninh miền Nam”, gánh vác
“sứ mệnh lịch sử” trực tiếp đương đầu, đấu tranh với các âm mưu, hoạt động, thủ đoạn
Trang 4xảo quyệt của cơ quan tình báo, gián điệp Mỹ và chính quyền Sài Gòn? vị trí, vai trò của BANTƯC trong việc tham mưu xây dựng và ban hành, từng bước bổ sung, hoàn chỉnh đường lối đấu tranh chống phản cách mạng ở miền Nam và vai trò trực tiếp chỉ đạo công tác ANMN; sự đóng góp về nhiều mặt của BANTƯC trong 15 năm tồn tại
và rút ra một số bài học kinh nghiệm có ý nghĩa với thực tiễn hiện nay
Với ý nghĩa đó, Nghiên cứu sinh chọn đề tài “Vai trò của Ban An ninh Trung
ƣơng Cục miền Nam từ năm 1960 đến năm 1975” làm đề tài luận án tiến sĩ lịch sử,
chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu: Phân tích, làm sáng tỏ vai trò của BANTƯC từ năm
1960 đến năm 1975, đúc kết những kinh nghiệm phục vụ công tác xây dựng lực lượng CAND hiện nay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án, gồm những công trình khoa học chung và những công trình khoa học CAND nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
- Phân tích tính tất yếu sự ra đời, phát triển về tổ chức, bộ máy của BANTƯC miền Nam từ năm 1960 đến năm 1975
- Làm rõ vai trò của BANTƯC miền Nam trong công tác tham mưu, lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức cuộc đấu tranh chống phản cách mạng, bảo vệ an ninh, trật tự ở miền Nam từ tháng 7-1960 đến ngày 30-4-1975
- Đánh giá những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân trong tham mưu, lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức công tác an ninh ở miền Nam của BANTƯC từ năm 1960 đến năm 1975; đồng thời rút ra một số bài học kinh nghiệm có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Vai trò của Ban An ninh Trung ương Cục trong
tham mưu, lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức cuộc đấu tranh chống phản cách mạng, bảo vệ
an ninh, trật tự ở miền Nam từ năm 1960 đến năm 1975
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: đề tài tập trung làm rõ sự cần thiết thành lập BANTƯC,
sự phát triển về tổ chức, bộ máy của BANTƯC miền Nam; làm rõ vai trò tham mưu và lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp toàn diện về mọi mặt cuộc đấu tranh chống phản cách mạng, bảo vệ an ninh, trật tự ở miền Nam
- Phạm vi về thời gian: từ tháng 7-1960 đến ngày 30-4-1975
Trang 5- Phạm vi về không gian: Địa bàn chỉ đạo và hoạt động của BANTƯC miền
Nam được quy định từ tỉnh Ninh Thuận đến Cà Mau (chiến trường B2)
4 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu
4.1 Cơ sở lý luận: Luận án được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận,
phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minhm trong đó sử dụng phương pháp duy vật biện chứng đặt đối tượng nghiên cứu là BANTƯC miền Nam trong mối liên hệ của TƯC, của Bộ Công an và của Đảng, Nhà nước; sử dụng phương pháp duy vật lịch sử đặt đối tượng nghiên cứu là BANTƯC miền Nam trong không gian, thời gian và tiến trình, quy luật phát triển của BANTƯC miền Nam Và quan điểm, đường lối đấu tranh chống phản cách mạng của Đảng, bảo đảm an ninh, trật tự trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
