1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI tập lớn đề tài 3 GIẢI PHÁP góp PHẦN đẩy MẠNH CÔNG NGHIỆP hóa, HIỆN đại hóa, hội NHẬP QUỐC tế ở VIỆT NAM HIỆN NAY

51 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 407,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Có nghĩa là, cần cụ thể hóa nộidung chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng thân thiện với môi trường, tiếp cận môhình tăng trưởng xanh đã được đề cập trong văn kiện của Đại hội Đảng lần

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA TP HỒ CHÍ MINH

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC 2

Mở đầu 3

Nội dung 4

I.Quan điểm chỉ đạo của Đảng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay 4

1.1.Hoàn cảnh lịch sử: 4

1.2.Quan điểm chỉ đạo của Đảng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay 4

II Vận dụng 20

CHỦ ĐỀ VẬN DỤNG( không gian, thời gian, đối tượng) 20

2.1 Chủ trương 20

2.2 Đánh giá thực trạng 26

2.3 Giải pháp 41

Kết Luận 48

TÀI LIỆU THAM KHẢO 50

Trang 3

MỞ ĐẦU

Nếu nhìn lại đất nước Việt Nam trong quá khứ vào 30 năm trước và so sánh với hiệntại chúng ta có thể thấy một sự thay đổi kì diệu về mọi mặt Vào thời điểm năm 1975,nền kinh tế và phần lớn cơ sở hạ tầng của quốc gia đã bị tàn phá nặng nề bởi chiếntranh, Việt Nam là một trong những nước nghèo nhất trên thế giới, với lạm phát phi

mã cùng nền nông nghiệp lạc hậu Để thoát khỏi vũng lầy này, vào năm 1986, Đảng

và nhà nước ta đã đặt ra chính sách “Đổi mới” tập trung vào công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước, hội nhập và giao lưu quốc tế Chính nhờ con đường đúng đắn này màhiện tại Việt Nam ta đang đến hiện nay vẫn đang phát triển với tốc độ “thần tốc”

Tuy vậy sự phát triển của Việt Nam ta vẫn còn chưa đồng nhất ở các khu vực cũngnhư giữa các tỉnh thành phố khác nhau trong cùng khu vực Đón đầu chính là cáctrung tâm công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế của cả nước như

Hà Nội,TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai … Lý do vì sao lại có sự khôngđồng đều này chính là bởi nguồn nhân lực lớn đổ về những khu vực trên, tập trunghơn cho công cuộc phát triển Từ đó có thể thấy được rằng con người chính là mộttrong những nguyên nhân quan trọng trong việc chuyển mình của Việt Nam ta nóichung và các khu khu đô thị lớn nói riêng

Bởi vậy thông qua đề tài này nhóm chúng em xin tập trung nghiên cứu các giải phápcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay dưới

sự phân tích tập trung vào nguồn lực con người, và nơi được chọn để phân tích chính

là tỉnh Đồng Nai Đồng Nai nổi bật lên là một sự tiến hóa vượt bậc trong khoảngmười năm trở lại đây là bởi vì trong giai đoạn mười năm trở lại đây, tiến hóa thànhbiểu tượng điển hình của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, vớinhững thành tựu nhất định, tuy vậy đi kèm với sự đi lên đó còn là những hệ lụy tiêucực và những mặt trái đáng cần phải giải quyết Nhóm chúng em xin phân tích trìnhbày và đưa là giải pháp cho các mặt trên

Trang 4

kỳ hình thành một trật tự thế giới mới.

Dù những cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột, tranh chấp vẫn còn, nhưng xu thếchung của thế giới mới là hòa bình và hợp tác phát triển và toàn cầu hóa Các nước đổimới tư duy về quan niệm sức mạnh, vị thế quốc gia Từ đây, sức mạnh kinh tế được đặt

ở vị trí quan trọng hàng đầu

1.1.2 Trong nước:

Việt Nam từ nửa cuối thập niên 70 của thế kỷ XX tồn tại sự bao vây, chống phácủa các thế lực thù địch tạo nên tình trạng căng thẳng, mất ổn định Bên cạnh đó, cuộckhủng hoảng kinh tế ở nước ta vẫn đang tiếp diễn đòi hỏi phải có một sự thay đổimạnh mẽ về mọi mặt

1.2 Quan điểm chỉ đạo của Đảng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay

Đối với chung cả nước:

Quan điểm chỉ đạo của Đảng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay cóthể tóm gọn lại là tập trung vào 5 mặt sau đây:

Công nghiệp hoá gắn với hiện đại hoá và công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên môi trường.

Trang 5

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức:

Phát triển kinh tế tri thức là xu hướng dựa trên trình độ rất cao của lực lượng sản xuất hơnhẳn so với kinh tế công nghiệp Theo xu hướng này, nền kinh tế thế giới đang biến đổi sâusắc và toàn diện cả về trình độ công nghệ, ngành sản xuất và cơ cấu sản phẩm Tri thứckhoa học và công nghệ, kỹ năng của con người là những yếu tố quyết định nhất của sảnxuất và trở thành lực lượng sản xuất quan trọng hàng đầu Những yếu tố đó trở thànhnguyên nhân trực tiếp của mọi biến đổi trong đời sống kinh tế - xã hội thông qua việc tạo

ra những ngành sản xuất mới với những công nghệ mới, phương pháp sản xuất mới,những vật liệu và nguồn năng lượng mới với những ưu thế vượt trội so với những công

cụ, nguyên liệu, năng lượng và phương pháp truyền thống do nền kinh tế công nghiệp tạo

ra - Trên thực tế, xu hướng phát triển kinh tế tri thức đã được khởi động cách đây hàngchục năm, nhất là từ cuối những năm 70 thế kỷ XX khi trên thế giới bắt đầu diễn ra cuộccách mạng khoa học và công nghệ hiện đại Theo xu hướng này, đến nay bên cạnh nhữngphát minh mới trong khoa học cơ bản, con người đã đi rất xa trong việc sáng tạo ra cáccông cụ sản xuất mới (máy tính điện tử, máy tự động, hệ thống máy tự động, robot ),những năng lượng mới (nguyên tử, nhiệt hạch, mặt trời, thủy triều, gió…), vật liệu mới(pô-ly-me, vật liệu tổ hợp composite, gốm cao cấp như siêu bền, siêu cứng, siêu dẫn…),công nghệ sinh học (có những đột phá phi thường trong công nghệ di truyền tế bào, visinh, enzim… góp phần giải quyết nạn đói, chữa bệnh), nông nghiệp (tạo được cuộc cáchmạng xanh trong nông nghiệp: cơ khí hóa, điện khí hóa lai tạo giống mới, không sâubệnh, nhờ đó con người đã khắc phục được nạn đói), giao thông vận tải và thông tin liênlạc (máy bay siêu âm, tàu hỏa siêu tốc, cáp sợi thủy tinh quang dẫn,… truyền hình trựctiếp, điện thoại di động, công nghệ chinh phục vũ trụ (vệ tinh nhân tạo, thám hiểm mặttrăng, du hành vũ trụ…), công nghệ thông tin phát triển và bùng nổ mạnh trên toàn cầu,mạng thông tin máy tính toàn cầu (Internet) ứng dụng sâu rộng trong mọi ngành kinh tế

và xã hội Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại chính là bước quá độ chuyểnnền kinh tế công nghiệp lên nền kinh tế tri thức Xu hướng phát triển kinh tế tri thức đã vàđang được diễn ra ngày càng mạnh mẽ ở các nước công nghiệp phát triển Do sức hấp dẫnđối với sự phát triển kinh tế - xã hội của xu hướng này mà nó đã và đang cuốn hút ngàycàng nhiều nước đang phát triển Đã có một số nước đang phát triển thành công nhờ pháttriển theo xu hướng này.CNH, HĐH

Trang 6

của Việt Nam được tiến hành bối cảnh xu hướng trên thế giới đang chuyển mạnh lênnền kinh tế tri thức và xu hướng toàn cầu hóa kinh tế đã và đang tác động sâu sắc vớitốc độ cao đến đời sống kinh tế - xã hội của mọi quốc gia, trong khi đó Việt Nam vẫntrong tình trạng của một nước có điểm xuất phát thấp, nhiều yếu tố lạc hậu, phát triểnthiếu bền vững Trong bối cảnh nhiều cơ hội và thách thức đan xen, để đi tới một nềnkinh tế hiện đại, Việt Nam phải có những giải pháp bứt phá Sự lựa chọn giải pháp đẩymạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức là cấp thiết.

