Tuy nhiên, nhân sâm khó trồng, hiếm, thời gian thu hoạch lâu, giá thành cao nên trong khoảng 20 năm qua các nhà khoa học trong và ngoài nước vẫn tìm kiếm những loài khác thuộc họ Nhân
Trang 1SÂM VIỆT NAM 287
CHƯƠNG III
MỘT SỐ CÂY THUỐC KHÁC HỌ NHÂN SÂM
Ở VIỆT NAM
——————ễ
1 GIỚI THIỆU CHUNG
Trong những năm gần đây, thế giới đặc biệt chú ý đến các cây thuốc và thuốc có ngưồn gốc thiên nhiên do phát hiện nhiều tác dụng không mong muốn của nhiều loại thuốc được sản xuất bằng con đường tổng hợp hóa học Vì vậy nhu cầu về cây thuốc, nói riêng và dược liệu nói chung ngày càng tăng Ở Việt Nam, nhu cầu sử dụng dược liệu rất lớn khoảng 60 ngàn tấn/năm và thuốc y học
cổ truyền chiếm 27% [30] Trong đó, các được liệu có tác dụng bổ, tăng lực được chú ý do đời sống ngày càng được nâng cao nên nhu cầu bảo vệ, nâng cao
sức khoẻ được con người ngày càng quan tâm Nhân sâm là vị thuốc bổ, còn gọi
là thuốc trường sinh, đã được nhân dân tín nhiệm từ lâu đời Tuy nhiên, nhân sâm khó trồng, hiếm, thời gian thu hoạch lâu, giá thành cao nên trong khoảng
20 năm qua các nhà khoa học trong và ngoài nước vẫn tìm kiếm những loài
khác thuộc họ Nhân sâm (Araliaceae) để thay thế nhân sâm với một số tác dụng: bổ, tăng lực, chống stress và đã phát hiện nhiều loài có tác dụng sinh
thích nghỉ và tăng lực tương tự nhân sâm như sâm Xibêri (#/eu(herococcus
senticosus (Rupr et Maxim.) Maxim,), dinh King (Polyscias fruticusa (L.) Harms), ngi gia bi chan chim (Schefflera Aeptaphylla (1.) Frodin), sim Mỹ (Panax quinquefolium L.), tam that (Panax notoginseng (Burk.) F.H.Chen), sam Viét Nam (Panax vietnamensis Ha et Grushv.) Chting gop phần phòng và điều
trị các bệnh lý gây bởi stress vật lý và tâm lý ảnh hưởng đến sự hằng định nội
môi (hoimeostasis) của cơ thể con người và là nguyên nhân của những căn bệnh
thời đại như: ung thư, tim mach, suy giảm miễn dịch, trầm cảm
(20,53,55,59,60].
Trang 2Theo thống kê năm 1985 (Grushvitsky, Hà Thị Dụng) họ Nhân sâm
(Araliaceae) ở Việt Nam có I10 loài, thuộc 18 chỉ (không kể chỉ Øojysc/as và
các loài được trồng), trong đó có 46 loài và I1 thứ là đặc hữu trong hệ thực vật
Việt Nam, đã có 40 loài được sử dụng làm thuốc Đến nay, số loài chưa được cập nhật và thống kê đầy đủ nhưng trên thực tế số loài trong họ này đã tăng
trên 130 (Shang, 1983, 1997) với trên 60 loài đặc hữu
So sánh với họ Nhân sâm trong thực vật chí Trung Quốc có 22 chỉ và 171 loài (Flora of China, 1996) thì Việt Nam là nước có các loài thuộc họ Nhân sâm
rất phong phú, đáng để đầu tư nghiên cứu, ngoài chỉ Panax L với nhiều cây thuốc quý hiếm có thể kể đến các chỉ Schefflera, Aralia, Macropanax,
Brassaiopsis [2,3,5,25,56,74]
Bảng 93 So sánh một số loài trong các chỉ của họ Araliaceae
ở Việt Nam, Trung Quốc và trên thế giới*
Một số nghiên cứu các cây thuốc họ Nhân sâm cho thấy một số điểm
chung như sau:
Trang 3SÂM VIỆT NAM 289
Về thành phần hóa học: Hợp chất saponin thường được đánh giá là thành
phần hoạt chất chính của những cây thuộc họ Nhân sâm và được tập trung
nghiên cứu xác định cấu trúc [54,57,58,71,73,76,71,78,79,83]
Về tác dụng dược jý: Các tác dụng chính của những cây thuộc họ Nhân
sâm là tác dụng bổ, tăng lực, chống stress và một số tác dụng khác như giải độc gan; tác dụng trên nội tiết tố; thận; cơ, xương, khớp Ngoài ra, tác dụng phòng
chống ung thư được ghi nhận ở một số loài thuộc các chỉ anax, Polyscias,
Schefflera, Aralia, Trevesia [25,52,54,64,72,83]
Chi Schefflera
Schefflera \a chi lớn nhất trong họ Nhân sâm, phong phú về loài và phân
bố rộng Riêng ở Việt Nam có khoảng 60 loài, trong đó có 41 loài đặc hữu và
11 loài làm thuốc Ngoài ra còn có 1 số loài Sche/Øfera sp chưa định danh được
Về sinh thái
Chỉ Schefffera phân bố rộng trải dài từ bắc đến nam Việt Nam, kể cả hải
đảo, tuy nhiên vẫn mọc tập trung ở một số vùng núi cao như Lâm Đồng, Kontum, vùng núi đá vôi Bắc Việt Nam và thường ở độ cao 800-2000 m [2,25,56,60]
Hiện nay số loài Scwefffera được sử dụng chưa nhiều, đặc biệt số loài làm thuốc còn khá ít so với tổng số loài đã xác định và khảo sát về mặt phân bố Đây là ngưồn nguyên liệu tiềm năng cho việc nghiên cứu phát hiện cây thuốc
có tác dụng như nhân sâm cũng như những tấc đụng quý khác mà nhân sâm không có
Bảng 94 Phân bố một số loài thuéc chi Schefflera
đùng làm thuốc ở Việt Nam [36 ]
Tên khoa học -
1 Scheffera chapana Hamrs Mọc hoang ở vùng núi cao Bắc Bộ
- Chân chim Sapa
2 Schefflera elliptica (Blume) Phân bố rộng, có ở Đông Dương, Thái Lan,
- Chân chỉm bầu dục- Chân Phú Quốc Mọc hoang ở độ cao 600-1200 m chim leo
3 Schefflera glomerulata Li Phân bố ở nam Trung Quốc và bắc Việt Nam:
chim hoa cau Binh
Trang 4
N.S Bui
- Chân chim Kontum
- Chân chim leo hoa trắng miền Bắc, tại Lạng Sơn, Vĩnh Phú
6 Scheffera heptaphylla (L.) Phân bố rộng: Trung Quốc, Nhật Bản, Lào, Thái
Frodin - Ngũ gia bì chân chim | Lan, Việt Nam Mọc hoang ở độ cao từ 5-2000 m,
thường gặp ở các tỉnh từ bắc đến nam
