Đối với Việt Nam, nhất là sau khi gia nhập khối ASEAN, AFTA, hiệp định thương mại Việt- Mĩ và những bước tiếp theo WTO, hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương TPP đã có nhiều cơ hội phá
Trang 1MỞ ĐẦU
Xu thế toàn cầu hóa thương mại đang là những đặc điểm cơ bản của phát triển trên thế giới hiện nay Đối với Việt Nam, nhất là sau khi gia nhập khối ASEAN, AFTA, hiệp định thương mại Việt- Mĩ và những bước tiếp theo WTO, hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã có nhiều cơ hội phát huy lợi thế so sánh, tháo gỡ hạn chế về thị trường xuất khẩu, tạo lập môi trường thương mại mới nhằm trao đổi hàng hóa- dịch vụ, kỹ thuật và thông tin đã tạo cơ sở động lực quan trọng cho tăng trưởng và phát triển kinh tế Để phù hợp với xu thế toàn cầu hoá, Đảng và Nhà nước ta đã có những đổi mới trong đường lối phát triển kinh
tế, đặc biệt là có những chính sách mới để phát triển nông nghiệp nông thôn Sau hơn mười năm thực hiện chính sách đổi mới, nông nghiệp đã có những kết quả khá tốt, đặc biệt trong sản xuất cũng như xuất khẩu lúa gạo Từ một nước thiếu lương thực, nay đã trở thành một nước không chỉ đảm bảo đầy đủ các nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn có khối lượng xuất khẩu ngày một tăng, là nước đứng thứ hai (sau Thái Lan) về xuất khẩu gạo, sản lượng gạo của Việt Nam hàng năm tăng, cơ cấu sản xuất nông nghiệp đang chuyển dịch theo hướng phát huy lợi thế so sánh các sản phẩm ở từng vùng, từng địa phương trong cả nước Kim ngạch xuất khẩu gạo cũng tăng lên đều đặn, thị trường được mở rộng liên tục Hiện nay, lúa gạo của Việt Nam đã có mặt ở hơn 80 quốc gia trên thế giới Việc xuất khẩu gạo góp phần quan trọng đưa đất nước vượt qua thời kỳ khó khăn, ổn định kinh tế, chính trị và xã hội, tạo tiền đề bước vào giai đoạn phát triển mới công nghiệp hoá và hiện đại hoá
Thị trường xuất khẩu gạo luôn là một vấn đề đáng quan tâm của toàn xã hội nói chung và của Việt Nam nói riêng Nó đang là vấn đề nóng bỏng được bàn luận nhiều trong các chương trình thời sự trong nước cũng như quốc tế và trên các bài báo thường nhật Do một vài điều kiện nhất định, bài viết chỉ đi sâu phân tích một
Trang 2khía cạnh nhỏ của thị trường xuất khẩu gạo ở Việt Nam, đó là “Cơ hội và thách thức đối với thị trường xuất khẩu gạo ở Việt Nam khi tham gia Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương-TPP”
Trang 3NỘI DUNG PHẦN I – THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU GẠO Ở VIỆT NAM
1 Khái quát chung
Gạo là một trong những mặt hàng thuộc nhóm hàng lương thực, Chính phủ các nước nói chung và Chính phủ Việt Nam nói riêng luôn có những chính sách và khuyến khích tăng cung trong nước để đảm bảo an ninh lương thực Do vậy, khối lượng gạo trao đổi chiếm khoảng 6-7% so với sản lượng sản xuất của thế giới Sản xuất lúa gạo ở Việt Nam kể từ khi thực hiện chính sách đổi mới, sản lượng lúa gạo
đã gia tăng nhanh chóng Trong vòng 10 năm (1991-2001) bình quân diện tích tăng 1,73%/năm, năng suất tăng 3,2%/năm, và sản lượng tăng 5%/năm Việt Nam từ một nước thiếu lương thực trở thành một trong những nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới, chiếm khoảng 17% lượng gạo xuất khẩu toàn cầu Hiện nay, theo mức kim ngạch xuất khẩu, gạo được xem là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam với giá trị xuất khẩu năm 2002 đạt 726 triệu USD, tăng hơn