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa với việc bảo vệ tài nguyên môi trường:

Song song với quá trình CNH-HĐH, chúng ta đang phải chịu những áp lực về thay đổicấu trúc và mô hình phát triển do sự cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường ngàycàng lộ rõ Do đó, các mối quan tâm về môi trường cần được lồng ghép ngay từ quátrình ra các quyết định về phát triến kinh tế và xã hội - Có nghĩa là, cần cụ thể hóa nộidung chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng thân thiện với môi trường, tiếp cận môhình tăng trưởng xanh đã được đề cập trong văn kiện của Đại hội Đảng lần thứ XI.Trong đó, Nhà nước cần dành sự quan tâm đặc biệt để xây dựng năng lực nội sinhnhằm sử dụng và phát triển các công nghệ tiết kiệm tài nguyên, nguyên liệu, nănglượng ; vì đây là động lực chủ yếu để thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tếnước ta theo hướng phát triển bền vững

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế.

Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước

ta trở thành một nước công nghiệp Nhiệm vụ trung tâm của cách mạng nước ta trong suốtthời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, không qua chế độ tư bản chủ nghĩa là phải xây dựng

cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, trong đó có công nghiệp và nông nghiệphiện đại, văn hoá và khoa học tiên tiến Muốn thực hiện thành công nhiệm vụ quan trọng

đó, nhất thiết phải tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tức là chuyển nền kinh tếnông nghiệp lạc hậu thành nền kinh tế công nghiệp văn minh Thực chất của công nghiệphoá, hiện đại hoá là chuyển toàn bộ nền sản xuất xã hội từ lao động thủ công là chínhsang lao động với phương tiện và phương pháp tiên tiến có năng suất cao Công nghiệphoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân trong bối cảnh toàncầu hoá kinh tế,

Trang 7

chúng ta phải xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ Nền kinh tế độc lập, tự chủ, trước hết

là độc lập, tự chủ về đường lối, chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, không

lệ thuộc vào những điều kiện kinh tế -chính trị do người khác áp đặt, đồng thời có tiềmlực kinh tế đủ mạnh; có mức tích luỹ ngày càng cao từ nội bộ nền kinh tế…có năng lựcnội sinh về khoa học và công nghệ; bảo đảm an ninh lương thực, an toàn năng lượng, tàichính, môi trường…Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ đi đôi với chủ động hội nhậpkinh tế quốc tế và khu vực, từ đó phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thànhnước công nghiệp theo hướng hiện đại Ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thờixây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa Theo quy luậtchung nhất về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sảnxuất thì bất cứ sự thay đổi nào của quan hệ sản xuất, cũng đều là kết quả tất yếu sự pháttriển của lực lượng sản xuất.Trong suốt cả quá trình thực hiện công cuộc đổi mới, Đảng

và Nhà nước ta rất chú trọng ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, nhiều ngành kinh tếđược đầu tư, từng bước hiện đại Mặt khác, chúng ta cũng không coi nhẹ việc xây dựng

và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới phù hợp Thực tế những năm vừa qua,trong nôngnghiệp, nông thôn, sự thích ứng giữa trình độ phát triển của lựclượng sản xuất với quan

hệ sản xuất mới đã tạo ra những bước phát triển quan trọng trong khu vực kinh tế này.Phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn ngoại lực và chủ độnghội nhập kinh tếquốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững.Trong bối cảnh khu vực hoá và toàncầu hoá kinh tế, Đảng ta chỉ rõ phải phát huy cao độ nội lực, coi nội lực là quyết định,nhưng không được coi nhẹ nguồnngoại lực, tranh thủ nguồn vốn, khoa học và công nghệ,kinh nghiệm quản lý…được xem là nguồn bổ sung quan trọng cho sự phát triển của đấtnước.Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế giúp chúng ta rút ngắn khoảng cách chênh lệchvới các nước trong khu vực và trên thế giới, thuận lợi trong việc mởrộng thị trường tiêuthụ hàng hoá trong nước (những mặt hàng có lợi thế) Chủđộng hội nhập kinh tế quốc tế

để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững,điều này cần phải được quán triệt trong tất

cả các ngành, các lĩnh vực của nềnkinh tế, cả trước mắt cũng như lâu dài Tăng trưởngkinh tế đi liền với phát triển văn hoá, từng bước cải thiện đờisống vật chất và tinh thầncủa nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội,bảo vệ và cải thiện môi trường.Kháiniệm phát triển ngày nay được nhìn nhận một cách đầy đủ, toàn diện hơn Ngoài chỉ số vềtăng trưởng kinh tế (thu nhập

Trang 8

bình quân đầu người), pháttriển còn bao hàm nhiều chỉ số quan trọng khác về những giátrị văn hoá và nhân văn Đối với nước ta, phát triển kinh tế gắn với tiến bộ và công bằng

xã hội,nâng cao dân trí, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ và cảithiệnmôi trường; khuyến khích làm giàu hợp pháp, đi đôi với xoá đói, giảm nghèo…phải đượcthực hiện ngay trong từng bước đi của quá trình phát triển.Kết hợp phát triển kinh tế-xãhội với tăng cường quốc phòng, an ninh.Xây dựng đất nước đi đôi với bảo vệ Tổ quốc,điều đó được quán triệt trongviệc kết hợp phát triển kinh tế-xã hội với quốc phòng, anninh Kinh tế phát triển tạo cơ sở để tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh.Quốcphòng, an ninh mạnh tạo môi trường thuận lợi để phát triển kinh tế-xã hội nhanh và bềnvững Chủ nghĩa đế quốc và các lực lượng thù địch chống chủ nghĩa xã hội vẫn khôngngừng chạy đua vũ trang Hoà bình, ổn định đối với từng quốc gia luôn luôn bị đe doạ Vìvậy, chúng ta phải không ngừng nâng cao cảnh giác, cần nhận thức đầy đủ và đúng đắnhơn mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với tăng cường quốc phòng, an ninh Để thu hútđầu tư từ nước ngoài, Việt Nam cần: Một ưu tiên hàng đầu về chính sách là phải nỗ lựckhắc phục các rào cản đối với việc giải ngân cho các dự án FDI hiện tại Thủ tục hànhchính và giảiphóng mặt bằng luôn luôn là một rào cản rất lớn đối với việc triển khai các

dự án FDI.Một số nhà đầu tư cao ốc văn phòng cho biết, cùng một dự án như nhau,nếu ởTrung Quốc hay Thái Lan chỉ cần 1-2 năm để hoàn tất dự án thì ở ViệtNam thường phảitốn gấp đôi thời gian này vì thủ tục hành chính phiền hà vàvô số phức tạp nảy sinh trongviệc giải phóng mặt bằng Theo kinh nghiệm củacác nước khác, thay vì để nhà đầu tư tựđứng ra đền bù, giải tỏa mặt bằng thì nhà nước (mà cụ thể là chính quyền địa phương) cầnthực hiện những hoạt động này, sau đó mới tiến hành đấu thầu hay đấu giá một cách côngkhai và cạnh tranh

Lấy phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh, bền vững.

Trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, phát huy nhân tố con người, phát triểnnguồn nhân lực chính là đầu tư cho con người thông qua các hoạt động giáo dục, đào tạo,dạy nghề, chăm sóc sức khoẻ, tạo việc làm, an sinh xã hội… Đầu tư cho con người chính

là nhằm phát triển thể lực, tri thức, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức, tay nghề;tính năng động và sức sáng tạo của con người; phát huy bản sắc nền văn hoá,

Trang 9

truyền thống lịch sử dân tộc để hun đúc thành bản lĩnh, ý chí của con người trong laođộng Đó chính là nguồn nội lực, là yếu tố nội sinh, nếu được phát huy và sử dụng có hiệuquả sẽ là động lực, nguồn sức mạnh để phục vụ cho chính con người và xã hội Với tinhthần “phát huy nhân tố con người”, “làm cho sản xuất bung ra”, “giải phóng mọi năng lựcsản xuất” trong nhân dân… được khởi xướng từ Đại hội VI của Đảng (12-1986), đất nước

đã từng bước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội Nước ta từ thiếu đói đã tiến đếnhoàn thành mục tiêu “ăn no, mặc ấm” và vươn tới những mục tiêu cao hơn Lại một lầnnữa, thực tế cho chúng ta thấy, khi nào chúng ta biết tôn trọng, yêu thương, tin tưởng, dựavào nhân dân, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước phù hợp với lòng người, quantâm tới quyền lợi của nhân dân, tạo ra động lực cho người lao động… thì lúc đó chúng taphát huy được nhân tố con người, khai thác và huy động được năng lực, khả năng củamỗi cá nhân và toàn dân tộc vào tiến trình cách mạng Bên cạnh những mặt tích cực thìmặt trái của cơ chế thị trường đã làm cho không ít cá nhân, tập thể, doanh nghiệp bị chìmđắm vào những lợi ích cá nhân, vì đồng tiền, vì lợi ích mà đi ngược lại quyền lợi củanhân dân, của quốc gia dân tộc Trong sự hỗn độn giữa thiện và ác, giữa đúng và sai, giữatích cực và hạn chế, ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh như mặt trời soi sáng cho con đườngchúng ta đi Tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triểnnguồn lực con người nói riêng vẫn nguyên giá trị Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triểncon người, coi con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự nghiệp cách mạng,những lời dạy về phát huy sức mạnh của phẩm chất và năng lực, những chỉ dẫn về cáchdùng người, sử dụng cán bộ, những giải pháp để phát huy được nhân tố con người thực sựxứng tầm “là cái cẩm nang thần kỳ”, “bàn chỉ nam” cho sự nghiệp cách mạng nước tahiện nay.Mục tiêu xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất-kỹthuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ củalực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh giữ vững, dângiàu, nước mạnh, dân chủ,công bằng, văn minh Đó trước hết là cuộc cách mạng của conngười, vì con người và do con người Bởi, khi chúng ta nói về những ưu việt của chủnghĩa xã hội thì những ưu việt đó không do ai đưa đến Đó phải là kết quả những nỗ lựcvượt bậc và bền bỉ của toàn dân ta với những con người phát triển cả về trí lực, cả về khảnăng lao động và tính tích cực chính trị-xã hội và đạo đức, tình cảm trong sáng Trong sựnghiệp cách mạng từ ngày thành

Trang 10

lập đến nay, Đảng ta đã nhiều lần khẳng định: Con người là vốn quý nhất, chăm locho hạnh phúc của con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ ta Trên thực

tế, Đảng ta đã luôn luôn cố gắng thực hiện mục tiêu đó Sự nghiệp chăm lo cho hạnhphúc con người tuy chưa có nhiều thành công như mong muốn, song phần nào đã đápứng nguyện vọng của nhân dân Phương châm của Chủ tịch Hồ Chí Minh là: “Việc gì

có lợi cho dân, taphải hết sức làm; việc gì có hại cho dân, ta phải hết sức tránh” đãđược Đảng ta đặt lên vị trí hàng đầu và coi đó là nhiệm vụ trung tâm Lời dạy của Bác– “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người” và

“muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủnghĩa” – đã trở thành tư tưởng xuyên suốt toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Đảng tavới tư cách là Đảng cầm quyền Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đạihóa ngày nay, Đảng ta tiếp tục khẳng định: lấy việc phát huy nguồn lực con người làmyếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững; nâng cao dân trí, bồi dưỡng vàphát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi củacách mạng Việt Nam Trong Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011-2015, Đảng

ta xác định mục tiêu: tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững; nâng cao rõ rệt hiệu quả

và sức cạnh tranh của nền kinh tế; con người là trung tâm của chiến lược phát triển,đồng thời là chủ thể phát triển; tạo chuyển biến mạnh về giáo dục và đào tạo, khoahọc và công nghệ, phát huy nhân tố con người Và trong Báo cáo Chính trị tại Đại hộiđại biểu toàn quốc lần thứ XI (1-2011), Đảng ta đặt mục tiêu: Đổi mới căn bản và toàndiện giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là đội ngũcán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi; đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ, văn hóa đầu đàn,đội ngũ doanh nhân và lao động lành nghề”

Khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực của công nghiệp hóa, hiện

đại hóa.

Đại hội VIII của Đảng (năm 1996) đặt ra yêu cầu ở chặng đường đầu của thời kỳ quá

độ phải chuẩn bị đầy đủ tiền đề cho phép chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệphóa, hiện đại hóa Đại hội khẳng định “Khoa học và công nghệ trở thành nền tảng củacông nghiệp hóa, hiện đại hóa” Đại hội IX của Đảng (năm 2001) nhận định, thế kỷXXI, khoa học - công nghệ sẽ có bước tiến nhảy vọt, kinh tế tri thức có vai trò ngày

Trang 11

càng nổi bật Do đó, Đại hội chỉ rõ “Phát triển khoa học và công nghệ cùng với phát triểngiáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực đẩy mạnh công nghiệphóa, hiện đại hóa” để từng bước phát triển kinh tế tri thức và nâng cao năng suất lao động.Đại hội X của Đảng (năm 2006) tiếp tục nhấn mạnh: “Kết hợp chặt giữa hoạt động khoahọc và công nghệ với giáo dục và đào tạo để thực sự phát huy vai trò quốc sách hàng đầu,tạo động lực đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế tri thức” ĐếnĐại hội XI (năm 2011), Đảng ta chú trọng tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đạihóa gắn với phát triển kinh tế tri thức: “Phát triển mạnh khoa học, công nghệ làm độnglực đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế tri thức” Cươnglĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm2011) khẳng định: “Phát triển khoa học và công nghệ nhằm mục tiêu đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển kinh tế tri thức, vươn lên trình độ tiên tiếncủa thế giới” Đại hội XII của Đảng (năm 2016) nhấn mạnh: “Phát triển mạnh mẽ khoahọc và công nghệ, làm cho khoa học - công nghệ thực sự là quốc sách hàng đầu, là độnglực quan trọng nhất để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, kinh tế tri thức” Với mụctiêu “đến năm 2020 khoa học và công nghệ đạt trình độ phát triển của nhóm nước dẫn đầuASEAN”, tại Đại hội này, Đảng ta xác định công nghiệp hóa, hiện đại hóa cần tiến hànhqua 3 bước là: Tạo tiền đề, điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đẩy mạnh và nângcao chất lượng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Đối với quốc gia đang phát triển như Việt Nam, nếu tích cực chuyển đổi số, phát triểnkinh tế số, xã hội số thì sẽ có cơ hội để đi cùng, vượt trước các nước trong khu vực vàtrên thế giới, tránh nguy cơ tụt hậu Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tạo ra độnglực, tài nguyên mới cho sự phát triển và đổi mới sáng tạo

