Nhiệm vụ đặt ra cho Trung Quốc trong quá trình tố tụng hình sự là phải bảo đảmđiều tra chính xác, kịp thời, các tình tiết tội phạm, áp dụng đúng luật, trừng phạt tộiphạm, bảo vệ người vô
Trang 1M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
I Tính cấp thiết của đề tài 2
II Mục tiêu nghiên cứu 3
III Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
IV Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 4
V Đóng góp của bài nghiên cứu 4
VI Kết cấu bài nghiên cứu 5
NỘI DUNG 6
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MÔ HÌNH TỐ TỤNG HÌNH SỰ 6
I Khái niệm “Mô hình tố tụng hình sự” 6
II Phân loại mô hình tố tụng hình sự trên thế giới 9
III Tiểu kết 30
MÔ HÌNH TỐ TỤNG HÌNH SỰ TẠI VIỆT NAM THEO BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ 2015 31
I Mô hình tố tụng hình sự Việt Nam trước bộ luật tố tụng hình sự 2015 31
II Mô hình tố tụng hình sự Việt Nam theo bộ luật tố tụng hình sự 2015 34
III Tiểu kết 54
NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ ĐẶT RA TRONG VIỆC HOÀN THIỆN MÔ HÌNH TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 55
I Ưu điểm và nhược điểm của mô hình tố tụng hình sự Việt Nam 55
II Các đề xuất kiến nghị 57
III Tiểu kết 58
KẾT LUẬN 60
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
Trang 2MỞ ĐẦU
I Tính cấp thiết của đề tài
Mô hình tố tụng hình sự là một vấn đề quan trọng trong việc xác định cácyếu tố của một quá trình giải quyết vụ án hình sự Đây cũng là nội dung đượcnhiều người lựa chọn nghiên cứu, tuy nhiên, xét về mặt lý luận khoa học thì chưa
có được những khái niệm về mặt khoa học pháp lý cô đọng
Về thực tiễn mô hình tố tụng hình sự của Việt Nam nếu là trước năm 2015thì có thể khẳng định một cách rõ ràng, đây là mô hình tố tụng thẩm vấn Nhưngvới những sự sửa đổi tương đối căn bản thì cần phải xác định lại xem ở thời điểmhiện tại, mô hình tố tụng Việt Nam đang phát triển theo hướng nào cũng nhưnhững minh chứng cho khẳng định đó Tất nhiên để có được khẳng định đó thìphải nắm được những vấn đề lý luận chung nhất về mô hình tố tụng hình sự
Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 đã có rất nhiều sửa đổi quan trọng, ảnh hưởngtrực tiếp đến việc xác định mô hình tố tụng hình sự của Việt Nam Tuy nhiên, đâymới chỉ là những bước đầu tiên của sự đổi mới nên chắc chắn sẽ vẫn có nhữngđiểm hạn chế còn tồn tại, nhưng đồng thời cũng có những ưu điểm nhất định là cơ
sở cho sự lựa chọn mô hình trên
Chính vì vậy, đề tài nghiên cứu này sẽ chỉ ra được, trước hết là xác địnhđược mô hình tố tụng của Việt Nam, từ đó phân tích những ưu điểm và hạn chếcủa mô hình hiện tại và đề ra một số phương hướng hoàn thiện Bộ luật tố tụng hình
sự Việt Nam nói chung và mô hình tố tụng hình sự Việt Nam nói riêng
Trang 3Vì những lý do đó mà việc nghiên cứu đề tài “Mô hình tố tụng hình sự Việt
Nam theo Bộ luật Tố tụng hình sự 2015” sẽ mang tính cấp thiết cả về mặt lý luận
và cả về mặt thực tiễn hoạt động
Mục đích nghiên cứu của bài là nghiên cứu về mặt lý luận các mô hình tốtụng hình sự trên thế giới và đánh giá về mô hình tố tụng hình sự Việt Nam Trên
cơ sở đó, đánh giá những mặt hạn chế mà chúng ta chưa làm được từ đó hoàn thiện
mô hình TTHS Việt Nam trên nền tảng mô hình tố tụng thẩm vấn có sự tiếp thunhững yếu tố tích cực của mô hình tố tụng thẩm vấn, đáp ứng yêu cầu xây dựngNhà nước pháp quyền, bảo vệ lợi ích của nhân dân
Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề sau:
Nghiên cứu những mô hình tố tụng Hình sự tiêu biểu trên thế giới dựa trên
sự so sánh đối chiếu những điểm khác biệt giữa các mô hình này Nêu những ví dụđiển hình của các mô hình này trên thế giới
Qua việc làm rõ những đặc điểm chủ yếu của mô hình tố tụng, xác định môhình tố tụng Hình sự Việt Nam thông qua nhưng quy định pháp luật hiện hành Từ
đó nêu ra những hạn chế, bất cập của mô hình này và nêu phương hướng hoànthiện qua việc học hỏi những mặt mạnh của mô hình tố tụng tranh tụng đáp ứngmục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do dân, vì dân ở nướcta
Trang 4Đối tượng nghiên cứu của bài nghiên cứu là mô hình tố tụng hình sự ViệtNam và các vấn đề pháp lý đặt ra, đồng thời đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện
mô hình tố tụng hình sự Việt Nam cũng như Bộ luật Tố tụng hình sự 2015
2 Phạm vi nghiên cứu
Phân tích xoay quanh các đặc điểm cấu trúc của mô hình tố tụng hình sự:Mục tiêu và cách thức giải quyết vụ án hình sự; Các giai đoạn tố tụng; Địa vị pháp
lý của chủ thể khi tham gia tố tụng; Các nguyên tắc sử dụng của tố tụng hình sự
Cơ sở lý luận của bài nghiên cứu là quan điểm của chủ nghĩa Mác –
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây
dựng nhà nước pháp quyền, cải cách và hoàn thiện hệ thống tư pháp
Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện
chứng, chủ nghĩ duy vật lịch sử
Về các phương pháp nghiên cứu khoa học, bài nghiên cứu sử dụng phươngpháp logic, phân tích, so sánh, lịch sử, … để nghiên cứu, nắm vững vấn đề sau đótiến hành so sánh các mô hình tiêu biểu ở các quốc gia trên thế giới từ đó tìm ra những điểm bất cập và định hướng giải pháp hoàn thiện
Tìm hiểu kỹ càng về những vấn đề mang tính lý luận của mô hình tố tụnghình sự nói chung, đưa ra những khái niệm về khoa học pháp lý của mô hình tốtụng hình sự và đặc điểm cấu trúc của mô hình tố tụng hình sự Đồng thời, tìm hiểuđược những mô hình tố tụng hình sự điển hình của một số quốc gia trên thế giới
Xác định được mô hình tố tụng hình sự của Việt Nam từ sau những đổi mớicủa Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 Phát hiện ra những ưu điểm và hạn chế của mô
Trang 5hình cũng như các quy định ở thời điểm hiện tại và đề xuất những phương án hoànthiện mô hình tố tụng hình sự Việt Nam xuất phát từ những bài học của mô hình tốtụng hình sự của một số quốc gia trên thế giới
Ngoài phân mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, bài nghiêncứu gồm có 3 phần:
Trang 6Để hoạt động tố tụng hình sự này có thể được diễn ra, các cá nhân tham gia
vào quá trình này phải được xác định một phạm vi, mức độ địa vị pháp lý tố tụng nhất định, những chức năng, thẩm quyền của những cá nhân, tổ chức tham gia
vào quá trình tố tụng Sau đó được diễn ra theo một trình tự, thủ tục chung một
cách nghiêm ngặt, nhằm đảm bảo tất cả đều thực hiện theo một mục đích chung
của tố tụng hình sự nói riêng và quá trình cải cách tư pháp nói chung
Các yếu tố này chính là tổng thể xương sống của quá trình tố tụng hình sự vàchúng tạo thành một hệ thống tố tụng hình sự thống nhất, nhất quán với nhau, và từ
đó, dẫn đến một cách thức giải quyết chung cho quá trình giải quyết tất cả các
vụ án hình sự 1
1 Đào Trí Úc, “Tổng quan về mô hình tố tụng hình sự Việt Nam: thực trạng và phương hướng hoàn thiện”, Kỷ yếu
Hội thảo khoa học: Hoàn thiện mô hình tố tụng hình sự Việt Nam đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp – kinh nghiệm CHLB Đức, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và Quỹ Hợp tác Quốc tế về pháp luật CHLB Đức tổ chức ngày 9 – 10
tháng 6 năm 2011, Hà Nội Truy cập tại: http://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/79/32
Trang 7Từ những phân tích trên, có thể dẫn đến một khái niệm mô hình tố tụng hình
có xây dựng mô hình nào, tranh tụng hay thẩm vấn thì cơ bản sẽ đều nhằm xâydựng những mục tiêu trên chỉ có điều, mục tiêu nào sẽ được nhấn mạnh hơn là tùythuộc vào sự điều chỉnh của từng mô hình
Bên cạnh đó, có một vấn đề đặt ra là ở các quốc gia khác nhau sẽ có nhữngcách thức xác định các yếu tố của quá trình tố tụng hình sự khác nhau Bởi nhữngvấn đề về kinh tế - chính trị - xã hội ở mỗi quốc gia sẽ có những đặc điểm riêngbiệt mà căn cứ vào đó mới có thể xây dựng được các yếu tố căn bản nhất để tạo ramột quá trình tố tụng hình sự phù hợp với hệ thống tư pháp của quốc gia đó
Từ đó, khi phân tích và đánh giá các mô hình trên, để so sánh được chúngvới nhau, người ta mới tạo nên được bộ tiêu chí giúp quá trình phân biệt được dễ
2 Nguyễn Hà Thanh, “Đổi mới mô hình tố tụng hình sự tại Việt Nam, một số kiến giải cụ thể”, Trang thông tin điện
tử Nội chính Trung Ương, 2014 Truy cập tại link:
http://noichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/201402/doi-moi-mo-hinh-to-tung-hinh-su-tai-viet-nam-mot-so-kien-giai-cu-the-293772/
Trang 8dàng hơn, bao gồm: mục đích (mục tiêu) và cách thức giải quyết vụ án hình sự; đốitượng tham gia tố tụng hình sự; nguyên tắc và các giai đoạn tố tụng.