4.2 Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp chủ yếu là: phương pháp lịch sử
và phương pháp lôgic, kết hợp nhuần nhuyễn hai phương pháp đó trong suốt quá trình nghiên cứu luận án Ngoài ra, luận án còn sử dụng, vận dụng các phương pháp khác như: phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp tổng kết thực tiễn, phương pháp
so sánh, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp chuyên gia và một số phương pháp khác
4.3 Nguồn tài liệu
Luận án chủ yếu sử dụng nguồn tư liệu, bao gồm:
- Một số tác phẩm của các nhà lãnh đạo tiền bối Việt Nam như Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Trần Văn Giàu…
- Hệ thống Văn kiện Đảng toàn tập, từ tập 15 (1954) đến tập 36 (1975); hai cuốn sách Văn kiện Đảng về chống Mỹ, cứu nước Tập I (1954-1965), Tập II (1966-1975);
hệ thống văn kiện Trung ương Cục miền Nam giai đoạn (1946-1975) từ tập 7 1960) đến tập 18 (1974-1975)
(1957 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án đã được công bố như: sách, bài báo, tạp chí, bài viết, luận án tiến sĩ trong và ngoài nước…
- Các tài liệu, văn bản Chỉ thị, Nghị quyết, báo cáo tổng kết… của lực lượng
CAND và BANTƯC miền Nam
5 Đóng góp của luận án
- Luận án đã hệ thống hóa và cung cấp nhiều tài liệu mới có liên quan đến BANTƯC miền Nam giai đoạn 1954-1975, góp phần làm sáng tỏ hơn, phong phú
Trang 6hơn, đầy đủ hơn nhiều sự kiện, nhân vật lịch sử có liên quan đến lịch sử cách mạng Việt Nam, lịch sử Công an nhân dân trong thời kỳ chống Mỹ, cứu nước
- Đã phân tích và làm sáng tỏ những yếu tố tác động và quá trình hình thành, phát triển của BANTƯC miền Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, góp phần bổ sung tư liệu lịch sử; làm sáng tỏ thêm về tính tất yếu khách quan quyết định của Trung ương Đảng và TƯC miền Nam thành lập BANTƯC miền Nam trong những năm đầu thập niên 60 của thế kỷ XX và quá trình xây dựng tổ chức bộ máy và chức năng nhiệm vụ của Ban An ninh Trung ương Cục từ năm 1960 đến năm 1975 Trong đó tập trung làm rõ cơ cấu tổ chức bộ máy của Ban An ninh Trung ương Cục từ năm 1960 đến năm 1975 với 02 giai đoạn (1960-1965), (1965-1975) Ở mỗi giai đoạn chỉ rõ sự phát triển của hệ thống tổ chức bộ máy; cơ cấu lực lượng và số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ an ninh được bố trí và phát triển như thế nào nhằm đáp ứng yêu cầu cách mạng miền Nam trong từng giai đoạn cách mạng
- Luận án tập trung phân tích vai trò, chức năng của BANTƯC miền Nam trên
02 phương diện chủ yếu là: tham mưu đắc lực cho TƯC xây dựng, ban hành và từng bước hoàn chỉnh đường lối, chủ trương, chính sách, phương châm và các biện pháp lớn về công tác an ninh miền Nam; đồng thời đóng vai trò là cơ quan đầu não trực tiếp chỉ đạo, hướng dẫn công tác an ninh và xây dựng lực lượng ANMN trong suốt thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
- Đã tái hiện bức tranh toàn diện về cuộc đấu tranh chống phản cách mạng, bảo
vệ an ninh, trật tự ở miền Nam dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức, hướng dẫn của BANTƯC từ năm 1960 đến năm 1975