3 lần so với năm 1991và chiếm 4,4% tổng giá trị xuất khẩu (kể cả xuất khẩu dầu thô)
Tuy nhiên sản xuất và xuất khẩu lúa gạo ở Việt Nam vẫn chưa hoàn toàn là một lựa chọn hướng về xuất khẩu Dư cung gạo không phải bắt nguồn từ yêu cầu tăng cường xuất khẩu mà chủ yếu từ chính sách an ninh lương thực Do vậy, trong sản xuất lúa gạo từ trước đến nay, Việt Nam vẫn chủ yếu chú trọng đến năng suất
mà ít quan tâm đến các giống gạo ngon có giá trị xuất khẩu cao (những giống gạo thường cho năng suất thấp)
2 Tình hình xuất khẩu gạo ở Việt Nam hiện nay
Trang 4Trái với xu thế ảm đạm của năm 2015, đầu năm 2016 mặt hàng gạo đang trở nên “có giá”, xuất khẩu gạo đã có sự bứt phá mạnh cả về lượng lẫn giá trị Cụ thể, theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, khối lượng gạo xuất khẩu tháng 01/2016 ước đạt 495.000 tấn với giá trị đạt 218 triệu USD, tăng 56,7% về khối lượng và tăng 46% về giá trị so với cùng kỳ năm 2015 Sở dĩ lượng xuất khẩu tăng mạnh là do thị trường Philippines, Indonesia tăng cường nhập khẩu do đang phải chịu ảnh hưởng nặng nề bởi hạn hán nên cần mua gạo dự trữ
Về thị trường châu Á, châu Phi và châu Mỹ vẫn là 3 khu vực thị trường lớn nhất của gạo Việt Nam Xuất khẩu gạo sang châu Á chiếm gần 75% trong năm
2015 Châu Phi là khu vực thị trường lớn thứ 2, chủ yếu nhập khẩu gạo thơm từ Việt Nam Châu Mỹ là thị trường lớn thứ 3 tương đối ổn định với Cuba chiếm thị phần lớn nhất Mỹ, Mexico, Haiti đã có sự phát triển thị phần đáng kể trong những năm gần đây
Xu hướng xuất khẩu gạo tăng mạnh trong tháng đầu năm 2016 cũng đã được Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) dự báo từ cuối tháng 12/2015 Dự báo xuất khẩu gạo của Việt Nam trong nửa đầu năm 2016 sẽ khá tốt do các quốc gia nhập khẩu lớn như: Philippines, Trung Quốc, Indonesia và Malaysia sẽ sớm ký hợp đồng nhập gạo để ổn định nguồn cung lương thực trong nước Tuy nhiên, trong thời gian tới, sản xuất lúa gạo của nước ta sẽ phải đối mặt nhiều thách thức Trong nước, sản xuất lúa gạo phải chịu tác động xấu của tình trạng xâm nhập mặn tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (vựa lúa lớn nhất cả nước) ảnh hưởng ít nhiều đến sản lượng mùa vụ 2015-2016 Trên thị trường quốc tế, hạt gạo Việt Nam đang phải chịu sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt từ các nước xuất khẩu lớn, như: Thái Lan, Ấn Độ
và Pakistan và cả những nước mới nổi như: Campuchia, Myanmar Cạnh tranh
Trang 5diễn ra không chỉ về giá xuất khẩu mà còn ở chất lượng, thương hiệu Do đó, lợi thế cạnh tranh về giá của Việt Nam đã không còn như các năm trước
Bên cạnh đó, thị trường xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2016 chủ yếu vẫn là Trung Quốc Gạo của Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc chiếm 54% thị phần của thị trường này (phần lớn là xuất khẩu tiểu ngạch nên gặp nhiều rủi ro) Vì vậy, xuất khẩu gạo Việt Nam sẽ phải mở rộng ra thị trường mới, như: châu Âu, Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc… Tuy nhiên, các thị trường này sử dụng gạo cao cấp, trong khi Việt Nam chỉ mới xuất khẩu khoảng 27% gạo chất lượng cao
Lý do khiến gạo Việt Nam lép vế trên thị trường là do chưa có thương hiệu Thực
