Đề tài Khảo luận về mối quan hệ giữa văn tự và yếu tố âm nhạc trong thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Cao Bá Quát Đề tài Khảo luận về mối quan hệ giữa văn tự và yếu tố âm nhạc trong thơ chữ Hán.Những văn tự Hán chở tải ý niệm âm nhạc vào trong thi ca, góp phần quan trọng vào việc kiến tạo những giá trị nội dung và nghệ thuật của mỗi tác phẩm. Không chỉ vậy, nghiên cứu văn tự Hán và âm nhạc trong thơ chữ Hán chính là một hướng đi cần thiết nhằm giải mã tư tưởng và phong cách nghệ thuật của “những ngôi sao sáng trong bầu trời văn học trung đại Việt Nam” – mà điển hình là Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Cao Bá Quát.Muốn hiểu trọn vẹn ý nghĩa của văn tự Hán, trước tiên cần tiến hành giải nghĩa và truy nguyên nguồn gốc văn tự của từng yếu tố, đồng thời dựa trên cơ sở, bối cảnh lịch sử văn hóa để lý giải ý nghĩa hàm ẩn mà cổ nhân đã gửi gắm qua văn tự Hán. Đối với các văn tự Hán biểu đạt yếu tố âm nhạc thì âm nhạc cũng chính là chiếc chìa khóa để mở ra cánh cửa Không chỉ vậy, trong thơ chữ Hán Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, các yếu tố âm nhạc còn có vai trò và vị trí rất quan trọng Việc nghiên cứu văn tự Hán và âm nhạc trong thơ chữ Hán cũng như giá trị của các yếu tố âm nhạc trong thơ chữ Hán là một hướng đi còn khá mới mẻ nhưng cũng rất cần thiết, đồng thời có giá trị thực tiễn đối với quá trình giảng dạy và học tập bộ môn Ngữ văn ở trường phổ thông.Với những lí do như trên, tôi đã lựa chọn đề tài “Khảo luận về mối quan hệ giữa văn tự và yếu tố âm nhạc trong thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Cao Bá Quát”. Hy vọng rằng, với đề tài này, chúng tôi có thể đóng góp thêm một cái nhìn vào công trình nghiên cứu hệ thống ngôn ngữ Hán Nôm trong nền văn học trung đại Việt Nam nói chung và trong các tác phẩm thơ chữ Hán Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Cao Bá Quát nói riêng.
Trang 2Lời cảm ơn
Trên thực tế, không có sự thành công nào mà không gắn với sự giúp đỡ du ít hay nhiều, du trực tiếp hay gián tiếp của những người xung quanh Để hoàn thành báo cáo khoa học này, tác giả đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ
vô cung quý báu của các tập thể và cá nhân
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS TS Nguyễn Thị Thanh Chung, người đã tận tâm hướng dẫn em trong quá trình học tập và triển khai báo cáo khoa học để em có thể hoàn thành đề tài nghiên cứu này
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn CLB Sinh viên Nghiên cứu khoa học Khoa Ngữ Văn đã hỗ trợ cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu
Tuy nhiên, do lần đầu thực hiện và thời gian nghiên cứu có hạn nên báo cáo không tránh khỏi những thiếu sót, tôi kính mong được sự chỉ dẫn, góp ý của Hội đồng khoa học và các thầy cô giáo
Hà Nội, ngày 15 tháng 4 năm 2019
Sinh viên thực hiện
Hoàng Thị Kiều Anh
Trang 36 Đóng góp của đề tài 13
8 Cấu trúc của đề tài 14
NỘI DUNG
Chương I: Cơ sở lý luận về mối quan hệ văn tự - âm nhạc và giới thiệu
hệ thống văn tự biểu đạt yếu tố âm nhạc trong thơ chữ Hán của Nguyễn 15
Trãi, Nguyễn Du, Cao Bá Quát
1 Cơ sở lý luận về mối quan hệ văn tự - âm nhạc 15
1.1 Giới thuyết chung về văn tự Hán và âm nhạc 15
1.1.1 Văn tự Hán và khả năng biểu thị ý niệm văn hóa 15
1.1.2.1 Âm nhạc cổ Trung Quốc 16
Trang 41.1.2.2 Sự tiếp thu nền âm nhạc cổ Trung Quốc vào Việt Nam 21
1.2 Mối liên hệ giữa chữ Hán và âm nhạc 24
2 Giới thiệu hệ thống văn tự Hán biểu đạt âm nhạc trong thơ chữ Hán 25
2.1 Cơ sở tư liệu và tiêu chí khảo sát, phân loại 25
2.1.1 Cơ sở tư liệu 25
2.1.2 Tiêu chí khảo sát và phân loại 26
2.2 Kết quả khảo sát và phân loại 26
2.2.1 Các bài thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Cao Bá Quát biểu 26 đạt âm nhạc
2.2.2 Phân loại chữ Hán biểu đạt âm nhạc trong thơ chữ Hán Nguyễn Trãi, 32 Nguyễn Du và Cao Bá Quát
Chương II: Khảo luận về mối quan hệ giữ văn tự Hán và âm nhạc trong 48
thơ của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Cao Bá Quát
1 Cơ sở phân nhóm các văn tự Hán biểu đạt âm nhạc 48
2 Giải thích chữ Hán biểu đạt âm nhạc từ góc nhìn nhạc lý 48
2.1 Nhóm 1: Các nhạc cụ âm nhạc có bộ Ngọc: 琴 Cầm, 琴琴 Dao cầm, 48
Tỳ bà 琴琴
2.1.1 Tầm nguyên và giải nghĩa chữ Hán 48
2.1.2 Lý giải một số vấn đề bằng kiến thức âm nhạc: Ý nghĩa việc sử dụng
2.2 Nhóm 2: Các nhạc cụ âm nhạc có bộ Trúc 琴: 琴 tranh; 琴 quản;琴
52
Trang 5địch; 琴 tiêu; 琴 Lại
2.2.1 Tầm nguyên và giải nghĩa chữ Hán 52
2.2.2 Lý giải một số vấn đề bằng kiến thức âm nhạc 53
(琴 quản; 琴 địch; 琴 tiêu; 琴 Lại)
2.3 Nhóm 3: Các bộ phận nhạc cụ âm nhạc có bộ Mịch 糸: 琴 Ti, 琴 57
huyền, 琴 sách (trong cụm từ 琴琴 huyền sách)
2.3.1 Tầm nguyên và giải nghĩa chữ Hán 57
2.3.2 Lý giải một số vấn đề bằng kiến thức âm nhạc: Ý nghĩa việc sử dụng
bộ Mịch 糸trong chữ Hán chỉ các bộ phận của nhạc cụ âm nhạc 59
2.4 Nhóm 4: Các chữ Hán chỉ cách thức sử dụng nhạc cụ tương ứng với
60
từng loại nhạc khí: 琴 Tháo, 琴 Lý, 琴 Điều, 琴 Đàn, 琴 Xuy, 琴 Hoành,
琴 Tấu
2.4.1 Tầm nguyên và giải nghĩa chữ Hán 60
2.4.2 Lý giải một số vấn đề bằng kiến thức âm nhạc: Tính đặc trưng của các 62
chữ Hán chỉ cách thức sử dụng nhạc cụ tương ứng với từng loại nhạc khí
Chương III: Nghiên cứu giá trị của yếu tố âm nhạc trong thơ chữ Hán 66
của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Cao Bá Quát và định hướng dạy học tác
Trang 6phẩm thơ chữ Hán biểu đạt âm nhạc
1 Nghiên cứu giá trị yếu tố âm nhạc trong thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi, 66
Nguyễn Du, Cao Bá Quát
1.1 Âm nhạc – biểu hiện của tính tự nhiên và tính thẩm mĩ theo quan niệm 66
cổ
1.1.1 Tính tự nhiên của âm nhạc 66
1.1.2 Tính thẩm mĩ của âm nhạc 69
1.2 Âm nhạc – biểu hiện của tư tưởng Nho giáo 71
1.2.1 Quan niệm tu thân 71
1.3 Âm nhạc – nhân tố tác động tới cảm xúc, tâm trạng của thi nhân 76
1.3.1 Sự kết hợp của âm nhạc với hệ thống phương tiện biểu hiện 77
1.3.1.1 Âm nhạc đặt trong mối quan hệ với không gian nghệ thuật 77
1.3.1.2 Âm nhạc đặt trong mối quan hệ với thời gian nghệ thuật 78
1.3.2 Sự tác động của âm nhạc (đặt trong mối quan hệ với không gian – thời 80 gian) tới cảm xúc, tâm trạng của thi nhân
1.3.2.1 Nỗi cô đơn, trống vắng 80
1.4 Âm nhạc - đối tượng kí thác nỗi niềm thế sự và tư tưởng nhân sinh 86