2.1 Mục tiêu, chức năng của tố tụng hình sự
Mục tiêu của mô hình tố tụng hình sự là một yếu tố quan trọng, mang tính chất quyết định cách thức giải quyết vụ án hình sự cũng như các hoạt động khác của hoạt động tố tụng hình sự.
Mục tiêu là cái đích cuối cùng mà hệ thống pháp luật đó muốn đạt được sauquá trình giải quyết bất kỳ một vụ án hình sự nào xảy ra trong thực tiễn
Nói rằng mục tiêu là một yếu tố quan trọng là bởi nó là nhân tố chi phốinhững vấn đề khác trong tố tụng hình sự Nếu không đặt ra được một mục tiêuchung, rất có thể, mỗi một hoạt động trong một giai đoạn của tố tụng hình sự sẽđược thực hiện theo những cách rất khác nhau nhằm đạt được mục tiêu của từnggiai đoạn và khi không tạo được ra sự nhất quán cần có, kết quả xử lý các vụ ánhình sự sẽ gây ra những sai lầm nhất định, ảnh hưởng đến chính lợi ích của các cánhân, tổ chức và của chính nền tư pháp của quốc gia Đồng thời, chính từ mục tiêunày, người ta đề ra được cách thức hoạt động của hệ thống pháp luật tố tụng hình
sự để đạt được đúng những mục tiêu đã đề ra
Hầu hết các nước có luật Tố tụng hình sự, họ không trực tiếp đề cập đếnmục đích của tố tụng hình sự trong luật mà cố gắng hiện thực hóa những mục đíchnày thông qua các nguyên tắc hoặc quy định chi tiết được đề ra trong Luật Tố tụnghình sự và cũng thông qua việc thực thi luật (sách các mô hình TT trên TG) Bởivậy, càng có thể khẳng định lại một lần nữa, mục tiêu là một yếu tố mang tính chấtquyết định cách thức hoạt động hay những nguyên tắc giải quyết một vụ án hìnhsự
Trang 92.2 Giai đoạn tố tụng
Giai đoạn Tố tụng hình sự là các bước của quá trình tố tụng hình sự mà mỗi bước tương ứng với một chức năng nhất định trong hoạt động tư pháp hình sự do các chủ thể tham gia vào quá trình tố tụng hình sự thực hiện nhằm đáp ứng những quy định của Luật định ra.
2.3 Địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia tố tụng hình sự
Chủ thể tham gia tố tụng đó là các cơ quan, người tham gia các quan hệ tố tụng 3 Quan hệ tố tụng là các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, do pháp luật tố tụng hình sự điều chỉnh.
Như đã đề cập, tố tụng hình sự phải được triển khai trên những định hướngkhác nhau mà tập trung và nổi bật nhất là hai định hướng: phục vụ, bảo vệ lợi íchcông và thỏa mãn, tôn trọng và bảo đảm lợi ích của các bên tố tụng Để đảm bảo
3 Tổng quan về vị trí tố tụng, quyên và nghĩa vụ của các chủ thể, mối quan hệ giữa Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra
trong Tố tụng hình sự Việt Nam, thực trạng và xu hướng hoàn thiện, Trang thông tin khoa học Đại học Kiểm sát Truy
cập tại link: http://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/119/680
4 PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí chủ biên (2014), “Giáo trình Luật Tố tụng Hình sự Việt Nam”, NXB Đại học Quốc gia
Hà Nội.
Trang 10mục đích đó, tố tụng hình sự phải thực hiện các chức năng tương ứng: chức năngcông tố và chức năng tranh tụng Những chức năng kể trên được thực hiện thôngqua các nguyên tắc đặc trưng của chúng.
II Phân loại mô hình tố tụng hình sự trên thế giới
Có rất nhiều cách phân loại mô hình tố tụng, tuy vậy, nhóm nghiên cứu lựachọn phân loại mô hình tố tụng hình sự dựa trên các tiêu chí là mục tiêu của môhình tố tụng, các giai đoạn tố tụng, chủ thể tố tụng và nguyên tắc của mô hình tốtụng
1.1 Mục tiêu:
Mục tiêu của mô hình này nghiêng về lợi ích công (bảo vệ hệ thống côngquyền) thì đó mô hình TTHS thẩm vấn Tố tụng thẩm vấn đặt nặng cho mình mụctiêu tìm kiếm sự việc có thực, hay làm sáng tỏ sự thật trong các vụ án hình sự Qua
đó, nhằm trừng trị kẻ phạm tội, bảo vệ quyền lợi của xã hội, quyền lợi của Nhànước
Mục tiêu bảo vệ quyền lợi của xã hội, quyền lợi nhà nước được đề cao, do
đó mà công cuộc tìm ra sự thật khách quan phải được thực hiện bởi các cơ quanđại diện cho Nhà nước, đặt ra trách nhiệm cho các cơ quan tiến hành tố tụng, ngườitiến hành tố tụng phải làm rõ và tìm kiếm những sự việc khách quan của vụ việc
Ở mô hình này, Nhà nước đại diện cho xã hội thực hiện việc truy cứu trách nhiệmhình sự đối với người bị buộc tội, do đó mà việc giải quyết vụ án hình sự được địnhhình là quan hệ công quyền Khi đặt hai mục tiêu giữa sự công bằng hay lợi ích cánhân với sự thật khách quan hay lợi ích xã hội, mô hình tố tụng thẩm vấn rõ ràng đềcao mục đích vị xã hội hơn là vị cá nhân Điều này khiến cho cách thức
Trang 11giải quyết vụ án hình sự của một vài mô hình tố tụng thẩm vấn đôi khi đã xem nhẹquyền lợi tư, chưa tôn trọng những quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, đặc biệt
là đối với những người bị buộc tội
Nhắc tới mô hình tố tụng thẩm vấn thì những mục tiêu mà hệ thống tư
pháp của Trung Quốc đặt ra mang những đặc trưng của mô hình tố tụng thẩm vấn
Điều 2 Luật TTHS Trung Quốc năm 1996 có quy định về nhiệm vụ như sau:
“bảo vệ hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa; bảo vệ các quyền cá nhân, quyền sở hữu, quyền dân chủ của công dân và bảo vệ tiến trình xây dựng xã hội chủ nghĩa”
. Nhiệm vụ đặt ra cho Trung Quốc trong quá trình tố tụng hình sự là phải bảo đảmđiều tra chính xác, kịp thời, các tình tiết tội phạm, áp dụng đúng luật, trừng phạt tộiphạm, bảo vệ người vô tội khỏi bị truy cứu trách nhiệm hình sự, giáo dục cho ngườidân tự nguyện tuân thủ pháp luật và chủ động phòng chống các biểu hiện phạm tội5
Mục tiêu được quy định rất cụ thể, nhưng thể hiện rõ những yếu tố mangtính bảo vệ lợi ích của xã hội nói chung và tìm về sự thật khách quan của vụ ánđược đặt lên hàng đầu; cách sắp đặt từng mục đích cũng cho ta thấy, việc bảo vệquyền và lợi ích cá nhân chỉ được xếp sau lợi ích của hệ thống pháp luật của Nhànước Tính chất công quyền trên là một đặc trưng cho mô hình tố tụng thẩm vấn
1.2 Giai đoạn:
Mô hình tố tụng thẩm vấn có sự phân chia khá rõ thành các giai đoạn vớimỗi giai đoạn là những chức năng khác nhau của từng cơ quan với thẩm quyềntương ứng
5 Tô Văn Hòa chủ biên (2012), “Những mô hình tố tụng hình sự điển hình trên thế giới”, Chương trình đối tác tư
pháp Tr.82,83
Trang 12Thông thường, mô hình tố tụng thẩm vấn sẽ thường chia thành một số giaiđoạn: 1/ Giai đoạn điều tra; 2/ Giai đoạn truy tố; 3/ Giai đoạn xét xử ở mỗi giaiđoạn, thẩm quyền, nghĩa vụ, của những người tham gia tố tụng đều được quyđịnh rõ ràng trong các Bộ luật Tố tụng hình sự.