tế, điểm yếu nhất của gạo Việt Nam là thiếu đồng đều về chất lượng, chủ yếu phân chia theo tỷ lệ tấm, thông dụng 5%, 15%, 25% Gạo Việt Nam có lợi thế trên thị trường chủ yếu gạo trắng, hạt dài, nhưng không có tên giống Trong khi đó, thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam lâu nay chủ yếu tới các nước Nam Á và Đông Nam Á, Trung Đông, châu Phi, Mỹ La tinh Hơn nữa, dù nhu cầu thị trường rất lớn nhưng hiện nay, nhiều doanh nghiệp vẫn chưa nắm được thông tin và nhu cầu khách hàng Như tại tỉnh Long An, là địa phương xuất khẩu gạo đứng đầu cả nước, nhưng doanh nghiệp tại tỉnh vẫn gặp một số khó khăn khi tiếp cận thị trường Trung Quốc và châu Phi Cụ thể: Trung Quốc là thị trường lớn nhưng diễn biến phức tạp
về chính trị, chính sách mua tạm trữ,…nên ảnh hưởng đến giá mua gạo
Chính phủ đã đề xuất không tiến hành thu mua tạm trữ lúa gạo vụ đông - xuân như mọi năm và dự báo, không chỉ đầu năm mà trong cả năm 2016, xuất khẩu gạo nước
ta sẽ có nhiều cơ hội tăng về số lượng và giá trị Bởi hiện nay, do ảnh hưởng của hiện tượng El Nino, nhiều quốc gia phải đối phó tình trạng hạn hán nặng nề, đe dọa nghiêm trọng sản lượng lương thực, nên chắc chắn sẽ sớm ký hợp đồng nhập gạo
để ổn định nguồn cung
Trang 6Như vậy, sau nhiều năm liên tục gặp khó khăn trong những tháng đầu năm, thì năm
2016, những tín hiệu khả quan về xuất khẩu gạo của nước ta đã sớm xuất hiện Tuy nhiên, thị trường lúa gạo luôn có những biến động khó lường theo từng thời điểm, nên để hướng tới kim ngạch xuất khẩu cao cho cả năm, các doanh nghiệp vừa cần biết tận dụng cơ hội tốt, đồng thời theo dõi mọi diễn biến từ các đối tác nhập khẩu
Kể cả khi các thị trường truyền thống được dự báo sẽ tăng lượng nhập khẩu, vẫn cần xúc tiến thương mại và mở rộng thêm các thị trường mới để đề phòng rủi ro Mặt khác, mặc dù tăng cả về giá trị và sản lượng xuất khẩu hai tháng đầu năm, nhưng giá gạo xuất khẩu bình quân lại chỉ ở mức 443,5 USD/tấn, giảm 5,95% so với năm 2015 Trong khi đó, giá gạo xuất khẩu cùng chủng loại của các nước như Cam- pu-chia, Thái Lan đều cao hơn so với gạo nước ta, do chất lượng đồng đều hơn Trước thực tế trên, để có thể tăng giá bán, nâng cao kim ngạch, các cơ quan chức năng cần sớm ban hành bộ quy chuẩn về chất lượng gạo xuất khẩu, để kiểm soát dễ dàng hơn những sản phẩm không đủ tiêu chuẩn, tiến đến xây dựng đồng bộ thương hiệu gạo Việt Nam
Trang 7PHẦN II – CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU GẠO Ở VIỆT NAM KHI THAM GIA TPP
Khu vực hóa và toàn cầu hóa là kết quả tất yếu của quá trình tự do hóa kinh tế và hội nhập quốc tế Việt Nam đã và đang tham gia một cách tích cực vào các tiến trình hội nhập quốc tế thông qua việc ký kết các hiệp định đối tác kinh tế với các
nước trong khu vực, trong đó có hiệp định TPP TPP được đánh giá là Hiệp định
của thế kỷ XXI Hiệp định này sẽ có ảnh hưởng nhất định đến xuất khẩu của Việt Nam, trong đó có xuất khẩu gạo Bài viết phân tích tình hình sản xuất và xuất khẩu gạo của Việt Nam trong thời gian qua; làm rõ cơ hội và thách thức của xuất khẩu gạo khi tham gia TPP; đồng thời đề xuất một số biện pháp chính nhằm tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức, góp phần tăng khối lượng và kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam trong thời gian tới
