1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIEU LUAN TRIET TIM HIEU HOC NHAN TO CON NGUOI TRONG SU PHAT TRIEN LLSX VA PHAT TRIEN CON NGUOI TRONG THOI DAI HIEN NAY

22 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 43,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

( B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG SỰ PHÁT TRIỂN LLSX VÀ CHIẾN LƯỢC ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO ) MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN



TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC

NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG SỰ PHÁT TRIỂN LLSX VÀ CHIẾN LƯỢC ĐÀO TẠO NGUỒN

NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO

Trang 2

MỤC LỤC

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đê

Trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa và hội nhập quốc

tế, phát triển nguồn nhân lực được coi là một trong ba khâu đột phá của chiếnlược chuyển đổi mô hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; đồng thời pháttriển nguồn nhân lực trở thành nền tảng phát triển bền vững và tăng lợi thế cạnhtranh quốc gia

Nhân lực là nhân tố quyết định nhất đối với sự phát triển của mỗi quốc gia.Trình độ phát triển của nguồn nhân lực là một thước đo chủ yếu sự phát triểncủa các quốc gia Vì vậy, các quốc gia trên thế giới đều rất coi trọng phát triểnnguồn nhân lực Trong thế kỷ XX, đã có những quốc gia nghèo tài nguyên thiênnhiên, nhưng do phát huy tốt nguồn nhân lực nên đã đạt được thành tựu pháttriển kinh tế - xã hội, hoàn thành công nghiệp hoá và hiện đại hoá chỉ trong vài

ba thập kỷ

2 Lý do chọn đê tài

Hiện nay, trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hoá và hội nhập quốc tế,phát triển nhân lực trở thành nền tảng phát triển bền vững và tăng lợi thế cạnhtranh quốc gia Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của một quốc gia chính

là sự thay đổi số lượng và chất lượng về kiến thức, kỹ năng, thể lực và tinh thần;

là quá trình tạo lập và sử dụng năng lực toàn diện của con người cho phát triển

kinh tế - xã hội và sự hoàn thiện của mỗi cá nhân Tôi chọn đề tài: “ Nhân tô

con người trong sự phát triển lực lượng sản xuất và chiến lược đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao”để làm rõ vai trò của con người trong sự phát

triển lực lượng sản xuất, chiến lược đào tạo nguồn chất lượng cao của Đảng vàNhà nước

Trang 4

CHƯƠNG 1 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1 Đôi tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nhân tố con người trong sự phát triểnlực lượng sản xuất, chiến lược đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao

Phạm vi nghiên cứu: chỉ nghiên cứu vai trò của nhân tố con người trong sựphát triển lực lượng sản xuất và chiến lược đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao

1.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu của tiểu luận là phương pháp tổng hợp cácphương pháp chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đặcbiệt là logic phân tích, tổng hợp gắn với lý luận thực tiễn để thực hiện tiểu luận

CHƯƠNG 2 KHÁI NIỆM LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ VAI TRÒ NHÂN TỐ

CON NGƯỜI TRONG LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT.

2.1 Khái niệm LLSX

2.1.1 Định nghĩa và tính chất LLSX

LLSX là tổng thể các nhân tố vật chất kỹ thuật đựơc sử dụng trong các quátrình sản xuất của xã hội tức là trong quá trình con người cải tạo, cải biến giới tựnhiên cho phù hợp với nhu cầu tồn tại và phát triển của mình Như vậy, xét vềmặt tính chất thì khái niệm LLSX, nó phản ánh một số tính chất căn bản sau:

Trang 5

Trước hết, nó phản ánh quan hệ giữa con người với tự nhiên trong quá trìnhsản xuất Con người là sản phẩm của quá trình phát triển hết sức lâu dài của giới

tự nhiên Con ngưòi phải tìm kiếm mọi điều kiện cần thiết cho sự tồn tại trongđời sống tự nhiên như thức ăn, thức uống, nhà để ở Theo một số nhà nhân họckhẳng định nhánh người bắt đầu hình thành rõ cách đây khoảng 10 triệu năm bắtđầu từ “vượn người ” Khi đó vượn người đã biết sử dụng gậy gộc, đá, xươngđộng vật làm công cụ và bắt đàu biết chế tạo công cụ lao động thô sơ cũng nhưdùng lửa Nhưng cuộc sống của loài vượn vẫn theo quy luật sinh vật : sống hoàlẫn vào thiên nhiên, sinh sống hoàn toàn tuỳ theo bản năng vốn có trong cơ thể