- Thông qua kết quả nghiên cứu, luận án chỉ ra những đóng góp quan trọng của Ban An ninh Trung ương Cục trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc nói chung, nhất
là trong cuộc đấu tranh làm thất bại các loại hình chiến tranh gián điệp, tình báo, bình định, chiêu hồi của Mỹ và chính quyền Sài Gòn ở miền Nam Việt Nam Từ việc nhận xét, đánh giá ưu, khuyết điểm, luận án đã rút ra được một số bài học kinh nghiệm trong quá trình Ban An ninh Trung ương Cục lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức cuộc đấu tranh chống phản cách mạng, xây dựng lực lượng an ninh, bảo vệ an ninh, trật tự ở miền Nam từ năm
1960 đến năm 1975 và ý nghĩa vận dụng vào công cuộc bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội và xây dựng lực lượng Công an nhân dân hiện nay
6 Kết cấu của luận án
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, Nội dung của luận án gồm 5 chương, 12 tiết
Trang 7Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
(Gồm 15 trang, trình bày từ trang 08 đến trang 22 của luận án)
1.1 Những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và chiến tranh Việt Nam
- Nghiên cứu luận giải nhiều vấn đề quan trọng, nêu bật những thành tựu và bài học bổ ích từ cuộc chiến tranh cách mạng và kháng chiến chống Mỹ của lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam và lực lượng nhân dân Nam Bộ, đó là 02 cuốn sách của
Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: “Tổng kết cuộc kháng chiến
chống Mỹ cứu nước-Thắng lợi và bài học”, “Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1975-Thắng lợi và bài học”, bộ sách 12 tập “Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975” do Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam chủ biên; cuốn sách “Lịch sử Nam Bộ kháng chiến 1954-1975, Tập II” của Hội đồng chỉ đạo biên soạn lịch sử Nam Bộ kháng chiến của tác giả Trần Bạch Đằng
1945 Một số luận án tiến sĩ lịch sử đã được bảo vệ thành công tiếp cận dưới góc độ chuyên ngành lịch sử Đảng, có “Đảng lãnh đạo cuộc đấu tranh chống phá “quốc sách” ấp chiến lược của Mỹ-ngụy ở miền Nam Việt Nam (1961-1965)” của tác giả Trần Thị Thu Hương; “Đảng lãnh đạo phong trào đấu tranh chống chương trình bình định của Mỹ và chính quyền Sài Gòn tại miền Đông Nam Bộ từ năm 1961 đến 1965” của tác giả Trần Như Cương… Và chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, có “Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trong giai đoạn 1969-1972 - chống phá bình định nông thôn ở Nam Bộ” của tác giả Hà Minh Hồng; “Căn cứ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ở cực Nam Trung Bộ (1954-1975)” của tác giả Chu Đình Lộc
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về Công an nhân dân và An ninh miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
- Các công trình phản ánh sự phát triển, chiến đấu của lực lượng CAND và sự ra đời, công tác, trưởng thành của lực lượng An ninh miền Nam, như: cuốn sách “Tổng kết lịch sử Công an nhân dân Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975)” do Viện Lịch sử Công an chủ biên; Trung tướng, PGS.TS Đặng Xuân Loan chỉ đạo biên soạn cuốn sách “Tổng kết lịch sử công tác Điệp báo an ninh miền Nam thời
kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975”; Thiếu tướng Ngô Quang Nghĩa chủ biên cuốn sách “An ninh miền Nam thời kỳ chống Mỹ 1954-1975”; Thiếu tướng
Trang 8Huỳnh Hữu Chiến chủ biên cuốn sách “Tổng kết lịch sử an ninh Khu IX thời kỳ chống
Mỹ, cứu nước (1954-1975)”; Thiếu tướng, PGS.TS Nguyễn Bình Ban chủ biên cuốn sách “Tổng kết lịch sử công tác An ninh vũ trang của lực lượng An ninh miền Nam thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975”…
- Các bài viết đăng trên Kỷ yếu Hội thảo khoa học cấp Bộ, cấp Quốc gia… đã tổng hợp, đánh giá về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, vai trò của lực lượng CAND (trong đó có lực lượng An ninh miền Nam), phải kể đến: bài viết “Đóng góp to lớn của lực lượng Công an nhân dân trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước” của Đại tướng, GS.TS Trần Đại Quang; bài viết “Những đóng góp của lực lượng Công an nhân dân trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968” của Đại tướng, GS.TS Tô Lâm; bài viết “Đảng lãnh đạo công tác An ninh ở miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước” của PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc; bài viết “Sự ra đời và phát triển của lực lượng An ninh miền Nam một tất yếu lịch sử của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước” của PGS.TS Nguyễn Văn Nhật; bài viết “Cuộc đấu trí, đấu lực với địch của lực lượng An ninh miền Nam góp phần quan trọng vào thắng lợi trong trận quyết chiến chiến lược mùa Xuân 1975” của Thiếu tướng, PGS.TS Nguyễn Bình Ban…
1.1.3 Các công trình nghiên cứu của nước ngoài về cuộc chiến tranh ở Việt Nam
Những công trình nghiên cứu như: cuốn sách “Tài liệu mật của Bộ Quốc phòng
Mỹ về cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Tập 1” của tác giả Nell Sheehan; cuốn sách“ Nhìn lại quá khứ - Tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam” của Robers S.McNamara…
1.2 Kết quả nghiên cứu của các công trình có liên quan và những nội dung luận án cần tiếp tục tập trung nghiên cứu
1.2.1 Kết quả nghiên cứu của các công trình có liên quan đến đề tài luận án
Qua tổng quan tình hình về các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án trên đây, cho thấy:
- Về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, được nhiều các cơ quan, ban, ngành
và các học giả nghiên cứu, tìm hiểu dưới góc độ khác nhau từ kinh tế, văn hóa, ngoại giao, an ninh, quốc phòng với cách tiếp cận từ nhiều chuyên ngành khoa học ở trong nước và cả ngoài nước, gồm sách chuyên khảo, sách lịch sử, đề tài khoa học, các bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành hoặc tạp chí khoa học, một số luận án tiến sĩ đã được bảo vệ thành công Tất cả các tư liệu, tài liệu đó là nguồn tài liệu chính thống, có xuất xứ rõ ràng đã được xử lý qua nghiên cứu, ít nhiều cũng giúp Nghiên cứu sinh
Trang 9tham khảo để có cái nhìn tổng thể trên nhiều lĩnh vực của cuộc kháng chiến chống Mỹ, của cuộc chiến tranh của Mỹ-ngụy ở miền Nam