- Chân chim sé Mọc hoang ở núi đá vôi miền Bắc Việt Nam
~ Chân chim núi - Chân chim Châu tới Ninh Bình
Petelot
9 Am tonkinensis Mọc hoang ở vùng núi đá vôi Bắc Việt Nam
~ Chân chim gân dày - Chân rừng nhiều nơi thuộc các tỉnh phía bắc
Schefflera vietnamensis Grushv et N Skvorts — Chan chim Viét Nam Scheftlera kornasii Grushv et N Skvorst — Chan chim Kornas
Schefflera chapana Harms — Chan chim Sapa
Schefflera fasciculifoliolata Grashv et N Skvorts — Chan chim 14 phy chum Schefflera laxiuscula Grushv et N Skvorts
Schefflera pseudospicata N S Bui - Chan chim lá như gié
Schefflera hoi (Dunn) R Vig var fantsipanensis (Bui) Shang- Chan chim Fan-Si-Pan
Schefflera dongnaiensis N S Bui — Chan chim Đồng Nai
Schefflera dongnaiensis var langbianensisN S Bui
Schefflera palmiformis Grushy et N Skvorts - Chân chim đạng cọ
Schefflera tonkinensis R Vig
Schefflera lociana Grushv et N Skvorts — Chan chim Loc
Schetflera alpina Grushv et N Skvorts - Chân chim núi cao
Trang 5SÂM VIỆT NAM 291
Schefflera pacoensis.- Chan chim Pa cd
Schefflera pacoensis Grushv, et N Skvorts var acuminata N.S Bui Schefflera pesavis R Viguier — Chan chim sé
SchetHera nitiditolia Harms
Schefflera macrophylla var flava N.S Bui — Chan chim 14 to
Schefflera enneaphylla N S Bui
Schefflera birevipedicellata Harms — Chân chim cọng ngắn
Schefflera konmtumensisN S.Bui - Chân chìm Kontum
Schefflera hypoleucoides Harms vat tomentosa Grushv et N Skvorts - Chân chim lông
Schefflera trevesioides Harms — Chan chim
Schefflera trungii Grushy et N Skvorts — Chan chim Trig
Schefflera petelotit Merr — Chan chim Petelot
Schefflera alongensis Viguier — Chan chim Ha Long
Schefflera corymbiformis N.S Bui — Chan chim tan phéng
Schefflera tribracteolata N S Bui ~ Chan chim 3 14 hoa
Schefflera violea Shang — Chan chim tim
Schefflera bodinieri (Lev\.) var membranifolia (Bui) Shang
Schetflera buxifolioides Shang — Chan chim dang cà mà
Schefflera canaensis Shang — Chan chim ca na
Schefflera chevalieri Shang — Chan chim Chevalier
Schefflera crassibracteata Shang — Chân chim lá hoa dày
Schefflera lenticellata Shang - Chan chim bi khau
Schefflera nhatrangense Shang — Chan chim Nha Trang
ScheffTfera obovatifolioiata Shang — Chân chim lá phụ xoan ngược
Schefflera poilaneana Shang ~ Chân chìm Poilane
Schefflera quangtriensis Shang — Chan chim Quang Tri
Schefflera vidaliana Shang — Chan chim Vidal
Trang 62 NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ ĐINH LĂNG POLYSCIAS FRUTICOSA (L.) HARMS [16, 18, 19, 22]
Ở nước ta, ngoài cây sâm Việt Nam đã được nghiên cứu khá toàn diện trong hơn 20 năm qua, còn có cây đỉnh ling (Polyscias fruticosa (L.) Harms
(Araliaceae) cũng đã được quan tâm nghiên cứu từ những năm 60 thế kỷ trước
và đã được đưa vào Dược điển Việt Nam như một vị thuốc bổ, tăng lực và sinh thích nghỉ Ngoài ra còn được sử dụng ở nhiều nước trên thế giới như: Liên Xô,
Ấn Độ, Trung Quốc .với chức năng giải độc, kháng khuẩn, kháng viêm
'Tên khoa học Polyscias fruticosa (L.) Harms
(Nothopanax fruticosa (L.) Miq.)
'Tên thường dùng : Dinh lăng hương, đỉnh lăng lá xẻ, cây gỏi cá
Tên nước ngoài | Ginseng tree (Anh), Polyscias (Pháp)
Trang 7SÂM VIỆT NAM 293
nhọn, lá chét và các đoạn đều có cuống Cụm hoa chuỳ ở ngọn, gồm nhiều tán Hoa nhỏ, màu trắng xám Quả hình trứng dẹt, mầu trắng bạc
Mùa hoa quả : tháng 4 - 7
Theo điều tra của Trung tâm Sâm Việt Nam ở các tỉnh phía Nam, đỉnh
lăng có 6 loài:
- Polyscias fruticosa (L) Harms (dinh lang, định lăng hương, đỉnh lăng lá
xẻ, cây gồi cá);
- Polyscias balfouriana Bailey (dinh lăng lá tròn, định lăng lá xà cừ)
- Polyscias filicifolia (Mert et Fourn.) Bailey (dinh lang duéi phudng,
đỉnh lăng lá rách);
- Polyscias guilteylei var lacinita Bailey (đình lăng lá xoan xẻ, đinh lăng
xã cừ nhỏ });
- Polyscias guilfeylei( Cogh et March) Bailey (dinh lang lá trổ);
- Polyscias scutellarie (N.L.Burn) Fosberg (dinh lang dia)
Ngoai ra con 6 Aralia chinensis L Araliaceae (dinh lang Trung Quéc) cé
ở rừng Đà Lạt Trong các loài trên đinh lăng hương (đỉnh lăng lá xẻ) là quan trọng nhất, được sử dụng làm thuốc, làm gia vị và làm cây cảnh
Đinh lăng thường được trồng bằng phương pháp giâm cành hay trồng trực tiếp từ đoạn thân hay cành Rễ đinh lăng được thu hái vào mùa thu hay đông
sau 2-3 năm trồng Lá thu hái vào mùa thu
2.2 Tính vị và công dụng
~ Rễ đình lăng có vị ngọt, tính bình Lá có vị nhạt hơi đắng
“ Rễ đính lăng được dùng làm thuốc bổ tăng lực, chữa cơ thể suy nhược, gầy yếu, mệt mỏi, tiêu hoá kém, phụ nữ sau khi để ít sữa Có nơi còn dùng chữa
ho, ho ra máu, đau tử cung, kiét ly và làm thuốc lợi tiểu, chống độc
“Lá chữa cảm sốt, mụn nhọt sưng tấy, sưng vú, dị ứng, mẩn ngứa, vết thương (giã đắp) Thân và cành chữa thấp khớp, đau lưng
~Ở Ấn Độ, đỉnh lăng được dùng làm thuốc trị sốt Rễ và lá sắc uống có
tác dụng lợi tiểu chữa sôi thận, sỏi bàng quang, chứng khó tiểu tiện Bột lá giã với muối và đắp trị vết thương
Trang 83.3 Chế phẩm có đinh lăng