1.4.1 Các yếu tố âm nhạc thể hiện nhận thức về thời đại 87
1.4.1.1 Hình tượng Cầm thư, Cầm kiếm 88
1.4.2 Âm nhạc và con người “tài hoa bạc mệnh” – tư tưởng nhân sinh sâu 95
sắc của Nguyễn Du
Trang 72 Định hướng dạy học tác phẩm thơ chữ Hán trong mối tương quan 100
giữa văn tự (Hán) - âm nhạc - văn học
2.1 Thực trạng dạy và học thơ chữ Hán trong trường phổ thông 100
2.2 Khả năng kết hợp giữa văn tự (chữ Hán) - âm nhạc - văn học trong 101
2.3.2 Tiếp cận tác phẩm từ phương pháp tầm nguyên văn tự Hán và minh 107
giải văn bản thơ chữ Hán biểu đạt âm nhạc
2.3.3 Tiếp cận tác phẩm từ phương pháp liên văn bản 109
DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 1 Các bài thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Cao Bá Quát biểu đạt yếu
tố âm nhạc
Trang 8Bảng 2 Các văn tự Hán chỉ nhạc cụ âm nhạc
Bảng 3 Các chữ Hán chỉ cách thức sử dụng nhạc cụ
Bảng 4 Các văn tự Hán liên quan đến kĩ thuật/ thủ pháp âm nhạc
Bảng 5 Văn tự Hán thể hiện tên các khúc nhạc cổ
Bảng 6 Các văn tự Hán miêu tả âm thanh của nhạc cụ âm nhạc
Bảng 7 Tầm nguyên và giải nghĩa chữ Hán có bộ Ngọc 琴 chỉ các nhạc cụ âm nhạc
Bảng 8 Tầm nguyên và giải nghĩa chữ Hán có bộ Trúc 琴 chỉ các nhạc cụ âm nhạc
Bảng 9 Tầm nguyên và giải nghĩa chữ Hán có bộ Mịch 糸 chỉ các bộ phận của nhạc cụ
âm nhạc
Bảng 10 Tầm nguyên và giải nghĩa chữ Hán chỉ cách thức sử dụng nhạc cụ tương ứng
với từng loại nhạc khí
Bảng 11 Phân loại các chữ Hán chỉ động tác sử dụng nhạc cụ tương ứng với từng loại
nhạc khí bộ dây và bộ hơi
Bảng 12 Khảo sát cặp hình tượng CẦM – KIẾM, CẦM – THƯ, LUẬT – KIẾM trong
thơ chữ Hán biểu đạt âm nhạc của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Cao Bá Quát
Bảng 13 Không gian nghệ thuật trong thơ chữ Hán có yếu tố âm nhạc của Nguyễn
Trãi, Nguyễn Du, Cao Bá Quát
Bảng 14 Thời gian ngày và mua trong thơ chữ Hán có yếu tố âm nhạc của Nguyễn
Trãi, Nguyễn Du, Cao Bá Quát
Bảng 15 Các bài học lý thuyết về âm nhạc trong SGK Âm nhạc và Mĩ thuật 6, 7, 8, 9
có khả năng tích hợp với văn tự (chữ Hán) và văn học
Bảng 16: Các bài học về thơ chữ Hán trung đại Việt Nam và liên quan đến chữ Hán
trong chương trình SGK Ngữ văn từ lớp 6 đến lớp 12
MỞ ĐẦU
Trang 91 Lý do chọn đề tài
Những văn tự Hán chở tải ý niệm âm nhạc vào trong thi ca, góp phần quan trọngvào việc kiến tạo những giá trị nội dung và nghệ thuật của mỗi tác phẩm Không chỉvậy, nghiên cứu văn tự Hán và âm nhạc trong thơ chữ Hán chính là một hướng đi cầnthiết nhằm giải mã tư tưởng và phong cách nghệ thuật của “những ngôi sao sáng trongbầu trời văn học trung đại Việt Nam” – mà điển hình là Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Cao Bá Quát
Muốn hiểu trọn vẹn ý nghĩa của văn tự Hán, trước tiên cần tiến hành giải nghĩavà truy nguyên nguồn gốc văn tự của từng yếu tố, đồng thời dựa trên cơ sở, bối cảnhlịch sử - văn hóa để lý giải ý nghĩa hàm ẩn mà cổ nhân đã gửi gắm qua văn tự Hán.Đối với các văn tự Hán biểu đạt yếu tố âm nhạc thì âm nhạc cũng chính là chiếc chìakhóa để mở ra cánh cửa Không chỉ vậy, trong thơ chữ Hán Nguyễn Trãi, Nguyễn Du,Cao Bá Quát, các yếu tố âm nhạc còn có vai trò và vị trí rất quan trọng Việc nghiêncứu văn tự
Hán và âm nhạc trong thơ chữ Hán cũng như giá trị của các yếu tố âm nhạc trong thơchữ Hán là một hướng đi còn khá mới mẻ nhưng cũng rất cần thiết, đồng thời có giá trịthực tiễn đối với quá trình giảng dạy và học tập bộ môn Ngữ văn ở trường phổ thông
Với những lí do như trên, tôi đã lựa chọn đề tài “Khảo luận về mối quan hệ giữa
văn tự và yếu tố âm nhạc trong thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Cao Bá Quát” Hy vọng rằng, với đề tài này, chúng tôi có thể đóng góp thêm một cái nhìn vào
công trình nghiên cứu hệ thống ngôn ngữ Hán Nôm trong nền văn học trung đại ViệtNam nói chung và trong các tác phẩm thơ chữ Hán Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Cao Bá Quát nói riêng
2 Lịch sử vấn đề
Thơ ca viết bằng chữ Hán là bộ phận quan trọng trong văn học Việt Nam Quacác triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ, Hậu Lê, Nguyễn, chữ Hán đã đóng vaitrò là công cụ hàng đầu của nền văn học bác học Việt Nam Việc sáng tác thơ ca bằngchữ
Trang 10Hán đã tạo nên một loạt những tên tuổi lớn, đóng góp không nhỏ vào nền văn họcnước nhà (Nguyễn Trãi, Nguyễn Trung Ngạn, Nguyễn Du, …) Sử dụng chữ Hán nhưmột thứ chuyển ngữ vào tất cả các lĩnh vực của đời sống và học thuật, cha ông ta đãkiến tạo nên một nền văn hiến Việt Nam tự chủ đồ sộ Thơ ca (chữ Hán) chính là mộtmảng di sản văn hóa thành văn thể hiện rõ nét và tinh tế đời sống tâm hồn của ngườiViệt Cung với việc phát triển của học phong Đại Việt, với tác động của khoa cử Nhohọc, chữ Hán và thơ chữ Hán ngày càng phát triển thành thục hơn, ở tất cả các phươngdiện nội dung cũng như nghệ thuật, đặc biệt là về vốn từ vựng Đến thế kỉ XV, thơ chữHán đã đạt đến độ thành thục, song các thế kỉ sau đó, đặc biệt là đến Nguyễn Du, đãlàm nên tập đại thành [18]
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du,Cao Bá Quát ở những mức độ rộng hẹp khác nhau: từ chuyên luận đến luận án, tạp chí,tiêu biểu là các công trình:
số 1
phẩm mới, Hà Nội
văn học, Số 4
Trang 11hướng nghiên cứu đi từ giá trị văn học, hướng nghiên cứu đi từ giá trị văn hóa vàhướng nghiên cứu từ phương diện ngôn ngữ (văn tự Hán)
Đi từ giá trị văn học của tác phẩm là hướng nghiên cứu phổ biến nhất vớikhối lượng công trình nghiên cứu đa dạng và chất lượng, công phu
Những công trình nghiên cứu về Ức Trai thi tập từ trước đến nay hầu như chỉ chútrọng đến phiên âm, dịch, chú thích hoặc phân tích giá trị nội dung, nghệ thuật của tácphẩm Các công trình khảo luận, nghiên cứu Ức Trai thi tập tập trung vào những vấnđề chính sau: Con người Nguyễn Trãi, cảnh ngộ và niềm tâm sự sâu lắng: Miễn Trai
phân tích “hai cảnh ngộ một tâm tình của nhà thơ Nguyễn Trãi” và đã đi sâu tìm hiểu nguồn gốc tư tưởng nhân nghĩa của ông, Trương Chính khám phá “những vần thơ
nặng chất suy tư”, Nguyễn Huệ Chi tìm hiểu “Niềm thao thức lớn trong thơ Nguyễn Trãi”… (Dẫn theo Lê Văn Toan [53, 4])
Thơ chữ Hán Nguyễn Du cũng có sức hút lớn với giới nghiên cứu Lê Thước,
Đào Duy Anh khẳng định giá trị của thơ chữ Hán trong việc phản chiếu cuộc đời và
