• Đối tượng nghiên cứu Bài tiểu luận được viết để nhấn mạnh tới lịch sử hình thành của đồng tiền, cùng với chất liệu và các chi tiết của nó ở các triều đại như: Lý, Trần, Lê,…, thời Phá
NỘI DUNG
Chương 2 Khái quát về lịch sử của tiền tệ - phương tiện mua và bán
Chương 3 Tiền tệ Việt Nam – thời phong kiến
Chương 4 Tiền tệ Việt Nam – thế kỷ thứ XIX đến nay
Khái niệm
Khái niệm của tiền tệ
Tiền tệ là vật trung gian được pháp luật thừa nhận và phát hành nhằm mục đích trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa các bên; đồng thời, tiền tệ là thước đo giá trị của từng hàng hóa và được chuẩn hóa bằng một đơn vị tiền tệ nhất định.
Tiền tệ được xây dựng trên các đặc tính cốt lõi như tính lưu thông, độ bền, tính dễ nhận biết và độ khan hiếm, nhằm đảm bảo hoạt động kinh tế diễn ra thông suốt và an toàn Sự đa dạng của các đơn vị tiền tệ cùng với khả năng vận chuyển và sự thống nhất của đơn vị tiền tệ giúp các giao dịch diễn ra nhanh chóng, chính xác và đáng tin cậy Những đặc tính này tạo nền tảng cho khả năng thanh toán, duy trì giá trị và niềm tin của người dùng vào hệ thống tiền tệ trong mọi hoàn cảnh kinh tế.
Khái niệm của đồng tiền
Đồng tiền, hay tiền tệ, được sử dụng phổ biến trong mục đích mua bán hàng hóa và dịch vụ; đồng thời nó còn là phương tiện để dự trữ giá trị, giúp bảo toàn giá trị thực của tài sản mà không làm suy giảm giá trị thật sự, dù đơn vị tiền tệ vẫn chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau như lạm phát, lãi suất và biến động thị trường.
Khái niệm của ngoại tệ
Ngoại tệ không những đảm nhận chức năng của tiền tệ mà còn thường chỉ có giá trị ở nước ngoài Tùy từng trường hợp, một số quốc gia chấp nhận trao đổi hàng hóa – dịch vụ bằng ngoại tệ dựa trên tỉ lệ chênh lệch giữa hai loại tiền tệ khác nhau.
Khái quát về lịch sử của tiền tệ - phương tiện mua và bán
Thời cổ đại
Trong thời kỳ nguyên thủy, con người đã trao đổi hàng hóa và dịch vụ dựa trên sự tương tác giữa hai bên Khi mỗi người vừa tự lực sản xuất vừa đáp ứng nhu cầu thiết yếu cho bản thân, hoạt động trao đổi dần hình thành và xuất hiện một vật trung gian được gọi là tiền tệ.
Tiền tệ ở thời cổ đại chủ yếu là các quặng kim loại, động vật – gia súc, muối – gia vị và các loại vỏ ốc, được coi là thước đo chính để thực hiện trao đổi hàng hóa – dịch vụ Các vật phẩm này được dùng làm đơn vị tiền tệ thay thế cho tiền kim loại hoặc tiền giấy sau này Đơn vị tiền tệ thời đó phụ thuộc vào độ khan hiếm và kích thước của từng loại sản vật, khiến giá trị trao đổi chịu ảnh hưởng bởi nguồn cung và phạm vi sử dụng (Hình 1)
Đến khoảng thế kỷ thứ VI TCN, Lydia, một tiểu vương quốc cổ ở Anatolia, là nơi đầu tiên cho phép đúc và lưu thông các đồng tiền làm từ hỗn hợp vàng và bạc, nhằm dễ nhận biết và khó làm giả Việc sử dụng đồng tiền có hợp kim này đã thúc đẩy chuẩn hóa chất lượng tiền tệ và tăng tính xác thực trong giao dịch, mở ra kỷ nguyên tiền tệ cổ đại được chuẩn hóa trên quy mô rộng (Hình 2).
Thời trung cổ
Đồng xu thời Trung cổ vẫn tiếp tục lưu hành dù có nguồn gốc từ thời cổ đại, cho thấy sự bền vững của tiền tệ qua các thời kỳ lịch sử Điểm đặc biệt của đồng xu thời này là được chạm khắc chi tiết hơn, gồm chữ cái, hình ảnh và chân dung, đồng thời khó làm giả hơn so với thời kỳ cổ đại Ngoài vàng và bạc, các đồng tiền còn được đúc từ đồng và kẽm để giảm chi phí sản xuất mà vẫn đảm bảo tính lưu thông và giá trị trên thị trường.
Tiền giấy là một bước tiến quan trọng trong sự phát triển của tiền tệ, giúp loại bỏ chi phí vận chuyển và sự cồng kềnh của tiền xu Dù vẫn chưa được sử dụng rộng rãi ở mọi nơi, nó cho thấy cách thức lưu thông tiền tệ có thể tiện lợi và an toàn hơn Tiền giấy ra đời vào khoảng thế kỷ 7–8, thời Đường ở Trung Quốc Những tờ tiền giấy được in bằng khuôn với các họa tiết từ kiến trúc, thiên nhiên đến cả hình ảnh con người, và giá trị của chúng được xác định dựa trên hệ thống bảo đảm do nhà nước nắm giữ.