® Viên định lăng chứa cao định lăng tương đương với 0,15 g bột được liệu
trong 1 viên (Xí nghiệp Dược phẩm l)
® Rượu bổ Sampana (cao lỏng định lăng, Học viện Quân Y)
® Hoạt huyết dưỡng não (viên.bao, Công ty Cổ phần Dược phẩm
TRAPHACO)
2.4 Bài thuốc có đỉnh lang
© - Chữa mệt mỏi, biếng hoạt động
Rễ định lăng phơi khô thái mỏng 5g Thêm 100 ml nước, đun sôi trong 15
phút, chia 2-3 lần uống trong ngày
© _ Chữa sốt lâu ngày, nhức đầu, háo khát, ho, đau, tức ngực, nước tiểu vàng
Đinh lăng tươi (rễ, cành) 30g, lá hoặc vỏ chanh 10g, vỏ quýt 10g, sài hồ
(rễ, lá, cành) 20g, lá tre tươi 20g, cam thảo dây hoặc cam thảo đất 30g, rau má tươi 30g, chua me đất 20g Các vị cắt nhỏ, đổ ngập nước, sắc đặc lấy 250ml,
chia uống 3 lần trong ngày
« Chữa sưng vú
Cành lá đỉnh lăng 30-40 g Thêm 300 ml, sắc còn 200 ml, uống nóng
Ngày uống 1 - 2 lần,
e Thuốc lợi sữa
Lá định lăng tươi 50 - 100g, bong bóng lợn 1 cái, thái nhỏ, trộn với gạo
nếp, nấu cháo ăn
e© Chữa đau tử cung
Cành và lá đỉnh lăng rửa sạch, sao vàng, sắc uống thay chè
e _ Chữa mẩn ngứa do dị ứng
Lá định lăng 80g, sao vàng, đổ 500 ml nước sắc còn 250 ml uống trong
ngày Dùng liên tục trong 2-3 tháng
e Chữa thiếu máu
Ré dinh ling, hà thủ 6, thục địa, hoàng tỉnh, mỗi vị 100g, tam thất 20g Tần bột, sắc uống ngày 100g,
e Chia viém gan mạn tính
Trang 9SÂM VIỆT NAM 295
Rễ định lăng 12g, nhân trần 20g, ý đĩ lÓg, hoài sơn, biển đậu, rễ cỏ tranh, xa tiền tử, ngũ gia bì, mỗi vị 12g, uất kim, nghệ, ngưu tất, mỗi vị 8g Sắc uống, ngày một thang,
e Chữa liệt dương
Rễ định lăng, hoài sơn, ý dĩ, hoàng tính, hà thủ ô, kể tử, long nhãn, cám
nếp, mỗi vị 12g, trâu cổ, cao ban long, mỗi vị 8g, sa nhân 6g Sắc uống, ngày
một thang
© Chữa sốt rết
Rễ đỉnh lăng, sài hồ, mỗi vị 20g, rau má 16g, lá tre, cam thảo nam, mỗi
vị 12g, bán hạ sao vàng 8g, gừng 6g Sắc uống
© Bồi bổ cơ thể, ngừa dị ứng
Lá đỉnh lăng tươi (150-200 g) đun sôi trong 200 ml nước Sau khi đun sôi 5-7 phút, chắt ra để uống nước đầu tiên, đổ tiếp thêm khoảng 200 ml nước, nấu
sôi lại lần thứ hai
© Chữa tắc tỉa sữa
Rễ đinh lăng 40 g, gừng tươi 3 lát, đổ 500 mi nước sắc còn 250 ml, chia làm 2 lần uống trong ngày, uống khi thuốc còn nóng
* Ho suyén lau nim
Rễ định lăng, bách bộ, đậu sắn, rễ cây dâu, nghệ vàng, rau tần dày lá mỗi vị đều 8 g, củ xương bồ 6 g, gừng khô 4 g, đổ 600 ml nước, sắc còn 250 ml, chia làm hai lần uống trong ngày, uống lúc thuốc còn nóng,
© Phong thấp, thấp khớp
Rễ định lăng 12 g, cối xay, hà thủ ô, huyết rồng, rễ cổ xước, thiên niên kiện tất cả 8 g, vô quýt, quế chỉ 4 g (riêng vị quế chỉ bỏ vào sau cùng khi sắp nhắc xuống) Đổ 600 ml nước vào sắc còn 250 ml, chia làm 2 lần uống trong ngày Uống khi còn nóng
9.5 Nghiên cứu về thực vật, phương pháp trồng và hoá thực vật
e Theo GS Ngô Ứng Long và cộng sự thuộc Viện Y học Quân sự và theo Viện Vấn đề Y sinh học Liên Xô: Rễ và lá định lăng chúa saponin, alkaloid,
các vitamin B,, Bz, Bg, vitamin C, 20 acid amin, glycosid, alkaloid, phytosterol,
tanin, acid hữu cơ, tỉnh đầu, nhiều nguyên tố vi lượng và 21,10% đường [22]
Trang 10e Nguyễn Thới Nhâm và cộng sự (Trung tâm Sâm Việt Nam) đã nghiên
cứu từ năm 1984 về thực vật kỹ thuật trồng và hóa thực vật của rễ và lá đỉnh
lăng thu thập ở các tỉnh phía nam như Tuy Hòa, Gia Lai-Kon Tum, Hóc Môn
(Tp.Hồ Chí Minh) như sau [43, 44, 45, 46, 47]:
*⁄ Đã nghiên cứu cách chọn hom giống, bầu giâm và yếu tố kích thích
sinh trưởng trên đoạn cành giâm, cách ươm
v_ Đã nghiên cứu thành phần đất, cách trồng, cách chăm sóc, cách phòng chống sâu bệnh để có thể trồng trên quy mô lớn
vˆ Phân tích hóa thực vật rễ và lá đinh lăng 3-8 năm tuổi thu thập 6 các
tỉnh phía nam như Tuy Hòa, Gia Lai-Kon Tum và Hóc Môn, Tp.Hồ
Chí Minh
Bảng 95 Phân tích hóa thực vật rễ và lá đinh lăng 3-8 năm tuổi thu thập
ở các tỉnh phía nam như Tuy Hòa, Gia Lai-Kon Tum (1984)
Hợp chất chính (% / được liệu khô) Lá "RS
Trang 11SÂM VIỆT NAM 297
e TS Võ Duy Huấn (Trung tâm Sâm và Dược liệu Tp Hồ Chí Minh - Viện Dược liệu) trong công trình hợp tác với Trường đại học Hiroshima, Nhật Bản đã phân lập được 4 saponin mới từ lá và rễ đỉnh lăng được đặt tên là polysciosid A-H và 3 saponin đã biết trước: ladyginosid A, zingibrosid-R1 và hợp chất số 6 Trong đó 4 saponin: ladyginosid A, hợp chất số 6, polysciosid A
và D đều có trong lá và rễ Các saponin còn lại chỉ hiện diện trong lá như Zingibrosid-R1, polysciosid G và H hoặc ở trong rễ như polysciosid B, C, F,
[57, 58]
« Ngoài ra, Trần Công Luận và cộng sự còn phân lập được 5 hợp chất
polyacetylen trong lá đinh lăng là: panaxynol, panoxydol, heptadeca-1,8 (-
dien-4,6 diyn-3,10- diol, heptadeca-1,8 (4) -dien-4,6 diyn-3-ol-10-on va
heptadeca-1,8 (Z)-dien-4,6 điyn-3-0I-10-on Ba chất đầu được chứng minh là có tác dung kháng khuẩn mạnh và kháng một số dang ung thư Hai hợp chất sau chỉ có trong rễ đỉnh lăng mà chưa thấy trong các cây khác thuộc chỉ /znax và
họ Araliaceae [23, 24]