Nhìn chung, khác với sự tự do và cởi mở của mô hình tố tụng tranh tụng,quá trình điều tra của mô hình tố tụng thẩm vấn thường không công khai và ít có
sự tham gia của luật sư bào chữa Quá trình điều tra được thực hiện bởi cơ quanđiều tra là chủ yếu, ít có được sự chủ động của bị cáo cũng như luật sư bào chữacủa bị cáo trong quá trình thu thập chứng cứ, tài liệu liên quan Những chứng cứnày về sau cũng được lưu lại trong hồ sơ vụ án, nhằm làm căn cứ trong quá trìnhHội đồng Thẩm phán đưa ra quyết định
Một ví dụ điển hình của mô hình BLTTHS thẩm vấn là Mô hình thẩm vấntrước đây của Trung Quốc
Theo Luật Tố tụng hình sự Trung Quốc, quá trình tố tụng được chia thành 2giai đoạn: 1) giai đoạn trước khi xét xử, gồm có lập hồ sơ vụ án, điều tra và truy tố;
2) Giai đoạn xét xử, bao gồm xét xử sơ thẩm, kháng cáo nếu có hoặc các thủ tục tố tụng đặc biệt khác ví dụ như xem xét án tử hình, tái thẩm, 6
Trong giai đoạn điều tra, cơ quan điều tra chịu trách nhiệm chủ chốt, sựtham gia của luật sư bào chữa không phải không có nhưng ở một mức độ rất hạnchế và mang đậm dấu ấn của của tố tụng thẩm vấn
Giai đoạn truy tố tiếp sau đó do Viện Kiểm sát chịu trách nhiệm để đưa ramột trong các quyết định truy cứu hoặc không truy cứu trách nhiệm hình sự
6 Tô Văn Hòa chủ biên (2012), “Những mô hình tố tụng hình sự điển hình trên thế giới”, Chương trình đối tác tư
pháp Tr 91
Trang 13Giai đoạn xét xử cũng trải qua rất nhiều thủ tục: từ chuẩn bị phiên tòa, mởphiên tòa, quy trình thẩm vấn tại tòa, lời kết tội, đều được quy định chi tiết trong
Bộ luật tố tụng hình sự Trung Quốc
1.3 Chủ thể:
Khác với chủ thể trong mô hình tranh tụng, tố tụng thẩm vấn lại hình thành
ba chủ thể: cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tố tụng và người thamgia tố tụng, còn các chức năng bào chữa buộc tội tồn tại khá mờ nhạt Sở dĩ có sựkhác nhau là do, mô hình thẩm vấn không coi vụ án là sự tranh chấp giữa các bên,
vụ án hình sự xảy ra bị xem là đã xâm phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích chungcủa Nhà nước của xã hội vì vậy Nhà nước phải có trách nhiệm đứng ra giải quyết
vụ án Công việc chứng minh tội phạm được nhà nước ủy quyền cho cơ quan tưpháp (đặc biệt là Tòa Án), họ đề cao việc giải quyết vụ án, bảo vệ công lý màkhông chú trọng đến việc tạo lập cho bị cáo các quyền để họ tự bảo vệ mình, nêndẫn đến một hệ quả tất yếu là các chủ thể tham gia tố tụng (buộc tội, bào chữa, xétxử) không được phân định rạch ròi, địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia tố tụngkhông bình đẳng thực sự giữa cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụngvới người tham gia tố tụng Ở tố tụng thẩm vấn phân thành: cơ quan tiến hành tốtụng (Tòa Án, Viện kiểm sát, các cơ quan điều tra, …); người tiến hành tố tụng(Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký, Viện trưởng Viện kiểmsát, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơquan điều tra, Điều tra viên)
Mô hình tố tụng thẩm vấn đề cao vai trò của thẩm phán Thẩm phán sẽ làngười đưa ra quyết định khi xảy ra một vụ án nào đó, là người có trách nhiệm tìm
ra sự thật trên cơ sở các chứng cứ tìm được và cũng là người chỉ đạo toàn bộ quátrình tố tụng Như vậy vai trò của Thẩm phán trong mô hình thẩm vấn rất khác so
Trang 14với vai trò của Thẩm phán trong tố tụng tranh trụng, ở đây Thẩm phán là trung tâmcủa quá trình xét xử, tiến hành cả chức năng xét, chức năng điều tra, chức năngbuộc tội và chức năng bào chữa Trong khi đó, Thẩm phán trong mô hình tố tụngthẩm vấn được đề cao hơn thì vai trò của cơ quan thực hiện chức năng công tố vàluật sư bào chữa khá thụ động Tại phiên tòa, các câu hỏi cho các nhân chứng vàcác bên liên quan là do thẩm phán đặt câu hỏi và phát triển sự kiện theo hướng làm
rõ sự thật khách quan của vụ án, các luật sư chủ yếu chỉ tranh luận để giải thích vềcác chứng cứ liên quan đến vụ án mà có thể các chứng cứ này sẽ ảnh hưởng trựctiếp đến việc đưa ra phán quyết của thẩm phán Phiên tòa trong tố tụng thẩm vấnkhông phải là cuộc tranh tụng giữa các bên buộc tội và gỡ tội, mà thực chất là sựtiếp tục của việc điều tra, thẩm định chứng cứ, làm rõ sự thật khách quan của vụ
án7
Tòa Án không chỉ là trọng tài mà còn tích cực tham gia vào quá trình chứngminh bị cáo có tội hay không có tội Ta có thể thấy, dường như toàn bộ tráchnhiệm được đặt lên Hội đồng xét xử trong khi các bên còn lại không phát huy được
sự chủ động
Ở tố tụng thẩm vấn cơ quan có chức năng công tố có những quyền hạn lớnhơn so với trong tố tụng tranh tụng, cơ quan có chức năng công tố có quyền chỉ đạocông tác điều tra, ra quyết định khởi tố Chế định Hội thẩm nhân dân cũng có sựkhác biệt với Bồi thẩm đoàn trong mô hình tranh tụng ở chỗ nếu như Bồi thẩm đoànchỉ tham gia trong việc ra quyết định người bị cáo buộc phạm tội có tội hay là không,còn những vấn đề về mức xử phạt và quy định của pháp luật như nào sẽ do Thẩmphán quyết định thì ở Hội thẩm lại có sự ngang quyền với Thẩm phán trong nhữngquyết định về vụ án
7 Nguyễn Hải Ninh, Nguyễn Hà Thanh, “Tố tụng tranh tụng và tố tụng thẩm vấn trong tư pháp hình sự thế giới”, Tạp
chí Nghiên cứu lập pháp số 148 (2009.)