5 số lượng đồng xu, các dòng chữ Sau này còn có đóng dấu của con ấn bởi triều đình (Hình 4)
Thời cận đại
Trong thời kỳ này, con người vẫn dùng đồng xu làm tiền tệ để trao đổi hàng hóa, nhưng tiền giấy ngày càng phổ biến hơn, đặc biệt được dùng cho ngân hàng và các tập đoàn công ty lớn Độ bảo mật của tờ tiền giấy ngày càng phát triển, khiến cho việc làm giả tiền giấy, kể cả đúc tiền xu, được giảm thiểu so với hai thời kỳ trước đó Hình 5 và 6 minh họa cho sự chuyển biến này.
Thời hiện đại
Hiện nay, kinh tế thị trường đã phát triển và thế giới đang mở cửa cho xu hướng hội nhập kinh tế toàn cầu Tiền giấy và tiền xu vẫn được phát hành và lưu thông, đi đôi với sự ra đời của tờ tiền polymer hiện đại Giá trị của một đơn vị tiền tệ ngày nay được xác định bởi nhiều yếu tố, gồm tổng sản lượng, diễn biến chứng khoán và nguồn lực con người, từ đó hình thành một đơn vị tiền tệ riêng cho mỗi quốc gia Việc quản lý tiền tệ và duy trì sự ổn định của đồng tiền là nền tảng cho sự phát triển bền vững trong nền kinh tế mở và hội nhập kinh tế toàn cầu.
Tiền giấy ngoài chức năng thanh toán còn được trang bị các yếu tố bảo an như mực đổi màu, hình chìm và dây chỉ; các đồng xu được đúc bằng máy từ nhiều kim loại khác nhau và có các đặc điểm bảo an như sọc ở mép và hình ảo 3D.
Thêm vào đó, là sự ra đời của thẻ ghi nợ và tín dụng giúp tiền tệ được trao đổi một các dễ dàng hơn
Kèm theo đó là sự ra đời của thẻ ghi nợ và tín dụng giúp tiền tệ được trao đổi một các dễ dàng hơn (Hình 7 và 8)
Tiền tệ Việt Nam – thời phong kiến
Thời nhà Đinh
Đây là thời kỳ đầu tiên Việt Nam phát hành đồng tiền đầu tiên của người Việt Lúc đó, những đồng tiền này chưa phân bố rộng rãi do nền kinh tế còn đang trên đà phát triển và còn nhiều vấn đề Lương thưởng cho thợ thủ công, binh sĩ và quan lại thường được trả bằng hiện vật như gạo, vải và muối, thay vì tiền mặt.
Vua Đinh Tiên Hoàng khi lên ngôi đã cho đúc đồng tiền bằng đồng, hình tròn với đường kính khoảng 22mm, có lỗ vuông ở giữa và viết chéo tên đồng tiền, được xem là Thái Bình hưng bảo – đồng tiền đầu tiên của Việt Nam trong thời kỳ lập quốc Mặt trước ghi chữ “Thái Bình hưng bảo”, trong khi mặt sau là chữ “Đinh” hoặc có thể không có chữ, như hình 9 minh họa.
Thời nhà tiền Lê
Ít ghi chép trong sử sách về các loại tiền tệ thời tiền Lê, nhưng ít nhất có một đồng tiền được xác định là thuộc nhà tiền Lê Đồng tiền này mang chữ “Thiên Phúc trấn bảo” được khắc chữ ở mặt trước theo kiểu chữ chéo, mặt sau có chữ “Lê” hoặc không có chữ Khối lượng của đồng tiền khoảng 2,3–3,2 g Tuy nhiên, đồng xu này cũng có lúc được đúc mà không sử dụng một trong các chữ trên mặt.
Thời nhà Lý
Khi Lý Công Uẩn, một vị quan võ được lên ngôi làm vua, lập ra triều Lý vào năm
Năm 1009, một người tự xưng là Lý Thái Tổ đã cho đúc đồng tiền theo mẫu của các thời Đinh và Lê, dùng niên hiệu Thuận Thiên để phát hành đồng tiền mới Thế là đồng tiền mang niên hiệu Thuận Thiên đại bảo ra đời, trong đó chữ "đại bảo" cho thấy đây là loại tiền có giá trị lớn.
Lý Thái Tông là vị vua đã cho đúc hai loại tiền, gồm Minh Đạo thông bảo và Càn Phù nguyên bảo Được biết Minh Đạo thông bảo vẫn chưa xác định được có đúc hay không, trong khi Càn Phù nguyên bảo là đồng tiền đã được đúc trong thời trị vì của ông.
7 vì của ông Cho biết “thông bảo” là đồng tiền được lưu hành, và “nguyên bảo” là đồng tiền đầu tiền được phát hành (Hình 11)
Thiên Phù nguyên bảo và Thiên Cảm thông bảo là hai đồng tiền cổ được đúc trong thời trị vì của vua Lý Nhân Tông Cả hai loại tiền có đường kính khoảng 20 mm, phản ánh quy mô đúc tiền thời Lý Đặc biệt, đồng Thiên Phù nguyên bảo được đúc với số lượng hạn chế do Đại Việt thường xuyên có chiến tranh.
Thời nhà Trần và Hồ
Qua thời nhà Trần, hệ thống tiền tệ có sự khác biệt so với thời Lý Ở triều đại nhà Lý, 1 quan đổi được 10 tiền và mỗi tiền bằng 100 đồng; sang thời Trần, 1 tiền chỉ bằng 70 đồng, cho thấy sự điều chỉnh giá trị tiền tệ giữa hai triều đại và sự thay đổi trong đo lường đồng tiền.