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cũng tạo tiền đề cho sự hình thành bước đột phá tưduy trong đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa tại Đại hội XIII, thể hiện ở nhữngđiểm cốt lõi sau:

Thứ nhất, thúc đẩy chuyển đổi tư duy từ phát triển nền công nghiệp phụ thuộc,

gia công, lắp ráp sang chủ động sáng tạo, vươn lên, làm chủ công nghệ

Trang 12

Để chủ động phát triển, nước ta phải thoát khỏi sự tăng trưởng dựa vào lao động giá rẻ

và nền công nghiệp phụ thuộc, gia công, lắp ráp Thực tế cho thấy, công nghiệp, côngnghiệp hỗ trợ nước ta còn phát triển chậm, trình độ hạn chế, nhiều nguyên liệu đầuvào quan trọng chưa sản xuất được nên phụ thuộc lớn vào nhập khẩu; việc tham giatrong chuỗi giá trị toàn cầu ở nhiều sản phẩm vẫn chỉ ở công đoạn cuối cùng nên giátrị gia tăng không lớn Đại hội XIII đánh giá: “Mô hình tăng trưởng chưa dựa trên nềntảng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, tính tự chủ của nền kinh tế còn thấp, vẫncòn phụ thuộc vào bên ngoài” Do vậy, Đại hội XIII chủ trương: “Thúc đẩy khởinghiệp sáng tạo, phát triển các ngành, lĩnh vực, các doanh nghiệp trên nền tảng ứngdụng mạnh mẽ các thành tựu của khoa học - công nghệ, nhất là cuộc Cách mạng côngnghiệp lần thứ tư” Hiện đại hóa công nghệ sản xuất là điều kiện tiên quyết để đưa sảnphẩm thương hiệu Việt Nam lên tầm cao mới, thoát khỏi vị trí gia công, lắp ráp trongthời gian qua Ứng dụng, tiên phong sáng tạo, phát minh công nghệ mới có thể giúpdoanh nghiệp tăng doanh số, nâng cao vị thế doanh nghiệp và nền kinh tế Muốn làmđược điều đó không có con đường nào khác phải dựa trên nền tảng tài nguyên trí tuệ

Trang 13

động lực quyết định tăng năng suất lao động, lợi thế cạnh tranh trong tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.

Thứ ba, thúc đẩy chuyển đổi quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa sang giai

đoạn mới: thâm dụng tri thức và đột phá đổi mới sáng tạo

Hiện nay, nền kinh tế Việt Nam chưa đạt trình độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhưcác nước tiên tiến trên thế giới, nhưng cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã mở

ra cơ hội để nước ta thay vì “đi sau” thì có thể nỗ lực để “đi cùng”, một số lĩnh vựcmũi nhọn, có thế mạnh, có thể phấn đấu “đi trước, vượt trước” Đại hội XIII chủtrương “chuyển mạnh nền kinh tế sang mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất, tiến

bộ khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhân lực chất lượng cao” Chủ trương nàykhông chỉ nhấn mạnh phát triển khoa học - công nghệ, mà còn đề cao yêu cầu đổi mớisáng tạo như một định hướng trung tâm, xuyên suốt trong xu thế Cách mạng côngnghiệp lần thứ tưđang tăng tốc Đại hội XIII xác định: “Đẩy mạnh phát triển một sốngành, lĩnh vực kinh tế trọng điểm, có tiềm năng, lợi thế và còn dư địa lớn để làmđộng lực cho tăng trưởng theo tinh thần bắt kịp, tiến cùng và vượt lên ở một số lĩnhvực so với khu vực và thế giới”

Cùng với cơ hội, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cũng đưa đến nhữngthách thức không nhỏ cho Việt Nam Theo đó, khả năng tối ưu hóa các nguồn lực và

sự kết nối cung - cầu không giới hạn của nền kinh tế số tạo ra áp lực cạnh tranh kinh

tế, chiến tranh thương mại, tranh giành thị trường, các nguồn tài nguyên, công nghệ,nhân lực chất lượng cao, thu hút đầu tư ngày càng quyết liệt, gay gắt hơn Những nămtới, đất nước ta hội nhập sâu rộng hơn và phải thực hiện đầy đủ, hiệu quả các cam kếtkhi tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, trong điều kiện nền kinh tếphát triển chưa bền vững, còn nhiều hạn chế, yếu kém, nhất là vấn đề trình độ côngnghệ, năng suất lao động và mức độ chuyển đổi số

Đại hội XIII của Đảng xác định rõ mục tiêu cụ thể: Đến năm 2025, nước ta là nước đangphát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại; đến năm 2030, nước ta là nước đang pháttriển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045, nước ta trở thànhnước phát triển, thu nhập cao Để thực hiện thành công các mục tiêu này, trên cơ

Trang 14

sở nhận thức rõ thành tựu, hạn chế của khoa học - công nghệ trong quá trình đẩy mạnh

sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa qua hơn 35 năm đổi mới đất nước, cùngnhững tư duy mới về thời cơ và thách thức mà Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đemlại, đòi hỏi ngay từ bây giờ, Việt Nam cần tích cực chuyển đổi mạnh mẽ hơn sang nềnkinh tế số Quá trình này cũng yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng ngày càngtheo chiều sâu, dựa nhiều vào tri thức, đổi mới, sáng tạo để có sự bứt phá về năng suấtlao động, sức cạnh tranh, trở thành một “mắt xích” quan trọng không thể thiếu trongchuỗi cung ứng giá trị toàn cầu Tại Đại hội XIII, Đảng ta nhấn mạnh chủ trương đẩymạnh chuyển đổi số quốc gia; phát triển kinh tế số dựa trên nền tảng khoa học - côngnghệ, đồng thời thống nhất quan điểm đổi mới tư duy và hành động, chủ động nắm bắtkịp thời, tận dụng hiệu quả các cơ hội của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư gắnvới quá trình hội nhập quốc tế để cơ cấu lại nền kinh tế, phát triển kinh tế số, xã hội

số, coi đây là nhân tố quyết định để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sứccạnh tranh, góp phần thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước Những định hướng này thể hiện cụ thể trên những nội dung sau:

Một là, xây dựng nền công nghiệp quốc gia vững mạnh trên nền tảng số.

Nền công nghiệp quốc gia vững mạnh là yếu tố nền tảng quyết định sức cạnh tranh, năngsuất lao động và quy mô của nền kinh tế Để xây dựng nền công nghiệp quốc gia vữngmạnh, Đại hội XIII yêu cầu: Đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng, phát triển,làm chủ công nghệ hiện đại Phát triển một số sản phẩm chủ lực có thương hiệu mạnh, có

uy tín trong khu vực và thế giới Nâng cao tiềm lực khoa học - công nghệ, chất lượngnguồn nhân lực đất nước, tạo cơ sở đẩy mạnh chuyển đổi số nền kinh tế quốc gia và pháttriển kinh tế số Cơ cấu lại công nghiệp, nâng cao trình độ công nghệ, đẩy mạnh chuyểnđổi sang công nghệ số, tập trung phát triển công nghiệp nền tảng, nhất là công nghiệp cơkhí, chế tạo, công nghiệp hỗ trợ, nâng cao tính tự chủ của nền kinh tế, có khả năng thamgia sâu, có hiệu quả vào chuỗi giá trị toàn cầu Ưu tiên phát triển những ngành côngnghiệp công nghệ cao, thân thiện với môi trường Dựa trên công nghệ mới, hiện đại đểphát triển các ngành công nghiệp vẫn còn có lợi thế (chế biến nông sản, dệt may, dagiày…) tạo nhiều việc làm, sản xuất hàng xuất khẩu, đóng góp lớn vào giá trị gia tăngquốc gia Nâng cao hiệu quả hoạt động của các khu công nghệ

Trang 15

cao, khu kinh tế, khu công nghiệp Nâng cao trình độ khoa học - công nghệ ngành xâydựng đủ năng lực thiết kế, thi công các công trình xây dựng lớn, phức tạp, hiện đại, cókhả năng cạnh tranh trong nước và quốc tế.