Hiệp định Đối tác Kinh tế xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement - TPP) - hiệp định thương mại tự do giữa 12 nước thuộc hai bờ Thái Bình Dương, bao gồm New Zealand, Brunei, Chile, Singapore, Australia, Peru, Mỹ, Malaysia, Việt Nam, Canada, Mexico và Nhật Bản, đến nay đã trải qua nhiều vòng đàm phán Trong thời gian tới, khi TPP hoàn tất các nội dung đàm phán cuối cùng, chắc chắn sẽ mang lại những cơ hội và thách thức cho một số ngành kinh tế của một số quốc gia thành viên, trong đó có hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam
1 Các nội dung đàm phán trong TPP ảnh hưởng đến xuất khẩu gạo Việt Nam
Hiện nay, TPP được kỳ vọng sẽ trở thành một khuôn khổ thương mại toàn diện, có chất lượng cao và là khuôn mẫu cho các hiệp định thế kỷ XXI Mục tiêu của TPP cũng như các Hiệp định thương mại tự do (FTA) là tạo lập một môi trường thương mại gần như không có rào cản Cụ thể là các hàng rào thuế quan sẽ được dỡ bỏ
Trang 8nhanh chóng với 90% các dòng thuế có thể về mức 0% và được áp dụng ngay hoặc với lộ trình rất ngắn Trong khi đó, nông nghiệp là một lĩnh vực kinh tế quan trọng của nhiều thành viên tham gia đàm phán TPP nhưng lại gặp nhiều khó khăn trong đàm phán các nội dung về bảo hộ nông sản và mở cửa thị trường này Trình độ sản xuất nông nghiệp của các nước như Mỹ, Australia, New Zealand ở mặt bằng cao hơn so với các nước như Việt Nam, Peru, Chile Các nước thành viên hiện đều có
xu hướng bảo hộ nông sản của mình (hạn chế tối đa việc loại bỏ thuế quan hoặc nếu có thì với lộ trình dài) và yêu cầu các đối tác mở cửa thị trường
Bên cạnh đó, hàng loạt các quy định về vệ sinh dịch tễ và các biện pháp phòng vệ thương mại mà các đối tác tiên tiến về sản xuất nông nghiệp đưa ra đàm phán đều gây khó khăn và ít tính khả thi đối với các đối tác có trình độ sản xuất yếu hơn Trong nhiều quy định chi tiết, đáng chú ý nhất là quy định về hàm lượng giá trị khu vực, nghĩa là sản phẩm phải đạt tỷ lệ nội địa hóa từ 55% tổng giá trị trở lên Doanh nghiệp chỉ được phép nhập tối đa 45% nguyên vật liệu từ các nước ngoài khối để sản xuất ra một sản phẩm, kể cả chi phí gia công
2 Tổng quan về tình hình sản xuất và xuất khẩu gạo của Việt Nam trong TPP
2.1 Tình hình sản xuất lúa gạo
Trong các mặt hàng nông sản ở Việt Nam, gạo đóng vai trò quan trọng nhất không chỉ về an ninh lương thực, lao động và tiền công ở nông thôn mà còn thể hiện ở các nguồn thu từ xuất khẩu Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Bộ NN&PTNT), lúa gạo được trồng trên 1/2 diện tích đất nông nghiệp và sử dụng gần 80% lao động nông thôn Sản lượng lúa hàng năm chiếm trên 90% sản lượng các cây lương thực có hạt Tính riêng năm 2013, sản lượng lúa đạt trên 44 triệu tấn, tăng 338,2 nghìn tấn so với năm trước (năm 2012 tăng 1,3 triệu tấn so với năm
Trang 92011), trong đó diện tích gieo trồng đạt 7,9 triệu ha, tăng hơn 146 nghìn ha, năng suất đạt 55,8 tạ/ha, giảm 0,6 tạ/ha
2.2 Tình hình xuất khẩu gạo
Cùng với các mặt hàng khác trong nhóm hàng nông sản xuất khẩu như hạt điều, chè, cà phê, sắn , gạo được xuất khẩu ra nhiều thị trường với số lượng tăng dần theo các năm Xét về tỷ trọng, kim ngạch xuất khẩu gạo đứng thứ 2 sau thủy sản Theo Tổng cục Thống kê, tính từ năm 1995, Việt Nam xuất khẩu gần 2 triệu tấn gạo, đứng thứ ba sau dầu thô và than; 5 năm sau (2000), xuất khẩu gạo tăng lên 3,5 triệu tấn, chiếm ngôi vị đầu tiên trong các mặt hàng xuất khẩu và 10 năm sau (2010), xuất khẩu gạo đạt 6,9 triệu tấn, đứng thứ ba sau than đá và dệt may Nếu tính từ năm 2007 đến 2012, xuất khẩu vẫn tăng ổn định, đưa gạo trở thành một trong những mặt hàng mang lại nguồn thu lớn nhất cho Việt Nam Năm 2013 và