® Trong lá đính lăng cũng tìm thấy 5 hợp chất polyacetylen, nhưng chỉ có hai chất chủ yếu được xác định cấu trúc là panaxydol va heptadeca-1,8 (4 -
dien-4,6 diyn-3,10-diol [23, 24]
2.6 Nghiên cứu được lý thực nghiệm
Dinh lang da được các nhà khoa học Liên Xô (trước đây) thử nghiệm tác
dung tăng lực và antistress trên sức khoẻ của các phi công, nhà du hành vũ trụ
(Tổ hợp vũ trụ Liên Xô ~ Việt Nam 1979), các công nhân làm việc đưới tác hại
của bức xạ siêu tần và các tác nhân độc hại khác Những nghiên cứu về rễ đỉnh
lăng của Ngô Ứng Long [17, 20, 21] và Đặng Hanh Phức [26, 27, 28 về độc
tính đường tiêm phúc mạc với LDso = 32,9 g/kg thé trọng so với sâm Triều Tiên
là 19,5 g/kg Như vậy, đỉnh lăng ít độc hơn
2.6.1 Công trình nghiên cứu của Trung tâm Sâm uà Được liệu
Tp.Hồ Chí Minh giai đoạn 1984 - 1988
a Độc tính cấp [48, 49}
Cao rễ định lăng không thể hiện độc tính cấp đường uống ở liều tối đa có thể cho uống là 40 g/kg thể trọng (tương đương với 258 g dược liệu khô) Cao lá đính lăng có độc tính cấp đường uống với LDạa là 3,24+0,42g/kg thể trọng
Trang 12(tương đương với 9,27 g dược liệu khô) Cao phối hợp rễ-lá đinh lăng (Cao định lăng) có độc tính cấp diễn đường uống với LDso là 8,51+0,59g/kg thể trọng
(tương đương với 38,72 g dược liệu khô)
Cao phối hợp rễ-lá đinh lăng (liều 1/20 LDso, uống trong một tháng) làm gia tăng thể trọng của động vật thử nghiệm, không có những tác dụng phụ trên
thành phần máu, protid hoặc gây ra những thay đổi bất thường trong giải phẫu học các cơ quan nội tạng
b Tác dụng trên hệ thần kinh trung ương [48, 49]
Cao đinh lăng có tác dụng rút ngắn thời gian ngủ của natri barbital ở
khoảng liều từ 45-180 mg/kg Cao đỉnh lăng có tác dụng làm gia tăng vận
động tự nhiên của chuột nhắt trắng ở khoảng liều từ 45-90 mg/kg thể trọng và làm giảm vận động tự nhiên ở khoảng liều > 180 mg/kg Do đó, cao đỉnh lăng
có tác dụng kích thích hệ thần kinh trung ương ở khoảng liều < 180 mg/kg
c Tac dụng tăng lực-chống nhược sức [48, 49]
Cao đỉnh lăng có tác dụng tăng lực ở khoảng liều < 180 mg/kg được xác định bằng hai nghiệm pháp thực hiện trên chuột nhắt: chuột bơi kiệt sức của
Brekhman và chuột leo dây của Cabureb
Biểu đô 85 Tác dụng của cao đinh lăng trên thời gian ngủ natri barbital
Trang 13SÂM VIỆT NAM 299
Biểu đồ 86 Tác dụng của cao đỉnh lăng trên tính vận động tự nhiên
Liều cao đinh lăng (mg/kg thé trong)
Bảng 97 Tác dụng tăng lực của cao đỉnh lăng
(nghiệm pháp chuột bơi kiệt sức của Brekhman)
Trang 14Biểu đô 87 Tác dụng tăng lực của cao đỉnh lăng
(nghiệm pháp chuột leo dây của Cabureb)
d Tác dụng kiểu nội tiết tố sinh duc [50]
Đinh lăng còn thể hiện tác dụng nội tiết tố sinh dục (hiệu lực androgen và hiệu lực estrogen) trên,cơ địa động vật bình thường và cơ địa động vật bị gây thiểu năng sinh dục Tác œụng nội tiết tố sinh dục của cao lá > cao phối hợp rễ-
lá đinh lăng > cao rễ khi so sánh ở cùng khoảng liều tác dụng
d Tac dụng chống xơ vữa động mạch [ð1]
Cao dinh ling (90-180 mg/kg thể trọng) làm giảm sự gia tăng cholesterol
huyết và lipid toàn phần trong huyết thanh của động vật bị gây xơ vữa động
mạch thực nghiệm bằng chế độ ăn giàu cholesterol (gây tăng cholesterol ngoại sinh) và bằng Tween 80 (gây tăng cholesterol nội sinh)
Trang 15SÂM VIỆT NAM 301
Trang 16Biểu đô 89 Tác dụng nội tiết tố sinh dục nam của đỉnh lăng
(động vật bị gây thiểu năng sinh dục)
Tác dụng androgen của đỉnh lăng |
Biểu đô 90 Tác dụng nội tiết tố sinh dục nữ của đỉnh lăng
(động vật bị gây thiểu năng sinh dục, phương pháp Allen-Doisy)
Trang 17SÂM VIỆT NAM 308
Biểu đồ 91 Tác dụng của cao đỉnh lăng trên hàm lượng cholesterol
trong thực nghiệm gây xơ vữa động mạch thực nghiệm bằng
chế độ ăn giàu cholesterol
Tác dụng của cao đỉnh lăng trên thực nghiệm gây tăng
cholestherol ngoại sinh
Trang 18Biểu đồ 92 Tác dụng của cao đỉnh lăng trên hàm lượng lipid
trong thực nghiệm gây xơ vữa động mạch thực nghiệm bằng Tween 80
Tác dụng của cao đỉnh lăng trên lipid toàn phần
trong thực nghiệm gây cholesterol nội sinh
Bảng 98 Nồng độ ức chế tối thiểu (M.LC., mg/mI) của dịch chiét ethanol va
dịch ether đầu hỏa trên một số chủng vi khuẩn và nấm mốc
Trang 19
SÂM VIỆT NAM 305 Bảng 98 (tiếp theo)
Cao định lăng thể hiện tác dụng lợi tiểu nhẹ trên chuột cống trắng ở Hều
300 mg/kg thể trọng Cao nước có tác dụng lợi tiểu mạnh gấp 5 lần cao cồn
Bảng 99, Tác dụng lợi tiểu của cao đình lăng
Lô thử nghiệm N=6-8 | Liều uống mg/kg | Chỉ số lợi tiểu (%)
Trang 203.6.2 Công trình nghiên cứu của Trung tâm Sâm uà Dược liệu
Tp.Hồ Chỉ Minh giai đoạn 3000-2007
Từ năm 2000, TS Nguyễn Thị Thu Hương và cộng sự (Trung tâm Sâm và
Dược liệu Tp Hồ Chí Minh tiếp tục những nghiên cứu về cao phối hợp rễ-lá đỉnh lăng (Cao đinh lăng) và tập trung chủ yếu vào lá dinh lăng, nguồn nguyên
liệu dễ thu hái
Những thử nghiệm dược lý của định lăng trong giai đoạn này được xây
dựng dựa trên:
© - Kinh nghiệm sử dụng trong dân gian
* Ba tác dụng dược lý cơ bản của các cây thuốc thuộc họ Nhân sâm