“Nguyên Phong thông bảo” là loại đồng tiền được vua Trần Thái Tông phát hành – lưu thông vào năm 1226 (Hình 12)
Ngoài ra, một số đồng tiền cổ thời Trần còn được nhắc đến như “Khai Thái nguyên bảo” do Trần Minh Tông cho phép đúc Bên cạnh đó còn có “Thiệu Phong bình bảo” có kích thước 21 mm, minh chứng cho sự đa dạng và quy mô của hệ thống tiền tệ dưới triều đại Trần.
Thiệu Phong nguyên bảo có kích thước khoảng 40mm và mang chữ thập, là một trong hai loại đồng tiền do Trần Dụ Tông cho đúc; thêm vào đó còn có Đại Trị thông bảo với kích thước khá lớn, đại diện cho các đồng xu thời nhà Trần (Hình 13)
Nhà Trần cho lưu thông tờ tiền giấy đầu tiên mang tên Thông bảo hội sao do Trần Thuận Tông phát hành Dù tờ tiền này do nhà Trần phát hành, sau khi Hồ Quý Ly lật đổ nhà Trần và thành lập nhà Hồ, ông vẫn cho Thông bảo hội sao lưu thông với nhiều mệnh giá khác nhau, như hình 14 cho thấy.
10 đồng vẽ rong, 30 đồng vẽ sóng, 1 tiền vẽ mây, 2 tiền vẽ rùa, 3 tiền vẽ lân, 5 tiền vẽ phượng, 1 quan vẽ rồng
Hồ Quý Ly ngoài việc phát hành tiền giấy còn cho đúc đồng Thánh Nguyên thông bảo, đồng có hình tròn, lỗ vuông, đường kính 19–20 mm Mặt trước in bốn dòng chữ đọc chéo, mặt sau để trơn.
Thời nhà hậu Lê
Sau khi giành được độc lập cho dân tộc khỏi ách đô hộ của nhà Minh, Lê Lợi thành lập nhà Hậu Lê vào năm 1428 và cho phát hành đồng tiền Thuận Thiên Thông Bảo, được thiết kế với kích thước lớn hơn và đẹp hơn so với các đồng tiền của các thời đại trước đó, như minh họa ở Hình 15.
Thiệu Bình thông bảo và Đại Bình thông bảo là hai đồng tiền do vua Lê Thái Tông phát hành, đánh dấu bước ngoặt trong lịch sử tiền tệ Việt Nam thời Lê sơ Năm 1434, cứ 1 tiền bằng 50 tiền, và sau 5 năm thì 1 tiền bằng 60 đồng, cho thấy sự điều chỉnh tỷ lệ quy đổi theo thời gian.
“Thiệu Bình” và “Đại Bình” cùng với tên còn lại được đúc trong đồng tiền là niên hiệu của các vị vua trì vị của từng triều đại
Thời Lê Nhân Tông, Thái Hòa thông bảo và Diên Ninh thông bảo là hai đồng tiền được phát hành Tiếp đến là các đồng tiền Quang Thuận thông bảo và Hồng Đức thông bảo được Lê Thánh Tông cho đúc, một vị vua tài giỏi được lòng dân và có công mở rộng bờ cõi (Hình 16)
Ngoài ra còn rất nhiều đồng tiền của nhà Hậu Lê trong thời Lê Sơ bao gồm:
Các đồng tiền thời nhà Lê như Cảnh Thống thông bảo, Đoan Khánh thông bảo, Hồng Thuận thông bảo và một số loại tiền khác cho thấy hệ thống tiền tệ thời ấy vẫn giữ nguyên hình thức cũ Sau đó, nhà Lê bị lật đổ bởi Mạc Đặc Dung, cho tới khi nhà Mạc sụp đổ thì nhà Lê mới chính thức được phục hồi, nhưng quyền lực thực sự lại thuộc về nhà Trịnh Điểm đáng chú ý là hệ thống tiền tệ không có thay đổi lớn trong suốt giai đoạn này.
Dù Nhà Hậu Lê bị lật đổ, uy tín của triều đại này vẫn được thần dân và các đại thần trước đó tin tưởng Do đó, Nhà Hậu Lê đã được thành lập lại vào năm 1533, sau khi mất thực quyền sáu năm trước đó.
Tiền Nguyên Hòa thông bảo được đúc sau khi nhà Lê khôi phục, bởi Lê Trang Tông, vị vua đầu tiên của thời Lê Trung Hưng, và đồng xu này được viết bằng Triện thư Ngoài ra còn có đồng tiền Vĩnh Thọ thông bảo đúc bằng đồng, có đường kính khoảng 23 mm (Hình 17)
Lê Hy Tông là vị vua thứ 21 của nhà hậu Lê, đã cho phát hành đồng tiền Vĩnh Trị nguyên bảo và Vĩnh Trị thông bảo, hai loại tiền này có cùng kích thước 23 mm Ông cũng cho lưu thông đồng tiền Chính Hòa thông bảo.
Thời Lê trung hưng là giai đoạn đầy biến động và khó khăn về kinh tế, khi các vua Lê và chúa Trịnh sa đà tiêu xài và đưa hệ thống tiền tệ vào suy sụp Nền kinh tế bị ảnh hưởng bởi các cuộc chiến Lê – Mạc, Trịnh – Nguyễn và khởi nghĩa Tây Sơn, khiến tiền tệ thời bấy giờ rơi vào trạng thái hỗn độn Do đó, loại tiền Cảnh Hưng xuất hiện với nhiều mẫu mã khác nhau, mặt trước in chữ “Cảnh Hưng”, mặt sau có các ký hiệu và chữ viết đa dạng Sự bất ổn về tiền tệ và chi tiêu công khiến quản lý tài chính thời Lê trung hưng càng trở nên phức tạp.