Trang 15Mô hình tố tụng thẩm vấn điển hình ta có thể tham khảo đó là mô hình tốtụng của Trung Quốc.
Theo quy định tại Điều 5 Luật tố tụng hình sự Trung Quốc thì Toà án nhândân thực hiện chức năng xét xử độc lập theo luật và không bị can thiệp bởi bất kỳ
cơ quan hành chính, tổ chức hoặc cá nhân nào Tuy nhiên, trên thực tế Tòa ánkhông được hoàn toàn độc lập Hoạt động của Tòa án bị giám sát bởi ủy ban Phápluật chính trị của Đảng cộng sản Trung quốc Tòa án cũng phụ thuộc chính quyềnđịa phương về vấn đề ngân sách và nhân sự Hội đồng nhân dân quyết định ngânsách và nhân sự của Tòa án cùng cấp Thẩm phán cũng không thể đưa ra quyếtđịnh độc lập Quyết định của Thẩm phán được xem xét kỹ lưỡng, bị giám sát, bịchỉ đạo và bị hủy bỏ bởi ủy ban Thẩm phán và Chánh án của mỗi Tòa án mà không
ai trong số những người này tham gia xét xử trực tiếp vụ án8
Viện kiểm sát của Trung Quốc được thiết kế, bố trí một cách độc lập Vềmặt tổ chức hệ thống này có sự khác biệt với các nền tư pháp khác Viện kiểm sátkhông trực thuộc Bộ Tư pháp và cũng không liên kết với Tòa Án Viện kiểm sátthực hiện quyền công tố (chỉ có Viện kiểm sát mới có quyền truy tố vụ án hình sự
ở Trung Quốc), có quyền điều tra (có thẩm quyền điều tra ba loại hình tội phạmchủ yếu đó là tội mua chuộc và hối lộ; tội xao lãng, lơ là nhiệm vụ của công chức; tộixâm phạm quyền con người và quyền chính trị), có quyền giám sát thủ tục tố tụnghình sự (trong giai đoạn xét xử, Viện kiểm sát có trách nhiệm luận tội, đưa ra mứchình phạt, giám sát hoạt động xét xử của Tòa án, bảo đảm làm rõ sự thật một cáchchính xác và kịp thời, vận dụng đúng đắn pháp luật, trừng phạt các phần tử phạm tội,bảo đảm người vô tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bảo đảm thi hành phápluật hình sự của Nhà nước một cách thống nhất, đúng đắn để bảo vệ
8 “Mô hình tố tụng Trung Quốc”, Trang thông tin khoa học Đại học Kiểm sát Truy cập tại link:
http://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/79/142
Trang 16pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền thân thể, quyền tài sản, quyền dân chủ vàcác quyền khác của công dân, bảo đảm tiến hành thuận lợi sự nghiệp xây dựng xãhội chủ nghĩa).
Theo quy định của Luật TTHS Trung Quốc thì Thẩm phán, Kiểm sát viên,Điều tra viên mới có quyền thu thập chứng cứ Trong ba cơ quan tiến hành tố tụngthì Cơ quan điều tra có vai trò chủ đạo trong việc thu thập chứng cứ Bị can, bị cáo
có quyền nhưng không có nghĩa vụ phải chứng minh là mình vô tội Đây là đặctrưng điển hình của mô hình tố tụng thẩm vấn của Trung Quốc
1.4 Nguyên tắc:
Mô hình tố tụng thẩm vấn gắn với chức năng công tố, các đòi hỏi về pháp
chế, trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án hình sự; đòi hỏi xác định cho được sự thậtkhách quan của vụ án; không thừa nhận sự suy đoán vô tội Có thể nói rằng, nhữngđòi hỏi này cũng chính là các nguyên tắc của tố tụng hình sự và chúng là nhữngnguyên tắc đặc trưng cho tố tụng thẩm vấn
Mô hình tố tụng hình sự của Trung Quốc theo Bộ luật Tố tụng Hình sự 1976
là điển hình cho mô hình tố tụng thẩm vấn do đã đẩy mạnh vai trò, nghiêng hẳncán cân ưu thế về các cơ quan công quyền trong quá trình tố tụng hình sự và đitheo hướng suy đoán có tội thông qua các nguyên tắc điều chỉnh hệ thống pháp luậtnày
Bộ luật Tố tụng Hình sự 1976 của Trung Quốc quy định: khi Viện kiểm sáttruy tố một vụ án, anh ta phải chuyển tất cả hồ sơ vụ án và chứng cứ sang tòa xét
xử Thẩm phán thường xem xét kĩ hồ sơ, và sẽ gặp gỡ bị cáo để thẩm vấn trước khi
ra quyết định có khởi tố vụ án hay không Thẩm phán chỉ đưa ra xét xử khi chắcchắn rằng các tình tiết hình sự đã rõ ràng và có đầy đủ chứng cứ Trong cả quá
Trang 17trình điều tra và xem xét hồ sơ án này, bên bị cáo đều không được tiếp cận và tácđộng đến các bằng chứng.
Thấy rằng, đi theo các nguyên tắc này, vô hình chung, bị cáo đã bị kết luận
là có tội trước khi phiên xét xử bắt đầu Phiên toà chỉ được coi là hình thức do ưuthế phản biện của bên bị cáo từ rất ít đến không hề có
2.1 Mục tiêu:
Nếu tổ chức hoạt động TTHS nghiêng về việc đảm bảo lợi ích tư (hay nóicách khác là nhằm bảo đảm quyền lợi của các cá nhân, tổ chức giữa người buộc tội
và người bị buộc tội) thì đó là mô hình TTHS tranh tụng
Trong TT Tranh tụng, thông qua sự tranh luận (cuộc tranh đấu) tự do và cởi mởgiữa hai bên (một bên là Nhà nước và bên kia là nguời bị buộc tội) có các dữ kiệnchính xác về vụ việc, sự thật cuối cùng cũng sẽ được mở ra Sự tự do và cởi mởchính là để đảm bảo cho mục tiêu công bằng cho các bên Dù là bên buộc tội hay làbên bị buộc tội thì đều phải được tôn trọng, đều phải được đáp ứng những quyền
và lợi ích hợp pháp mà pháp luật trao cho họ Như vậy, lợi ích của các cá nhân đãđược đặt lên hàng đầu thay vì lợi ích xã hội
Chính bởi mô hình tố tụng tranh tụng cho rằng đây là tranh chấp giữa cácbên, vậy nên quá trình giải quyết phải được hai bên tranh luận để tự bảo vệ quyềnlợi của mình, nghĩa vụ của họ là phải cung cấp những chứng cứ chứng minh sự thậtcho quan tòa, quan tòa khi đó được coi như “trọng tài” đứng giữa để phán xử xem,trong hai bên, đâu mới là sự thật, đâu là kẻ phải chịu tội Yếu tố về sự thật kháchquan của vụ án sau cùng cũng sẽ được xác định thông qua những màn tranh luậncủa hai bên Vậy nên, mục tiêu đi tìm sự thật khách quan được xếp sau mục tiêutìm kiếm sự công bằng cho các bên tranh tụng trong mô hình tố tụng tranh tụng
Trang 18Khi nói tới mô hình tố tụng tranh tụng thì mô hình tố tụng của Hoa Kỳ làmột điển hình Mục tiêu được Hoa Kỳ đặt ra trong quá trình giải quyết vụ án hình
sự là ưu tiên việc kiểm soát tội phạm, đồng thời duy trì một quy trình thủ tục côngbằng, mà cụ thể là kiểm soát hiệu quả tội phạm thông qua một quy trình, thủ tụcđược quản lý được thiết kế để đảm bảo kết án đúng người, đúng tội mà vẫn bảo vệđược quyền con người của bất cứ cá nhân nào bị kết án, cũng như quyền con ngườicủa tất cả các công dân, ngay cả khi họ không bị buộc tội.9
Từ mục tiêu thấy được sự đề cao việc đảm bảo quyền con người, quyền vàlợi ích hợp pháp của cá nhân một cách rất rõ ràng cùng với mục tiêu vốn có củaluật tố tụng hình sự về tội phạm Chính vì thế mà có một nguyên tắc rất đặc trưngcủa mô hình tố tụng tranh tụng, đó là nguyên tắc “mặc cả thú tội” “mặc cả thú tội”được sử dụng rộng rãi trong tố tụng hình sự Hoa Kỳ Mặc cả thú tội là sự thoảthuận theo đó, công tố viên cho phép bị cáo nhận tội để đổi lại một vài nhượng bộnhư giảm lời buộc tội hoặc đưa ra một mức án khoan dung hơn Các công tố viêncũng thực hiện quyền tự quyết trong việc thương thuyết với luật sư biện hộ Cónhững lợi thế của mặc cả thú tội cho cả bên bị buộc tội lẫn Nhà nước Đối với bịcáo, đó là cơ hội được giảm mức án và chi phí cho luật sư Đối với Chính phủ, nólàm giảm chi phí cho việc truy tố, cải thiện tính hiệu quả của các Tòa án bằng việcphải xử lý các vụ án ít hơn bằng các thủ tục đầy đủ của một phiên tòa và cho phépbên công tố có thể giành hết các nguồn lực của mình để giải quyết những vụ ánnghiêm trọng hơn.10 Nguyên tắc này là một ví dụ xác đáng cho việc tôn trọngquyền lợi của cá nhân trong khi giải quyết vụ án hình sự và là điển hình cho môhình tố tụng tranh tụng
9 Tô Văn Hòa chủ biên (2012), “Những mô hình tố tụng hình sự điển hình trên thế giới”, Chương trình đối tác tư
pháp Tr.366
10 “Mô hình tố tụng Hợp chủng quốc Hoa Kỳ”, Trang thông tin khoa học Đại học Kiểm sát Truy cập tại link:
http://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/79/152
Trang 19Vì vậy, ngay cả các sự kiện diễn ra tại phiên tòa cũng có thể được các bêndùng làm chứng cứ chống lại nhau Mỗi bên có quyền đặt câu hỏi trực tiếp cho bênkia cũng như những người làm chứng, giám định viên, thậm chí có quyền ngắt lờibên kia để phản bác.