(Araliaceae) là: tác dụng tăng lựctác dụng sinh thích nghỉ
(adaptogen)-tác dụng bồi bổ cơ thể, trị suy nhược thần kinh và sinh duc
® Một số tác dụng dược lý tiêu biểu của sâm Việt Nam, đáp ứng với nhu cầu cần thiết trong ứng dụng lâm sàng như: tác dụng chống trầm
cảm, tác dụng chống oxy hóa, tác dụng bảo vệ gan, tác dụng tăng cường chức năng miễn dịch
a Tac dung chống trầm cảm [8, 9]
Những nghiên cứu gần đây cho thấy cao đỉnh lăng có tác dụng chống trầm cảm trong thực nghiệm của Porsolt Cao đình lăng ở 3 liều thử nghiệm đường uống 45, 90 và 180 mg/kg có tác dụng làm giảm thời gian bất động của động vật thử và đạt ý nghĩa thống kê so với chứng ở liều 180 mg/kg Kết quả cho thấy liều 45 mg/kg không có tác dụng chống trầm cẩm đạt ý nghĩa thống
kê khi sử dụng 1 lần liều duy nhất nhưng khi cho uống trong thời gian 3 - 7 ngày thể hiện tác dụng chống trầm cầm
Bảng 100 Tác động chống trầm cảm của cao đỉnh lăng
khi sử dụng một liều duy nhất
Lô thử nghiệm Liều TN Thời gian bất động
Trang 21SÂM VIỆT NAM 307
Biểu đồ 93 Tác dụng chống trầm cảm của cao đỉnh lăng
(sau một liều uống)
Lô thử nghiệm Thời gian bất động (phút)
Cao đỉnh lăng làm gia tăng ngưỡng chịu đựng nhiệt độ nóng của động vật
thử nghiệm trong stress vật lý (stress nhiệt độ 37-42°C)
“Trên thực nghiệm stress tâm lý (stress cô lập), nhóm chứng có những biểu
hiện bị stress tâm lý như: thời gian ngủ bị rút ngắn (giảm 30% thời gian ngủ so với nhóm bình thường), có hành vi tấn công khi tiếp xúc với chuột lạ
(aggressive behaviour), trạng thái thụ động (depressive behaviour).
Trang 22Biểu đỏ 94 Tác dụng chống trầm cảm của cao đỉnh lăng (sau 3-7 liều uống)
Trang 23SÂM VIỆT NAM 309
Cao phối hợp rễ-lá đỉnh lăng ở những liều 45, 90 và 180 mg/kg thể hiện
tác dụng hồi phục thời gian ngủ bị rút ngắn bởi stress và đưa trở về trạng thái
#P.<0,05 so với lô chứng bình thường
*P.<0,05 so với lô chứng tương ứng
Bảng 102 Tác dụng của cao đỉnh lăng trên thời gian ngủ barbital của
động vật thử ở nhóm bình thường và nhóm bị stress
LôTN Liều Thời gian ngủ của natri barbital (phút)
Trang 24> Tác dụng của đỉnh lăng trên hàm lượng MDA trong não chuột bị gây tổn thương gan bằngcarbon tetraclorid CCla
© _ Có sự tăng đạt ý nghĩa thống kê hàm lượng MDA trong não (tăng 22-33%) ở
lô chứng carbon tetraclorid so với lô chứng bình thường Điều này cho thấy
CCI¿ có thể tác động như một stress oxy hóa lên não thể hiện qua việc làm
tăng quá trình peroxy hóa lipid màng tế bào não
© _ Cao rễ, cao phối hợp rễ-lá và cao lá dinh lăng ở liều 100 mg/kg đã duy trì ở
mức bình thường hàm lượng MDA trong não các chuột bị gây tổn thương
gan cấp bằng CC Hoạt tính chống oxy hóa ở mô não của: cao lá 21%, cao phối hợp 20%, cao rễ 16%
e© Tác dụng của đinh lăng tương tự với vitamin E, một chất chống oxy hóa điển hình và Omitan®, (chế phẩm chứa 25 mg biphenyl dimethyl dicarboxylat, hoạt chất tương tự schisandrin C, có tác dụng bảo vệ gan) Bảng 103 Kết qủa tác dụng của đỉnh lăng trên hàm lượng MDA trong nao
Ching 0 94,9 + 0,83 CCh - Cao lá 100 95,1+0,99
Cao phối hợp 100 95,2 + 1,14 Cao rễ 100 98,2 + 0,95 Chứng 0 116,1 + 1,04#
CCL + Cao lá 100 91,5 +0,87%
Cao phối hợp 100 93,3 + 0,99*
Cao rễ 100 97,9 +0,97%
Chứng 0 98,6 + 1,21 CCh - Vitamin E 1 94,8 + 0,87
OMITAN® 25 95,0 + 1,42 Chứng 0 131,4 + 1,36#
CCL + Vitamin E 1 96,2 + 0,92*
OMITAN® 25 89,5 + 0,91*
*P<0,05: So sánh giữa các lô thử với lô chứng tương ứng
#P<0,05: So sánh giữa lô chứng bệnh lý với lô chứng bình thường
Trang 25322 MỘT SỐ CÂY THUỐC KHÁC HỌ NHÂN SÂM Ở VIỆT NAM
d, Tác dụng bảo vệ gan [12, 62]
Kết quả cho thấy đinh lăng có tác dụng bảo vệ gan trong thực nghiệm gây
tổn thương gan cấp trên chuột nhất trắng bằng carbon tetraclorid Tác dụng chống oxy hóa thể hiện qua việc ức chế quá trình peroxy hóa lipid màng tế bào
có thể là một trong những cơ chế tác động bảo vệ gan của đinh lăng
Tương tự như ở thực nghiệm stress tâm lý, cao rễ, cao phối hợp rễ-lá
và cao lá đính lăng (ở liều 100 mg/kg/ngầy, trong 7 ngày cho uống) đã duy
trì ở mức bình thường hàm lượng MDA trong gan chuột bị gây tổn thương
gan cấp bằng CCH¿ với hoạt tính chống oxy hóa ở mô gan là: cao lá 32%, cao phối hợp 24%, cao rễ 22% Tác dụng của đinh lăng tương tự với các thuốc đối chiếu vitamin E và Omitan®, một biệt được chứa 25 mg biphenyl
dimethyl đicarboxylat (có hoạt tính tương tự như schisandrin C) được sử dụng để bảo vệ gan trong các bệnh lý viêm gan cấp hay mạn tính
Công trình nghiên cứu trước đây về tác dụng chống oxy hóa ứn vữro của đinh lăng cho thấy hoạt tính chống oxy hóa của đình lăng có thể được xếp theo
thứ tự như sau: cao rễ < cao phối hợp rễ-lá < cao lá Kết quả trong thực nghiệm
này cũng cho thấy cao lá đỉnh lăng làm giảm sự tăng MDA trong não và gan
chuột bị gây tổn thương gan cấp bằng CC mạnh hơn cao phối hợp và cao rễ
Bảng 104 Kết qủa tác dụng của đinh lăng trên hàm lượng MDA trong gan
Trang 26
Bảng 104 (tiếp theo)
*P.<0,05: So sánh giữa các lô thử với lô chứng tương ứng