tâm sự Nguyễn Du; Nguyễn Huệ Chi phát hiệu con người tư tưởng và hình tượng tự họa đặc sắc; Nguyễn Lộc khẳng định vấn đề trung tâm trong sáng tác của Nguyễn Du
là nỗi đau đời;… [ 36, 11]
Khai thác giá trị thơ ca trong thơ chữ Hán Cao Bá Quát có thể kể đến các côngtrình, bài viết về “Không gian đường đời và sự thể hiện nhận thức con người phi lýtrong thơ Cao Bá Quát” của tác giả Nguyễn Kim Châu (2004) [52] hay “Cao Bá Quátvà con người suy tưởng” của tác giả Nguyễn Tài Thư (1980) [49]; … v.v…
Tiếp cận tác phẩm từ điểm nhìn văn hóa – tư tưởng cũng là một hướng nghiên
cứu quan trọng và dành được sự quan tâm không nhỏ của các học giả, nhà nghiên cứu
Tiêu biểu phải kể đến công trình nghiên cứu “Văn học trung đại Việt Nam: dưới góc
nhìn văn hóa” của tác giả Trần Nho Thìn (2003) [45]… Đặt các nhà thơ Nguyễn Trãi,
Nguyễn Du, Cao Bá Quát trong loại hình nhà nho “ẩn dật” hay “tài tử” để nghiên cứugồm có các công trình “ Tác giả nhà nho ẩn dật và văn học trung đại Việt Nam ” của
Lê Văn Tấn (2013) [42], Đoàn Lê Giang (2015) [22] với bài viết “Nhà nho tài tử”:
Trang 12Nguồn gốc, nội dung và ý nghĩa đối với việc nghiên cứu văn học trung cận đại Việt Nam”; Luận văn Thạc sĩ khoa học Ngữ văn “Tư tưởng thị tài trong thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Du từ góc nhìn so sánh” của tác giả Tạ Thu Thủy (2014) [48];… Nghiên
cứu tác giả trung đại trong mối quan hệ với tôn giáo có các bài viết của tác giả Lê Thị
Lan (2007) [27] về “Ảnh hưởng của Nho giáo trong tư tưởng Nguyễn Du”; tác giả Nguyễn Thanh Tung (2011) [55] với bài viết “Nguyễn Du với tư tưởng Đạo gia (qua
thơ chữ Hán)”;…Theo hướng đi sâu tìm hiểu tính hàm súc và tư tưởng mĩ học của thơ
chữ Hán, tính đa diện và bản sắc dân tộc của thơ Nguyễn Trãi trong bối cảnh văn hóa
Đại Việt và dòng thơ chữ Hán đời Trần có Đỗ Văn Hỷ bàn luận về “Tính hàm súc
trong thơ Ức Trai”, Trần Thị Băng Thanh so sánh giữa “Ức Trai thi tập và thơ chữ Hán đời Trần”, Lê Trí Viễn phân tích ngọn nguồn về “Chất Đại Việt trong Ức Trai thi tập”, Võ Xuân Đàn “tìm hiểu tư tưởng mĩ học của Nguyễn Trãi”,… (Dẫn theo Lê Văn
Toan [53, 5])
Bên cạnh hai hướng nghiên cứu về văn học và văn hóa là hướng tiếp cận tác
phẩm văn học từ góc độ nghiên cứu ngôn ngữ Đây là một cách làm không mới nhưng
là một trong những cách làm thể hiện nhiều “sức nghiên cứu” Xu hướng tiếp cận bằngngôn ngữ thơ thực chất là việc khảo sát về mặt ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp của văn bảnthơ Kết hợp cách tiếp cận này với thao tác so sánh, chúng ta có thể xác lập mộtphương pháp nghiên cứu phong cách thơ Triển khai khảo sát các mặt ngữ âm, từvựng, ngữ pháp trên nhiều văn bản thơ, ở nhiều tác giả thơ cụ thể, sau đó đối chiếu vớicuộc đời cá nhân, thời đại lịch sử và các yếu tố liên quan khác, mục đích cần đạt đượclà tìm tích hợp các đặc trưng riêng của mỗi văn bản thơ, mỗi tác giả thơ, thậm chí của
cả một giai đoạn thơ Công việc trên có hai ý nghĩa, thứ nhất, chúng ta có thể xác địnhđược các phong cách thơ thông qua các tích hợp đó; thứ hai, chúng ta có thể hình dungsự phát triển của ngôn ngữ thơ ca thông qua sự biến chuyển từ một phong cách nàysang một phong cách thơ khác (Dẫn theo Nguyễn Thị Lan Anh [3, 85])
Theo hướng nghiên cứu về ngôn ngữ có Nguyễn Tài Cẩn và Vũ Đức Nghiệu
(2001) với bài nghiên cứu “Một vài nhận xét bước đầu về ngôn ngữ trong thơ Nguyễn
Trang 13Trãi”, Sách: Một số chứng tích về ngôn ngữ văn tự và văn hóa, NXB Đại học Quốc
gia Hà Nội Ngoài ra còn nhiều đề tài luận văn, luận án lựa chọn khảo luận về ngônngữ trong thơ chữ Hán Trong Luận án Tiến sĩ Ngữ văn của mình, tác giả Lê Văn Toan(Trường Đại học Sư phạm Hà Nội) [53] đã đi sâu nghiên cứu phương thức sử dụng
chữ Hán của người Việt trong lĩnh vực sáng tạo thơ văn qua Ức Trai thi tập, từ đó
nghiên cứu việc sử dụng vỏ ngữ âm chữ Hán đương thời như thế nào để sáng tạo thơ
văn; Tác giả Nguyễn Thị Lan Anh (2014) [3] tiến hành khảo sát về “Hệ thống từ vựng
trong Bắc hành tạp lục và giá trị biểu đạt tư tưởng, phong cách nghệ thuật thơ chữ Hán Nguyễn Du”,… Trong các nghiên cứu này, các tác giả đều tiến hành khảo sát các
văn tự Hán, trong đó bao gồm cả các văn tự Hán chỉ âm nhạc, nhưng không gọi tên vàphân loại rõ ràng, cũng như không phân tích giá trị của các văn tự Hán chỉ âm nhạc đốivới tác phẩm
Trong hướng nghiên cứu thơ chữ Hán kết hợp với lĩnh vực âm nhạc có báo cáo khoa học “Nghệ thuật miêu tả tiếng đàn trong Tỳ bà hành và Long Thành cầm giả ca
dưới góc nhìn so sánh”, chuyên ngành Hán Nôm của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Hà
(2006), trường ĐHSP Hà Nội [14] Tuy nhiên tác giả không đi sâu vào mặt ngôn ngữvăn tự Hán mà chỉ tập trung vào nội dung tư tưởng và nghệ thuật của hai tác phẩm Nhu vậy, có thể nhận thấy việc nghiên cứu giá trị thơ chữ Hán Nguyễn Trãi,Nguyễn Du, Cao Bá Quát thông qua việc khảo sát các đơn vị ngôn từ liên quan đếnlĩnh vực âm nhạc là một hướng nghiên cứu khá mới mẻ Tìm hiểu về chữ Hán và âmnhạc trong thơ chữ Hán của ba tác giả này là một vấn đề không hề đơn giản, bởi côngviệc này không chỉ liên quan đến đến các chuyên ngành thuộc bộ môn Ngữ văn: HánNôm, Văn học, Ngôn ngữ, Cơ sở văn hóa… mà còn có quan hệ mật thiết với bộ môn
Âm nhạc, đặc biệt là Âm nhạc Trung Hoa, bởi vậy đòi hỏi phạm vi nghiên cứu liênmôn (Ngữ văn - Âm nhạc) và liên văn hóa (văn hóa Việt Nam – Trung Hoa)
Các tài liệu kể trên đã đề cập đến một số phương diện cần nghiên cứu của thơchữ Hán Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, nhưng đa số đều là các nghiên cứumang tính cụ thể với từng tác giả và chủ yếu chú trọng vào đặc trưng văn học của các
Trang 14tác phẩm Đặc biệt, chưa có đề tài nào nghiên cứu chuyên sâu về mối quan hệ giữa văntự và yếu tố âm nhạc trong thơ chữ Hán trung đại nói chung và thơ chữ Hán củaNguyễn Trãi, Nguyễn Du, Cao Bá Quát nói riêng trên cơ sở kết hợp của các lĩnh vựcngôn ngữ, văn hóa, văn học và âm nhạc Trong phạm vi một bài nghiên cứu, người viếtkhông có tham vọng trình bày cặn kẽ vấn đề mà chỉ mong góp một góc nhìn, một khíacạnh khai thác mới về thơ chữ Hán Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Cao Bá Quát cũng nhưcác văn tự Hán đặt trong mối quan hệ với âm nhạc
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu hệ thống văn tự biểu đạt yếu tố âmnhạc trong thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Cao Bá Quát đặt trong mối liên
