TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC KHOA KHOA HỌC XÃ HÔI BÀI TẬP LỚN MÔN CƠ SỞ VĂN HÓA CHỦ ĐỀ GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT CỦA CHÈO XƯA VÀ NAY GVHD Thực hiện MSV Khoa KT QTKD Thanh Hoá 2022 MỤC LỤC PHẦN I MỞ ĐẦU 1 1 1 Đặt.
Trang 2Thanh Hoá - 2022
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN I: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đính nghiên cứu 1
1.3 Một vài nét về vấn đề nghiên cứu 1
PHẦN II: NỘI DUNG 5
2.1 Nguồn gốc ra đời 5
2.2 Đặc trưng và phân loại chèo 6
2.3 Một sô tác phẩm và diển viên chèo nổi tiếng 10
2.4 Giá trị của chèo 10
2.5 Nghệ thuật chèo xưa và nay 14
2.6 Những vấn đề đặt ra đối với việc duy trì và phát triển nghệ thuật chèo ở Việt Nam hiện nay 16
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ GIẢI PHÁP 17
3.1 Kết luận 17
3.2 Giải pháp để phát huy giá trị cảu chèo trong xã hội hiện nay 17
TÀI LIỆU THAM KHẢO 19
Trang 4PHẦN I: MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Đã hàng trăm năm nay nghệ thuật chèo, tuông, múa rối nước, dân ca,quan họ … là những loại hình nghệ thuật truyền thống của dân tộc ta Trong đónghệ thuật chèo rất được người dân bắc việt nam rất là yêu thích, đặc biệt phổbiến ở đồng bằng song hồng
Ngay cả ở thời kỳ hiện nay thời kỳ của tv, điện ảnh, radio, nếu không cóchèo chúng ta củng sẻ không hình dung được đời sống văn hóa và tinh thần củangười dân ơ các vùng nông thôn như thế nào đươc
Chèo là một loại hình sân khâu dân dan sinh ra ở đồng bằng bắc bộ, vùngmiền vốn giàu có với các điệu hòa, các bài ca dao dân ca, tuc ngữ các chuyêncười dân dan ví von, ẩn du Con người, quộc song, cảnh vật được yên sâu vàocác câu chuyện được biểu diển trên sân khấu đình qua các chiếu chèo Trải quathời gian hình thành, bồi đắp và phát triển, sang lọc kỉ càng đã hình thành ra mộtnghệ thuật chèo độc đáo, sinh đông
Nghệ thuật đối với người dân việt nam vừa la sân khâu, âm nhac, thơ ca
và là nguồn duy trì đời sống tinh thần Qua các chiếu chèo đã tái hiện quộc sống,con người, xã hội-chính trị một cách chân thực nhất
Lý do em chọn chọn chủ đề về chèo vì chèo là một trong các lọa hình sânkhấu nghệ thuật lâu đời và truyền thống của dân tộc Hiện nay chèo đang bị maimột đi thông qua bài nay e muốn truyền tải ý nghĩa và tầm quan trong của chèo
để moại người thấy được gái trị của chèo đê chung tay bảo vệ văn hóa hát chèo
1.2 Mục đính nghiên cứu
Nghiên cứu giá trị nghệ thuật của chèo xưa và nay, Từ đó đưa ra biệnpháp để phát huy nghệ thuật chèo
1.3 Một vài nét về vấn đề nghiên cứu
Chèo là loại hình nghệ thuật sân khấu dân gian Việt Nam Chèo mang tínhquần chúng và được coi là một loại hình sân khấu của hội hè với đặc điểm sửdụng ngôn ngữ đa thanh, đa nghĩa kết hợp với lối nói ví von, giàu tính tự sự, trữ
Trang 5tình Qua nhiều thời kỳ lịch sử, Chèo đã có một vị trí hết sức quan trọng trongđời sống văn hóa tinh thần của nhân dân Sân khấu Chèo được sáng tạo ra từ tâmhồn trí tuệ người dân lao động, là nơi gắn kết tình cảm cộng đồng, làng xã.