Ở mô hình tranh tụng điển hình là Hoa Kỳ có ba giai đoạn chính như sau:
1- Giai đoạn tiền xét xử
cơ quan FBI mới thực hiện quá trình điều tra đầy đủ, đồng thời phải xây dựng “hồ
Trang 20sơ vụ án” Tuy nhiên, có một điểm khác biệt là những chứng cứ, tài liệu ở hồ sơ vụ
án trong quá trình điều tra chỉ là “bằng chứng tiềm năng” – tức là chừng nào nócòn chưa được thẩm phán xét xử chính thức chấp nhận, thì nó còn chưa được coi làbằng chứng11
Truy tố:
Ở giai đoạn này, công tố viên sẽ xem lại báo cáo truy tố của điều tra viêncùng với các file đính kèm để quyết định xem việc truy cứu trách nhiệm hình sự có
cơ sở hay không
Về cơ bản, giai đoạn này chủ yếu xem lại những tài liệu, chứng cứ để xácđịnh xem, có tiếp tục chuyển hồ sơ vụ án sang tòa án để chuẩn bị xét xử haykhông
2- Giai đoạn xét xử
Ở mô hình này vẫn bao gồm các cấp xét xử: sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốcthẩm với các bên đóng vai trò chính trong giai đoạn này là công tố viên, luật sư bàochữa, bị can và thẩm phán đứng giữa để phán xét tính đúng sai giữa các bên
Về cơ bản, mô hình Tố tụng hình sự của Hoa Kỳ là đặc trưng cho mô hình tố tụnghình sự tranh tụng Do vậy, với giai đoạn tố tụng, mặc dù cũng được chia một cáchtương đối thành các giai đoạn, nhưng hầu hết không rõ ràng, mà cơ bản chỉ cótrước xét xử và xét xử Từng giai đoạn cũng không được quy định rõ ràng cụ thểtrong Bộ luật tố tụng hình sự, nhưng trong quá trình thực hiện thì cơ bản vẫn đượcthực hiện một cách tuần tự như phần trình bày ở trên
2.3 Chủ thể:
11 Tô Văn Hòa chủ biên (2012), “Những mô hình tố tụng hình sự điển hình trên thế giới”, Chương trình đối tác tư
pháp Tr.380
Trang 21Mô hình tố tụng tranh tụng được xây dựng và vận hành trên cơ sở áp dụngtriệt để nguyên tắc tranh tụng Ba chức năng: buộc tội, gỡ tội và xét xử kết hợp,thống nhất với nhau, bảo đảm cho việc giải quyết vụ án được khách quan hơn.Chức năng này tồn tại vì sự có mặt, vận động của chức năng kia Thiếu một trong
ba chức năng nêu trên, tranh tụng trong TTHS sẽ không còn đầy đủ ý nghĩa của nó.Tuy vậy, các chức năng này không đồng thời cùng xuất hiện mà chức năng xét xử
có phần xuất hiện muộn hơn hai chức năng còn lại, điều này có thể hiểu rõ hơn khitiến hành bắt giữ một chủ thể với tư cách bị can thì lúc đó sẽ xuất hiện chức năngbuộc tội và chức năng gỡ tội Hai chức năng này luôn luôn đối lập nhau, tạo thànhhai bên tham gia tố tụng trong một vụ án Hình sự Từ đó sẽ hình thành nên chứcnăng xét xử của Tòa Án12
Bên buộc tội trong mô hình này bao gồm các chủ thể Cơ quan điều tra vàĐiều tra viên, Viện công tố hay Viện kiểm sát, Công tố viên hay Kiểm sát viên,người bị hại, nguyên đơn dân sự và người đại diện hợp pháp (người bảo vệ quyềnlợi) của họ; Bên gỡ tội bao gồm các chủ thể thực hiện chức năng bào chữa baogồm người bị cáo buộc phạm tội, bị can, bị cáo, người bị kết án, người bào chữa, bịđơn dân sự và người đại diện hợp pháp (người bảo vệ quyền lợi) của họ
Trách nhiệm đưa ra chứng cứ ở mô hình này thuộc về các bên: bên buộc tội(với đại diện là cơ quan thực hiện chức năng công tố) và bên gỡ tội (bên bào chữa
có trách nhiệm chứng minh mình vô tội), các bên có sự bình đẳng về quyền vànghĩa vụ với nhau, không ai có quyền lực hơn ai Mọi thông tin thu được trong quátrình điều tra đều chưa được xem xét cho đến khi được trình bày trước tòa Hìnhthức tố tụng này dựa trên quan điểm cho rằng, tố tụng là giông như một cuộc “đấutrí” tại Tòa án giữa một bên là Nhà nước (thông qua đại diện là cơ quan Công tố)
12 Nguyễn Đức Mai, “Đặc điểm của mô hình tố tụng tranh tụng và phương hướng hoàn thiện mô hình tố tụng hình sự
ở Việt Nam (Kỳ 1)”, Trang thông tin khoa học Đại học Kiểm sát Truy cập tại link:
Trang 22http://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-và một bên là công dân bị nghi thực hiện tội phạm; mà đã là cuộc tranh đấu thì haibên đều được sử dụng các quyền và nghĩa vụ pháp lý như nhau trong việc thu thập,kiểm tra và đánh giá chứng cứ, phân tích và đưa ra các kết luận đối với những việc
Bồi thẩm đoàn như bị tách khỏi phiên tòa, họ chỉ có một nhiệm vụ duy nhất
là quan sát quá trình tranh cãi gay gắt giữa bên buộc tội và bên gỡ tội cho đến khivào phòng nghị án để quyết định vấn đề có hay không có tội Khác với chế địnhHội thẩm ở một số nước theo mô hình tố tụng thẩm vấn, các nước thuộc hệ thống
tố tụng tranh tụng áp dụng chế định bồi thẩm đoàn cho phép những công dân bìnhthường có sự hiểu biết pháp luật ở mức tối thiểu tham gia xét xử các vụ án hình sự.Bồi thẩm đoàn chỉ có nhiệm vụ xác định bị cáo có tội hay không có tội, còn việc ápdụng pháp luật và hình phạt đối với bị cáo thuộc thẩm quyền của Thẩm phán
13 Nguyễn Hải Ninh, Nguyễn Hà Thanh, “Tố tụng tranh tụng và tố tụng thẩm vấn trong tư pháp hình sự thế giới”,
Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 148 (2009.)