“Công”, hoặc không có chữ và còn có một số chữ khác (Hình 18)
Tiền Cảnh Hưng gồm 40 loại khác nhau, theo ông Đỗ Văn Ninh Cũng có khi có
Có tới 80 loại tiền khác nhau, rất đa dạng về mẫu mã, kích thước và trọng lượng Trong số đó, phổ biến nhất gồm có: Cảnh Hưng thông bảo, Cảnh Hưng trung bảo, Cảnh Hưng chí bảo, Cảnh Hưng vĩnh bảo, Cảnh Hưng đại bảo, Cảnh Hưng thái bảo, Cảnh Hưng cự bảo, Cảnh Hưng trọng bảo, Cảnh Hưng tuyền bảo, Cảnh Hưng thuận bảo, Cảnh Hưng chính bảo, Cảnh Hưng nội bảo, Cảnh Hưng dụng bảo, Cảnh Hưng lai bảo, Cảnh Hưng thận bảo, Cảnh Hưng, Cảnh Hưng thọ trường.
Chiêu Thống thông bảo là loại đồng tiền được đúc với nhiều loại khác nhau có lúc được bảo hộ bởi nhà Trịnh, có lúc được bảo hộ bởi nhà Tây Sơn nên tình hình về tiền tệ trở nên hỗn loạn, các địa phương lần lượt đúc đồng tiền với nhiều kích thước, mẫu mã khác nhau Đặc biệt, mặt sau được đúc bởi một số chữ như “Nam Sơn”, “Chính”,
“Trung”, hoặc để trơn, … (Hình 19)
Thời nhà Mạc
Mạc Đăng Dụng lập nhà triều đại nhà Mạc vào năm 1527 đã cho phát hành “Minh Đức thông bảo” và “Minh Đức nguyên bảo” với kích thước là 23 – 24.5 mm Minh Đức thông bảo” được làm bằng đồng thuộc loại thứ nhất, kẽm thuộc loại thứ hai Đồng tiền còn lại thì được làm bằng sắt pha trộn với kẽm (Hình 20)
Đại Chính thông bảo và Quảng Hòa thông bảo là hai loại đồng tiền do nhà Mạc tiếp tục đúc, có đường kính 22mm; mặt trước của chúng in chữ, còn mặt sau để trơn.
Vĩnh Định thông bảo và Vĩnh Định chí bảo là hai loại đồng tiền được phát hành và lưu thông dưới thời vua Mạc Tuyên Tông Vĩnh Định thông bảo được đúc bằng đồng, có đường kính 21,5 mm và có viền nổi; Vĩnh Định chí bảo thì không có viền nổi.
Thời nhà Tây Sơn
“Thái Đức thông bảo” là đồng tiên do vua Nguyễn Nhạc cho phát hành, được đúc cẩn thận, chữ rất dễ đọc, có đường kính khoảng 22,5 đến 24 mm
Sau khi Quang Trung đánh bại được quân Mãn Thanh và lật đổ triều đại nhà hậu
Năm 1789, Lê Chiêu Thống nắm quyền, và Quang Trung cho đúc hai loại tiền mang tên “Quang Trung thông bảo” và “Quang Trung đại bảo”; các đồng tiền này có đường kính từ 23 đến 26 mm, trong đó chữ “bảo” được viết theo kiểu giản thể Mặt sau của chúng có nhiều loại khác nhau (Hình 21).
Cảnh Trịnh đại bảo là đồng tiền được đúc dưới thời vua Nguyễn Quang Toản; dù có hình dáng tương tự tiền Cảnh Hưng của nhà hậu Lê, nó được đánh giá là đẹp hơn các đồng tiền khác Mặt trước in bốn dòng chữ đọc chéo, mặt sau trang trí bằng hoạ tiết rồng, minh chứng cho sự tinh xảo trong nghệ thuật đúc tiền thời Nguyễn (Hình 22 và 23).
Thời nhà Nguyễn
Sau khi nhà Mạc bị đánh bại, chúa Nguyễn tuyên bố ly khai và xây dựng thế lực riêng gọi là Đàng Trong Trong suốt 100 năm độc lập, các chúa Nguyễn phải đối mặt với tình trạng thiếu nguồn tiền luân chuyển Việc đúc tiền riêng cho triều đình gần như không thể, buộc họ phải sử dụng các đồng tiền của Nhật Bản, Trung Quốc và nhiều nước khác để duy trì thanh toán và hoạt động thương mại.
Hà Lan vào miền nam
Ở Đàng Trong, một số đồng tiền như Toraisen và Bitasen bị hao mòn, sứt mẻ nên người Nhật khi làm ăn buôn bán không muốn nhận Để giải quyết vấn đề tiền cũ và duy trì lưu thông, mạc phủ Nhật đã cho đúc đồng Khoan Vĩnh thông bảo, vừa dùng cho người Nhật, vừa cho Đàng Trong lưu hành Bên cạnh đó còn có đồng Vĩnh Lạc thông bảo được đúc tại Trung Quốc (Hình 24).
