1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích quan điểm của triết học mác lênin về mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức từ quan điểm này, hãy giải quyết vấn đề về mâu thuẫn giữa kiếm tiền và đi học của sinh viên việt nam hiện nay

20 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 243,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là một sinh viên đang ngồi trên ghế giảng đường đại học, em muốn tìm hiểu chi tiết hơn về Triết học Mác – Lênin, đặc biệt là về mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, vận dụng m

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN KHOA DU LỊCH VÀ KHÁCH SẠN

 

   

BÀI TẬP LỚN

Môn: Triết học Mác - Lênin

 

       Đề 3: Phân tích quan điểm của triết học Mác - Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức Từ quan điểm này, hãy giải quyết vấn đề về mâu thuẫn giữa kiếm tiền và đi học của sinh viên Việt Nam hiện nay

 

 

 

 

       GVHD: TS Nguyễn Thị Lê Thư 

       Họ tên: Trần Thị Kiều Oanh

Mã SV: 11218686

Lớp: Triết học Mác - Lênin_13

Hà Nội – 2022

Trang 2

PHẦN NỘI DUNG 1

I PHÂN TÍCH QUAN ĐIỂM VỀ MỐI QUAN HỆ DUY VẬT BIỆN CHỨNG GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC 1

1 Vật chất và hình thức, phương thức tồn tại của nó: 1

1.1.Khái niệm vật chất: 1

1.2 Các phương thức, hình thức tồn tại của vật chất 4

2 Nguồn gốc, bản chất và kết cấu của ý thức 6

2.1 Nguồn gốc của ý thức 6

2.2 Bản chất của ý thức 7

2.3 Kết cấu của ý thức 8

3 Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức 9

3.1 Vật chất quyết định ý thức 9

3.2.Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất: 10

3.3 Ý nghĩa phương pháp luận 11

II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VỀ MÂU THUẪN GIỮA VIỆC KIẾM TIỀN VÀ VIỆC HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY: 11

1.Hiện trạng sinh viên đi làm thêm hiện nay 11

2 Phân tích vấn đề 12

3 Mâu thuẫn giữa đi làm và kiếm tiền của sinh viên 12

4 Giải pháp cân bằng việc học và việc kiếm tiền của sinh viên hiện nay 13 PHẦN KẾT LUẬN 15

TƯ LIỆU THAM KHẢO 16

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

Triết học là một loại hình thức đặc thù của con người, được ra đời vào khoảng thế kỷ VIII-VI TCN ở cả phương Đông và phương Tây. Ở thời kỳ này triết học còn rất sơ khai và giản đơn. Đến khi triết học Mác – Lênin ra đời thì triết học mới đạt đến trình độ gần như là hoàn thiện và rực rỡ nhất. Triết học là hệ thống quan điểm lý luận chung nhất về thế giới và vị trí con người trong thế giới đó, là khoa học về những quy luật vận động phát triển chung nhất của tự nhiên, xã hội

và tư duy. Ngày nay, triết học là một bộ phận không thể tách rời với sự phát triển của bất cứ hình thái kinh tế nào. Những vấn đề triết học về mối quan hệ biện chứng giữa ý thức và vật chất luôn là cơ sở, là phương hướng cho hoạt động thực tiễn, xây dựng và phát triển xã hội

Là một sinh viên đang ngồi trên ghế giảng đường đại học, em muốn tìm hiểu chi tiết hơn về  Triết học Mác – Lênin, đặc biệt là về mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, vận dụng mối quan hệ này để giải quyết vấn đề mâu thuẫn giữa việc kiếm tiền và đi học của sinh viên hiện nay. Việc kiếm tiền liệu có phải

là cách tốt nhất cho sinh viên hay không? Và họ nhận được gì và mất gì nếu cân bằng việc học và kiếm tiền

Do thời gian và kiến thức bản thân còn hạn chế cho nên bài viết của em sẽ không thể tranh khỏi thiếu sót, em kính mong sự góp ý của cô để bài tiểu luận của em thêm hoàn thiện

Em xin chân thành cảm ơn!