- Hệ thống các công trình nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đã dựng lại bức tranh toàn cảnh, khá toàn diện về diễn biến, phản ánh tính chất ác liệt, gay go của cuộc đụng đầu lịch sử giữa dân tộc Việt Nam với các cơ quan đàn áp của Mỹ, chính quyền Sài Gòn ở miền Nam Việt Nam Nhiều công trình nghiên cứu đã nêu bật ý nghĩa thắng lợi và kinh nghiệm lịch sử ở từng lĩnh vực, đối tượng tiếp cận nghiên cứu
- Các công trình khoa học chuyên biệt đã đề cập đến nhiều mặt hoạt động của lực lượng CAND nói chung và lực lượng ANMN nói riêng trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ở miền Nam Song chỉ tập trung làm rõ vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng, TƯC, cấp ủy Đảng các cấp ở miền Nam đối với cuộc đấu tranh bảo vệ ANTT của lực lượng
an ninh ở miền Nam, hoặc làm rõ ở một số khía cạnh về hoạt động và vai trò của các lực lượng ANMN trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, như: vai trò và hoạt động của lực lượng điệp báo, an ninh vũ trang, trinh sát vũ trang
- Các công trình khoa học nghiên cứu của lực lượng CAND đã đề cập đến vai trò, sự chỉ đạo trực tiếp của Đảng đoàn và lãnh đạo Bộ Công an đối với cuộc đấu tranh bảo vệ ANTT ở miền Nam trên một số lĩnh vực Chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên biệt, chuyên sâu về vai trò tham mưu, lãnh đạo, chỉ đạo và những đóng góp to lớn của BANTƯC miền Nam trong tổ chức công tác ANMN, tổ chức cuộc đấu tranh bảo vệ ANTT ở miền Nam thời kỳ chống Mỹ, cứu nước
1.2.2 Những nội dung luận án tập trung nghiên cứu
Các công trình nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1975) là khá đồ sộ, phong phú, đa dạng về nhiều loại hình nghiên cứu cũng như trên nhiều lĩnh vực, mặt công tác, kể cả các công trình nghiên cứu chuyên khảo của ngành Công an cũng chưa có một nghiên cứu cụ thể nào trình bày một cách toàn diện và đánh giá về vai trò, đóng góp quan trọng của BANTƯC miền Nam từ năm 1960 đến năm
(1954-1975 Do đó, đề tài luận án sẽ tiếp tục tập trung nghiên cứu các vấn đề sau:
Thứ nhất, nghiên cứu vai trò của BANTƯC miền Nam từ năm 1960 đến năm
1975 không chỉ nhận biết rõ điều kiện, hoàn cảnh lịch sử, tính tất yếu khách quan về sự
ra đời, tồn tại và phát triển của một tổ chức cách mạng, mang trọng trách lớn lao mà Đảng giao phó - vừa xây dựng, phát triển tổ chức, bộ máy; vừa tham mưu, lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức, hướng dẫn công tác đấu tranh chống phản cách mạng, bảo vệ an
Trang 10ninh, trật tự ở miền Nam; dưới sự lãnh đạo trực tiếp, song trùng của TƯC và Đảng đoàn Bộ Công an Tất cả những yếu tố đó chưa được một công trình nào luận giải một cách hệ thống, đầy đủ, toàn diện, do vậy, luận án sẽ tập trung giải quyết mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra
Thứ hai, phân tích nhận thức và vận dụng sáng tạo quan điểm của Đảng về xây
dựng, tổ chức lực lượng vũ trang chuyên trách và đồng thời làm rõ vai trò chủ yếu của BANTƯC trong công tác tham mưu và hoạt động trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức cuộc đấu tranh chống phản cách mạng ở miền Nam Qua đó góp phần làm sáng tỏ và khẳng định tính đúng đắn trong đường lối, nguyên tắc, phương châm, chính sách của Đảng, TƯC, Bộ Công an về công tác ANMN; góp phần cung cấp luận cứ khoa học để hoạch định những vấn đề có tính chiến lược trong cuộc đấu tranh bảo vệ ANTT trong tình hình mới