2015, sau than đá, dầu thô và dệt may, khối lượng gạo xuất khẩu có bị suy giảm do nhiều nguyên nhân, nhưng mặt hàng gạo vẫn giữ được vị trí là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam Các thị trường xuất khẩu gạo chính của Việt Nam trong những năm gần đây gồm Trung Quốc, Malaysia, Philippines, Cộng hòa Liên bang Nga và Angieri Gần đây, Trung Quốc trở thành nước nhập khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam Năm 2013, Trung Quốc nhập khẩu gần 1,5 triệu tấn gạo, chiếm tỷ trọng 54,78% trong tổng khối lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam Tiếp đến là Malaysia, Philippines, Cộng hòa Liên bang Nga Nhìn chung, năm
2013, xuất khẩu gạo của Việt Nam sang đa số các thị trường bị sụt giảm so với năm 2012; trong đó một số thị trường sụt giảm mạnh như: Indonesia (giảm 83,13%
về lượng và giảm 80,08% về kim ngạch), Senegal (giảm 74,65% về lượng và giảm 73,6% về kim ngạch), Philippines (giảm 54,64% về lượng và giảm 52,57% về kim ngạch), Đài Loan (giảm 53,29% về lượng và giảm 49,46% về kim ngạch) Tuy
Trang 10nhiên, xuất khẩu gạo sang một số thị trường vẫn đạt mức tăng trưởng cao trên 100% về lượng và kim ngạch như: xuất sang Nga (tăng 495,8% về lượng và tăng 458,73% về kim ngạch), Ukraine (tăng 224,56% về lượng và tăng 177,04% về kim ngạch), các tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (tăng 121,22% về lượng và tăng 113,14% về kim ngạch), Hà Lan (tăng 241,85% về lượng và tăng 145,62% về kim ngạch) và Ba Lan (tăng 156,87% về lượng và tăng 97,04% về kim ngạch) Xét riêng trong nội khối các nước TPP, tính từ năm 2010 đến năm 2013, Malaysia luôn
là nước dẫn đầu về nhập khẩu gạo của Việt Nam, kế đến là Mỹ, Canada và Chile Các nước còn lại có khối lượng nhập khẩu rất nhỏ, từ hơn 1.000 tấn trở xuống Tuy nhiên, tỷ trọng khối lượng gạo các nước TPP trong tổng khối lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam tăng giảm thất thường Đặc biệt năm 2013, khối lượng gạo nhập khẩu của 2 quốc gia dẫn đầu trong các nước TPP nhập khẩu gạo của Việt Nam là Malaysia và Mỹ đã giảm mạnh Một trong những nguyên nhân chính là do
áp lực cạnh tranh cao từ gạo của Thái Lan, Ấn Độ và nhu cầu lương thực của các nước này giảm Như vậy, để duy trì và nâng cao hiệu quả xuất khẩu gạo trong tình hình hiện nay, các doanh nghiệp trong nước không nên chạy theo số lượng mà phải chú ý đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm để nâng giá trị, đồng thời chú ý khai thác các thị trường mới, nhất là các thị trường tiêu thụ gạo cấp cao Đáng chú ý, Việt Nam là nước sản xuất gạo có sức cạnh tranh nhưng chất lượng gạo lại thấp so với quốc tế dù đã có dấu hiệu cải tiến
3 Cơ hội, thách thức đối với xuất khẩu gạo Việt Nam khi tham gia TPP
3.1 Cơ hội đối với xuất khẩu gạo của Việt Nam
Thứ nhất, cơ hội có được từ việc cắt giảm thuế quan Lợi ích này được suy đoán là
sẽ có được khi hàng hóa Việt Nam tiếp cận các thị trường này với mức thuế quan thấp hoặc bằng 0 Như vậy, lợi ích này chỉ thực tế nếu mặt hàng gạo của Việt Nam