Từ lâu, các nhà nghiên cứu nghệ thuật đã khẳng định: Nam Định là mộttrong những vùng mà nghệ thuật Chèo xuất hiện sớm và tồn tại lâu dài của vùngchâu thổ sông Hồng Lễ hội truyền thống là nơi lưu giữ, truyền tải các giá trị vănhóa dân tộc
Trong hội làng ở Nam Định không thể thiếu vắng chiếu Chèo sân đình.Ngày xưa, vào những ngày xuân hay nông nhàn, những phường Chèo (gồm từ
10 đến 15 người) như những khách chơi xuân gánh hòm đồ trên vai đi xin đám ởcác làng Nơi diễn là một tấm chiếu hoa trải ở sân đình, một tấm màn nhỏ ngănnơi diễn với hậu trường Trang trí khu vực diễn là khung cảnh ngày hội: cây nêu,những lá cờ ngũ sắc, những bức cửa vòm sơn son thiếp vàng… Mở đầu buổidiễn bao giờ cũng là “thi nhịp” – một hình thức đồng tấu của các loại nhạc cụ gõ
từ trống cái, trống đế, trống cơm, trống bộc, sanh tiền, mõ, thanh la… Nghenhững âm thanh rộn rã, sôi động ấy, nghệ sĩ cất bài ca “vỡ nước”, nội dung chúcdân làng một năm làm ăn thịnh vượng, đồng thời cũng là hình thức khai giọngcủa diễn viên trước khi vào trò Dân làng thi nhau xúm quanh ba mặt chiếuChèo, lúc này một chú hề ra múa “dẹp đám” để đám đông khỏi lấn vào nơi diễn,hoặc một lớp “giáo đầu” giới thiệu nội dung trò diễn và sân khấu dần thu hút sựchú ý của khán giả
Nam Định là tỉnh ven biển có nền văn hóa phong phú và đa dạng: Ca dao,tục ngữ, truyền thuyết, các trò chơi dân gian, diễn xướng, âm nhạc, sân khấu, rốinước, rối cạn…, đặc biệt là những phường Chèo, gánh Chèo nổi tiếng xứ Nam.Qua nhiều thời kỳ lịch sử, Chèo đã giao thoa với các loại hình khác như hát Văn,hát Xẩm…, tiếp nhận hơi thở của từng thời đại, không ngừng được bổ sung,hoàn thiện nhưng vẫn giữ được chất cổ Trong Chèo luôn sử dụng vốn dân ca,tục ngữ, ca dao phong phú của một vùng quê nơi cuộc sống dựa vào sản xuấtnông nghiệp là chính, tuy mang âm hưởng chung của cư dân đồng bằng Bắc Bộnhưng vẫn có nội dung sâu lắng riêng của Nam Định:
Trang 6“Hỡi cô thắt dải lưng xanh
Có về Nam Định với anh thì vềNam Định có bến Đò Chè
Có nghề dệt vải có nghề ươm tơ”
Những sự tích, truyền thuyết dân gian đã được truyền tải qua lời ca,những tích trò trên sân khấu Chèo Có thể nói, nghệ thuật Chèo mà ông cha ta đểlại là loại hình nghệ thuật lâu đời nhất của dân tộc Từ những câu chuyện dângian, ca dao, đồng dao, dân ca đến những ứng xử trong lao động sản xuất vàsinh hoạt hàng ngày, từng bước được sân khấu hóa, cha ông ta đã soạn thànhnhững tích, câu chuyện có bắt đầu và có kết thúc, rồi từ các tích dựng thành cáctrò diễn Số phận các nhân vật được thể hiện qua các lớp trò bằng nói, hát, múa
và tích được kể lại theo trình tự thời gian Nghệ thuật Chèo được hình thành trênnền văn nghệ dân gian, như một loại hình sân khấu mang tính kể chuyện của dântộc
Chèo là sự kết tinh và thể hiện sự sinh động trong văn hóa Việt, trong đótính cộng đồng được xem như một đặc điểm quan trọng Chèo Nam Định xuấthiện và phát triển trên nền tảng của văn hóa Nam Định mang tính cộng đồng caotrong truyền thống đoàn kết chống giặc ngoại xâm cũng như trong sinh hoạt đờithường “tình làng nghĩa xóm” … Từ nền văn hóa truyền thống có một bề dàylịch sử từ dân ca, dân vũ, trò chơi, lễ hội hay những phong tục về tâm linh củangười dân Nam Định, sân khấu Chèo đã hình thành và phát triển