Hai là, xây dựng chiến lược, hoàn thiện thể chế phát triển đô thị và kinh tế đô

thị làm động lực phát triển từng vùng, địa phương

Đô thị hóa và kinh tế đô thị luôn là chiến lược trọng tâm của quá trình công nghiệphóa, hiện đại hóa Mục tiêu là hướng tới hình thành các trung tâm đô thị nhằm tạo nềntảng hạ tầng và các nguồn lực, nhất là nguồn lực về khoa học - công nghệ cho sự pháttriển và chuyển đổi số Đô thị luôn là trung tâm, kinh tế đô thị có sức thu hút, lan tỏa,

là điều kiện rất thuận lợi để tiếp thu, ứng dụng, nghiên cứu, sáng tạo khoa học - côngnghệ Do vậy, phát triển đô thị, kinh tế đô thị là mắt xích quan trọng trong quá trìnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa Vì vậy, cần nâng cao khả năng quản lý, kiểm soát quátrình đô thị hóa, phát triển đô thị vệ tinh, hạn chế xu hướng tập trung quá mức vào các

đô thị lớn; xây dựng đô thị hiện đại, văn minh, đô thị thông minh, đa dạng về loạihình, có bản sắc đặc trưng về kiến trúc, văn hóa ở từng địa phương

Ba là, thực hiện cơ cấu lại nông nghiệp, phát triển kinh tế nông thôn gắn với

xây dựng nông thôn mới theo hướng nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại

và nông dân văn minh

Nông nghiệp, nông thôn luôn là mục tiêu quan trọng của quá trình công nghiệp hóa, hiệnđại hóa Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tư duy phát triển nông nghiệpđòi hỏi phải trên nền tảng đổi mới sáng tạo Các yếu tố đầu vào, đầu ra và quy trình, côngnghệ sản xuất nông nghiệp cần được tối ưu hóa, hiện đại hóa dựa trên thành tựu Cáchmạng công nghiệp lần thứ tư Theo đó, Đại hội XIII định hướng phải chủ động phát triểnnền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn, ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sinh tháidựa trên tiến bộ khoa học - công nghệ Phát huy tiềm năng, lợi thế của từng vùng, từngđịa phương, đổi mới tổ chức, phát triển kinh tế hợp tác, thu hút doanh nghiệp đầu tư, cảitiến quản lý nhà nước để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh củahàng hóa nông sản Gắn kết chặt chẽ nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ, sản xuất vớibảo quản, chế biến, xây dựng thương hiệu, tiêu thụ, nâng cao giá trị nông sản trong chuỗigiá trị Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn, kết

Trang 16

nối nông thôn với đô thị Tiếp tục đẩy mạnh Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựngnông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu.

Bốn là, đẩy mạnh ứng dụng thành tựu khoa học - công nghệ hiện đại, phát triển

mạnh khu vực dịch vụ, nhất là dịch vụ có giá trị gia tăng cao

Thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và quá trình chuyển đổi sangnền kinh tế số đã đặt ra yêu cầu hiện đại hóa khu vực kinh tế dịch vụ với tốc độ caohơn Theo đó, Đại hội XIII xác định rõ định hướng hiện đại hóa kinh tế dịch vụ trênmột số vấn đề cơ bản: Tập trung phát triển một số ngành dịch vụ như du lịch, thươngmại, viễn thông, công nghệ thông tin, vận tải, logictics, dịch vụ kỹ thuật, dịch vụ tưvấn pháp lý… Hiện đại hóa và mở rộng dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, chứngkhoán, dịch vụ y tế, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, dịch vụ văn hóa, thểthao, dịch vụ thương mại… Tổ chức cung ứng dịch vụ chuyên nghiệp, văn minh, hiệnđại theo chuẩn mực quốc tế

Năm là, đẩy mạnh phát triển kinh tế biển bền vững dựa trên trụ cột hiện đại hóa

khoa học - công nghệ khai thác biển

Thành tựu to lớn của khoa học - công nghệ trong kỷ nguyên Cách mạng công nghiệplần thứ tư cho phép nhanh chóng hiện đại hóa để khai thác hiệu quả, bền vững kinh tếbiển Đại hội XIII xác định rõ việc cần thiết phải dựa trên nền tảng tiến bộ khoa học -công nghệ để tổ chức tốt việc xây dựng và quản lý thống nhất quy hoạch không gianbiển, hoàn thiện cơ chế quản lý tổng hợp và chuyên ngành về biển đảo Đẩy mạnhphát triển và nâng cao hiệu quả các ngành kinh tế biển Phát triển các khu kinh tế, khucông nghiệp và các đô thị ven biển Đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực kinh tế biển.Tăng cường nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ, điều tra tài nguyên, môitrường biển Xây dựng cơ sở dữ liệu số về biển, đảo, nâng cao năng lực giám sát môitrường biển, dự báo thiên tai, biến đổi khí hậu vùng biển, ven biển

Sáu là, đẩy mạnh đột phá xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ với một số công trình hiện đại.

Tập trung ưu tiên đầu tư, sớm đưa vào sử dụng các công trình, cụm công trình, dự án

hạ tầng trọng điểm về giao thông đường bộ, đường sắt, đường biển, đường không kết

Trang 17

nối các vùng, khu vực, các khu trung tâm kinh tế, phát triển hạ tầng năng lượng, nhất

là năng lượng tái tạo, bảo đảm cung cấp đủ, ổn định năng lượng cho nền kinh tế Pháttriển hệ thống thủy lợi, hồ, đê, đập, nâng cao năng lực phòng, chống thiên tai, thíchứng với biển đổi khí hậu Xây dựng đồng bộ, hiện đại hạ tầng ở các đô thị, nhất là đôthị lớn; tạo bứt phá trong phát triển hạ tầng công nghệ thông tin, viễn thông, xây dựng,kết nối cơ sở dữ liệu quốc gia Chú trọng phát triển hạ tầng số và bảo đảm an ninhmạng, tạo điều kiện cho người dân và các doanh nghiệp thuận lợi, an toàn tiếp cận tàinguyên số bởi đây là hạ tầng giữ vị trí quyết định khả năng, tốc độ chuyển đổi số,đồng thời cũng là nền tảng để thành lập và vận hành các doanh nghiệp số trong cuộcCách mạng công nghiệp lần thứ tư

Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.