Nhật Bản tuyên bố bế quan tỏa cảng và chỉ cho phép giao thương với Hà Lan và Trung Quốc, khiến các chúa Nguyễn ở Đàng Trong phải tự đúc đồng tiền riêng để phục vụ nền kinh tế địa phương.
Thiên Minh thông bảo là đồng tiền duy nhất do các chúa Nguyễn cho phép các thương nhân đúc Đồng tiền này được làm từ kẽm trắng, đôi khi pha thêm chì, và được thể hiện trong Hình 25.
Mặc dù Đàng Trong do chúa Nguyễn cầm quyền đã bị đánh bại vào năm 1774, dòng dõi nhà Nguyễn vẫn còn tồn tại Những người thuộc họ Nguyễn còn sót lại, trong đó Nguyễn Ánh, sau này đem quân quay trở lại đánh bại nhà Tây Sơn Ông thành lập triều Nguyễn và xưng là vua Gia Long.
Vua Gia Long đã cho đúc tiền gọi là “Gia Long thông bảo”, một loại tiền cổ Việt Nam Mặt trước in bốn chữ theo hướng chéo, mặt sau để mặt trơn vào năm 1802 và mặt sai mang chữ “Bảy phân”, được đọc từ bên phải vào năm 1813 Loại tiền này được đúc bằng hợp kim gồm đồng, thiếc, kẽm và chì (Hình 25).
Minh Mạng thông bảo là đồng tiền được đúc dưới thời vua Minh Mạng Nó gồm bốn loại tiền, trong đó tiêu biểu là đồng tiền đúc bằng hợp kim đồng, kẽm và thiếc (năm 1820) có kích thước từ 22 đến 25 mm và nặng 6 phân; đồng tiền đúc bằng hợp kim đồng và kẽm (năm 1825) có kích thước lớn.
Bên cạnh đó, nhà Nguyễn còn có lưu hành cả vàng nén và bạc nén từ thời Minh Mạng (Hình 26, 27 và 28)
Tự Đức bản sao là đồng tiền cổ Việt Nam do vua Tự Đức cho lưu thông và phát hành với mệnh giá 10, 20, 30, 40, 50 và 60 đồng, có kích thước và cân nặng khác nhau Mặt trước in 4 chữ, trong khi mặt sau là ghi mệnh giá của đồng tiền (Hình 29).
Thành Thái là vị vua thứ 10 của triều Nguyễn, đã cho phát hành đồng tiền mang niên hiệu Thành Thái thông bảo Mặt trước đồng tiền được thiết kế đọc chéo, trong khi mặt sau thường trơn hoặc có chữ "thập văn" Riêng mặt sau còn xuất hiện các mẫu tiền mang niên hiệu Duy Tân thông bảo và Bảo Đại thông bảo (xem Hình 30).
Bảo Đại là vị vua cuối cùng của triều Nguyễn và là vị vua cuối cùng của thời phong kiến, đã cho phát hành đồng tiền “Bảo Đại thông bảo” Khác với các đồng tiền ngày xưa được đúc, đồng tiền này được dập bằng máy trên những lá đồng có sẵn, như minh họa (Hình 31).
Tiền tệ Việt Nam – thế kỷ thứ XIX đến nay
Thời Pháp thuộc
• Đồng Đông Dương (đồng Piastre)
Sau khi quân Pháp đô hộ Việt Nam năm 1884, họ tiếp tục chiếm đoạt vương quốc Ai Lao và Campuchia, dẫn đến sự hình thành Liên bang Đông Dương Pháp thiết lập hệ thống tiền tệ Đông Dương với đồng Piastre, từ tiền xu cho đến giấy bạc do các ngân hàng Đông Dương phát hành Mỗi đồng bạc Đông Dương có thể đổi được từ 200 đến 600 đồng Việt Nam do triều đình cho lưu thông.
Ban đầu cứ 1 đồng Piastre bạc tương đương với 1 đồng Peso Mexico bạc Ngày
Ngày 25 tháng 8 năm 1883, triều đình nhà Nguyễn ký Hòa ước Quý Mùi với Pháp, sau đó cả nước Việt Nam sử dụng đồng bạc Piastre làm đơn vị tiền tệ chính Đến cuối thế kỷ 19, Việt Nam tồn tại song song ba loại tiền tệ: tiền Việt Nam, tiền peso Mexico và tiền Đông Dương, cho thấy sự ảnh hưởng của thực dân Pháp và sự đa dạng của hệ thống tiền tệ khu vực Đông Dương.
Về tiền kim loại của Pháp, chu kỳ phát hành từ cuối thế kỷ 19 tới chiến tranh thế giới thứ hai diễn ra theo một dòng sự kiện rõ ràng: năm 1885 phát hành đồng bạc mệnh giá 1 xu; hai năm sau đúc đồng xu có đục lỗ; năm 1895 bạc được giảm khối lượng do giảm tỉ lệ kim loại bạc; năm 1923 phát hành đồng 5 xu bằng hợp kim đồng và niken; năm 1935 cho lưu thông đồng nửa xu; trong Đệ Nhị Thế chiến, đồng xu kẽm 10 và 20 xu được lưu hành; sau khi Pháp bị Đức chiếm đóng năm 1940, đồng xu tiếp tục được đúc; đồng xu cuối cùng được đúc vào năm không được nêu rõ trong đoạn văn này.