và những thứ sẵn có trong tự nhiên, có thể nói là hoàn toàn phụ thuộc vào tựnhiên.Theo thời gian vượn người tiến hoá thành người khéo, người đứng thẳng,người khôn và con người hiện đại ngày nay Nhưng sự tiến hoá ấy không làmthay đổi mối quan hệ mật thiết giữa con người với tự nhiên Ngày nay, conngười vẫn đang chinh phục tự nhiên bằng nhiều hình thức và phương pháp khácnhau Như vậy, ngay từ thời kỳ sơ khai nhất, con người đã biết dựa vào nhữngthứ vốn có trong tự nhiên để cải biến nó theo nhu cầu sinh tồn và phục vụ nhucầu sống của mình Do đó ta thấy rõ một sự thật tất yếu khách quan là con ngườikhông thể tồn tại nếu không có mối quan hệ mật thiết, gắn kết chặt chẽ với tựnhiên

Đồng thời nó cũng thể hiện trình độ chinh phục tự nhiên của con người cụthể hơn là biểu hiện mức độ, khả năng chinh phục tự nhiên của con người.Trongthời nguyên thuỷ con người chỉ mới sử dụng những công cụ hết sức thô sơ, hầuhết là những công cụ thủ công vào quá trình lao động sản xuất Do đó năng suấtlao động thấp kém, con người chưa tạo ra nhiều của cải dư thừa có khả năng traođổi với nhau phục vụ nhu cầu sống hết sức sinh động, phong phú của mình Điều

đó phản ánh trình độ chinh phục tự nhiên vẫn còn thấp kém Cho đến khi chuyểnsang chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, con người đã dần sáng tạo racác công cụ lao động tiến bộ hơn song về bản chất nó vẫn mang tính thủ công

Trang 6

Do vậy, mặc dù sản phẩm lao động làm ra ngày một phong phú hơn song trongquá trình lao động sản xuất vẫn còn dựa vào sức người - mặt thể lực là chính,cần nhiều thời gian và quan trọng hơn vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu ngàycàng đa dạng của con người Sang chế độ tư bản chủ nghĩa, con người đã tạo rahàng loạt những máy móc hết sức hiện đại để phục vụ vào quá trình lao độngsản xuất, khai thác tài nguyên thiên nhiên, cải biến nó thành những vật dụng vàsản phẩm có giá trị, chất lượng cao, phong phú về hình thức, đa dạng về chủngloại, mẫu mã Đặc biệt cuộc cách mạng công nghiệp diễn ra bắt đầu từ thế kỷXVII suốt cho đến ngày nay đã nhanh chóng làm biến đổi bộ mặt kinh tế xã hộicủa thế giới Theo đánh giá của C.Mác và Ph.Ăngghen: “chỉ sau hơn hai thế kỷtồn tại, chủ nghĩa tư bản đã tạo ra một khối kượng của cải vật chất nhiều hơn tất

cả các thời đại trước gộp lại” Như thế trình độ chinh phục tự nhiên của conngười đã bước lên một mốc son mới, đánh dấu một bước phát triển cao của tiến

bộ loài người Cũng chính trong giai đoạn này con người đã dần dần chiếm thếchủ động trong quá trình lao động sản xuất

Mặt khác, LLSX có tính khách quan trong quá trình sản xuất Không cómột quá trình sản xuất nào mà lại không cần đến sức lao động của con ngườihay những yếu tố sẵn có trong tự nhiên Nói cách khác trong quá trình sản xuấtvật chất không thể không cần đến LLSX

2.1.2 Cấu trúc LLSX

LLSX bao gồm người lao động và tư liệu sản xuất

Hoạt động lao động sản xuất vừa là điều kiện cho sự tồn tại của con ngườivừa là phương thức để làm biến đổi đời sống và bộ mặt xã hội

Chính những người lao động là chủ thể của quá trình lao động sản xuất,với sức mạnh và kĩ năng lao động của mình, sử dụng tư liệu lao động trước hết

là công cụ lao động, tác động vào đối tượng lao động để sản xuất ra của cải vậtchất

Bước kinh tế tri thức, sự phát triển của LLSX biểu hiện ở hai mặt :