Trang 23chuyên nghiệp14 Địa vị pháp lý của các chủ thể hoạt động tố tụng như công tốviên, luật sư, thẩm phán, bồi thẩm được chia sẻ quyền lực và có tính đối trọng chứkhông nghiêng hẳn về bên nào đó.
Khi nhắc tới Tố tụng tranh tụng, ta không thể không nhắc tới mô hình TTHScủa Hoa Kỳ - mô hình tố tụng tranh tụng điển hình Tòa án xét xử là người ra quyếtđịnh trung lập giữa hai bên tranh tụng (công tố viên và bào chữa) Tòa án khôngphải là cơ quan buộc tội và cũng không có vai trò gì trong quyết định buộc tội củaCông tố viên Thẩm phán không nhận và nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi phiênxét xử diễn ra Tòa án không có quyền ra lệnh cho bồi thẩm đoàn xem xét một tộidanh lớn hơn với tội danh mà công tố viên và đại bồi thẩm đoàn đã buộc tội cho bịcáo Đối với hoạt động điều tra, Tòa án có vai trò quan trọng trong việc phê chuẩncác lệnh khám xét, bắt giữ, lựa chọn các bồi thẩm viên trong đại bồi thẩm đoàn, …nhằm mục đích kiềm chế hoặt động điều tra, chống sự lạm quyền và ngăn ngừanhững vi phạm có thể xảy ra từ phía cơ quan điều tra đối với các quyền tố tụng củangười bị tình nghi phạm tội, tuy nhiên Tòa án lại không có thẩm quyền yêu cầuđiều tra tiếp hoặc trả lại vụ án cho cơ quan điều tra hoặc cho đại bồi thẩm đoàn đểđiều tra bổ sung Hơn nữa, không phải Thẩm phán mà là các bên sẽ là người quyếtđịnh nhân chứng nào sẽ được triệu tập trước Tòa Các quy định này được đặt ra vớimục đích nhằm đảm bảo Thẩm phán thưc sự là những trọng tài trung lập và kháchquan khi phiên xử diễn ra15
Cơ quan Công tố: Công tố viên ở Mỹ có một quyền lực hết sức quan trọng,
đó là quyền tùy nghi truy tố, là người có quyền lực nhất trong hệ thống tư pháphình sự Các công tố viên thực hiện quyền tự quyết không bị ràng buộc, có quyền
14 Nguyễn Hải Ninh, Nguyễn Hà Thanh, “Tố tụng tranh tụng và tố tụng thẩm vấn trong tư pháp hình sự thế giới”,
Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 148 (2009.)
15 Tô Văn Hòa chủ biên (2012), “Những mô hình tố tụng hình sự điển hình trên thế giới”, Chương trình đối tác tư
pháp.
Trang 24quyết định ai là người bị truy tố, đưa ra những lời buộc tội nào, khi nào thì bỏ qualời buộc tội, có thực hiện việc mặc cả thú tội hay không và cần phải tổ chức thựchiện việc truy tố như thế nào Các công tố viên thực hiện quyền tự quyết khi raquyết định trong ba lĩnh vực chủ yếu là: Quyết định đưa ra lời buộc tội (Nếu công
tố viên quyết định truy tố vụ việc ra Toà thì họ có trách nhiệm buộc tội gì, baonhiêu tội và mức độ nghiêm trọng của tội phạm Quyết định truy tố của công tốviên có ảnh hưởng quan trọng đối với hình phạt mà kẻ phạm tội có thể bị Toà ántuyên phạt nếu bị kết tội Công tố viên Hoa Kỳ còn thực thi quyền hạn đáng kể vềcác vấn đề hình phạt thông qua quyết định buộc tội), quyết định đình chỉ vụ án (bãi
bỏ lời buộc tội khi xét thấy việc điều tra của cảnh sát không đúng thủ tục hoặcchứng cứ yếu, không đủ để buộc tội hoặc có khả năng Toà án sẽ không chấp nhậncác chứng cứ đó.) và mặc cả thú tội Như vậy, trong mô hình TTHS của Hoa Kỳ,Công tố viên không có bất kỳ một quyền hạn giám sát nào đối với các cơ quan điềutra, tòa án hay bất cứ cơ quan nào khác, chức năng duy nhất của Văn phòng Công
tố là truy tố16
2.4 Nguyên tắc:
Ở mô hình tố tụng tranh tụng, chức năng tranh tụng phát sinh trên cơ sở tôn
trọng lợi ích tư của các bên tham gia tố tụng Chức năng này đặt ra các yêu cầu vềtính tùy nghi truy tố, cho phép xem xét tính hợp lý của việc truy tố và xử lý tráchnhiệm hình sự coi kết luận của Tòa án là chân lý cuối cùng của vụ án hình sự (sự thậthình thức), thừa nhận suy đoán vô tội
Trong quan điểm của mình đối với vụ kiện “liên quan tới vai trò của tòa ántrong hệ thống tranh tụng” (Vụ Greenlaw kiện Hoa Kỳ), Tòa Tối cao đã nhấnmạnh tới đặc điểm tranh tụng của Mô hình Tố tụng hình sự Hoa Kỳ rằng: hệ thống
16 “Mô hình tố tụng Hợp chủng quốc Hoa Kỳ”, Trang thông tin khoa học Đại học Kiểm sát Truy cập tại link:
http://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/79/152
Trang 25tranh tụng của Hoa Kỳ phải tuân theo nguyên tắc các bên trình bày, trao cho Tòa
án vai trò trọng tài xem xét vấn đề mà các bên trình bày Tòa án Tối cao đã khẳngđịnh một lý luận bao trùm lên hệ thống pháp luật tố tụng hình sự, đó là: hệ thốngtranh tụng Hoa Kỳ được thiết kế trên cơ sở các bên là người biết rõ điều gì là tốtnhất cho họ, và họ chịu trách nhiệm về việc gia tăng tình tiết và lý lẽ biện hộ đểmình được giảm nhẹ Thấy rằng, quan điểm này đặt ra những vấn đề cơ bản cùngnhững nguyên tắc tương ứng sau:
(1) Các bên tham gia tố tụng phải được tiếp cận, làm gia tăng thêm các thôngtin, chứng cứ có lợi và loại trừ các chứng cứ không hợp pháp
(2) Các bên tranh tụng tại tòa dựa trên các thông tin, bằng chứng được tìm rahợp pháp và bình đẳng Tòa án đóng vai trò trọng tài phân định dựa trên nội dungtranh tụng tại phiên xét xử
(3) Nghĩa vụ của bên bị đơn là chứng minh rằng mình không có tội hoặcgiảm nhẹ tội, dẫn đến nghĩa vụ chứng minh thuộc về bên công tố Kết quả của quátrình tố tụng hình sự đúng pháp luật, bị cáo chỉ được coi là có tội khi chịu một bản áncủa đã có hiệu lực Tòa án vì đã bị chứng minh là có tội bởi bên công tố
3.1 Mục tiêu:
Nếu có sự kết hợp giữa các mối quan hệ trên thì có thể đó là mô hình tố tụngxen kẽ Xoay quanh hai mục tiêu trên, đối với mô hình tố tụng xen kẽ, có thể nói,hai mục đích trên được đặt ngang nhau và khó để nói rằng, đâu mới là mục tiêuchính và được đề cao hơn yếu tố còn lại
Mô hình tố tụng xen kẽ cũng có thể đặt ra cho mình những nguyên tắc riêng,nhất định, để đảm bảo rằng các cơ quan tiến hành tố tụng vẫn thực hiện đầy đủ
Trang 26những nhiệm vụ của mình để tìm được sự thật xoay quanh vụ việc nhưng cũngluôn phải đảm bảo, không được xâm hại đến bất cứ quyền và lợi ích hợp pháp củacác cá nhân có liên quan.