Cùng với thời gian, Chèo đã trở thành bộ môn nghệ thuật chuyên nghiệp
có một vị trí vững chắc ở Nam Định
Trong Chèo cổ, từ xa xưa, chất liệu dân ca các miền đã được Chèo hóalàm phong phú thêm chất liệu và truyền tải những cung bậc tình cảm khác nhau
và qua đó cũng làm nên những đặc trưng Chèo vùng miền Ví dụ như làn điệu
“Hề mồi đồn rằng” có gốc cùng với Trống cơm; “Ru kệ”, “Vãn ba than” bắtnguồn từ âm nhạc nhà chùa; “Bình điếu ngự” mang tính chất Ả đào rất rõ; lànđiệu “Hát hầu Bà chúa con cua” được chuyển hóa từ điệu Chầu dọc trong hátChầu văn Đây là hình thức lễ nhạc gắn liền với nghi thức Hầu đồng của tín
Trang 7ngưỡng Tứ phủ và tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần – một tín ngưỡng dân gianphổ biến ở Nam Định Bằng cách sử dụng âm nhạc mang tính tâm linh với cáclời văn trau chuốt nghiêm trang, chầu văn được coi là hình thức ca hát mang ýnghĩa chầu thánh Hát Văn có xuất xứ ở vùng đồng bằng Bắc Bộ mà Nam Địnhđược coi là cái nôi sinh ra và nuôi dưỡng, phát triển loại hình nghệ thuật này Vàngược lại, có nhiều làn điệu xưa và nay cả trong Chèo cổ lẫn trong Hát Văn đều
sử dụng như: nói Sử, nói Thơ… Do đó, nhận định sự giao thoa của nghệ thuậtChèo và Chầu văn ở Nam Định là có cơ sở
Các điệu Dọc: Âm nhạc khúc triết, kết cấu rõ ràng, tính chất khỏe khoắnthường được dùng ở các giá Quan lớn, giá Ông Hoàng, giá các Cô (đồng bằng.Sau khúc nhạc dạo là vào câu chính Giữa hai trổ hát là đoạn nhạc chen
Trang 8PHẦN II: NỘI DUNG 2.1 Nguồn gốc ra đời
Nếu sân khấu truyền thống Trung Quốc có đại diện tiêu biểu là Kinh kịchcủa Bắc Kinh, sân khấu Nhật Bản là Kịch nô thì đại diện tiêu biểu nhất củasân khấu truyền thống Việt Nam là Chèo.Kinh đô Hoa Lư (Ninh Bình) là đất tổcủa sân khấu chèo, người sáng lập là bà Phạm Thị Trân, một vũ ca tài ba tronghoàng cung nhà Đinh, sau phát triển rộng ra đồng bằng Bắc Bộ Địa bàn phổbiến từ Nghệ An, Hà Tình trở ra Chèo được xây dựng trên cơ sỏ trò nhại và hátmúa dân gian Qua thời gian, người Việt đã phát triển các tích truyện ngắn củaChèo dựa trên các trò nhại này thành các vỏ diễn trọn vẹn dài hơn Sự phát triểncủa Chèo có một mốc quan trọng là thời điểm một binh sĩ quân đội Mông cổ bịbắt ở Việt Nam vào thế kỷ XIV Binh sĩ này vốn là một diễn viên nên đã đưanghệ thuật Kinh kịch của Trung Quốc vào Việt Nam Trước kia, Chèo chỉ cóphần nói và ngâm các bài dân ca, nhưng do ảnh hưởng của nghệ thuật do ngườilính bị bắt mang tới, Chèo có thêm phần hát Vào thế kỷ XV, vua Lê Thánh
Tông đã không cho phép biểu diễn Chèo trong cung đình, do chịu ảnh hưỏng
của đạo Khổng Do không được triều đình ủng hộ, Chèo trở về với những ngườihâm mộ ban đầu là nông dân, kịch bản từ truyện viết bằng chữ Nôm Tới thế kỷXVIII, hình thức Chèo được phát triển mạnh ở vùng nông thôn Việt Nam và tiếptục phát triển, đạt đến đỉnh cao vào cuối thế kỷ XIX Những vở nổi tiếng nhưQuan Ầm Thị Kính, Lưu Bình Dương Lễ, Kim Nham, Trương Viên xuất hiệntrong giai đoạn này Đến thế kỷ XIX, Chèo ảnh hưởng của Tuồng, khai thác một
số tích truyện như Tống Trân, Phạm Tải, hoặc tích truyện Trung Quốc như Hán