1945 được làm bằng nhôm (Hình 32, 33 và 34)
Ở Pháp, khi tiền kim loại vẫn còn lưu hành, tiền giấy được phát hành từ năm 1875 với ba mệnh giá là $5, $20 và $100 Mặt trước in bằng hai ngôn ngữ Anh và Pháp, mặt sau ghi chữ Hán và chữ Quốc ngữ Trên tờ tiền có dòng chữ răn đe giả mạo và hệ thống bảo an rất tốt với mực in màu sắc đẹp, hình chìm, chữ ký và mã số được in trên tờ Chất liệu làm từ giấy bông sợi cotton (Hình 35)
Kể từ năm 1919, Pháp phát hành tiền giấy 10, 20 và 50 cents tại Liên bang Đông Dương, nhưng do khủng hoảng kinh tế toàn cầu và nỗ lực khôi phục cơ sở hạ tầng sau chiến tranh thế giới thứ nhất nên đồng tiền mất giá và phải in tờ $500 Việt Nam là một thuộc địa bị ảnh hưởng nặng nề bởi cuộc khủng hoảng Từ những năm 1930, mệnh giá các tờ tiền được ước tính theo bản vị vàng; sau đó, giấy bạc còn có sợi chỉ để chống lại nạn làm tiền giả (Hình 36).
Vào năm 1940, chính quyền Pháp thời Vichy hợp tác với Đế quốc Nhật Bản và cho phát hành tiền giấy mới mang dòng chữ 'Gouvernement Général de l'Indochine', thay thế cho 'Banque de l'Indochine' trước đây Trong suốt 5 năm tiếp theo, nền kinh tế Đông Dương, bao gồm Việt Nam, chịu thiệt hại nặng nề do sự chiếm đóng và can thiệp của hai cường quốc, khiến sản xuất giảm sút, hoạt động thương mại bị gián đoạn và đời sống người dân bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
1945 mới bắt đầu cải cách lại tiền tệ trước đây
Đến đầu thập niên 1950, tầm ảnh hưởng của tiền Đông Dương dần suy giảm, khi các nước Ai Lao, Cam Bốt và Việt Nam bắt đầu phát hành tiền tệ riêng Ở Ai Lao là Kíp (kip), ở Cam Bốt là Riel, và ở Việt Nam là Đồng Đồng Piastre chính thức biến mất vào năm 1955, kết thúc thời kỳ tiền tệ liên vùng và đánh dấu quá trình độc lập tiền tệ của mỗi quốc gia.
Ngày 2/9/1945, Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Cũng trong ngày này, Việt Nam phát hành các đồng tiền có mệnh giá 20 xu, 5 hào, 1 đồng và 2 đồng, được đúc bằng nhôm; đồng 5 hào có trang trí ngôi sao và lư hương, riêng đồng 1 đồng và đồng 2 đồng được đúc hình Hồ Chí Minh và hình ngôi sao (Hình 37 và 38).
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã cho in thêm tiền giấy và phát hành nhiều loại tiền với các mệnh giá đa dạng và mẫu mã khác nhau Những tờ tiền in đầu tiên không đẹp, mực in dễ lem và màu chủ đạo gồm đỏ, xanh dương, xanh lục và nâu Trên mặt trước thường in chân dung Hồ Chí Minh, trong khi mặt sau là các hình ảnh mô tả chủ đề “công – nông – binh” Tiền được in với hai ngôn ngữ là tiếng Trung và tiếng Việt.
Hơn nữa độ bảo an của chúng rất là kém, dễ bị làm giả tờ tiền, do không có mực in chìm và sợi chỉ (Hình 39)
Kể từ năm 1951, kĩ thuật in tiền của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã được cải thiện với mực in tốt hơn, có con dấu và số seri đỏ giúp ngăn ngừa giả mạo; tuy nhiên, phần bảo an của tờ tiền vẫn chưa được nâng cấp đầy đủ nên tờ tiền dễ bị làm giả Các mệnh giá in lần đầu vào năm 1953 gồm 100, 200, 500, 1000 và 5000 đồng (Hình 40).
• Đồng (Quốc gia Việt Nam)
Vào năm 1953, Quốc gia Việt Nam thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam và phát hành một loại tiền tệ riêng biệt, đối lập với tiền tệ của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Loại tiền này được lưu hành trên các lãnh thổ do chính phủ Quốc gia Việt Nam kiểm soát, nhằm khẳng định sự tự chủ tài chính và sự phân định tiền tệ giữa hai miền thời kỳ đầu của đất nước.
Việc kiểm soát hối suất giữa tiền quốc gia Việt Nam và các ngoại tệ thuộc Viện Hối đoái được thực hiện từ năm 1953, với hối suất được quy định cố định là cứ 1 đô la Mỹ đổi lấy 35 đồng Việt Nam, 1 bảng Anh đổi lấy 98 đồng Việt Nam, và 10 franc Pháp đổi lấy 1 đồng Việt Nam Chính sách này nhằm đảm bảo sự ổn định của tiền tệ và quản lý nguồn ngoại tệ trong giai đoạn đầu của nền kinh tế Việt Nam.
Trong thời kỳ đó, chính phủ quốc gia đã cho đúc đồng xu với mệnh giá lần lượt là 10, 20 và 50 xu Mặt trước của các đồng xu in hình 3 cô gái đại diện cho miền Bắc – miền Trung – miền Nam; mặt sau đồng 10 và 20 xu là hình cây lúa, còn đồng 50 xu là hình con rồng (Hình 41).