#P.<0,05: So sánh giữa lô chứng bệnh lý với lô chứng bình thường
Từ các kết quả stress cô lập và thực nghiệm gây tổn thương gan bằng
tetraclorua carbon, có thể rút ra nhận xét như sau:
»>_ Khả năng đánh bắt gốc tự do và chống oxy hóa Zr viro của cao lá và cao rễ đinh lăng thấp nhưng lại thể hiện tương đương với các thuốc
đối chiếu ở nghiên cứu ứ vivo
»> Tác dụng chống oxy hóa của lá dinh lăng điển hình hơn rễ
> Saponin toàn phần là hợp chất quyết định tác dụng chống oxy hóa ứ w/vo của định lăng
Từ nhận định này, có thể sơ bộ kết luận: cao lá và cao rễ đính lăng có tác dụng chống oxy hóa theo cơ chế gián tiếp thông qua những ảnh hưởng trên hệ
thần kinh và thể dịch của cơ thể sống theo hướng duy trì sự hằng định nội môi (homeostasis) hay hỗ trợ cho hệ thống phòng vệ của cơ thể thông qua cơ chế
làm gia tăng hoạt tính hay hàm lượng của các enzym chống oxy hóa Những
nghiên cứu gần đây trên cơ chế tác dụng của đỉnh lăng trên các stress oxy hóa cho thấy đỉnh lăng đã làm gia tăng hàm lượng glutathion nội sinh trong gan và não chuột thử nghiệm Điều này cho thấy có thể cơ chế tác dụng chống oxy hóa
của đình lăng tương tự như sâm Việt Nam
e Tác dụng kích thích miễn dịch [15]
¢ Ở lô chuột bình thường, cao lá đỉnh lăng (200 mg/kg) làm gia tăng chỉ
số thực bào sau 5 phút (K;) và sau 10 phút (K;) tương tự như thuốc đối chiếu zymosan (10 mg/kg), một chất kích thích khả năng thực bào
Trang 27324 MỘT SỐ CÂY THUỐC KHÁC HỌ NHÂN SÂM Ở VIỆT NAM
© Cao 14 dinh lang (50-200 mg/kg) làm tăng chỉ số thực bào ở lô gây suy
giảm miễn địch bằng cyclophosphamid liều 150 mg/kg, tương tự như tác đụng của thuốc đối chiếu zymosan (10 mg/kg)
Bảng 105 Ảnh hưởng của cao lá đỉnh lăng trên chỉ số thực bào
*P<0,05 so sánh với lô chứng tương ứng
+ Ở lô chuột bình thường, cao lá đỉnh lăng (50-100 mg/kg) không làm
thay đổi trọng lượng lách và tuyến ức Tuy nhiên, cao lá đỉnh lăng
(50-100 mg/kg) làm tăng trọng lượng lách và tuyến ức ở lô gây suy giảm
miễn dịch bằng cyclophosphamid
Bảng 106 Ảnh hưởng của cao lá đỉnh lăng trên trọng lượng lách
Trang 28
Bảng 107 Ảnh hưởng của cao lá đình lăng trên trọng lượng tuyến ức
*P<0,05 so sánh với lô chứng tương ứng
Kết quả nghiên cứu trên một lần nữa chứng minh tác dụng của định lăng
trên chức năng miễn dịch tương tự như bột chiết sâm Việt Nam, thể hiện cả trên
cơ địa động vật bình thường và trên cơ địa động vật bị gây suy giảm miễn dịch bằng cyclophophamid, một chất kìm tế bào thuộc nhóm oxazaphosphorin
thường được sử dụng trong liệu pháp chống ung thư Tổng hợp những kết quả trên, sơ bộ xác định cơ chế tác dụng kích thích miễn dịch của đinh lãng như sau: 1) Gia tăng chức năng của các cơ quan liên quan đến hệ miễn địch như tuyến ức, lách; hoặc
2) Kích thích hoạt động của hệ thống lưới nội sinh chất (reticuloendothelial system) là hệ thống giữ vai trò quan trọng trong việc duy
trì sự hằng định nội môi và khả năng miễn dịch không đặc hiệu
Cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào công bố về tác dụng của đỉnh lăng trên chức năng miễn dịch, nên cần có những nghiên cứu tiếp theo để khẳng định giá trị sử dụng của đỉnh lăng, một dược liệu cũng thuộc họ Nhân sâm có tác dụng bổ-tăng lực-chống stress nhưng dễ trồng và giá thành hạ so với sâm Triều Tiên và sâm Việt Nam
Trang 29326 MỘT SỐ CÂY THUỐC KHÁC HỌ NHÂN SÂM Ở VIỆT NAM
Bảng 108 Tóm tắt những tác dụng được lý quan trọng của đỉnh lăng
tương tự như sâm Việt Nam
1- Tăng thể lực, chống nhược sức Suy nhược cơ thể
2- Kích thích các hoạt động não bộ Suy nhược thần kinh
3- Tác dụng kiểu nội tiết tố sinh dục Suy nhược sinh dục
4- Antistress, giải lo âu và chống trầm cảm Các bệnh lý gây bởi stress
3- Tác dụng tăng cường chức năng gan và | Xơ gan, giải độc gan
bảo vệ tế bào gan
6- Giảm cholesterol huyết, giảm lipid Xơ vữa động mạch
7- Chong oxy hod (antioxidant) Sự lão hóa
8- Gia tăng sức đề kháng không đặc hiệu Suy giảm miễn dịch
3 NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ SÂM VŨ DIỆP (PANAX BIPINNATIEIDUS
SEEM.) VA TAM THAT HOANG (PANAX STIPULEANATUS TSAL
ET FENG)
Sâm vii diép (Panax bipinnatifidus Seem.) va tam that hoang Panax
stipuleanatus Tsai et Feng) 1a hai loai sâm mọc hoang và được trồng ở Sapa, tinh Lào Cai, từ lâu đã được nhân dân dùng như những cây thuốc quý, nhưng chưa
được nghiên cứu sâu về nhân giống cây trồng, thành phần hóa học cũng như về
tác dụng được lý của chúng [1,16,32]
3.1 Hình thái thực vật
Theo Viện nghiên cứu Thực vật Vân Nam, 1975, sâm vũ điệp (SVD) và
tam thất hoang (TTH) về mặt hình thái tuy có mức độ xẻ lá như nhau, đốt thân dạng rễ ngắn mà tăng dày, đốt không phình to, thường có thể chất thịt, nhưng
cũng có phần tương tự như trúc tiết nhân sâm (2nax Japonicus C.A.Meyer var japonicus) Loai TTH chỉ phân bố ở đông nam Vân Nam trên các sườn dốc Bình Biên, Mã Quan, Ma Túc và phía bắc Việt Nam (Sapa, Lào Cai), trong rừng mưa
cách mặt biển 1100-1700m Các đặc trưng này về hình thái, phân bố địa lý,