Thứ ba, thông qua những thành công, hạn chế trong xây dựng tổ chức bộ máy
ANMN và vai trò của BANTƯC về chỉ đạo, hướng dẫn công tác ANMN thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, hiểu thêm nghệ thuật đấu tranh chống phản cách mạng, nghệ thuật chiến tranh nhân dân mang đặc thù của lực lượng CAND Việt Nam, rút ra những vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, những vấn đề có tính quy luật và kinh nghiệm quan trọng trong công tác xây dựng lực lượng CAND hiện nay
Thứ tư, nghiên cứu chỉ ra và khẳng định đóng góp to lớn thông qua hoạt động,
công tác, chiến đấu của đội ngũ cán bộ, chiến sĩ BANTƯC miền Nam và luận giải về một tổ chức cách mạng cùng những nhân tố con người trong đó đã hoàn thành nhiệm
vụ đặc thù do sứ mệnh lịch sử giao phó Qua đó chú ý coi trọng bồi dưỡng, giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, phẩm chất, lối sống cho các thế hệ cán bộ, chiến sĩ CAND hiện nay và mai sau Đây chính là vấn đề có giá trị lịch sử, tính nhân văn sâu sắc mà luận án sẽ tập trung nghiên cứu
Chương 2 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA BAN AN NINH TRUNG ƯƠNG CỤC MIỀN NAM TỪ NĂM 1960 ĐẾN NĂM 1975
(Gồm 33 trang, trình bày từ trang 23 đến trang 55 của luận án)
2.1 Sự cần thiết thành lập Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam
2.1.1 Đặc điểm cách mạng Việt Nam sau năm 1954
Hòa bình lập lại sau Hiệp định Genève (ngày 21-7-1954) công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam Theo điều khoản của Hiệp định, Việt Nam tạm thời chia cắt làm 02 miền với hai chế độ chính trị khác nhau: miền
Trang 11Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội; miền Nam tạm thời thuộc quyền kiểm soát của chính quyền Ngô Đình Diệm, có sự tiếp sức của đế quốc Mỹ
Ngày 13-6-1954, Mỹ đưa Ngô Đình Diệm từ Mỹ về miền Nam; ngày
26-10-1955, Ngô Đình Diệm tuyên bố thành lập chính quyền Việt Nam cộng hòa; ngày
4-3-1956, Ngô Đình Diệm tổ chức tuyển cử, lập quốc hội bù nhìn Việt Nam cộng hòa, phân chia lại các đơn vị hành chính, xúc tiến cải tổ các cơ quan đàn áp cũ của Pháp, xây dựng bộ máy chính quyền và một lực lượng quân đội hoàn toàn thân Mỹ
2.1.2 Yêu cầu khách quan thành lập Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam
Theo sự chỉ đạo của Trung ương Đảng và TƯC miền Nam, lực lượng cách mạng được bố trí lại, lực lượng Công an miền Nam đã kịp thời chuyển hướng tư tưởng và tổ chức, đại bộ phận cán bộ công an tập kết ra Bắc, số cán bộ công an ở lại rút vào hoạt động bí mật và phục vụ nhiệm vụ mới của Đảng
Tháng 10-1954, Hội nghị thành lập Xứ ủy Nam Bộ được tổ chức, đồng chí Lê Duẩn, Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng được cử làm Bí thư
Đầu năm 1955, theo quyết định của Xứ ủy, Ban Địch tình Xứ ủy được thành lập, do
các đồng chí: Văn Viên, Xứ ủy viên làm Trưởng ban và các Phó Trưởng ban: đồng chí Mai Chí Thọ, Cao Đăng Chiếm, Hoàng Minh Đạo, Trần Quốc Hương Ban Địch tình
Xứ ủy có nhiệm vụ xây dựng và chỉ đạo cơ sở điệp báo trong các cơ quan chính quyền địch, xây dựng căn cứ, bảo vệ cấp ủy Các khu ủy, tỉnh ủy, thành ủy ở miền Nam thành lập Ban Địch tình trực thuộc do cấp ủy đảng tổ chức và lãnh đạo Ban Địch tình Xứ ủy