Bên cạnh đó, có các loại giấy bạc được in với mẫu mã giống của nước Pháp và được áp dụng các biện pháp bảo an do người Pháp để lại trước đây Ngoài ra còn có một số tờ tiền thiết kế mới, in kiến trúc, chân dung của cựu hoàng Bảo Đại và hoa văn, với mệnh giá từ 1 đến 200 đồng (Hình 42).
Vào năm 1954, Pháp ký quyết định trao trả độc lập cho Việt Nam và cho phép Việt Nam tự chủ về tiền tệ Tuy nhiên, Chính phủ Quốc gia Việt Nam phải làm giảm ảnh hưởng của đồng franc Pháp để chuyển sang đồng Việt Nam (đồng) Quyết định này đánh dấu bước quan trọng trong quá trình khẳng định chủ quyền kinh tế và tự chủ tài chính của Việt Nam.
Thời chiến tranh Việt Nam
Pháp dần rút khỏi ảnh hưởng ở Đông Dương, khiến Liên bang Đông Dương được chia thành ba khu vực là Ai Lao, Cam Bốt và Việt Nam Riêng Việt Nam bị phân chia theo vĩ tuyến 17, hình thành hai miền: miền Bắc Việt Nam và miền Nam Việt Nam.
Hai chính phủ của hai quốc gia đã phát hành tiền tệ có cùng đơn vị tiền tệ là
“đồng” Tuy nhiên, hai bên có mệnh giá, mẫu mã, độ bảo an và đợt phát hành khác nhau
• Đồng (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa)
Sau khi Việt Minh tập kết về miền Bắc và thành lập chính phủ hợp pháp vào năm 1954, ngày 28 tháng 2 năm 1959 chính phủ bắt đầu đổi tiền từ các tờ tiền in trước đó sang tiền Việt Nam in từ Tiệp Khắc với tỉ giá 1000 đồng (1951) đổi ra 1 đồng (1959) Việc in và đổi tiền nhằm xóa bỏ nền kinh tế tư nhân và chuyển sang nền kinh tế công xã, nhằm phục hồi và xây dựng nền kinh tế của Bắc Việt Các loại tiền giấy được phát hành với mệnh giá từ 1 hào, 2 hào, 5 hào, 1 đồng, 2 đồng, 5 đồng đến 10 đồng, có hình chìm ngôi sao 5 cánh làm bảo an cho tờ tiền (Hình 43).
Bên cạnh đó còn đó cả đồng xu được đúc bằng nhôm với mệnh giá từ 1 xu, 2 xu và 5 xu năm 1958 (Hình 44)
Vào năm 1959, tỉ lệ tiền tệ giữa Bắc Việt Nam và miền Nam là cứ 70 đồng miền Bắc đổi được 1 đồng miền Nam Đối với Liên Xô, 1 rúp bằng 3,27 đồng Việt Nam Các giấy bạc thời kỳ này được thiết kế bởi các họa sĩ tiêu biểu là Nguyễn Đỗ Cung, Nguyễn Văn Khánh và Nguyễn Huyến.
Mặc dù giá trị tiền tệ được Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quy định trên khắp miền Bắc, tình trạng ngân sách thiếu hụt do chi tiêu cho chiến tranh ở miền Nam khiến đồng tiền bị mất giá Do đó, nhà nước phát hành số lượng tiền giấy ngày càng lớn để bổ sung ngân sách và duy trì thanh khoản cho nền kinh tế Sự gia tăng cung tiền này làm đồng tiền mất giá thêm, ảnh hưởng đến giá cả và đời sống người dân (Hình 45)
Tiền tệ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được lưu hành cho đến ngày 2 tháng 5 năm 1978; từ thời điểm đó, Việt Nam chuyển sang đồng tiền mới mang tên “Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam” do “Ngân hàng Nhà nước Việt Nam” phát hành.
• Đồng (Việt Nam Cộng Hòa)
Vào năm 1955, toàn bộ tờ tiền của Liên bang Đông Dương trước đây đã bị thu hồi Đệ nhất Tổng thống Ngô Đình Diệm đã ký sắc lệnh phát hành tiền giấy thật của miền Nam Việt Nam Chính ông cũng cho lưu hành tiền kim loại với mệnh giá từ 50 xu đến 1 đồng, mặt trước in chân dung Ngô Đình Diệm, mặt sau là các hàng tre (Hình 46).
Ngoài lưu hành các đồng xu được đúc bằng máy, còn phát hành tiền giấy với mệnh giá lần lượt 1, 2, 5, 10, 20, 50, 100, 200 và 500 đồng Có hai lần phát hành tiền giấy vào năm 1955 Các tờ tiền trong khoảng thời gian 1955–1975 đều mang chữ ký của “Một quản trị viên” và “Giám đốc phát hành” (Hình 47 và 48).
Sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm bị lật đổ vào năm 1963, Sài Gòn rơi vào khủng hoảng chính trị; năm 1964, Đại tướng Nguyễn Khánh lên nắm quyền Thủ tướng và công bố một loại tiền trong thời kỳ quân phiệt của Việt Nam Cộng hòa Bộ bảo an đảm bảo đồng tiền này có giá trị ngang bằng với tờ tiền phát hành lần thứ nhất vào năm 1955, nhưng mẫu mã của tờ tiền mới lại khác với hai đợt phát hành thời Đệ Nhất Cộng hòa (Hình 49 và 50).