Trên cơ sở nhận thức rõ tính thống nhất và mâu thuẫn trong quá trình tăng trưởng kinh tế

và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam đãtừng bước đề ra những quan điểm, chủ trương và giải pháp kịp thời, đúng đắn để xử lýmối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và côngbằng xã hội trong các kỳ Đại hội Điều đó được biểu hiện ở chỗ: Đảng thường xuyênkhẳng định phải kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ

và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển Đây là chủtrương và quan điểm có ý nghĩa bao trùm Đại hội Đảng VII khẳng định: “Kết hợp hàihòa giữa phát triển kinh tế và phát triển văn hóa, xã hội; giữa tăng trưởng kinh tế với tiến

bộ và công bằng xã hội; giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần của nhân dân Coiphát triển kinh tế là cơ sở và tiền đề để thực hiện các chính sách xã hội, thực hiện tốtchính sách xã hội là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế” Ngay từ những năm đầu đổimới, Đảng ta đã xác định luôn giữ vững mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với phát triểnvăn hóa, tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội; coi tăng trưởng kinh tế là cơ

sở để thực hiện nhiệm vụ phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ĐếnHội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (tháng 1 năm 1994), mối quan hệgiữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hộiđược Đảng ta xác định một cách rõ ràng hơn: “Tăng trưởng

Trang 18

kinh tế phải gắn với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển” ĐếnĐại hội Đảng VIII, trước tình hình môi trường sống trong nước có biểu hiện suy thoái,

ô nhiễm và tình hình thế giới yêu cầu mục tiêu phát triển bền vững, Đảng ta ngoài việc tiếptục khẳng định mối quan hệ tăng trưởng kinh tế phải gắn với nâng cao chất lượng sống củanhân dân, phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội còn bổ sung thêm nhiệm vụbảo vệ môi trường trong quá trình giải quyết mối quan hệ này: “Tăng trưởng kinh tế gắn với cảithiện đời sống nhân dân, phát triển văn hóa, giáo dục, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội,bảo vệ môi trường” “Kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng, tiến bộ

xã hội, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ trong việc giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc, đẩylùi tiêu cực, bất công và các tệ nạn xã hội” Đại hội Đảng IX, khẳng định: “Phát triển nhanh,hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo

vệ môi trường”

Đại hội X Đảng đã thể hiện sâu sắc hơn mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và pháttriển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, coi đây là một trong những nộidung cơ bản của định hướng xã hội chủ nghĩa là: “Thực hiện tiến bộ và công bằng xãhội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển; tăng trưởng kinh tế đi đôi vớiphát triển văn hóa, y tế, giáo dục giải quyết tốt các vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triểncon người Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế,đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và thông qua phúc lợi xã hội” Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, pháttriển năm 2011) ở Đại hội XI, Đảng ta một lần nữa nhấn mạnh: “kết hợp chặt chẽ, hợp lýphát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hộingay trong từng bước và từng chính sách; phát triển hài hòa đời sống vật chất và đời sốngtinh thần” Quan điểm trên của Đảng Cộng sản Việt Nam cho thấy, mục đích tối cao của

Lê Thị Thanh Hà 5 tăng trưởng kinh tế là phát triển con người Mục tiêu của cách mạng

xã hội chủ nghĩa, xét cho cùng, chính là để giải phóng những giá trị văn hóa tích cực nhấtcho loài người, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội Mặt khác, tăng trưởng kinh tế đồngthời giúp con người có nhiều cơ hội, khả năng tiếp nhận các giá trị văn hóa, đưa xã hộitiến lên những nấc thang mới trong lịch sử nhân loại Các quan niệm của Đảng về: “Tăngtrưởng kinh tế gắn liền với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bướcphát triển” và “Thực hiện tiến bộ và công bằng xã

Trang 19

hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển” cho thấy phát triển kinh tế đếnđâu phải thực hiện tiến bộ xã hội và công bằng xã hội đến đó, không thể tách rời haiquá trình này Cụ thể là, không thể chờ khi nào kinh tế đã đạt đến trình độ phát triển caomới thực hiện công bằng xã hội, lại càng không thể hy sinh công bằng xã hội để chạytheo sự tăng trưởng kinh tế đơn thuần nhằm thoả mãn nhu cầu ích kỷ của thiểu số ngườiđặc quyền, đặc lợi trong xã hội mà quên lợi ích thiết thực của đa số quần chúng nhândân lao động - những người làm nên sự phát triển kinh tế Ở đây cũng cần phải nói thêm,

về thực chất, Đảng ta khẳng định: tiến bộ xã hội và công bằng xã hội là hai mục tiêusong trùng của sự phát triển xã hội Điều đó có nghĩa là, trong khi theo đuổi mục tiêutiến bộ xã hội (phát triển kinh tế xã hội, trước hết là phát triển lực lượng sản xuất ) loàingười đã đồng thời tạo tiền đề và cơ sở vật chất - kỹ thuật, văn hoá - xã hội để thực hiệnmục tiêu công bằng xã hội Đến lượt mình, công bằng xã hội vừa là sự thể hiện trình độtiến bộ hay thước đo (xã hội nhân văn), vừa là động lực quan trọng của tiến bộ xã hội,hai mục tiêu tiến bộ xã hội và công bằng xã hội luôn gắn bó và đồng hành với nhau,làm tiền đề và điều kiện cho nhau

*Đối với riêng Đồng Nai:

Đối với Đồng Nai, những kết quả đạt được về phát triển kinh tế-xã hội trong các năm qua là điều kiện hết sức quan trọng, việc tập trung xây dựng các dự án quan trọng cấp quốc gia như Cảng hàng không quốc tế Long Thành và các dự án giao thông liên kết vùng đang triển khai trên địa bàn sẽ tạo động lực, cơ hội thúc đẩy phát triển và

chuyển đổi cơ cấu kinh tế-xã hội của tỉnh

Song, Đồng Nai cũng đang đối mặt với những thách thức, đó là tốc độ công nghiệp hóa, đô thị hóa nhanh, gây sức ép lớn về yêu cầu phát triển kết cấu hạ tầng, áp lực dân

số, việc làm, nhà ở, dịch vụ y tế, giáo dục, ô nhiễm môi trường; tình trạng chất lượng nguồn nhân lực thấp ; những diễn biến phức tạp, khó lường về thời tiết, thiên tai do biến đổi khí hậu

Là địa phương có vị trí quan trọng về quốc phòng-an ninh, các thế lực thù địch luôn coi Đồng Nai là một trong những địa bàn trọng điểm tập trung chống phá, nếu khôngđược giải quyết triệt để sẽ là những yếu tố tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổn định xã hội

và ảnh hưởng đến sự phát triển của tỉnh

Nghị quyết Đại hội XI Đảng bộ tỉnh (nhiệm kỳ 2020-2025) đã xác định mục tiêu tổng quát của Đồng Nai là: Tăng cường xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch,

vững mạnh; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, ý chí và khát vọng phát triển; đẩy mạnh ứng dụng khoa học,công nghệ và đổi mới sáng tạo; tích cực, chủ động tham gia cuộc Cách

Trang 20

mạng công nghiệp lần thứ tư; khai thác và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực; phát huy tối

đa tiềm năng và lợi thế; nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh; phát triển kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân; giữ vững ổn định chính trị-xã hội, bảo đảm vững chắc quốc phòng-an ninh; xây dựng Đồng Nai phát triển toàn diện về kinh tế, xã hội; là trung tâm công nghiệp và dịch vụ cảng hàng không, cảng nước sâu, cửa ngõ giao thương quốc tế; một trong những cực tăng trưởng quan trọng của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam

và cả nước vào năm 2025 và thuộc nhóm đầu các tỉnh phát triển

Đồng thời, Đảng bộ tỉnh đã xác định các lĩnh vực đột phá trong 5 năm tới là, tăng

cường kỷ cương, kỷ luật, nêu cao tính tiền phong gương mẫu của đảng viên và

trách nhiệm của người đứng đầu ở các cấp ủy, chính quyền, các cơ quan ban,

ngành, đoàn thể chính trị-xã hội các cấp

Tỉnh huy động các nguồn lực tập trung đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng

đồng bộ, hiện đại, trọng tâm là hạ tầng giao thông đô thị, nông thôn và giao thông kết nối với vùng