Về mô hình tố tụng xen kẽ, mô hình tố tụng hình sự của Nga có thể coi làmột điển hình của mô hình tố tụng xen kẽ sau nhiều năm biến động của pháp luật
17 Tô Văn Hòa chủ biên (2012), “Những mô hình tố tụng hình sự điển hình trên thế giới”, Chương trình đối tác tư
Trang 27nhân, tổ chức tham gia vào quá trình tố tụng lại mang một vài nét của tố tụng tranhtụng Cụ thể như ở ví dụ sau:
Tại Pháp, quá trình xét xử được chia thành 3 giai đoạn:
1/ Giai đoạn điều tra; 2/ Giai đoạn truy tố; 3/ Giai đoạn xét xử
Trong các giai đoạn lại có nhiều yếu tố của tranh tụng:
Luật sư có quyền tham gia ngay từ giai đoạn đầu tiên của quá trình tố tụng,tức là ngay khi bị can bị bắt giữ, bị tạm giam Bị can có quyền giữ im lặng cho đếnkhi có mặt luật sư
Trong giai đoạn điều tra, các bên có quyền yêu cầu Thẩm phán điều tra thựchiện một số hoạt động mà họ thấy cần thiết Thẩm phán điều tra không còn quyềncho tạm giam bị can, tức là không còn chức năng tài phán này như trước đây Mộtloại Thẩm phán mới (phụ trách việc tạm giam và trả tự do bị can) đã được lập ra đểthực hiện chức năng tài phán này
Trong quá trình xét xử vụ án tại phiên toà, Công tố viên và các luật sư cóquyền trực tiếp đặt câu hỏi cho các bên đương sự mà không cần xin phép chủ tọa
Các bên có quyền đề nghị triệu tập ra toà một số lượng người làm chứngkhông hạn chế18
Nói tóm lại, có thể nói, mô hình tố tụng hình sự của Pháp là một điển hìnhcho mình tố tụng hình sự đan xen trên Thế giới
3.3 Chủ thể:
18 Nguyễn Đức Mai, “Đặc điểm của mô hình tố tụng tranh tụng và phương hướng hoàn thiện mô hình tố tụng hình sự
ở Việt Nam (Kỳ 1)”, Trang thông tin khoa học Đại học Kiểm sát Truy cập tại link:
Trang 28http://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-Nếu có những mô hình không có sự phân định rạch ròi về địa vị pháp lí củacác chủ thể là thẩm vấn hay tranh tụng thì đó chính là mô hình tố tụng xen kẽ Đây
là mô hình có sự pha trộn, lai tạp giữa hai mô hình trên Thường thì vai trò, địa vịpháp lý của từng chủ thể sẽ có sự thay đổi tùy vào hoàn cảnh của từng quốc gia,tùy vào truyền thống văn hóa, kinh tế, xã hội của từng nước sẽ có sự đan xen cácyếu tố của cả hai mô hình tranh tụng và thẩm vấn để hoàn thiện hơn hệ thống phápluật của quốc gia đó
Đại diện cho mô hình tố tụng này không thể không nhắc tới mô hình tố tụnghình sự của CHLB Nga TTHS Liên bang Nga vừa có yếu tố của tranh tụng, vừamang đặc điểm của TTHS thẩm vấn BLTTHS 2001 cho thấy sự chuyển đổi mangtính cách mạng và cơ bản của mô hình tư pháp hình sự Nga từ một hệ thống tốtụng thẩm vấn có xu hướng thiên về bên công tố sang hệ thống tranh tụng dựa trên
cơ sở tính bình đẳng và công bằng, bảo vệ các quyền cá nhân và trao quyền chocác bồi thẩm viên là những công dân bình thường có quyền quyết định việc có tộihay vô tội trong những vụ án hình sự nghiêm trọng Vai trò của cơ quan tiến hành
tố tụng và của các bên trong chứng minh tội phạm cũng thay đổi theo hướng bị cáo
và Công tố viên tham gia một cách bình đẳng vào tiến trình tố tụng, Thẩm phán từvai trò tích cực trong việc buộc tội chuyển sang vai trò là một trọng tài trung lập.Nếu như toàn bộ hoạt động TTHS của mô hình Xô viết được cấu trúc theo các giaiđoạn tố tụng nối tiếp nhau thì hoạt động TTHS theo mô hình của nước Nga mớiđược chia làm hai thủ tục chính: Thủ tục TTHS tiền xét xử và thủ tục TTHS ở Tòaán
Tòa án: trong mô hình TTHS của Nga, tòa án có vai trò đặc biệt, vừa là chủthể duy nhất đảm nhiệm chức năng xét xử (tòa án không thực hiện công việc gỡ tộihay truy tố mà tạo điều kiện cần thiết để các bên thực hiện chức năng buộc tội và
gỡ tội một cách riêng biệt), vừa thực hiện nhiệm vụ giám sát hoạt động tố tụng của
Trang 29các chủ thể trong thủ tục tiền xét xử, toàn bộ kết quả của giai đoạn điều tra chỉ có tínhchất sơ bộ, không có tính bắt buộc đối với Tòa án và Tòa án mở rộng hoạt động giámsát của mình trong thủ tục tiền xét xử Xuất phát từ nhận thức về chức năng xét xử củatòa án trên cơ sở nguyên tắc phân chia quyền lực, trong đó quyền lực tư pháp là mộttrong ba nhánh quyền lực của nhà nước độc lập có vai trò kiềm chế, cân bằng sứcmạnh giữa quyền lực lập pháp và quyền lực hành pháp, trong đó giám sát của tòa áncũng là một trong những cách thức thưc hiện chức năng xét xử của tòa án, do vậy việc
mở rộng vai trò giám sát của Tòa án ở thủ tục tiền xét xử được đánh giá như là nhân
tố tích cực nhằm bảo đảm pháp chế và hiệu quả của hoạt động tố tụng hình sự Ởphiên tòa sơ thẩm, Tòa án có vai trò tích cực, chủ động và thực hiện nhiều thẩm quyềnthuộc chức năng buộc tội như: Nghiên cứu trước hồ sơ vụ án, xem xét chứng cứ do cơquan điều tra thu thập đã đầy đủ để đưa vụ án ra xét xử hay chưa, Viện kiểm sát có đểlọt tội hay không, tội danh truy tố có phù hợp không… thực chất là Tòa án đã đánhgiá chứng cứ, đã hình thành niềm tin nội tâm của mình về việc bị cáo có tội hay không
có tội trước khi xét xử Tòa án có quyền trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổsung Khi xét xử, Tòa án có quyền khởi tố vụ án khi cho rằng Viện kiểm sát để lọt tộiphạm, có quyền tiếp tục xét xừ theo tự chung khi Viện kiểm sát đã rút toàn bộ quyếtđịnh truy tố Tòa án thực hiện việc xét hỏi đầu tiên và có vai trò là người xét hỏi chínhtrong thi xét hỏi tại phiên tòa (Trước khi ban hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 2001,các Thẩm phán không được đánh giá cao về vị trí, vai trò của họ trong TTHS và cómức lương thấp Họ cùng xét xử trong một hội đồng với hai Thẩm phán không chuyênkhác gọi là Hội thẩm nhân dân Theo Bộ luật năm 2001, sự độc lập và thẩm quyền củacác Thẩm phán được tăng cường một cách đáng kể Thẩm phán có trách nhiệm giámsát các hoạt động điều tra và bảo vệ các quyền cá nhân Bên cạnh đó, vai trò củaThẩm phán trung lập hơn trong tiến trình tranh tụng trước Tòa Bộ luật tố tụng hình sự
Trang 30năm 2001 đã quy định chế độ xét xử có bồi thẩm đoàn và chế định hội thẩm nhândân bị xóa bỏ vào đầu năm 2004.).