hệ với âm nhạc
- Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi tư liệu thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Cao
Bá Quát được lựa chọn là: 105 bài thơ trong cuốn Ức Trai thi tập, NXB Văn học, do
Lê Cao Phan biên soạn (2000); 249 bài thơ trong cuốn Thơ chữ Hán Nguyễn Du, NXB Văn học, do Lê Thước, Trương Chính dịch (1965), 160 bài thơ trong cuốn Thơ chữ
Hán Cao Bá Quát, NXB Văn học, do Vũ Khiêu tuyển dịch (1970) Phạm vi tư liệu bài
học bộ môn Âm nhạc và Ngữ Văn là 7c bộ SGK Âm nhạc & Mĩ thuật 6, 7, 8, 9 và cácbộ SGK Ngữ văn 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12 do Bộ giáo dục và Đào tạo ban hành (NXB Giáodục)
4 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là: Khảo sát và nghiên cứu hệ thống văn tự biểuđạt yếu tố âm nhạc trong thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Cao Bá Quát; từđó phân tích giá trị của các yếu tố âm nhạc trong thơ chữ Hán của ba tác giả và địnhhướng dạy học tác phẩm thơ chữ Hán biểu đạt âm nhạc để bước đầu vận dụng vào
giảng dạy tại nhà trường phổ thông
Trang 155 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Thống kê, khảo sát, phân loại các văn tự Hán biểu đạt yếu tố âm nhạc trong thơ chữHán của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Cao Bá Quát
- Tổng hợp, phân tích các kết quả khảo sát được, đưa ra những đánh giá, nhận định, kiếngiải riêng về các văn tự Hán biểu đạt yếu tố âm nhạc trong thơ chữ Hán của NguyễnTrãi, Nguyễn Du, Cao Bá Quát từ góc nhìn nhạc lý Đồng thời phân tích vai trò củachúng trong việc tạo nên giá trị của các tác phẩm thơ chữ Hán cũng như đặc điểm về
tư tưởng và phong cách nghệ thuật của ba tác gia Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Cao BáQuát - Bước đầu tìm hiểu và đề xuất các giải pháp nhằm khai thác hiệu quả sự kết hợpgiữa âm nhạc - văn tự (chữ Hán) - văn học trong giảng dạy thơ chữ Hán tại trường phổthông
6 Đóng góp của đề tài
Đề tài cung cấp những số liệu thống kê khoa học, cụ thể về hệ thống văn tự biểuđạt yếu tố âm nhạc trong thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Cao Bá Quátdưới hình thức bảng danh sách chỉ dẫn các thông số:
- Thông tin về bài thơ
- Văn tự Hán biểu đạt yếu tố âm nhạc
- Các nét nghĩa liên quan đến âm nhạc
- Tần số xuất hiện
Đây là một tài liệu cơ sở cho việc tra cứu ngôn ngữ thơ ca Nguyễn Trãi, Nguyễn Du,Cao Bá Quát trong quá trình học tập, phân tích, bình luận, nghiên cứu về các tác giảtrên
Đề tài đã tiến hành phân nhóm và bước đầu tầm nguyên, giải nghĩa các văn tựHán biểu đạt yếu tố âm nhạc trong thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Cao BáQuát từ góc nhìn nhạc lý
Trang 16Đề tài bước đầu kết luận về giá trị của yếu tố âm nhạc trong thơ chữ Hán củaNguyễn Trãi, Nguyễn Du, Cao Bá Quát và định hướng dạy học tác phẩm thơ chữ Háncó yếu tố âm nhạc trong nhà trường phổ thông
7 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: hệ thống hóa, phân tích, tổng hợp lý giải các hoạtđộng lý luận về lý thuyết folklore ứng dụng và TT
- Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại: Phương pháp này dung để thống kê sốlượng bài thơ có chứa chữ Hán biểu đạt âm nhạc trong các tập thơ chữ Hán của ba tácgiả Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Cao Bá Quát; số lượng các chữ Hán liên quan đến âmnhạc được sử dụng trong các bài thơ ở những tần số nhất định; phân loại các chữ Hántheo điểm chung về tính chất đặc trưng của âm nhạc; … để làm cơ sở thực tiễn chonhững kết luận, nhận định về sau
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Đây là việc làm trên số liệu, nhằm tìm kiếm các cứliệu ngôn ngữ cụ thể để làm sáng tỏ vấn đề Dựa trên ngữ liệu đã khảo sát, nhómnghiên cứu tiến hành tổng hợp và phân tích những giá trị của yếu tố âm nhạc trongviệc biểu đạt giá trị nội dung, nghệ thuật của các tác phẩm thơ chữ Hán cũng như thểhiện đặc điểm tư tưởng và phong cách nghệ thuật của ba tác gia Nguyễn Trãi, Nguyễn
Du, Cao Bá Quát từ đó người viết nhận thấy nét tương đồng và điểm sáng tạo của cáctác giả qua từng tác phẩm cụ thể
- Phương pháp so sánh: Phương pháp này được sử dụng nhằm chỉ ra những điểm tươngđồng và khác biệt về cách sử dụng và ý nghĩa của các yếu tố âm nhạc trong thơ củatừng tác giả cũng như sự kế thừa và phát triển quan niệm về âm nhạc của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Cao Bá Quát đặt trong sự đối sánh với quan niệm âm nhạc cổ củaTrung Hoa
- Phương pháp liên ngành: Phương pháp này được dung trong việc suy luận, khái quátnên những đặc điểm nội dung và nghệ thuật các bài thơ chữ Hán có liên quan đến âmnhạc của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Cao Bá Quát từ những kết quả khảo sát đã thống
Trang 17kê trước đó Đây là phương pháp giúp cho những thông số mang tính chất ngôn ngữhọc trở nên có ý nghĩa, liên quan mật thiết với giá trị văn học của tác phẩm
8 Cấu trúc của đề tài
Chương I: Cơ sở lý luận về mối quan hệ văn tự - âm nhạc và giới thiệu hệ thống văn tự biểu đạt yếu tố âm nhạc trong thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Cao Bá Quát Chương II: Nghiên cứu hệ thống văn tự biểu đạt yếu tố âm nhạc trong thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Cao Bá Quát Chương III: Nghiên cứu giá trị của yếu tố âm nhạc trong thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Cao Bá Quát và định hướng dạy học tác phẩm thơ chữ Hán biểu đạt
âm nhạc
NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ VĂN TỰ - ÂM NHẠC VÀ GIỚI THIỆU HỆ THỐNG VĂN TỰ BIỂU ĐẠT YẾU TỐ ÂM NHẠC TRONG THƠ CHỮ HÁN CỦA NGUYỄN TRÃI, NGUYỄN DU,
CAO BÁ QUÁT
1.1 Cơ sở lý luận về mối quan hệ văn tự - âm nhạc
1.1 Giới thuyết chung về văn tự Hán và âm nhạc 1.1 1 Văn tự Hán và khả
năng biểu thị ý niệm văn hóa
Chữ Hán là văn tự Thần truyền, là tải thể quan trọng của văn hoá truyền thống,trong tiến trình phát triển đã ngưng kết tinh hoa của nền văn minh 5000 năm
Khi tạo chữ, cổ nhân đã dung nhập tiêu chuẩn đạo đức của mình vào trong cấutạo của từng chữ “Tự tiểu càn khôn đại” (Chữ nhỏ chứa cả trời đất lớn), nội hàm chữ
Trang 18Hán chính thống phản ánh quan niệm kính Trời kính Thần và sự tuân thủ đạo đức luânthường truyền thống của cổ nhân Trung Hoa