 

Trang 4

PHẦN NỘI DUNG

I PHÂN TÍCH QUAN ĐIỂM VỀ MỐI QUAN HỆ DUY VẬT BIỆN

CHỨNG GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC.

Trước khi đi vào phân tích mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, cần tìm hiểu về khái niệm liên quan đến vật chất và ý thức

1 Vật chất và hình thức, phương thức tồn tại của nó:

1.1.Khái niệm vật chất:

a Quan niệm của chủ nghĩa duy vật trước Mác về vật chất:

Trước Mác, chủ nghĩa duy vật biện chứng đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau

về vật chất, trong đó có một số quan niệm điển hình sau:

Các nhà duy vật thời Cổ Đại cho rằng vật chất là một vật thể cụ thể, hữu hình nhất định. Điều này xuất phát từ nhận thức trực quan sinh động, cảm tình. Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại cho rằng vật chất là một hay một số chất trong tự nhiên. Ví dụ như Talet cho rằng vật chất là nước, là bản nguyên của mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới này. Ông tin rằng mọi vật đều sinh ra từ nước và biến đổi không ngừng, đến khi chết đi lại hóa thành nước. Đêmocrit lại cho rằng, vật chất là nguyên tử. Theo họ nguyên tử là những hạt nhỏ nhất, không thể phân chia, không khác nhau về chất, tồn tại vĩnh viễn và sự phong phú của chúng về hình dạng, tư thế, trật tự sắp xếp quy định tính muôn vẻ muôn trạng. Quan điểm này không những thể hiện một bước tiến khá xa của các nhà triết học duy vật trong quá trình tìm kiếm một định nghĩa đúng đắn về vật chất mà còn có ý nghĩa như một dự báo khoa học tài chính của con người về cấu trúc của thế giới vật chất nói chung

Nhà triết học Trung Quốc lại tin theo thuyết ngũ hành, thuyết này cho rằng tất cả vạn vật đều phát sinh từ năm nguyên tố cơ bản và luôn trải qua năm trạng thái là: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ

Từ thời kì Phục Hưng (thế kỉ XV), phương Tây đã có sự bứt phá so với phương

Trang 5

học, công nghiệp. Đến thế kỉ XVII- XVIII, chủ nghĩa duy vật mang hình thức chủ nghĩa duy vật siêu hình, máy móc. Thuyết nguyên tử vẫn được các nhà triết học và khoa học tự nhiên thời kì đó như Galilê, Bêcơn, Niutơn,… tiếp tục nghiên cứu và khẳng định trên lập trường khoa học. Đặc biệt, những thành công vang dội của Niutơn trong vật lý học cổ điển (nghiên cứu cấu tạo và các thuộc tính của các vật thể vật chất vĩ mô tính từ nguyên tử trở lên) và việc khoa học vật lý thực nghiệm chứng minh được sự tồn tại thực sự của nguyên tử càng làm cho quan niệm trên được củng cố thêm

Song chưa thoát khỏi phương pháp tư duy siêu hình nên nhìn chung các nhà triết học duy vật thời kì cận đại đã không đưa ra được những khái quát triết học đúng đắn. Họ thường đồng nhất vật chất với khối lượng, coi những định luật cơ học như những chân lý không thể thêm bớt và giải thích mọi hiện tượng của thế giới theo chuẩn mực thuần túy của cơ học. Cũng có một số nhà triết học thời kì này như Đềcáctơ, Cantơ,… cố gắng vạch ra những sai lầm của thuyết nguyên tử nhưng vẫn không thể làm thay đổi căn bản cái nhìn cơ học về thế giới, không đủ đưa đến một định nghĩa hoàn toàn mới về phạm trù vật chất