Đồng Nai tập trung phát triển nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao theo hướng sản xuất hàng hóa, gắn với thị trường tiêu thụ sản phẩm; công nghiệpchế biến sâu nông sản và các dịch vụ nông nghiệp để nâng cao giá trị gia tăng và pháttriển bền vững; phát triển thương mại, dịch vụ tổng hợp hiện đại mà tỉnh có lợi thế, trọng tâm là dịch vụ du lịch, dịch vụ logistics

Trong bối cảnh tình hình mới có nhiều thuận lợi, khó khăn và thách thức đan xen,

dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tỉnh Đồng Nai với quyết tâm chính trị cao nhất, tinh thần đoàn kết, thống nhất ý chí, nắm bắt thời cơ, vượt qua thách thức, phát huy những thành tựu đã đạt được trong các

năm qua, khắc phục những khó khăn, trở ngại, quyết tâm xây dựng Đồng Nai phát triển toàn diện, góp phần cùng cả nước vững bước đi lên Chủ nghĩa xã hội - con

đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn

CHỦ ĐỀ VẬN DỤNG không gian, thời gian, đối tượng)

+ Về nội dung: Cơ cấu kinh tế

+ Về thời gian: Từ năm 2010 – 2020

+ Về không gian: Tỉnh Đồng Nai

2.1. Chủ trương

a Chủ trương trong thời kì công nghiệp hoá hiện đại hoá

- Từ việc chỉ ra những sai lầm, khuyết điểm trước đó, Đại hội VI đã cụ thể hóa nộidung chính trong những năm còn lại của chặng đường đầu tiên của thời kỳ

Trang 21

quá độ là thực hiện cho bằng được 3 Chương trình mục tiêu: lương thực thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu.

- Hội nghị Trung ương 7 khóa VII (tháng 1/1994) đã có bước đột phá mới trongnhận thức về khái niệm công nghiệp hóa “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trìnhchuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh

tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức laođộng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triểncông nghiệp và tiến bộ khoa học – công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao”

- Đại hội VIII của Đảng (tháng 6/1996) nhìn nhận lại đất nước sau 10 năm đổi mới

đã có nhận định quan trọng: nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, nhiệm vụ đề racho chặng đường đầu của thời kỳ quá độ là chuẩn bị tiền đề cho công nghiệp hóa đã cơ bảnhoàn thành cho phép nước ta chuyển sang thời kỳ mới đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước

- Đại hội IX (tháng 4/2001) và Đại hội X (tháng 4/2006), Đại hội XI (tháng 1/2011)của Đảng bổ sung và nhấn mạnh một số điểm mới về mục tiêu, con đường công nghiệp hóa ởnước ta, về công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với kinh tế tri thức, công nghiệp hóa, hiện đạihóa gắn và phát triển nhanh, bền vững

- Mục tiêu cơ bản của công nghiệp hóa, hiện đại hóa là cải biến nước ta thành mộtnước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sảnxuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, mức sống vật chất vàtinh thần cao, quốc phòng – an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, vănminh Từ nay đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở 2 thành nước công nghiệp hiện đại theo địnhhướng XHCN

- Để thực hiện mục tiêu trên, ở mỗi thời kỳ phải đạt được những mục tiêu cụ thể.Đại hội X xác định mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triểnkinh tế tri thức để sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; tạo nền tảng để đếnnăm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Đại hộiXII đã nhận định: nhiều chỉ tiêu, tiêu chí trong mục tiêu phấn đấu để đến năm 2020 nước ta

cơ bản trở thành nước công

21

Trang 22

nghiệp theo hướng hiện đại không đạt được Trong 5 năm tới (2016-2020), tiếptục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chú trọng công nghiệphóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, phát triển nhanh, bền vững; phấnđấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

b Chủ trương trong thời kì công nghiệp hoá hiện đại hoá ở Tỉnh Đồng Nai từ năm 2010-2020

 Với vị thế là tỉnh công nghiệp nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, trong 10năm qua, kinh tế Đồng Nai đã có nhiều giải pháp thúc đẩy phát triển nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo

 Là địa phương có gần 80% diện tích tự nhiên là đất nông nghiệp, với 2 triệu người dân sống ở vùng nông thôn, vì vậy tỉnh Đồng Nai luôn đặt nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở vị trí chiến lược quan trọng trong tiến trình phát triển nền kinh tế bền vững Kết thúc chặng đường 10 năm xây dựng nông thôn mới 2010-2020, Đồng Nai là một trong 2 tỉnh đầutiên của cả nước hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới và “về đích” trước 2 năm sovới mục tiêu đề ra, dẫn đầu cả nước về số xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao

 Đồng thời, tỉnh đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh và không ngừng phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong phát triển kinh tế-xã hội.Kết quả là kinh tế Đồng Nai tiếp tục phát triển ở tất cả các lĩnh vực: tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) giai đoạn 2010-2015 duy trì ở mức 12% năm và giai đoạn 2016-

2020 trung bình tăng 8,14%, nằm trong nhóm tỉnh, thành phố có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất cả nước

- Đồng Nai sẽ trở thành Trung tâm công nghiệp, dịch vụ lớn, hiện đại của khu vựcphía Nam; phấn đấu đến năm 2010 trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiệnđại, năm 2015 trở thành tỉnh cơ bản công nghiệp hóa, hiện đại hóa và năm

2020 thành tỉnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa với cơ cấu kinh tế: công nghiệp 51%, dịch vụ 46%, nông nghiệp 3%

22

Trang 23

- Công nghiệp của Đồng Nai sẽ phát triển theo hướng mở rộng quy mô, ưu tiên thu hútđầu tư các ngành công nghiệp mũi nhọn như sản phẩm vật liệu xây dựng, gốm sứ, quần áo may sẵn, máy móc thiết bị nông nghiệp Đến năm 2010, xây dựng và phát triển 34 khu công nghiệp với tổng diện tích khoảng

12.779 ha Đến năm 2020 xây dựng và phát triển 45-47 khu công nghiệp và chuyển dần các cụm công nghiệp có đủ điều kiện thành các khu công nghiệp.Đến năm 2015 và 2020, sản phẩm công nghệ cao và tiên tiến chiếm trên

75% và trên 85% giá trị sản xuất

- Về nông, lâm, thủy sản, tỉnh phát huy điều kiện đất đai, sinh thái kết hợp với nâng cấp hệ thống thủy lợi gắn nông nghiệp và công nghiệp chế biến Xây dựng và phát triển các mô hình kinh doanh sản xuất nông nghiệp, các khu công nghiệp công nghệ cao và các mô hình kinh tế trang trại, hợp tác xã chăn nuôi, trồng trọt có mức độ chuyên môn hóa

và thâm canh cao

- Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tăng tỷ trọng GRDP ngành công nghiệp-xây dựng, ngành dịch vụ và giảm ngành nông lâm nghiệp, phù hợp thực tiễn của tỉnh Đồng Nai phấn đấu nângGDP dịch vụ bình quân đầu người lên 2.800 USD/người vào năm 2020 Phát triển hệ thống bán lẻ các đô thị trong tỉnh, xây dựng Trung tâm thương mại có quy mô cấp vùng tại thành phố Biên Hòa và các trung tâm thương mại ở các khu đô thị Long Khánh, Nhơn Trạch, Long Thành

- Để phục vụ cho sự nghiệp hiện đại hóa, công nghiệp hóa, Đồng Nai sẽ tập trung xây dựng mới cầu Đồng Nai, đường cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh-Long Thành-Dầu Giây trước năm 2010 Tiến hành quy hoạch lại cảng Thị Vải, khu cảng trên sông Đồng Nai

để đáp ứng với nhu cầu vận tải, lưu thông hàng hóa đồng thời xây dựng sân bay quốc tế Long Thành với năng lực thiết kế 100 triệu khách/năm

- Thành phố Biên Hòa là trung tâm kinh tế, chính trị của Đồng Nai, đồng thời là trung tâm công nghiệp và đầu mối giao lưu quan trọng của Vùng thành phố Hồ Chí Minh, Vùng Đông Nam Bộ và Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Vào năm 2020, xây dựng thànhphố Nhơn Nhạch thành trung tâm công nghiệp, dịch

23

Trang 24

vụ đô thị loại II; khu đô thị Long Thành, Long Khánh sẽ trở thành khu đô thịloại III.