Xét về bản thân chữ Hán, nó cũng là thành phần cấu tạo trọng yếu của văn hoátruyền thống Bởi lẽ Hán tự là chữ biểu ý, là thể chữ kết hợp giữa Hình, Âm, Nghĩa,dung Hình để biểu đạt ý, cũng chính là nhìn Hình mà hiểu ý Cho nên mỗi chữ sảnsinh đều có nội hàm văn hoá rất phong phú “Văn tự” là gì? Trong “Thuyết Văn GiảiTự” nói rằng: “Văn, thác hoạ dã, tượng giao văn, kim tự tác “Văn””, nghĩa là tiến hànhmiêu tả chỉnh thể về hình tượng của sự vật, bút hoạ giao thoa, liên quan mật thiết vớinhau, chẳng thể tách rời “Đại tượng hữu hình”, “Tượng hình”, từ cổ “Văn” thông vớichữ
“Văn”, chỉ những đường vân, được trích dẫn làm quy luật, phép tắc và những đặctrưng giống nhau cho vạn vật “Văn dĩ tải đạo, văn giả, đạo chi hiển dã”, nghĩa là “Văncó thể tải đạo, người viết văn làm vinh hiển đạo” Chữ “Tự 糸”, gồm bộ “Miên 糸” vàchữ “Tử 糸” Ý nghĩa của từ này là: Hình của chữ “Tự 糸” là một đứa trẻ dưới mái nhà,
gian, ngụ ý rằng đứng trong không gian của vũ trụ mới có thể thực sự nhận thức đượcnội hàm của chữ “Tự 糸” Chữ là tải thể của văn Trong cuốn “Thuyết Văn Giải Tự” nóirằng: “Thương Hiệt sơ tác thư, cái y loại tượng hình, cố vị chi văn, kỳ hậu hình thanhtương ích, tức vị chi tự”, nghĩa là “Ban đầu khi Thương Hiệt tạo chữ, ông mô phỏngtheo hình tượng các sự vật, nên gọi nó là Văn, sau đó hình thanh bổ trợ nhau, nên gọi
là Tự.” Như vậy, văn tự là công cụ truyền thừa văn hoá và văn minh.[7]
Quan niệm truyền thống của Trung Quốc về “văn hóa thần truyền” cho rằng nềnvăn minh phong phú của Trung Quốc là do thần truyền xuống Văn tự tiếng Trung, ydược, nông nghiệp, tơ lụa, và nhạc khí đều được coi là do các vị thần truyền cấp cho,bởi vậy văn tự Hán cũng chính là một phương thức để biểu niệm ý nghĩa văn hóa tâmlinh ẩn sâu trong từng nhạc cụ âm nhạc
Chữ Hán được du nhập vào Việt Nam từ xa xưa, các triều đại phong kiến đã sửdụng chữ Hán trong mọi công việc hành chính cũng như việc học hành thi cử Bởi đó,
Trang 19chữ Hán đã trở thành một ngôn ngữ thành văn trải qua nhiều triều đại phong kiến và ănsâu vào nền văn hóa, văn học của người Việt
1.1.2 Âm nhạc
1.1.2.1 Âm nhạc cổ Trung Quốc
Âm nhạc Trung Quốc có lịch sử lâu đời, phát triển đa dạng, phong phú, đặc sắc,hình thức thể hiện đẹp đẽ, tự hình thành một trường phái riêng “Thời viễn cổ, điệumúa nguyên thủy phản ánh phương thức sinh hoạt và sản xuất của bộ lạc, phần lớnxuất phát từ những tình cảm chân chất nguyên sơ nhất Đến thời kì chế độ nô lệ, camúa trở thành một vũ khí tinh thần để nhấn mạnh lợi ích của người thống trị, nhấnmạnh về thống trị tinh thần, chuyển hướng sang ca tụng công đức của quốc vương vàvương quyền Thời kì Xuân Thu Chiến quốc (770 – 221 TCN), xã hội nô lệ dần dầnchuyển sang xã hội phong kiến, tư tưởng, kĩ thuật sản xuất tiên tiến cũng dần mở ramột con đường phát triển mới cho văn hóa âm nhạc Thời này các loại nhạc cụ ngàycàng phong phú, chết tác từ thô ráp dần phát triển trở nên tinh xảo, và bắt đầu phânloại theo chất liệu chế tác Đến đời Đường (618 – 907), nhà nước đã bắt đầu thiết lập
cơ quan chuyên trách giáo dục và quản lý âm nhạc Đời Tống là thời kì hý kịch TrungQuốc phát triển trưởng thành, đời Nguyên (1206 – 1368) bước đầu hình thành phongcách Nam Bắc khúc, sản sinh ra nhiều tạp kịch kinh điển được lưu truyền đến ngàynay, âm nhạc Trung Quốc từ việc thể hiện tình cảm bình thường đã chuyển hướng sangbiểu lộ nhân tính sâu sắc, thể hiện thế giới nội tâm của các nhân vật khác nhau Âmnhạc thời nhà Thanh (1368 – 1911) có đặc điểm bình dân hóa, thế tục hóa, xuất hiệnnhiều thể loại ca khúc, [52, 7-8]
Riêng ở phương Đông, nền âm nhạc Trung Quốc đã hình thành gần 5.000 năm nay! Tại Trung Quốc, từ xa xưa, âm nhạc gần như độc quyền trong việc tế thần, thiết triều, các lễ phong thiện, lễ thái miếu không thể thiếu âm nhạc Âm nhạc vì sao trọng đại, thiêng liêng như vậy? Thử chiết tự chữ “Âm” trong âm nhạc, ta sẽ thấy nó gồm bộ
“lập” ở trên, và bộ “nhật” ở dưới, mang một ý nghĩa rất sâu xa: “Dưới mặt trời, vật nàocũng có tiếng nói cả”; hoặc “Những âm thanh réo rắt có được khi mặt trời lặn ” Chữ
Trang 20“Âm” là vậy, còn chữ “Nhạc” thì sao? Cũng cung một cách viết, khi đọc là “Nhạc” nómang tính chất âm luật, đọc là “Lạc” nó chỉ cho sự vui thú phấn khởi, nếu trang điểmvào vài cọng cỏ thì nó có nghĩa là dược (thuốc) Tóm lại, âm nhạc (theo nghĩa “trêncành lá”) là nguồn gốc giúp cho con người vui thú, khỏe mạnh
Trung Quốc được biết đến là đất nước có nền văn hóa đa dạng và lâu đời Do đó,
từ xa xưa nhạc cụ của Trung Quốc đã rất đa dạng và gắn liền với cuộc sống của con
dây
, bộ gõ, và hơi Các loại này cũng được chia theo các loại vật liệu được sử dụng, ví
dụ như tre, gỗ, đất sét, kim loại…
Trong chương Nhạc cụ và khí nhạc dân tộc, Kiều Kiến Trung nhận định: “Khínhạc dân tộc Trung Quốc trong quá trình lịch sử phát triển mấy nghìn năm, đã hìnhthành rất nhiều chủng loại, tích lũy được rất nhiều khúc điệu, xuất hiện rất nhiềungười diễn tấu kiệt xuất Ngay từ khi cung đình nhà Chu xác lập chế độ lễ nhạc phiềntoái, đó là quan chức và văn nhân có học hành, bình thường cũng phải học tập một hainhạc cụ Phương thức giáo dục và truyền thống tu nhân dưỡng tính này đã kéo dàihơn 3000 năm Chế độ do Nhà nước đề xướng, chính quyền duy trì này, đã tạo điềukiện cực kỳ thuận lợi cho việc lưu truyền, kế thừa khúc điệu truyền thống nhạc cụTrung Quốc [54, 101]
Chữ Nhạc đây không chỉ là ca nhạc, mà còn gồm cả vũ đạo (múa) Nhạc ký viết:
«Chuông, trống, sáo, khánh, vũ, thược, can, qua, là những nhạc khí; co duỗi, ưỡn,khom, chụm, tỏa, nhanh, chậm, là nhạc văn.» Nói cách khác, nhạc gồm: Thi, Ca,Nhạc, Vũ [59]
Theo quan niệm xưa, nhạc là sự phối hợp của thanh âm, màu sắc, tiết tấu,chuyển động để mà kích thích, di dưỡng tâm thần con người Nhạc cổ Trung Hoagồm: Ngũ thanh và thập nhị luật, Bát âm và nhạc khí, Vũ khí (dụng cụ dung để múa:đạo cụ)
Ngũ thanh (đúng hơn là 5 dây) gồm:
- Cung 糸 (Quân 糸, 81, Thái Cực)
Trang 21- Thương 糸 (Thần 糸, 72, Thiếu Dương)
- Giốc 糸 (Dân 糸, 64, Thiếu Âm)
- Chủy 糸 (Sự 糸, 54, Thái Dương)
- Vũ 糸 (Vật 糸, 48, Thái Âm)
Ngũ âm vừa vặn với Ngũ hành, mỗi dây ứng theo mỗi hành:
Lại ứng theo bốn mua: Thu; Xuân; Hạ; Đông
Năm cung tương sinh theo định luật «Tam phân tổn ích, cách bát tương sinh.»