Năm 1895, Rơnghen phát hiện ra tia X. Năm 1896, Béccơren phát hiện ra hiện tượng phóng xạ của nguyên tố Urani. Năm 1901, Kaufman đã chứng minh được khối lượng của điện tử không phải là bất biến mà thay đổi theo vận tốc vận động của nguyên tử. Năm 1898 – 1902, nhà nữ vật lý học Ba Lan Mari Scôlôđốpsca cùng với chồng của bà là Pie, nhà hóa học người Pháp, đã khám phá ra chất phóng xạ mạnh là pôlôni và pađium. Những phát hiện vĩ đại đó đã chứng tỏ nguyên tử vẫn có thể bị phân chia, chuyển hóa. Năm 1905, thuyết Tương đối hẹp và 1906 thuyết Tương đối rộng của A.Einstein đã chứng minh: không gian, thời gian, khối lượng luôn biến đổi cùng với sự vận động của vật chất. Thế giới vật chất không có và không thể có những vật thể không có kết cấu, tức là không thể có đơn vị cuối cùng, tuyệt đối đơn giản và bất biến thể để đặc trưng cho vật chất. Thế giới ấy còn nhiều điều kỳ diệu mà con người đã và đang tiếp tục khám phá: sự chuyển hóa giữa hạt và trường, song và hạt, hạt và phản hạt, hụt khối

Trang 6

lượng,  Điều này đã khẳng định dự đoán của Ph.Ăngghen: “Không thể coi nguyên tử là phần tử nhỏ nhất của vật chất đã biết”, và của V.I.Lênin: “Điện tử cũng vô cùng tận như nguyên tử, tự nhiên là vô tận” là hoàn toàn đúng đắn Như vậy ở thời Cổ đại các nhà triết học cho rằng vật chất là nhỏ nhất, không phân chia tách rời được thế nhưng các thành tựu lại chỉ ra vật chất là vận động là biến đổi. Ở đây xảy ra mâu thuẫn khủng hoảng về thế giới quan trầm trọng vào đầu thế kỉ XX. Từ đó dẫn đến 4 nhiệm vụ cần giải quyết: giúp các nhà KHTN thoát khỏi khủng hoảng, chỉ ra sai lầm của các nhà duy vật cũ, bác bỏ luận điệu xuyên tạc của chủ nghĩa duy tâm và phát triển chủ nghĩa duy vật trên cơ sở thành tựu KHTN mới nhất

b Quan điểm của triết học Mác – Lênin về vật chất

Lênin đã kế thừa tư tưởng tiến bộ của C. Mác và Ăngghen về vật chất: “Vật chất không phải cái gì khác hơn là tổng số những vật thể, từ đó người ta rút ra khái niệm ấy bằng con đường trừu tượng hóa” hay “Vật chất với tính cách là vật chất, không có sự tồn tại cảm tính” thành một khái niệm hoàn chỉnh nhất: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh

và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”

Định nghĩa vật chất của Lênin bao hàm các nội dung cơ bản sau đây:

Thứ nhất, vất chất là thực tại khách quan – cái tồn tại hiện thực bên ngoài ý thức

và không lệ thuộc vào ý thức. 

Khi nói vật chất là một phạm trù triết học là muốn nói phạm trù này là sản phẩm của sự trừu tượng hóa, không có sự tồn tại của cảm tính. 

Thứ hai, vật chất là cái khi tác động vào các giác quan con người thì đem lại cho con người cảm giác. Con người nhận thức được thông qua các giác quan, tức là luôn biểu hiện sự tồn tại hiện thực của mình dưới dạng thực thể. 

Trang 7

Thứ ba, vật chất là cái mà ý thức chẳng qua chỉ là sự phản ánh của nó. Chỉ có

một thế giới duy nhất là thế giới vật chất. Nó tồn tại hai hiện tượng – hiện tượng vật chất và hiện tượng tinh thần. Các hiện tượng vật chất luôn luôn tồn tại khách quan, không lệ thuộc vào hiện tượng tinh thần. Còn các hiện tượng tinh thần ( cảm giác, tư duy, ý thức,… lại luôn có nguồn gốc từ hiện tượng vật chất và những gì có được từ hiện tượng tinh thần ấy chẳng qua chỉ là bản sao của các sự vật hiện tượng đang tồn tại với tính cách là hiện thực khách quan. Cảm giác là

cơ sở duy nhất của mọi sự hiểu biết, song bản thân nó lại không ngừng chép lại, chụp lại, phản ánh hiện thực khách quan, nên về nguyên tắc con người có thể nhận thức được thế giới vật chất