Sở tranh hùng Đầu thế kỷ XX, Chèo được đưa lên sân khấu thành thị trỏ thànhChèo văn minh Có thêm một số vở mới ra đời dựa theo các tích truyện cổ tích,truyện Nôm như Tô Thị, Nhị Độ Mai.Đồng bằng châu thổ sông Hồng luôn là cáinôi của nền văn minh lúa nước của người Việt Mỗi khi vụ mùa được thu hoạch,
họ lại tổ chức các lễ hội để vui chơi và cảm tạ thần thánh đã phù hộ cho vụ mùa
no ấm Nhạc cụ chủ yếu của Chèo là trống Chèo Chiếc trống là một phần củavăn hoá cổ Việt Nam, người nông dân thường đánh trống để cầu mưa và biểu
Trang 9diễn Chèo Một số làng Chèo nểi tiếng như Thái Bình, Hưng Yên, Nam Định
Nhưng có một số ý kiến cho rằng chèo có nguồn gốc ngoại lai, bắt đầu từ
sự kiện quân ta cầm giữ nghệ nhân Lý Nguyên Cát ở trận Tây Kết; – Chèo khởilên từ Trịnh Trọng Tử cho quân hát khúc Long ngân đang khi đưa tang vua TrầnNhân Tông: – Danh xưng chèo do ghi Nôm, dịch chữ Hán ra; hoặc từ chữ Trào(trào lộng) mà ra; hoặc chữ chèo do phát âm sai mà thành chèo; do phiên Nôm,dịch Hán đồng dạng những chữ chào (chào mừng), chữ chầu (chầu thần thánh),chữ triều (triều đình, đọc thành trào đình)… – Chèo chỉ động tác chèo thuyền,
đề nói nguồn gốc chèo xuất phát từ trò tang lễ và lao động; – Chèo là hình thứcsân khấu thuần tuý dân tộc, bắt nguồn từ kho tàng văn hoá nghệ thuật dân gianphong phú lâu đời Việt Nam; – Về thời điểm thành hình, có những ý kiến chochèo có ở nước ta từ thời tiền sử, thế kỷ thứ IV trước Công nguyên đến thế kỷthứ I sau Công nguyên; hoặc thế kỷ thứ X (thời nhà Ðinh); hoặc thế kỷ XIV(cuối nhà Trần);…
2.2 Đặc trưng và phân loại chèo
2.2.1 Đặc trưng của chèo
Về mặt nội dung, không giống như Tuồng – chỉ ca tụng hành động anhhùng của các giới quyển quý, Chèo miêu tả cuộc sống bình dị của ngườidân nông thôn, thể hiện khát vọng sống thanh bình giữa một xã hội phong kiếnđầy bất công Nhiều vở Chèo còn thể hiện cuộc sống vất vả của người phụ nữsẵn sàng hy sinh bản thân vì người khác Nội dung của các vỏ Chèo lấy
từ những truyện cổ tích, truyện Nôm; được nâng lên một mức cao bằng nghệthuật sân khấu mang giá trị hiện thực và tư tường sâu sắc Trong Chèo, cái thiệnluôn tháng cái ác, các sĩ tử tốt bụng, hiền lành luôn đỗ đạt, làm quan còn người
vợ thì tiết nghĩa, cuối cùng sẽ được đoàn tụ với chồng Các tích trò chủ yếu lấy
từ truyện cổ tích, truyện Nôm; ca vũ nhac từ dân ca dân vũ; lời thơ chủ yếu làthơ dân gian Lối Chèo thường diễn những việc vui cười, những thói xấu củangười đời như các vai: Thầy mù, Hương câm, Đồ điếc… Ngoài ra, Chèo còn thểhiện tính nhân đạo, như trong vồ Trương Viên Chèo thường được phân loạithành chèo sân đình, chèo cải lương, chèo chải hê và Chèo hiện đại
Trang 10Về tính chất, Chèo luôn gắn với chất “trữ tình”, thể hiện những xúc cảm
và tình cảm cá nhân của con người, phản ánh mối quan tâm chung của nhân loại:tình yêu, tình bạn, tình thương Các nhân vật trong Chèo thường mang tính ước
lệ, chuẩn hóa và rập khuôn Tính cách của các nhân vật trong Chèo thườngkhông thay đổi vdí chính vai diễn đó Những nhân vật phụ của Chèo có thể đổi
đi và lắp lại ở bất cứ vở nào, nên hầu như không có tên riêng Có thể gọi họ làthầy đồ, phú ông, thừa tướng, thư sinh, hề, v.v… Tuy nhiên, qua thời gian, một