Vẽ lên vòng tròn, ta có:
bốn thanh âm kia
- Thương là thần tử (thần 糸) có nhiệm vụ làm cho mọi sự trở nên hiển dương, kếtquả
- Giốc là vạn dân (dân 糸) như muốn tung ra khỏi vỏ vật chất để nhô lên hướngtinh thần
- Chủy là vạn sự (sự 糸) thịnh đạt, phong doanh, phúc khánh
- Vũ là vạn vật (vật 糸) qui tàng về lòng vũ trụ, lúc chung cuộc.[4]
Trang 22Như trên đã nói, Cung, Thương, Giốc, Chủy, Vũ ứng với năm dấu (note) là Fa(F), Sol (G), La (A), Do (C), Re(D) Sau này, Văn Vương thêm hai dây hay hai dấu(note) phụ là Biến Cung 糸 糸 và Biến Chủy 糸 糸 Thập nhị luật người Trung Hoa cònđặt ra 12 dấu gọi là luật Luật có Âm Dương:
* Sáu dấu Dương là Luật 糸, gồm: 1- Hoàng Chung 糸 糸; 2- Thái Thốc 糸 糸 ; 3- Cô Tẩy 糸糸; 4- Nhuy Tân 糸 糸; 5- Di Tắc 糸 糸; 6- Vô Dịch 糸 糸
* Sáu dấu Âm là Lã 糸, gồm: 1- Lâm Chung 糸 糸; 2- Nam Lữ 糸 糸; 3- Ứng Chung 糸 糸; Đại Lữ 糸 糸; 5- Giáp Chung 糸 糸; 6- Trọng Lữ 糸 糸
4-Ý nghĩa của âm nhạc đã được gửi gắm trong 12 dấu này, ví dụ:
- Hoàng Chung: Cốt để kích động, di dưỡng lục khí, cửu đức
- Thái Thốc: Cốt để giúp dưỡng khí, tức là tâm thân trở nên linh hoạt
- Cô Tẩy: Cốt để làm cho vạn vật trở nên khiết tịnh, đẹp đẽ để có thể đón nhận thầnlinh, tiếp đãi tao nhân mặc khách
- Nhuy Tân: Cốt để làm cho tinh thần của Thần và của người trở nên an tĩnh, thôngcảm
- Di Tắc: Chính là để đề cao 9 qui tắc trị dân
- Vô Dịch: Cốt là để truyền bá, ca tụng khí phách và sự nghiệp của các triết nhân,các anh hung hào kiệt, để treo gương cho dân
Còn 6 dấu âm chỉ có nghĩa là làm cho cái gì còn «trầm phục» có thể «hiểndương», cái gì đã «tán việt» được«điển xuyết»… [59]
Về nhạc khí
Hệ thống phân loại nhạc cụ Trung Quốc có liên quan đến Phật giáo và quanniệm về Âm – Dương, Bát quái (Càn, Khảm, Cung, Ly, Cấn, Chấn, Khôn, Đoài)
Sử sách nói rằng nhà Chu bắt đầu phân loại nhạc cụ theo “bát âm”, điều này là
đáng tin cậy Gọi là “bát âm” tức là lấy chất liệu quan hệ trực tiếp phát âm của nhạc cụthành tám loại (phân loại như thế, ngày nay xem ra không khoa học lắm, vì cách phânloại như thế khiến phần lớn chúng quan hệ chặt chẽ hơn với người thợ chế tác) Nhưngkhi ấy, cũng lại có liên quan với tập thể đoàn nhạc, cho nên phu hợp [54, 26]
Trang 231 Cách 糸: Da, gồm các loại trống (Cổ 糸= trống)
2 Bàu 糸: Quả bầu, gồm các loại nhạc khí: Sanh (Sênh) 糸, Hoàng 糸, Vu 糸
3 Trúc 糸: Trúc, gồm các loại quản, sáo như: Trì 糸 (sáo 8 lỗ); Địch 糸 (sáo ngang);Thược 糸 (sáo ngắn); Tiêu 糸 (sáo dọc); Quản 糸 (sáo)
4 Mộc 糸: Gỗ, gồm các loại: Chúc 糸, Ngữ 糸
5 Ti 糸: Tơ, gồm các loại đàn: Cầm 糸 (đàn 5 giây); Sắt 糸 (đàn 23 hoặc 25 giây);Không Hầu 糸 糸 (đàn giống đàn sắt có 23 giây); Trúc 糸; Tỳ Bà 糸 糸
Trang 246 Thổ 糸: Đất, gồm các lo i: Huân 糸 và Phữu (Phẫu) 糸
7 Kim 糸: Kim khí, gồm các loại chuông trống, não bạt, như: Chung 糸 (chuông); Bác
糸 (chuông to); Chạc 糸(chiêng); Nạo 糸 (não bạt)
8 Thạch 糸: Đá, gồm các loại khánh: Ngọc Khánh 糸 糸, Thạch Khánh 糸 糸, Đại Khánh
糸 糸, Biên Khánh 糸 糸, Sanh khánh 糸 糸, Tụng Khánh 糸 糸
Ta có đồ bản sau đây:
Thế là bát âm ứng với bát phương, bát quái Nghĩa là trong trời đất bất kỳ thứ gìnếu được tinh luyện chế hoá cũng có thể trở nên thanh kỳ và góp phần vào khúc đạihòa tấu của vũ trụ “Tám loại nhạc cụ này có thể hình thành một dàn nhạc chuôngtrống bề thế, chuông và khánh là nhạc cụ quan trọng, tiếng chuông vang dội, tiếngkhánh lảnh lót, khi chúng làm chủ tạo ra được hiệu quả âm hưởng trang trọng uynghiêm Quý tộc tối cao chọn dung chúng để thể hiện địa vị cao sang của mình trongxã hội, không còn gì thích hợp hơn nữa”, và “trên thực tế, chế độ lễ nhạc Tây Chu quyđịnh chỉ có thiên tử mới được hưởng cái gọi là « cung huyền » thôi” [54, 27 - 29] Nhạc có một phần kích, nên hết sức quan trọng đối với vua chúa xưa vì nó kíchđộng và thanh lịch hóa tâm thần, nên các trường đều phải học nhạc Mỗi triều đại lạicó một khúc nhạc tiêu biểu cho chí hướng, hoài bão và công trình của triều đại
1 Thời Hoàng Đế 糸 糸 có nhạc khúc Hàm Trì 糸 糸, ý muốn nói vua đã làm cho đạo đứcphát huy, thi triển được khắp nơi
đại hành, phát độ chương minh
Trang 253 Vua Đế Khốc 糸 糸 có nhạc Lục Anh 糸 糸, Chuyên Húc 糸 糸 có nhạc Ngũ Hành 糸 糸
4 Vua Thuấn 糸 có nhạc Tiêu Thiều 糸 糸 Thiều nghĩa là kế tục, ý nói vua Thuấn muốntiếp tục con đường của vua Nghiêu
5 Vua Đại Võ 糸 糸 có nh c Đại Hạ 糸 糸, ý nói vua Đại Võ nối tiếp về đường lối của haivua Nghiêu và Thuấn; muốn cho thiên hạ được thái bình
6 Nhà Ân 糸 có nhạc Đại Hộ 糸 糸, ý nói nhà Ân sẽ cố phục hưng, bảo hộ nền
đạo đức của các thánh vương xưa
7 Nhà Chu 糸 có nhạc Đại Chước 糸 糸, cũng gọi là Đại Vũ, ý nói là sẽ châm chước đểluôn theo đường lối của hai vua Văn, Võ [59]
Chỉ lược qua như vậy, cũng đủ biết người xưa quan niệm nghệ thuật (tiêu biểu là
âm nhạc) không phải để giải trí trong một đời sống khép kín, mà ở đó, luôn tàng ẩnthứ hoạt tính cao sâu vượt ra khỏi phạm vi bản năng và lý trí con người
1.1.2.2 Sự tiếp thu nền âm nhạc cổ Trung Quốc vào Việt Nam
Trong dòng chảy lịch sử, nền âm nhạc Việt Nam không ngừng hội tụ, hội nhập vàcũng là hội giao, hội lưu với rất nhiều nền âm nhạc của nhiều dân tộc, nhiều xứ sở -gần cũng như xa về mặt địa lý, khác biệt hoặc tương tự về truyền thống văn hóa màtiêu biểu là Trung Hoa, Ấn Độ, Pháp, Liên Xô,… Song, do “kiểu lựa chọn” theo những
“mục đích bất biến”, theo những tiêu thức, tựa như ngấm ngầm mà lại đầy sức sống,nền âm nhạc Việt Nam, theo một dòng chảy, với truyền thống hàng nghìn năm, vẫn lưugiữ được bản sắc văn hóa của nó, riêng nó.[2, 8]
Nhà nghiên cứu Nguyễn Thụy Loan nhận định: “Nền tảng cổ truyền của âm nhạcViệt Nam chính là một nền âm nhạc bản địa mang truyền thống Đông Nam Á, với đủnhững đặc trưng của nó” [30, 7] Về giai đoạn sau thế kỷ thứ X, tác giả viết: “đặc điểmchung của thời kỳ này là sự tiếp thu và đồng hóa những yếu tố văn hóa nghệ thuật và
âm nhạc Ấn Độ, Trung Hoa cũng như sự hòa quyện các yêu tố truyền thống bản địa
Trang 26Đó là “sáu trường hợp phải nghỉ thưởng thức nhạc:
1 Phải nghỉ lúc giá rét (đại hàn) Rét tác dụng đến các vật và làm teo đi nên lúc giá rétnhạc chơi không hay
2 Phải nghỉ lúc nắng nóng (đại nhiệt) Sự nóng nực làm các vật dãn ra, nên lúc nóng nựclàm người ta chơi kém các đàn dây
3 Phải nghỉ lúc gió lớn (đ i phong) Khi gió mạnh cuốn tung bụi bặm lên, nhạc chơi cũngkhông hay
4 Phải nghỉ lúc sấm sét Khi tiếng sét vang trong mây, dội xuống đất, nhạc chơi cũngkém đi
6 Phải nghỉ lúc tuyết nhiều Khi tuyết un đống lớn ngoài đường đi phủ trắng trờiđất Nhạc chơi cũng kém sút đi” [58] Và “bảy trường hợp không nên cầm đàn:
1 Không đàn khi nghe tin buồn
2 Không đàn trong tiếng ồn ào của chuông trống
3 Không đàn trong lúc gặp cơn bối rối
4 Không đàn trong lúc người không sạch sẽ
5 Không đàn khi ăn mặc không được chỉnh tề
6 Không đàn vì thiếu lò trầm hương
7 Không đàn nếu không có tri âm thưởng thức” [32]
Bởi vậy, chắc không phải ngẫu nhiên mà đại thi hào Nguyễn Du đã viết trongTruyện Kiều rằng: “Đốt lò hương ấy, so tơ phím này” Phải chăng đó là điều thứ sáutrong bảy điều (cấm kị) đối với người biểu diễn âm nhạc theo quan niệm của ngườixưa? Hiểu được những quan niệm trên là một bước quan trọng và cần thiết để nghiêncứu, giải mã các yếu tố âm nhạc xuất hiện trong thơ văn trung đại Việt Nam
Trang 27Ở Việt Nam, âm nhạc cũng được các triều đại chú trọng rất mực Các nhà chínhtrị lỗi lạc, các Nho gia uyên thâm cũng rất thận trọng khi nói đến âm nhạc Lịch sửđã ghi lại, vào năm 1436, vua Lê Thái Tôn sai Nguyễn Trãi và thái giám Lương Đăngđịnh lại Nhã nhạc ở cung đình, Nguyễn Trãi dâng sớ từ chối Lời sớ có đoạn “ Lúccó loạn dung võ, thái bình dung văn, nay chế lễ tác nhạc là hợp thời, lại e rằng, gốckhông chắc chắn thì văn dựa vào đâu mà đứng vững, vì hòa bình là gốc của nhạc vàthanh âm là văn của nhạc Thần phụng chiếu định lại nhạc đâu dám không hết lòng,ngặt vì thần học thức nông nổi, mà âm luật nhạc thì quá đỗi tinh vi, tự nghĩ khó lòngđiều hòa cho được Vậy kính xin bệ hạ thương yêu nuôi dưỡng trăm họ, khiến nhângian không có tiếng than phiền oán hận, như thế là giữ vững căn bản của nhạc, rồi sauhãy bàn đến âm thanh” Vua xem qua hết lời khâm phục Mãi đến đời Lê Thánh Tông,đất nước rất thịnh trị, Lê Thánh Tông mới cho định lại Nhã nhạc
Cuộc đụng độ giữa Nguyễn Trãi và Lương Đăng, cách đây hơn năm trăm năm,không phải là mâu thuẫn hoặc hiềm khích cá nhân, mà đó là cuộc đấu tranh nhằm bảo
Trang 28vệ bản sắc Việt Nam trong âm nhạc Theo Tô Vũ [56], Nguyễn Trãi (trong cuộc đấutranh này) có năm ý đồ:
1 “… bảo vệ lễ nhạc truyền thống, một thứ âm nhạc, theo Phạm Đình Hổ, thuần phác vàkhác với âm nhạc Trung Hoa…”
2 “… không có ý cự tuyệt hết thảy những gì có thể tiếp thu được từ ngoài… Điều màông chống đối là những sự bắt chước, rập khuôn mu quáng, lố lăng và “không căn cứ”
3 “… coi trọng âm thanh, xem nó là “văn”…; “cái gốc của âm nhạc”… “là ở hòabình”…
4 “tuy phục vụ ở cung đình nhưng cũng không đoạn tuyệt với âm nhạc dân gian”…
5 “Đó phải là một thứ lễ nhạc đôn hậu, giản dị, giữ vẹn truyền thống dân tộc…”
Nhận đinh về cuộc “đụng độ” này, Lưu Hữu Phước [39] viết: “Sự kiện tranh chấpNguyễn Trãi - Lương Đăng không phải là một hiện tượng đột xuất le lói, không chỉ làmột vấn đề va chạm quan điểm âm nhạc giữa hai cá nhân Đó là cả một cuộc đụng độlịch sử giữa văn hóa đồng nhất của dân tộc với văn hóa ngoại xâm được triều đìnhphong kiến chuyên chế cho du nhập vào” (Dẫn theo tác giả Dương Viết Á [1, 13-14]) Trong suốt tiến trình phát triển của lịch sử âm nhạc, ông cha ta vừa tiếp thu tinhhoa âm nhạc cổ Trung Hoa, vừa không ngừng sáng tạo để hình thành nền âm nhạcmang bản sắc dân tộc Việt Về nhạc khí, tuy tên gọi tám loại giống với Trung Hoanhưng Bát Âm Việt Nam có nhiều khác biệt:
Thạch là các nhạc khí chế tác bằng đá như Đàn Đá, Khánh Đá
Thổ là các nhạc khí làm bằng đất như Trống Đất của dân tộc Cao Lan
Kim là nhạc khí có dây bằng sắt
Mộc là các nhạc khí bằng gỗ như Song Loan, Mõ
Trúc là nhạc khí dung hơi thổi, chế tác từ cây trúc như Tiêu, Sáo
Bào là nhạc khí làm bằng vỏ quả bầu như Đàn Tính, Đàn Bầu
Ti là dây tơ, dung cho các loại đàn dây như Đàn Hồ, Đàn Nhị…
Cách là da, dung gọi các loại trống mặt bịt bằng da như Trống Cái, Trống Đế,Trống Bộc, Trống Chầu
Trang 29Như vậy, danh từ Bát Âm dung để phân loại nhạc khí theo chất liệu Khi nhạc khíngày một phát triển thì Bát Âm không còn chính xác như quan niệm cổ nữa Một câyđàn khi gảy lên, âm thanh của nó đã mang tính tổng hợp của nhiều nguyện liệu chế tác.Về các nhạc cụ nguồn gốc Trung Hoa, mặc du đàn tỳ bà có xuất xứ từ các nướckhác, nhưng qua thời gian dài sử dụng nó đã được bản địa hóa và trở thành cây đàn củaViệt Nam, thể hiện sâu sắc, đậm đà những bản nhạc mang phong cách của dân tộc Việt Nam trong lĩnh vực khí nhạc Nguồn gốc đàn tranh Việt Nam là đàn tranh giống nhưđàn Sắt và đàn cổ tranh (Guzheng) từ Trung Quốc truyền sang nước Việt có thể từ đờinhà Trần hay trước nữa, dung trong dân gian dưới dạng 9 dây, 15 dây, 16 dây và từ xưađến giờ thay đổi số dây từ dây tơ sang dây cước (dây đồng) đến dây thép Qua 7, 8 thế
kỷ, người nước Việt dung và bản địa hóa nó, tạo cho nó phong cách đặc thu trong thủpháp, ngón đàn, tay nhấn nhá, trong thang âm điệu thức, biến nó trở thành một loạinhạc cụ bản địa mang tính dân tộc, phu hợp với quan điểm thẩm mỹ của người Việt, vàgóp phần biểu đạt ngôn ngữ âm nhạc Việt Nam…
1.2 Mối liên hệ giữa chữ Hán và âm nhạc
Trong lịch sử, âm nhạc của Trung Quốc hay của nước ngoài ra đời sớm hơn cảchữ viết (Về khởi nguồn của âm nhạc Trung Quốc, sử sách cổ đại Trung Quốc đều catụng công lao của Hoàng Đế (cách ngày nay khoảng hơn 4.000 năm), tuy nhiên, từ cácphát hiện khảo cổ hiện nay cho thấy, một loạt ống sáo bằng xương được tìm thấy ở mộtsố di chỉ từ thời kì đồ đá mới là nhạc cụ được phát hiện có niên đại sớm nhất trên thếgiới cho tới ngày nay, có hơn 8.000 năm lịch sử, được coi là “Cây sáo đầu tiên ở TrungHoa” , cho thấy âm nhạc Trung Quốc thời tiền sử đã phát triển ở mức độ cao (Dẫn theoCận Tiệp [52, 10])
Như vậy, âm nhạc có thể chính là nguồn gốc, cơ sở cho việc hình thành các văn
tự Hán liên quan đến âm nhạc
Ngoài những văn bản còn để lại ra, trong văn giáp cốt cũng có ghi chép một số vũnhạc cúng lễ, nhưng rất sơ lược, rất khó khảo chứng kĩ Thí dụ chữ Vũ (bộ vũ và chữ
Trang 30hiệu – số), chúng ta chỉ biết chữ này là vũ nhạc mang tính chất cúng lễ cầu mưa, và từquy luật kết cấu của chữ Hán cổ đại, có thể suy đoán, đây là một loại vũ nhạc quy môrất lớn, vì thời cổ đại tất cả những chữ lấy từ kí hiệu Vu biểu thị âm đọc (tức là phần
“kí hiệu âm thanh” của chữ), thì ý nghĩa của chữ (từ) phần lớn mang ý nghĩa là lớn.[54, 16]
Trong các nhạc cụ đời nhà Thương, khánh làm bằng cả một khối tấm đá, trên cóđục lỗ, treo lên để gõ Khánh được đào lên từ di chỉ thời kì đồ đá mới, nhìn chung chỉcó đơn lẻ thôi, chế tác cũng tương đối thô sơ Vào thời kì đồ đá, khánh khá nổi bật, âmthanh vang dội, độ rền mạnh (khó bị các âm thanh khác lấn át, vang rất xa), lại khóhỏng