Trên góc độ triết học, sai lầm của các nhà duy vật cũ là lấy khái niệm vật chất trong khoa học tự nhiên ( vật lý học: vốn là khái niệm của các đối tượng có giới hạn trong ngành vật lí ) thành khái niệm vật chất trong triết học. Như vậy là không đảm bảo tính chung nhất

Phương pháp định của Lênin

Vì vật chất dưới góc độ triết học là một khái niệm chung nhất nên không thể sử dụng phương pháp định nghĩa thông thường. Vì vậy Lênin đã phải định nghĩa bằng phương pháp qua loại, đối lập vật chất và ý thức, từ đó chỉ ra ranh giới giữa vật chất và ý thức để làm rõ thế nào là vật chất, thế nào là ý thức

Ý nghĩa định nghĩa

Vật chất là thực tại khách quan. Vật chất tồn tại thực, có trước và quy định ý thức. Vật chất là tồn tại khách quan, tồn tại không phụ thuộc vào cảm giác hay ý thức của con người. Ngược lại ý thức có sau, bị quy định và tồn tại chủ quan

1.2 Các phương thức, hình thức tồn tại của vật chất

Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng vật chất tồn tại bằng vận động và vận động của vật chất diễn ra trong không gian và thời gian. Vì vậy, vận động, ̣ không gian và thời gian là các hình thức tồn tại của vật chất

a Vận động là phương thức tồn tại của vật chất

Trang 8

Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng phương thức hoạt động của vật chất là vận động

Với tư cách là một khái niệm triết học, vận động theo nghĩa chung nhất là mọi

sự biến đổi nói chung. Ph. Ăngghen có viết: “ Vận động, hiểu theo nghĩa chung

nhất – tức được hiểu là một phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính

cố hữu của vật chất, thì bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể cả sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy.”

Vận động là thuộc tính cố hữu của vật chất. Không ở đâu và ở nơi nào lại có thể

có vật chất không vận động. Sự tồn tại của vật  chất là tồn tại bằng cách vận động, tức là vật chất dưới các dạng thức của nó luôn luôn trong quá trình biến đổi không ngừng. Không có vận động tồn tại ngòai vật chất. Như vây, bất cứ sự vật hiện tượng nào cũng ở trong trạng thái vận động. Từ các thiên thể khổng lồ đến những hạt vô cùng nhỏ, từ giới vô sinh ̣đến giới hữu sinh, từ các sự vật, hiện tượng tự nhiên đến xã hội loài người, tất cả ̣đều không ngừng biến đổi dưới hình thức này hay hình thức khác. 

b Nguồn gốc của vận động

 Vật chất chỉ có thể tồn tại bằng cách vận động và thông qua vận động mà biểu hiện sự tồn tại của nó với các hình dạng phong phú, muôn vẻ, vô tận. Do đó con người chỉ nhận thức được sâu sắc sự vật, hiện tượng bằng cách xem xét chúng qua quá trình vận động. Nhận thức sự vận động của một sự vật, hiện tượng chính là nhận thức bản thân sự vật, hiện tượng đó. Như vậy nguồn gốc của vận động là bên trong của sự vật, hiện tượng ( mâu thuẫn nội tại của sự vật ). 

c Những hình thức vận động cơ bản của vật chất

Với cách nhìn khái quát theo quan điểm duy vật biện chứng, Ph.Ăngghen đã rút

ra năm hình thức vận động cơ bản của vật chất là:

 Vận động cơ học: sự dịch chuyển vị trí của các sự vật trong không gian

Trang 9

 Vận động vật lý: vận động của các phân tử, các hạt cơ bản, vận động của điện tử, các quá trình nhiệt, điện,…

 Vận động hóa học: vận động của các nguyên tử, các quá trình hóa học và phân giải các chất