không những hoàn toàn khác với SVD và sâm Nhật, mà cũng khác hẳn với tam
thất (P nofoginseng) và tam thất gừng (P zingiberensis) phân bố ở vùng lân cận Do vậy, TTH có thể là loại hình thứ sinh của quần loài đa biến sâm Nhật
Trang 30H Hara sau khi thảo luận về SVD có đề cập đến tiêu bản của Petelot số 2489 thu thập ở Sapa Việt Nam, dựa vào mô tả các tác giả ghi nhận đây là loại hình
có lá chét vươn dài, không xẻ và có răng cưa khá nông Nhóm tác giả cũng đã
thu được mẫu tiêu bản số 344 ở cùng khu vực, thì lá xẻ nửa, dạng lông chim Ở
khu vực Mã Quan cũng xuất hiện hai loại hình giống như trên đây Vì vậy các
tác giả cho rằng tiêu bản Petelot và tiêu bản số 344 của tác giả thu thập là loại hình TTH có phiến lá chét xẻ nửa dạng lông chim và loại hình không xẻ cũng
có thể chia thành hai thứ loài Tuy nhiên do chưa đủ tư liệu nên tạm thời không
để riêng J Wen, 2001, cũng mô tả lá chét TTH thường xẻ thùy trong khi ở loài
SVD lá chét thường có hình bầu dục [82]
Hiện nay các nhà phân loại thực vật ở Việt Nam vẫn cho rằng vùng Sapa, Lào Cai tồn tại cả hai loài SVD với dạng lá chét xẻ thuỳ và TTH có dạng lá
chét nguyên với các mô tả về hình thái như sau [1]
3.1.1 Sam vii diép (Panax bipinnatifidus Seem.)
Cây thảo sống nhiều năm Thân rễ có nhiều đốt và mang nhiều vết sẹo do than tan lụi để lại Thân khí sinh cao 20,30 em có khi đến 50 cm Lá kép chân
vit mọc vòng, thường có 3 lá kép Lá kép có 3-7 lá chét, lá chét mỏng không lông, mép có răng thưa hoặc như chẻ thùy
Hoa tự: Tán đơn, trục tán cao 20 cm, ở ngọn thân đường kính tán 2 cm, cuống hoa cao 1 cm Quả mọng, khi chín có màu đỏ, chứa 1, 2 hạt
Cây sâm vũ diệp
ở Sapa, tỉnh Lào Cai
Trang 31328 MỘT SỐ CÂY THUỐC KHÁC HỌ NHÂN SÂM Ở VIỆT NAM
Loài này phân bố ở Vân Nam Trung Quốc, Việt Nam (Sapa, Lào Cai) ở
độ cao 1900-2400m, trong rừng ẩm
Công dụng: Hoạt huyết khứ ứ, tiêu đờm, giảm đau, thũng trướng tích tụ, đau
gân cốt, rắn độc cắn, tâm vị khí thống, thổ huyết, chẩy máu mũi, xuất huyết dạ
day
8.1.2 Tam thất hoang (Panax stipuleanatus Tsai et Feng)
Cây thảo, đa niên cao từ 40-50cm Lá kép chân vịt mọc vòng có từ 6-7 lá
chết, lá chét hình mác, có mũi, mép có răng cưa
Hoa tự: tán đơn, quả mọng khi chín có màu đỏ, có hai hạt
Trang 32Công dụng: Tán ứ định thông, trị vết thương, cầm máu, phong thấp, ho
ra mầu, chấn thương chảy máu, thổ ra huyết, chẩy máu mũi, đi ngoài ra máu,
băng lậu, thiếu máu, lao phổi
8.2 Những phân tích về thành phần hoá học của hai loài SVD va TTH ở Việt Nam [37,88]
Trần Công Luận và cs, 2002, đã tiến hành phân tích các thành phần hoá
học cơ bản và các thành phần hoá học được đánh giá là có hoạt tính sinh học
Kết quả phân tích:
Bảng 109 Bảng tóm tất các kết quả về hóa học
3 Sơ bộ hoá thực vật | Triterpenoid, tỉnh đầu, Triterpenoid, tinh
acid hữu cơ, đường khử, | dau, acid hữu cơ, Saponin, acid uronic đường khử, saponin,
acid uronic, tanin
- Thanh phan acid | Palmitic, steraric, oleic, | Palmitic, steraric,
lignoceric linolenic, arachidic,
Trang 33330 MỘT SỐ CÂY THUỐC KHÁC HỌ NHÂN SÂM Ở VIỆT NAM
Bảng 109 (tiếp theo)
6 | Thành phần AL Si, Mg, Ca, Ba, Fe, | Al, Si, Mg, Ca, Ba,
khodng da vi Mn, Ti, Ni,Cu, Pb, P, Fe, Ma, Ti, Ni,Cu, Pb,
7 |Polyacetylen
- Định tính trên Có mặt của polyacetylen | Có mặt của
- Do phé UV Đặc trưng của hai nhóm | Có mặt hai nhóm cấu
cấu trúc điyn và diynen | trúc
9 | Sapogenin Có mặt của acid Có mặt của acid
Định tính trên sắc | oleanolic và panaxadiol ! oleanolic và
- Phổ IR Trùng với phổ acid Trùng với phổ acid
oleanolic chuẩn, oleanolic chuẩn
Trang 34Chúng tôi đánh giá thành phần acid béo trong thân rễ và rễ củ hai loài
sâm có sự khác biệt lớn Ở SVD có 6 acid béo được xác định, trong đó acid
oleic, lignoceric có hàm lượng khá cao Ở TTH có 8 acid béo được xác định,
trong đó có acid lignoceric, linoleic, linolenic chiém tỷ lệ cao Và điểm khác biệt khá rõ là sự có mặt của hai acid linoleic và linolenic với hàm lượng khá
cao ở loài TTH, trong khi ở loài SVD hàm lượng thấp Nhìn chung, trong thân
rễ và rễ củ của cả hai loài sâm đều có sự hiện diện của acid béo chưa no Các acid béo được đánh giá là có ý nghĩa quan trong trong sức khoẻ dinh dưỡng
3.2.2 Acid amin
Bảng 111 Thành phần acid amin ty do trong than ré va r cht cla SVD
Trang 35
332 MỘT SỐ CÂY THUỐC KHÁC HỌ NHÂN SÂM Ô VIỆT NAM
Bang 111 (tiếp theo)
- Kết quả cho thấy không có đầy đủ các acid amin cần thiết cho cơ thể và
có khác biệt về thành phần và hàm lượng acid amin giữa hai loài sâm
3.9.8 Các nguyên tố đa 0à uí lượng
Bảng 112 Bảng kết quả thành phần các nguyên tố đa vi lượng
Kết quả trên cho thấy có tương đồng về thành phần các nguyên tố da vi
lượng trong thân rễ và rễ củ của hai loài, 14 nguyên tố được tìm thấy trong cả
hai mẫu nguyên liệu với thành phân và hàm lượng tương đương nhau, trong đó
hai nguyên tố Ca, Mẹ đều có với hàm lượng khá cao
3.3.4 Hợp chất polyacetylen
Đây là nhóm hợp chất có tác dụng sinh học cao trong phân đoạn ít phân cực của các loài Panax.