Năm 1966 đánh dấu sự bắt đầu của các va chạm quân sự giữa hai miền Nam-Bắc Việt Nam Trước áp lực ấy, chính quyền hai bên buộc phải in thêm tiền để ổn định nền kinh tế và đồng thời tăng cường tiềm lực quốc phòng, nhằm mục tiêu giành chiến thắng trong cuộc tranh chấp giữa hai miền.
Vào năm 1964, chính quyền quân phiệt đã đúc đồng tiền lần thứ hai với mệnh giá 1 đồng, mặt trước ghi chữ “Ngân hàng Quốc gia Việt Nam” và mặt sau là hình bông lúa cùng năm đúc Sau khi thành lập Đệ nhị Cộng hòa, đã cho đúc thêm đồng tiền 5 đồng hình bông hoa năm 1966, đồng 10 đồng năm 1968, và đồng 20 đồng có mặt sau là nữ nông dân trên đồng ruộng, năm 1968 (Hình 51).
Cùng năm ấy, Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu đã thắng cử và thành lập nền Đệ Nhị Cộng hòa Năm 1969, ông cho phát hành tiền giấy với các mệnh giá khác nhau, đánh dấu một bước chuyển biến quan trọng trong hệ thống tiền tệ của quốc gia.
Tiền giấy Việt Nam có các mệnh giá 20, 50, 100, 200, 500 và 1.000 đồng, tất cả đều có cùng mẫu mã và các biện pháp bảo an trên giấy bạc Mặt trước in hình của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, trong khi mặt sau là các hoa văn trang trí tinh xảo Mỗi tờ tiền được nhận diện bằng màu sắc riêng biệt để phân biệt các mệnh giá dễ dàng (Hình 52).
Năm 1971, ngân hàng đã cho đúc đồng tiền với mệnh giá lần lượt là: 1, 5, 10 và
Đồng 20 đồng có mặt trước và mặt sau tương đồng với các đồng trước, nhưng thay vì mạ niken chúng được làm bằng sắt-niken Đồng xu này được quảng bá cùng với tổ chức FAO (Food and Agricultural Organization) nhằm gia tăng năng suất của ngành nông nghiệp miền Nam và cứu đói cho các nước gặp khó khăn Hai đồng cuối cùng được đúc vào các năm 1974–1975 với mệnh giá 10 và 50 đồng; riêng đồng 50 đồng được đúc với số lượng ít nên đã trở nên khan hiếm (Hình 53).
Năm 1972 là năm cuộc chiến leo thang mạnh mẽ, nền kinh tế miền Nam gặp nhiều khó khăn và dẫn đến lạm phát với tỷ giá 1 USD bằng 278 đồng Ngân hàng Quốc gia Việt Nam của Việt Nam Cộng hòa đã phát hành tờ tiền với mệnh giá lần lượt, danh sách các mệnh giá cụ thể không được nêu rõ trong thông tin này.
50, 100, 200, 500 và 1.000 đồng Đặc biệt các tờ tiền có hình ghép dễ tránh bị làm giả (Hình 54)
Mặt trước của tờ tiền in hình Dinh Độc Lập với nhiều phiên bản khác nhau, còn mặt sau in hình các động vật đặc trưng cho Việt Nam Vào những tháng cuối năm 1975, Chính phủ dự định phát hành tờ tiền mới có mệnh giá 5.000 và 10.000 đồng, nhưng Sài Gòn đã thất thủ trước khi được phát hành Tuy nhiên vẫn còn tồn tại một số tờ tiền mới với mệnh giá lớn từ năm 1975.
• Đồng (Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam)
Thời kỳ quốc gia thống nhất
Ngày 2 tháng 7 năm 1976, quốc gia Việt Nam đã chính thức thống nhất dưới một lá cờ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ra đời, và chính phủ lúc bấy giờ mang tên là
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã cho phát hành đồng tiền mới mang tính thống nhất cho cả hai miền Vào năm 1976, đã cho phát hành các tờ tiền với mệnh giá: 1 và 5.
10 đồng với mặt trước là quốc huy và 20, 50 đồng với mặt trước chân dung của Hồ Chí Minh (Hình 58)
Năm 1980, đã có thêm mệnh giá 2, 10, 30 và 100 đồng Tất cả tờ tiền của năm
Tiền giấy từ năm 1976 đến nay luôn được trang bị độ bảo an bằng hình chìm như ngôi sao, bông hoa và chân dung; đặc biệt các tờ tiền năm 1980 vẫn có số seri màu đỏ và được in ở nhiều loại giấy bạc khác nhau Có loại chữ số in mỏng, cũng có loại chữ số in đậm, nhằm tăng khả năng nhận diện và chống giả (Hình 59).
Chính phủ Việt Nam đã cho đúc và lưu thông các đồng xu tại hai miền Nam-Bắc với các mệnh giá 1 hào, 2 hào, 5 hào và 1 đồng Tất cả đồng xu được làm bằng nhôm, đúc vào năm 1976, và ở mặt sau là quốc huy của Việt Nam (Hình 60).
Vào năm 1985, Chính phủ Việt Nam ban hành sắc lệnh phát hành tờ tiền mới và quy đổi 10 đồng cũ lấy 1 đồng mới, với các mệnh giá gồm 5 hào, 1, 2, 5, 10, 20, 30, 50, 100 và 500 đồng Tuy nhiên, vào năm 1987 nền kinh tế Việt Nam gặp nhiều khó khăn, nên Chính phủ đã in tiền hàng loạt và phát hành các mệnh giá 200, 1.000, 2.000 và 5.000 đồng để bù đắp cho thiệt hại kinh tế.