 Vận động sinh vật: sự trao đổi chất giữa cơ thể sống với môi trường

 Vận động xã hội: sự biến đổi, thay thế của các hình thái kinh tế. Các hình thức vân động cơ bản có sự khác nhau về chất, nhưng lại tồn tại  trong mối liên hê biện chứng với nhau. Mỗi hình thức vận động được thực hiện

là do tác động qua lại với nhiều hình thức vận động khác nhau

2 Nguồn gốc, bản chất và kết cấu của ý thức

2.1 Nguồn gốc của ý thức

a Nguồn gốc tự nhiên

Dựa trên những thành tựu của khoa học tự nhiên, nhất là sinh lí học thần kinh, chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định rằng: ý thức chỉ là một thuộc tính của vật chất nhưng không phải của mọi dạng vật chất mà chỉ là một thuộc tính của một dạng vật chất sống có tổ chức cao là bộ não con người. Bộ não con người

là khí quan vật chất của ý thức còn ý thức là chức năng của bộ não. Mối quan

hệ giữa bộ não người hoạt động bình thường và ý thức là không thể tách rời Mặc dù thế nhưng nếu chỉ có bộ não của con người mà không có sực tác động của thế giới bên ngoài – thế giới khách quan để bộ não phản ánh lại tác động đó thì cũng không thể có ý thức. 

Phản ánh là thuộc tính phổ biến của mọi dạng vật chất, được biểu hiện trong sự liên hệ, tác động qua lại giữa các đối tượng vật chất với nhau. Sự phản ánh phụ thuộc vào vật tác động và vật nhận tác động, đồng thời luôn mang nội dung thông tin của vật tác động. Đây là điều hết sức quan trọng để làm sáng tỏ nguồn gốc tự nhiên của ý thức. 

Như vậy, sự xuất hiện con người và hình thành bộ não của con người có năng lực phản ánh hiện thực khách quan là nguồn gốc tự nhiên của ý thức. 

Trang 10

b Nguồn gốc xã hội

Tuy vậy, sự ra đời của ý thức không phải chỉ có nguồn gốc tự nhiên mà còn có nguồn gốc xã hội. Sự phát triển của giới tự nhiên mới tạo ra tiền đề vật chất có năng lực phản ánh, chỉ là nguồn gốc sâu xa của ý thức. Hoạt động thực tiễn của loài người mới là nguồn gốc trực tiếp quyết định sự ra đời của ý thức. Nói cách khác ý thức chỉ được hình thành thông qua hoạt động thực tiễn của con người

Để tồn tại con người phải tạo ra những vật phẩm để thỏa mãn nhu cầu của mình. Hoạt động lao động sáng tạo của loài người có nhiều ý nghĩa thật đặc biệt. Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “ Trước hết là lao động, sau lao động và đồng thời với lao động là ngôn ngữ; đó là hai sức kích thích chủ yếu đã ảnh hưởng đến bộ não của con vượn, làm bộ não đó dần dần chuyển thành bộ não con người” Thông qua hoạt động lao động cải tạo thế giới khách quan mà con người đã từng bước nhận thức được thế giới, có ý thức ngày càng sâu sắc về thế giới

Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan bởi bộ não con người. Nhưng không phải cứ có thế giới khách quan và bộ não con người là có ý thức, mà phải đặt chúng trong mối quan hệ với thực tiễn xã hội. Ý thức là sản phẩm xã hội, một hiện tượng xã hội đặc trưng của loài người

2.2 Bản chất của ý thức

Mác quan niệm rằng: “ Ý thức là các vật chất được di chuyển vào đầu óc của con người và được cải biến trong đó ”. Đối với Lênin: “ Bản chất của ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là quá trình phản ánh tích cực, sáng tạo hiện thực khách quan của óc người ”. Thế giới khách quan là nội dung ý thức phản ánh qua hình thức chủ quan. Ý thức là của con người, mà con người

là một thực thể xã hội năng động sáng tạo. Ý thức phản ánh thế giới quan trong quá trình con người tác động cải tạo thế giới. Do đó, ý thức con người là sự phản ánh có tính năng động, sáng tạo

Ngày đăng: 15/08/2022, 05:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w