đã trực tiếp tổ chức được nhiều lưới điệp báo theo 4 hệ: hệ chính trị, có 6 lưới do đồng chí Mai Chí Thọ phụ trách; hệ phản gián, có 5 lưới do đồng chí Cao Đăng Chiếm phụ trách; hệ chiến lược, có 10 lưới do đồng chí Trần Quốc Hương phụ trách; hệ quân sự,
có 6 lưới do đồng chí Hoàng Minh Đạo phụ trách
Ngày 30-1-1959, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam họp Hội nghị lần thứ 15 (mở rộng, khóa II) tại Hà Nội đã ra Nghị quyết xác định phương hướng, nhiệm vụ cách mạng miền Nam Tháng 7-1960, để đáp ứng yêu cầu bảo vệ Đảng, bảo vệ cách mạng, chủ động tấn công địch trong tình hình mới Đồng chí
Nguyễn Văn Linh, Bí thư Xứ ủy Nam Bộ ra Chỉ thị thành lập Ban Bảo vệ an ninh Xứ
ủy và Ban Bảo vệ an ninh các cấp Chỉ thị nêu rõ: “Trước nay Đảng dựa vào quần chúng, lấy quần chúng làm nền tảng để đấu tranh bảo vệ Đảng, điều đó rất đúng cần phải tiếp tục Đã đến lúc cần có một tổ chức chuyên trách đi sâu điều tra nghiên cứu, giúp Đảng nắm tình hình để tổ chức tiến công địch, bảo vệ Đảng, bảo vệ cách mạng”
Ban Bảo vệ an ninh Xứ ủy thành lập do đồng chí Phạm Thái Bường, Xứ ủy viên làm
Trang 12Trưởng ban; đồng chí Cao Đăng Chiếm, Huỳnh Việt Thắng làm Ủy viên Ban Lần lượt Ban Bảo vệ an ninh các cấp được thành lập ở các khu, tỉnh, thành phố, huyện
2.2 Sự phát triển về tổ chức bộ máy của Ban An ninh Trung ƣơng Cục miền Nam
2.2.1 Tổ chức bộ máy Ban An ninh Trung ương Cục và hệ thống an ninh các cấp ở miền Nam giai đoạn 1960-1965
Ngày 23-1-1961, tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam lần thứ III (khóa III) đã quyết định giải thể cơ quan Xứ ủy Nam Bộ và thành lập Trung ương Cục miền Nam, đồng chí Nguyễn Văn Linh (Mười Cúc), Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Xứ ủy Nam Bộ được cử làm Bí thư Trung ương Cục Đối với tổ chức của ngành An ninh, để phù hợp với hệ thống tổ chức mới của
TƯC, Ban An ninh Trung ương Cục là tên gọi mới trên cơ sở tổ chức bộ máy của Ban
Địch tình Xứ ủy Nam Bộ (từ tháng 1-1955 đến tháng 7-1960), Ban Bảo vệ an ninh Xứ
ủy Nam Bộ (từ tháng 7-1960 đến tháng 10-1961) được thành lập trước đó và được
củng cố thêm một bước về tổ chức, từng bước bố trí thành các bộ phận nghiệp vụ chuyên sâu Nhiệm vụ của BANTƯC là bảo vệ an toàn khu căn cứ, vùng giải phóng; chống gián điệp; xây dựng cơ sở an ninh mật trong các khu, ấp chiến lược, vùng địch kiểm soát, diệt ác ôn; phối hợp cùng các lực lượng tại chỗ đánh địch lấn chiếm, làm thất bại các biện pháp chiến lược và chiến thuật của địch; bảo vệ nội bộ; đào tạo cán bộ cho ngành Đồng thời, TƯC chủ trương giao toàn bộ hệ tình báo chiến lược, quân sự cho tham mưu Quân giải phóng Miền và hệ tình báo chính trị, phản gián về BANTƯC Tháng 8-1962, Ban Thường vụ TƯC quyết định chỉ định Ban lãnh đạo BANTƯC, gồm có: đồng chí Phan Văn Đáng, Phó Bí thư TƯC làm Trưởng ban; đồng chí Cao Đăng Chiếm, Phó trưởng Ban; các ủy viên: đồng chí Huỳnh Việt Thắng, Lê Văn Còn, Huỳnh Anh, Thái Doãn Mẫn BANTƯC lập các bộ phận công tác chuyên sâu (tiểu ban) trực thuộc: Văn phòng (bí danh B1); tiểu ban Bảo vệ chính trị (B2); tiểu ban Điệp báo (B3); tiểu ban Bảo vệ nội bộ, cơ quan Cảnh vệ (B4); Trung đội bảo vệ vũ trang (B5); Tổ cơ yếu, điện đài; Bộ phận sản xuất