- Quy mô GRDP tính theo giá hiện hành đến năm 2020, đạt gần 400 nghìn tỷ đồng (tương đương 17,2 tỷ USD), gấp 1,7 lần so với năm 2015 Mô hình tăng trưởng kinh tế có bước chuyển đổi theo xu hướng tăng sự đóng góp của khoa học, công nghệ và đổi mới sángtạo.GRDP bình quân đầu người đến năm 2020 đạt khoảng 5.300 USD, gấp hơn 1,7 lần năm

2015 Cơ cấu lao động dịch chuyển mạnh mẽ từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ

- Các doanh nghiệp nhà nước được sắp xếp, cơ cấu lại, trọng tâm là cổ phần hóa Kinh tế tập thể được quan tâm củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động, nhiều hợp tác xã

mở rộng quy mô, ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ mới, phát triển liên doanh, liên kết gắn với thị trường

- Kinh tế trang trại phát triển nhanh theo hướng tổ chức sản xuất hàng hóa quy mô lớn, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường Kinh tế tư nhân và đầu tư nước ngoài (FDI) phát triển mạnh mẽ và đa dạng

- Đến nay, trên địa bàn tỉnh có trên 41.322 doanh nghiệp trong nước, với tổng số vốn đăng ký trên 340.000 tỷ đồng; tổng số dự án FDI còn hiệu lực là 1.520 dự án, với tổng vốn đăng ký 30,76 tỷ USD, với công nghệ hiện đại, sản xuất sản phẩm có hàm lượng giá trị gia tăng cao, thuộc những ngành nghề, lĩnh vực ưu tiên phát triển của tỉnh

- Công tác hỗ trợ doanh nghiệp được quan tâm thực hiện, tinh thần khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo được người dân và doanh nghiệp tích cực hưởng ứng

 Về đích sớm

Đảng bộ, chính quyền tỉnh Đồng Nai luôn đặt nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở vị tríchiến lược trong phát triển Chính vì vậy, trước khi có Nghị quyết số 26-NQ/TW củaTrung ương về “tam nông”, từ năm 2007, Đảng bộ tỉnh Đồng Nai đã có Nghị quyết và đề

án xây dựng “nông thôn 4 có”: có đời sống kinh tế được cải thiện; có kết cấu hạ tầng kinh

tế - xã hội đồng bộ; có đời sống văn hóa, an ninh, an toàn đảm bảo; có môi trường sinhthái phát triển bền vững Đây là chủ trương đã được đưa vào Nghị quyết của Tỉnh

24

Trang 25

ủy Đồng Nai, qua đó xác định lấy người nông dân làm trung tâm, vừa là người thựchiện, vừa là người thụ hưởng thành quả.

Ngay từ những ngày đầu xây dựng nông thôn mới, Đồng Nai luôn xác định “tamnông” là cơ sở để phát triển kinh tế bền vững ở một tỉnh còn trên 60% dân số sống chủyếu ở khu vực nông thôn, làm ăn sinh sống từ nông nghiệp Chính vì vậy, Đồng Nai

đã đi trước một bước với việc thực hiện “nông thôn 4 có” và mô hình này đã từ nghịquyết của Đảng đi vào cuộc sống, dần dần thay đổi nếp nghĩ, cách làm, cuộc sống củanhững người dân nông thôn Đây cũng là tiền đề để địa phương nhanh chóng đón đầucác chương trình phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn và nhất là Chương trìnhmục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới được triển khai rộng rãi trên cả nước

Mặc dù là một tỉnh có thế mạnh về công nghiệp, dịch vụ, cơ cấu ngành nông nghiệp chỉchiếm tỉ trọng chưa tới 9%, nhưng Đồng Nai đã trở thành 1 trong 3 tỉnh đầu tiên của cảnước hoàn thành Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới Theo đó, tỉnh

đã chọnhuyện Xuân Lộc, một huyện thuần nông, thời điểm ấy còn nghèo khó làm điểmxây dựng nông thôn mới cho thấy sự chủ động, sáng tạo trong chỉ đạo Việc huyện XuânLộc trở thành huyện nông thôn mới đầu tiên của cả nước đã khẳng định sự quyết tâm,quyết liệt của các cấp ủy, chính quyền, sự đoàn kết, đồng thuận trong nhân dân mới làyếu tố quyết định Điều này còn nhằm tạo động lực, khích lệ tất cả các địa phương trongtỉnh tích cực đẩy nhanh tiến độ thực hiện xây dựng nông thôn mới

Nông dân là đối tượng làm chủ và thụ hưởng quyết sách

Ở Đồng Nai, xây dựng nông thôn mới được xác định là chương trình có điểm khởi đầunhưng không có điểm kết thúc, đồng nghĩa với việc không cho phép tâm lý chủ quanvới kếtquả đã đạt được, mà lấy đó làm động lực, tiếp tục đẩy mạnh phát triển Đảng bộ, chínhquyền tỉnh xác định xây dựng nông thôn mới phải lấy đời sống người dân nông thôn làmthước đo Do đó, việc nâng cao thu nhập, đời sống của người dân là mục tiêu quan trọngnhất, phát triển sản xuất theo hướng bền vững, liên kết chuỗi, đầu tư cho công nghiệp chếbiến nông sản, nâng cao giá trị nông sản… nhằm tăng thu nhập cho người nông dân

25

Ngày đăng: 15/08/2022, 09:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[7] Bảo Khê (2018), So sánh đường lối Công nghiệp hóa của nước ta ở hai thời kì trước đổi mới (1960 – 1985) và sau đổi mới (sau 1986),So sánh đường lối Công nghiệp hóa của nước ta ở hai thời kì trước đổi mới (1960 – 1985) và sau đổi mới (sau 1986). (noron.vn) Sách, tạp chí
Tiêu đề: So sánh đường lối Công nghiệp hóa của nước ta ở hai thời kì trước đổi mới (1960 – 1985) và sau đổi mới (sau 1986)
Tác giả: Bảo Khê
Nhà XB: noron.vn
Năm: 2018
[8] Đại hội Đảng lần thứ VI (2017), Phương hướng, mục tiêu chủ yếu phát triển KT - XH trong 5 năm 1986 – 1990,Phương hướng, mục tiêu chủ yếu phát triển KT - XH trong 5 năm 1986 - 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương hướng, mục tiêu chủ yếu phát triểnKT - XH trong 5 năm 1986 – 1990
Tác giả: Đại hội Đảng lần thứ VI
Năm: 2017
[2] Định hướng , giải pháp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Việt Nam giai đoạn 2021-2030 http://vjst.vn/vn/tin-tuc/5638/dinh-huong--giai-phap-cong-nghiep-hoa--hien-dai-hoa--nong-nghiep--nong-thon-viet-nam-giai-doan-2021-2030.aspx Link
[1] Phân tích những vai trò của đầu tư nước ngoài (luatminhkhue.vn) Khác
[4] Danh sách đơn vị hành chính Việt Nam theo GRDP bình quân đầu người, Danh sách đơn vị hành chính Việt Nam theo GRDP bình quân đầu người – Wikipedia tiếng Việt Khác
[6] Nâng cao vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu (congdoantttt.org.vn) Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w