Trang 36Xác dinh polyacetylen trên sắc ký lớp mỏng
Dịch chiết ether etylic của 2 mẫu khảo sát được đối chiếu với dịch chiết ether của rễ đinh lăng đã được chứng minh có sự hiện hữu của hợp chất polyacetylen Sắc đồ thu được trên bản mồng khai triển với hệ dung môi đầu hoả ether etylic (2: 1)
Kết quả thu được trên sắc ký đồ cho thấy ít nhất có 2 vết của polyacetylen trong thân rễ và rễ củ của hai loài sâm dựa trên hiên tượng tắt quang và chuyển sang màu nâu đến đen của vết chất khi đối chiếu với sắc ký đồ của rễ đỉnh lăng Thành phần polyacetylen của hai loài có thể đánh giá là khá tương đồng
Sắc đồ polyacetylen Sắc đồ của polyacetylen
soi duéi UV 254 với thuốc thử HạSO„ đậm đặc
1 Đinh lăng; 2 SVD; 3 TTH
PhổUV
Để xác định sự hiện hữu của hợp chất polyacetylen một cách chính xác
hơn, các vết chất có tính chất tắt quang và hiện màu từ nâu đến đen với H;SO„ đậm đặc được khai triển trên SKLM chế luyện và giải hấp phụ bằng ether
etylic Dịch chiết được đo phổ UV
Trang 37334 MỘT SỐ CÂY THUỐC KHÁC HỌ NHÂN SÂM Ở VIỆT NAM
Bảng 113 Bảng so sánh polyacetylen trong hai loài sâm
Mau sắc Hệ 1 Màu xanh đậm | Màu xanh đậm
Hệ 2 Màu xanh đậm Màu xanh đậm
Khoảng Rf Hệ 1 0,12 — 0,76 0,120 - 0,76 phân bố Hệ 2 0,26 — 0,43 0,26 — 0,43
Từ kết quả trên cho thấy thanh phan saponin trong hai loài sâm là rất
tương đồng Các vết chất có màu hồng tím đậm (chuyển sang xanh đậm khi để
lâu) trên sắc đồ của hai loài sâm tập trung ở vùng có giá trị Rf thấp hơn so với
sắc đồ saponin sâm Việt Nam
Trang 38Các sắc đồ sapogenin toàn phần của hai loài sâm có sự khác biệt về vết
chất Tuy nhiên trên sắc đồ của hai loài sâm đều xuất hiện hai vết chất có giá
trị Rf tương đương với Rf của chuẩn acid oleanolic và panaxadiol, trong đó vết chất có Rf tương đương với chuẩn acid oleanolic chiếm chủ yếu
Dịch thuỷ phân sau khi để nguội đã thu được tủa chứa chủ yếu acid
oleanolic Sau khi kết tỉnh và tái kết tinh nhiều lần trong cồn tuyệt đối thu được
các kết tỉnh hình kim Các kết quả phân tích điểm chảy, phổ UV, IR , 'CNMR
kết hợp đối chiếu với acid olenolic chuẩn cho thấy các kết tỉnh thu được từ 2
loài sâm là acid oleanolic.
Trang 39386 MỘT SỐ CÂY THUỐC KHÁC HỌ NHÂN SÂM Ở VIỆT NAM
hệ CHCI;:MeOH (9:1) benzen- EtOAc (1:1)
2 Sapogenin SVD +sapogenin đối chiếu b Panaxadiol
4 Sapogenin TTH + sapogenin đối chiếu
5 Sapogenin TTH
Kết quả phân tích phù hợp với quan điểm của O Tanaka, 1986 Theo tác
giả thì saponin trong thân rễ và rễ củ SVD và TTH đều thuộc nhóm B Đó là nhóm mà phần thân rễ phát triển chủ yếu so với phần rễ củ và thành phần saponin chủ yếu là dẫn chất của acid oleanolic
Hai saponin có dẫn chất của acid oleanolic đã được phân lập từ thân rễ
và rễ củ của TTH là stipuleanosid R1 và R2 [80]
Trang 40
Saponin dẫn chất của acid oleanolic
Trần Công Luận và cs, 2003, cũng đã phân lập và xác định cấu trúc một saponin dẫn chất của acid oleanolic với hai đơn vị đường kết hợp ở C; và C+ lần
lượt là xylose và glucose [39]
Cho đến nay, thành phần saponin ở phần dưới mặt đất của SVD chủ yếu
thuộc dẫn chất của acid oleanolic như chikusetsusaponin IV, zingibrosid Rị và
G-R„ Ngoài ra còn có các saponin dẫn chất của protopanaxadiol và protopanaxatriol như G-Rbị, -Rd, -Re, -Rg: và -Rga [L] Từ lá SVD đã xác định
được 13 hợp chất ginsenosid -F1, -F2, -F3, -Rg2, -Re, -Rd, -Rb;, -Rb3, 24(S)-
pseudoginsenosid F11, panasenosid, majorosid Fl, bipinnatifidusosid F1,
bipinnatifidusosid F2 Trong đó hai hgp chat bipinnatifidusosid F1 va F2 1a hai hợp chất mới Các hợp chất này đều là các saponin dammaran như những phân tích trước đây với các saponin phân lập được từ lá của các loài Pznax khác
[80,81].