số nhân vật như Thiệt Thê, Thị Kính, Thị Mầu, Súy Vân đã thoát khỏi tính ước
Về kỹ thuật kịch, chèo là loại hình nghệ thuật tổng hợp các yếu tố dân ca,
dân vũ và các loại hình nghệ thuật dân gian khác ỏ vùng đồng bằng Bắc Bộ Nó
là hình thức kể chuyện bằng sân khấu, lấy sân khấu và diễn viên làm phươngtiện giao lưu vối công chúng và có thể được biểu diễn ngẫu hứng Sân khấu dângian đơn giản, những danh từ Chèo sân đình, chiếu Chèo cũng phát khỏi từ đó
Đặc điểm nghệ thuật của chèo bao gồm yếu tố kịch tính, kỹ thuật tự sự,phương pháp biểu hiện tính cách nhân vật, tính chất ước lệ và cách điệu Ngônngữ Chèo có những doạn sử dụng những câu thơ chữ Hán, điển cố, hoặc nhữngcâu ca dao với khuôn mẫu lục bát rất tự do, phóng khoáng về câu chữ
Chèo không có cấu trúc cố định năm hồi một kịch như trong sân khấuchâu Âu mà các nghệ sĩ tham gia diễn Chèo thường ứng diễn Do vậy, vở kịchkéo dài hay cắt ngắn tuỳ thuộc vào cảm hứng của người nghệ sĩ hay đòi hỏi củakhán giả Không giống các vỏ opera buộc các nghệ sĩ phải thuộc lòng từng lời
và hát theo nhạc trưỏng chỉ huy, nghệ sĩ Chèo được phép tự do bể làn, nắn điệu
Trang 11để thể hiện cảm xúc của nhân vật Số làn diệu chèo theo ước tính có khoảng trên
200
Nhạc cụ trong nghệ thuật Chèo thường bao gồm hai loại nhạc cụ dây làđàn Nguyệt và đàn Nhị, đồng thời, thêm cả Sáo Ngoài ra, các nhạc công còn sửdụng thêm trông và chũm chọe Bộ gõ nếu đầy đủ thì có trống Cái, trống Con,trống Cơm, Thanh la, Mõ Trông Con dùng để giữ nhịp cho hát, cho múa vàđệm cho câu hát Có câu nói “phi trông bất thành Chèo”, chỉ vị trí quan trọngcủa chiếc trống trong đêm diễn Chèo Trong Chèo hiện đại có sử dụng thêm cácnhạc cụ khác để làm phong phú thêm phần đệm như đàn Thập lục, đàn Tam thậplục, đàn Nguyệt, Tiêu, v.v…
Hát chèo là thành phần cơ bản trong nghệ thuật Chèo, hình thức hát lấygiọng (âm sắc) mùi, chòi, ấm, ồ để phân vào các nhân vật mà không lấy tầm cữlàm chuẩn mực như nhạc kịch châu Âu
Hát chèo có hai loại giọng: giọng nữ (kim), giọng nam (thổ) và có mấyđặc điểm sau: hát hơi ngoài, hát giọng thật, không dùng giọng giả; hát phảivang, to, khi lên cao không dùng hơi “mé” (giọng giả) Vị trí cộng minh(soang vang) có tác dụng “đưa hơi” trên cơ sỏ kết hợp giữa hơi cổ, hơi mũi vàhơi miệng (hàm ếch) Khi ngân rung không chấn động mạnh mà chỉ gợn lànsóng nhỏ, chỉ ngân rung khi chuyển sang âm đơn (thường là i) Nhả chữ: khihát các chữ phải bật ra thật gọn, rõ, khi chuyển sang các nguyên âm mối ngân.Hơi thỏ: hít thật sâu xuống đáy cuống phổi (các nghệ nhân gọi là hơi bụng hay
“đan điền”) Giữ giọng: không gào thét, nói, cười quá mức; không tắm lạnh, lộibùn ao; khi đói không ăn cơm quá nóng, trước khi biểu diễn không ăn cơm no,uống nước nhiều; có thể ăn chanh chấm muối, uống nước rau má, v.v…
2.2.2 Phân loại chèo
Trên thực tế hiện nay có rất nhiều các loại hát Chèo khác nhau Tùy thuộcvào đặc điểm mà chia ra thành 4 loại Chèo như sau:
Chèo sân đình
Chèo sân đình đúng như cái tên của nó, thường được biểu diễn ở sân đình,sân chùa, hay sân của các nhà quyền quý từ thời xa xưa Sân khấu của loại hình