Giai đoạn điều tra có nhiều đặc điểm của mô hình thẩm vấn Trong giai đoạnnày tính tranh tụng giữa các bên bị hạn chế tối đa Quyền của bên bào chữa khôngtương xứng với thẩm quyền của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát Gần như toàn bộchứng cứ của vụ án là do cơ quan điều tra thu thập và đưa vào trong hồ sơ vụ án.Người bào chữa và bị can chỉ có quyền đề xuất chứng cứ và chỉ được nghiên cứu
hồ sơ vụ án khi kết thúc điều tra Như vậy, mặc dù ngay từ khi bị khởi tố, bị can vàngười bào chữa đã được biết về tội danh mà mình bị khởi tố nhưng lại không đượcbiết về những chứng cứ - căn cứ của quyết định khởi tố và những chứng cứ chốnglại mình, chỉ đến khi kết thúc giai đoạn điều tra bên bào chữa mới có khả năng biếtđược một cách đầy đủ về chứng cứ mà cơ quan điều tra đã thu thập được Bên bàochữa cũng không có quyền thể hiện ý kiến phản đối của mình về các chứng cứ đãđược thu thập có sự vi phạm của pháp luật Khả năng thực hiện quyền bào chữacủa bên bị bào chữa rõ ràng đã bị hạn chế đáng kể trong giai đoạn này và có sự bấtbình đẳng về địa vị giữa hai bên trong giai đoạn này19
3.4 Nguyên tắc:
Mô hình tố tụng hình sự xen kẽ có sự kết hợp cả hai chức năng Các nguyên
tắc kể trên được kết hợp để tạo ra một mô hình tố tụng hòa trộn giữa tố tụng thẩmvấn và tố tụng tranh tụng
Cải tiến từ bộ luật tố tụng hình sự cũ của Liên Xô, BLTTHS của Liên bangNga tuy vẫn giữ lại những nguyên tắc cơ bản trên tinh thần của tố tụng hình sựthẩm vấn, nhưng đã bổ sung nhiều nguyên tắc tiến bộ là những nguyên tắc cơ bản
19 “Mô hình tố tụng Liên bang Nga”, Trang thông tin khoa học Đại học Kiểm sát Truy cập tại link:
http://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/79/145
Trang 31của hoạt động tố tụng hình sự tranh tụng như nguyên tắc tranh tụng, nguyên tắcsuy đoán vô tội, nguyên tắc tự do đánh giá chứng cứ…
Tố tụng hình sự của Nga có dấu ấn đậm nét của tố tụng thẩm vấn trong giai đoạn tiền xét xử (điều tra sơ bộ) dưới sự kiểm soát và giám sát riêng của Kiểm sát
viên và nhân viên của các cơ quan điều tra và dự thẩm khi giữ nguyên tính chất bímật của điều tra sơ bộ và điều tra dự thẩm Song song với đó, mô hình tố tụng của
nước này kết hợp áp dụng nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng hình sự ở cả giai đoạn tiền xét xử và giai đoạn xét xử khi có sự xuất hiện rõ rệt của nguyên tắc tranh
tụng và suy đoán vô tội
Mô hình tố tụng hình sự là một sản phẩm của khoa học pháp lý, để xác địnhcác yếu tố như: mục tiêu, cách thức hoạt động, nguyên tắc hoạt động của tố tụnghình sự, đồng thời quy định chức năng, nhiệm vụ của các chủ thể tham gia vào quátrình giải quyết vụ án và trình tự thủ tục thực hiện quá trình này Mô hình tố tụnghình sự chính là một sự khái quát hóa cao nhất những đặc trưng cơ bản của quátrình tố tụng hình sự
Có rất nhiều cách phân loại mô hình tố tụng hình sự, nhóm nghiên cứu đãlựa chọn cách phân loại mô hình tố tụng hình sự theo đặc điểm để chia mô hình tốtụng ra làm 3 loại phổ biến trên thế giới: mô hình tố tụng hình sự thẩm vấn, môhình tố tụng hình sự tranh tụng, mô hình tố tụng hình sự đan xen trên các tiêu chí
so sánh: mục tiêu, giai đoạn tố tụng, chủ thể tố tụng và nguyên tắc của mô hình tốtụng
Trang 32PHẦN HAI:
MÔ HÌNH TỐ TỤNG HÌNH SỰ TẠI VIỆT NAM THEO BỘ LUẬT TỐ
TỤNG DÂN SỰ 2015
Luật tố tụng hình sự ra đời trong xã hội có nhà nước và giai cấp Pháp luật tốtụng hình sự Việt Nam ra đời gắn bó với sự hình thành của nhà nước Văn Lang Từ
đó đến nay, suốt chiều dài lịch sử Việt Nam, pháp luật tố tụng hình sự đã không ítlần thay đổi để đáp ứng được những thay đổi về chính trị, xã hội của từng giaiđoạn, thể hiện qua pháp luật tố tụng hình sự thời phong kiến cho đến các bộ luật tốtụng hình sự năm 1988 và 2003 Đến trước Bộ luật Tố tụng Hình sự Việt Nam
2015, tuy các quy định cụ thể có thay đổi nhưng chúng vẫn được xây dựng dựa
trên tinh thần của mô hình tố tụng thẩm vấn.
Thời kì phong kiến, luật pháp được xây dựng phục vụ nhà nước được xây
dựng theo phái quân chủ của học thuyết thần quyền Dân chúng tin rằng nhà vua là
con trời, là thần thánh và trao cho nhà vua quyền cai trị và chi phối đất nước tuyệtđối Là một phần của hệ thống pháp luật đó, pháp luật tố tụng hình sự tại Việt Namthời phong kiến, từ thuở ban sơ nhất là những quy phạm rời rạc, tồn tại dưới nguồnbất thành văn mà chủ yếu là luật tục cho đến những bộ luật đồ sộ như Hình thư(triều Lý), Quốc triều hình luật (triều Lê)…, có mục đích lớn nhất là kiểm soát xãhội, thể hiện quyền lực nhà nước thông qua tìm ra và trừng phạt tội phạm Niềm tinnày cũng giải thích cho việc không tồn một bên bào chữa nào trong vụ án hình sự
do không có ai trái được lời vua
Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam thời phong kiến đặt quyền điều tra,quyền xét xử vụ án vào cùng một chủ thể: đầu tiên là vua, sau là các quan lại thay
Trang 33vì nhà vua độc quyền Trong quá trình tố tụng hình sự thời phong kiến, việc cácchứng cứ, lời khai được thu thập với mục tiêu để chứng minh bị can đã phạm tộikhiến người xét xử đã có nhận định trước phi phiên xét xử bắt đầu và biến phiênxét xử trở thành một hình thức để răn đe cộng đồng Đây là thể hiện của tư duy suyđoán có tội của luật pháp.
Các thể hiện trên của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam thời phong kiến chứng tỏ mô hình tố tụng hình sự mà chúng hướng tới là mô hình tố tụng thẩm
vấn.
Hoạt động tố tụng hình sự của Việt Nam giai đoạn sau phong kiến bị anhthưởng rất lớn bởi tình hình xã hội, chính trị
Từ năm 1945 đến năm 1975, nước ta luôn sống trong cảnh thời chiến, luôn
phải đối phó với các lực lượng phản động Trong cuốn Pháp quyền nhân nghĩa HồChí Minh của ông Vũ Đình Hòe (Bộ trưởng Tư pháp đầu tiên) có nêu “Một chế độnào, cho dẫu là theo hướng dân chủ mới, nhưng mới thành lập sau một cuộc cáchmạng, cũng cần phải dùng những phương sách bất thường để chống với những lựclượng phản động”, bởi vậy, lực lượng công an có một quyền lực tương đối lớn vàđộc lập được Nhà nước trao cho để đối phó mạnh mẽ với tình hình thời điểm đó,với mục tiêu trên hết là an ninh quốc gia
Sau năm 1975, các lực lượng thù địch vẫn luôn chống phá và trong nước thì
trải qua một giai đoạn bao cấp kéo dài, việc cải cách tư pháp chưa được chú trọng Dovậy, cách thức hoạt động phòng, chống tội phạm vẫn theo ý thức hệ cũ: Nhấn mạnhmặt đấu tranh với tội phạm mà chưa chú trọng đến việc bảo đảm quyền công dân (khinhững người này bị vướng vào vòng tố tụng); tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan
tố tụng giải quyết vụ án mà chưa chú trọng đến tính công bằng khi không tạo điềukiện đầy đủ cho công dân được bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