Đại loại thế nên khá là nổi tiếng trong xã hội thời đó Bởi vậy chữ “thanh” trong từ
“âm thanh” văn giáp cốt đời nhà Thương đã “vẽ” một chiếc khánh treo, bên cạnh “vẽ”thêm một chiếc tai (hoặc vẽ thêm một tay cầm dui gõ) để thể hiện Có nghĩa là “khánh”là thể hiện phát ra “thanh” âm [54, 17]
Còn một số chữ khác trong văn giáp cốt, theo các chuyên gia khảo chứng phải lànhạc cụ, trong đó có ống sinh nhạc cụ có dăm thổi (lưỡi gà), nhạc cụ ống địch (khèn)dàn nhiều ống… [54, 19]
Các bộ thủ đóng vai trò biểu ý trong tên các loại nhạc cụ thường dung để chỉ chấtliệu làm nên nhạc cụ hoặc chất liệu tạo âm, ví dụ như bộ mộc 琴 dung trong các nhạckhí bằng gỗ chủ đạo như các loại mõ bộ Trúc 琴 dung trong các nhạc cụ làm bằng ốngtre, trúc như sáo, tiêu, vu bộ Kim 琴 dung cho các nhạc khí bằng kim loại hoặc có dâybằng kim loại, ví dụ như Cương cầm (Dương cầm- Piano), chuông, chiêng , bộ Thạch
琴dung trong các nhạc cụ bằng đá, ví dụ như các loại khánh
Từ đây có thể khẳng định: Âm nhạc và văn tự Hán có mối liên hệ mật thiết vớinhau, đặc biệt, những văn tự Hán có yếu tố âm nhạc luôn lưu giữ trong nó ý niệm vănhóa của nền âm nhạc Trung Hoa
Trang 312 Giới thiệu hệ thống văn tự Hán biểu đạt âm nhạc trong thơ chữ Hán Nguyễn
Trãi, Nguyễn Du, Cao Bá Quát
2.1 Cơ sở tư liệu và tiêu chí khảo sát, phân loại
2.1.1 Cơ sở tư liệu
Trong quá trình lựa chọn văn bản, chúng tôi lấy tiêu chí quan trọng nhất là tínhhiệu quả cho khảo sát và mức độ tiệm cận nhất với số lượng văn bản mà đa số các nhànghiên cứu đã chứng minh được nguồn gốc, xuất xứ
Nguyễn Trãi là một tác gia văn học lớn trong nền văn học trung đại Việt Nam vớisáng tác ở rất nhiều thể loại Trong đó, thơ chữ Hán của ông được tập hợp trong cuốn
Ức Trai thi tập, bao gồm 105 bài thơ Trong phạm vi của báo cáo, nhóm nghiên cứulựa chọn bản dịch cuốn Ức Trai thi tập của dịch giả Lê Cao Phan (NXB Văn học –2000) [37] để tiến hành khảo sát
Trong quá trình biên soạn và chú giải, các nhà nghiên cứu văn bản học đã khẳngđịnh thơ chữ Hán Nguyễn Du được sáng tác trong một thời gian dài, từ năm nhà thơ 21tuổi (1786) đến năm nhà thơ 49 tuổi (1814) Trong khoảng thời gian gần 30 năm này,Nguyễn Du đã sáng tác hơn 200 bài thơ chữ Hán, về sau được biên định thành 3 tậpthơ: Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm và Bắc hành tạp lục [18] Vì ba tập thơđược tổ chức biên dịch trong quá trình sưu tầm nên tính chính xác về mặt văn bản chưacao Bởi vậy, trong điều kiện hiện tại, chúng ta đành chấp nhận tính tương đối củachúng Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả căn cứ vào cuốn Thơ chữ HánNguyễn Du do nhóm biên soạn của Lê Thước, Trương Chính tổ chức biên dịch, giớithiệu (NXB Văn học - 1965) [51] với 249 bài thơ để làm cơ sở khảo sát văn bản
Thơ chữ Hán cũng chiếm số lượng lớn trong sáng tác của Cao Bá Quát với con sốthống kê mà các nhà nghiên cứu đưa ra cho đến thời điểm hiện tại dao động ở khoảng
Trang 321353 bài thơ [24] Tuy nhiên, trong phạm vi báo cáo, người viết chỉ đi vào khảo sát vànghiên cứu một khía cảnh nhỏ là 160 bài thơ chữ Hán trong cuốn Tuyển dịch thơ chữHán Cao Bá Quát do Vũ Khiêu và nhóm tác giả biên soạn (NXB Văn học – 1970) Các thi tập này không chỉ góp phần làm nên diện mạo thơ ca trung đại mà còn lànguồn tư liệu quan trọng giúp chúng ta tìm hiểu mối liên hệ mật thiết giữa chữ Hán –
âm nhạc - thế giới nội tâm của chính tác giả cũng như tài năng trác tuyệt của họ trênnhiều phương diện
2.1.2 Tiêu chí khảo sát và phân loại
Toàn bộ các từ/cụm từ chữ Hán được sử dụng trong thơ chữ Hán Nguyễn Trãi,Nguyễn Du, Cao Bá Quát với ý nghĩa liên quan đến âm nhạc: chỉ nhạc cụ, cách thức sửdụng nhạc cụ, các kĩ thuật/ thủ pháp âm nhạc, chữ Hán miêu tả âm thanh của nhạc cụ,tên các khúc nhạc cổ…
2.2 Kết quả khảo sát và phân loại
2.2.1 Các bài thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Cao Bá Quát biểu đạt âm nhạc
Sau khi tiến hành khảo sát và tổng hợp, nhóm nghiên cứu đã thống kê được 46bài thơ (bao gồm 11 bài thơ của Nguyễn Trãi, 30 bài thơ của Nguyễn Du, 5 bài thơ củaCao
Bá Quát) có chứa văn tự Hán biểu đạt âm nhạc
Bảng 1: Các bài thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Cao Bá Quát biểu đạt yếu tố âm nhạc
bài
Số trang
Nguồn
Trang 331 Nguyễn
Trãi
琴 琴 琴 琴 琴琴
Đề Bá Nha cổ cầm đồ
(Vịnh tranh Bá Nha gảy đàn)
Chu trung ngẫu thành kỳ II
(Đi thuyền cảm tác – Kỳ II)
(Họa vần Trần Thượng thư đề
thảo đường của Nguyễn Bố
Trang 34Thu nguyệt ngẫu thành
(Dưới trăng thu tình cờ thành
Lưu biệt Nguyễn đại lang
(Bài thơ lưu lại khi cung anh
Nguyễn chia tay)
13 64 Thanh
Hiên thi tập
(78 bài)
Thơ chữ Hán Nguyễn
Du,
NXB Văn học, Hà Nội,
1965
(Lê
Hoàng Mai kiều vãn diểu
(Buổi chiều đứng trên cầu Hoàng
Trang 35Thước, Trương Chính
sưu tầm, chú thích, phiên
4 琴 琴 琴 琴 琴琴 琴 琴 琴 琴 琴 琴琴 琴 琴 琴 琴 琴 琴 琴 琴 琴琴 琴 琴琴
Hoạ Hải ông Đoàn Nguyễn Tuấn “Giáp Dần phụng mệnh nhập Phú Xuân đăng trình lưu biệt bắc thành chư hữu” chi
tác
(Họa vần bài thơ “Năm Giáp Dần (1794) vâng mệnh vào kinhPhú Xuân, lúc lên đường, lưubiệt các bạn ở Bắc thành” của Đoàn Nguyễn Tuấn)
dịch, sắp xếp)
Trang 36(40 bài)
12 琴 琴 琴 琴 琴 琴 琴琴
Đại tác cửu thú tư quy kỳ II
(Làm thay người đi thú lâu năm
(131bài)
Minh Giang chu phát
(Đi thuyền trên sông Minh
Giang)
Trang 37Thái Bình mại ca giả
(Người hát rong ở thành Thái
Trang 38Kê Khang cầm đài
(Đài gảy đàn cầm của Kê Khang)
NXB Văn học,
Hà Nội, 1970
(Nhóm tuyểndịch: Vũ Khiêu, Nguyễn Văn Tú,Nguyễn Trác,
Trang 39Hoàng Hữu Yên, Hoàng Tạo)
- Các văn tự Hán chỉ nhạc cụ âm nhạc: 琴 Cầm; 琴琴 dao cầm; 琴 / 琴 Huyền; 琴 琴 tỳ bà; 琴
tranh; 琴quản;琴địch; 琴tiêu; 琴 Lại
- Các văn tự Hán chỉ cách thức sử dụng nhạc cụ: 琴 tháo; 琴 tấu; 琴 lý; 琴 xuy; 琴 đàn; 琴
hoành; 琴 điều
- Các văn tự Hán liên quan đến kĩ thuật/ thủ pháp âm nhạc: 琴cung; 琴chủy; 琴
khúc; 琴琴 ngũ thanh; 琴琴 văn vũ; 琴phổ; 琴 luật; 琴 Âm; 琴 xoang; 琴 Ti; 琴琴 huyền sách; 琴
điệu
- Các văn tự Hán thể hiện tên các khúc nhạc: 琴 琴琴 Tiểu Tần Vương; 琴琴 Nam âm; 琴琴
Quảng Lăng; 琴琴 Quân thiều; 琴琴 Ngu cầm; 琴 琴 琴琴 Cao sơn lưu thủy; 琴琴 Lạc hoa; 琴琴
- Các văn tự Hán miêu tả âm thanh từ nhạc cụ âm nhạc: 琴hoãn; 琴thanh; 琴liệt; 琴ai; 琴 琴 琴
琴Cấp quản bi ti; 琴 琴 琴琴Thúy quản ngọc tiêu; 琴琴Khổ điệu; 琴琴 琴 Thanh thương điệu
Trang 40Mạn thành kỳ I (1) Mạn thành kỳ II (1) Hạ nhật mạn thành (1) Côn Sơn ca (1)
Mạn hứng (1) Hoạ Hải ông Đoàn NguyễnTuấn “Giáp Dần phụng mệnhnhập Phú Xuân đăng trình lưubiệt bắc thành chư hữu” chi tác(1)
Tặng nhân (1)