Từ năm 1961, Ban Bảo vệ an ninh các cấp lần lượt được thành lập: ngày
19-3-1961, thành lập Ban Bảo vệ an ninh khu Sài Gòn-Gia Định (T4); giữa năm 19-3-1961, Ban Bảo vệ an ninh khu miền Đông Nam Bộ (T1) thành lập; tháng 1-1962, Ban Bảo vệ an ninh khu IX (khu miền Tây Nam Bộ-T3) thành lập; giữa quý I năm 1962, Ban Bảo vệ an ninh khu VIII (khu Trung Nam Bộ-T2) thành lập; cuối quý I năm 1962, Ban An ninh Khu X (gồm các tỉnh Bình Long, Phước Long, Quảng Đức) thành lập; ngày 17-5-1962,
Trang 13Ban Bảo vệ an ninh Khu VI thành lập; đầu năm 1962, Ban bảo vệ an ninh Khu V thành lập Theo đó, hệ thống an ninh từ tỉnh xuống các huyện, xã cũng được hình thành Công tác Đảng và phát triển đảng viên cũng được BANTƯC quan tâm và dần đi vào nề nếp Tháng 10-1962, Đại hội Đảng bộ BANTƯC nhiệm kỳ I tổ chức, đồng chí Huỳnh Việt Thắng được bầu làm Bí thư Đảng ủy Tháng 7-1963, tổ chức Đoàn thanh niên cơ quan BANTƯC thành lập Tháng 4-1964, Đại hội Đảng bộ BANTƯC nhiệm
kỳ II tổ chức, đồng chí Ngô Quang Nghĩa được bầu làm Bí thư
Từ năm 1963, BANTƯC thành lập thêm 02 bộ phận mới: tiểu ban Chấp pháp trại giam và Trường An ninh Trung ương Cục miền Nam làm nhiệm vụ đào tạo, huấn luyện, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ an ninh các cấp cho an ninh miền Nam
2.2.2 Xây dựng, kiện toàn tổ chức bộ máy, phát triển đội ngũ cán bộ an ninh đáp ứng yêu cầu cách mạng miền Nam giai đoạn 1965-1975
Đến cuối năm 1965, hệ thống tổ chức của ANMN đã hình thành từ TƯC đến các khu, tỉnh, huyện và xã Tổ chức bộ máy của BANTƯC và các khu, tỉnh hầu hết đều có các bộ phận: Văn phòng, Bảo vệ chính trị, Điệp báo và An ninh đô thị, Bảo vệ căn cứ, Chấp pháp trại giam, An ninh vũ trang và Bảo vệ trị an, Trường an ninh
Tháng 7-1967, Đại hội Đảng bộ BANTƯC nhiệm kỳ III tổ chức, đồng chí Lê Văn Còn (Mười Thạnh) được bầu làm Bí thư Tháng 12-1969, Đại hội Đảng bộ BANTƯC nhiệm kỳ IV tổ chức, đồng chí Lê Văn Còn (Mười Thạnh) được bầu làm Bí thư
Tổ chức bộ máy của BANTƯC năm 1969:
+ Ban lãnh đạo: đồng chí Phạm Thái Bường làm Trưởng ban; các Phó Trưởng
ban: đồng chí Cao Đăng Chiếm, Lâm Văn Thê, Nguyễn Quang Việt; các ủy viên: đồng chí Nguyễn Văn Còn, Nguyễn Hoàn, Huỳnh Việt Thắng, Nguyễn Tài, Thái Doãn Mẫn, Huỳnh Anh
+ Các tiểu ban: (1) Văn phòng; (2) Tiểu ban Bảo vệ chính trị; (3) Tiểu ban Bảo
vệ nội bộ và Cảnh vệ; (4) Tiểu ban An ninh đô thị; (5) Tiểu ban An ninh vũ trang; (6) Tiểu ban Chấp pháp - trại giam; (7) Tiểu ban Tuyên huấn; (8) Tiểu ban Chính trị (tổ chức cán bộ, chính trị); (9) Nhà trường; (10) Tiểu ban Hậu cần
Ngày 1-8-1970, Hội đồng Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra Nghị định số 112/NĐ về tổ chức, nhiệm vụ của Nha an ninh, đồng chí Huỳnh Việt Thắng làm Giám đốc và đồng chí Hồ Văn Đại làm Phó Giám đốc Nha An ninh Song thực chất mọi công tác an ninh đều do BANTƯC chỉ đạo, điều hành Tháng 10-1972, Đảng bộ BANTƯC tiến hành Đại hội nhiệm kỳ V trên đất Bạn Campuchia, đồng chí Ngô Quang Nghĩa dược bầu làm Bí thư