Trang 7

- Trí lực đóng vai trò chủ đạo, tức là sẽ xuất hiện một tầng lớp lao động trí

óc đông đảo hợp thành chủ thể trong đội ngũ những người lao động

- Những nhân tố mới thúc đẩy LLSX sẽ được phát triển rộng khắp

Tư liệu sản xuất bao gồm tư liệu lao động và đối tượng lao động Conngười không thể SXVC mà không cần đến những yếu tố sẵn có trong tự nhiênnhư đất, nước, khoáng sản, không khí, … Đó chính là những đối tượng lao động.Đặc trưng nổi bật của công cụ sản xuất và đối tượng lao động biểu hiện chủ yếu

ở sự gia tăng hàm lượng khoa học và công nghệ, cuối cùng là hàm lượng tri thứcđược kết tinh trong sản phẩm ngày càng nhiều

Còn tư liệu lao động là những phương tiện, công cụ lao động mà con người

sử dụng để tác động vào đối tượng lao động, sản xuất ra của cải vật chất Thôngqua các công cụ của họ đã chứng tỏ họ có hoạt động lao động và đây cũng chính

là ranh giới tách người ra khỏi giới sinh vật nói chung, thế giới động vật nóiriêng

2.1.3 Tính chất đặc biệt của LLSX hiện đại

Trong sự phát triển của LLSX, khoa học đóng vai trò ngày càng to lớn Sựphát triển của khoa học gắn liền với sản xuất là động lực mạnh mẽ thúc đẩy sảnxuất phát triển Ngày nay, khoa học đã phát triển đến mức trở thành nguyênnhân trực tiếp của nhiều biến đổi to lớn trong sản xuất, trong đời sống và trởthành LLSX trực tiếp

Những phát minh khoa học trở thành thang điểm xuất phát ra đời nhữngngành sản xuất mới, những máy móc thiết bị mới, công nghệ mới nguyên vậtliệu mới, năng lượng mới Sự thâm nhập ngày càng sâu của khoa học vào sảnxuất, cụ thể là vào người lao động và tư liệu sản xuất, trở thành một yếu tốkhông thể thiếu được trong sản xuất đã làm cho LLSX có bước phát triển nhảyvọt, tạo thành cách mạng khoa học công nghệ hiện đại

Yếu tố trí lực trong sức lao động đặc trưng cho lao động hiện đại khôngcòn là kinh nghiệm và thói quen của họ mà là tri thức khoa học Như vậy, dù

Trang 8

không phải là yếu tố thứ ba của LLSX nhưng có thể nói khoa học và công nghệhiện đại là đặc trưng cho LLSX hiện đại.

2.2 Vai trò của con người trong LLSX

2.2.1 Khái niệm con người

Vấn đề con người luôn là chủ đề trung tâm của lịch sử triết học từ thời cổđại đến hiện đại Trong đó quan niệm của triết học Mac-Lênin về con người vàbản chất con người, xuất phát từ giác độ khái quát nhất, đứng trên lập trườngduy vật biên chứng, làm cơ sở phương pháp luận cho việc giải quyết những vấn

đề khác của con người, có thể nói là đúng đắn nhất cho tới ngày nay

Trước hết con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật với mặt

xã hội Tiền đề vật chất đầu tiên quy định sự tồn tại của con người là sản phẩmcủa thế giới tự nhiên Con người là một bộ phận của tự nhiên.Con người khôngthể tồn tại mà thoát ly khỏi quá trình tất yếu đó là sinh ra, phát triển rồi chết đi.Trải qua hàng chục vạn năm, con người đã thay đổi từ vượn thành người điều đóđược chứng minh trong các công trình nghiên cứu của Đacuyn Những thuộctính, những đặc điểm sinh học, quá trình tâm sinh lý, các giai đoạn phát triểnkhác nhau nói lên bản chất sinh học của cá nhân con người

Tuy nhiên, mặt tự nhiên không phải là yếu tố duy nhất quy định bản chấtcon người Đặc trưng quy định sự khác biệt giữa con người với thế giới loài vật

là mặt xã hội Thông qua hoạt động lao động sản xuất con người sản xuất ra củacải vật chất và tinh thần phục vụ đời sống của mình hình thành và phát triểnngôn ngữ và tư duy, xác lập quan hệ xã hội Bởi vậy, lao động là yếu tố quyếtđịnh hình thành bản chất xã hội của con người đồng thời hình thành nhân cách

cá nhân trong cộng đồng xã hội

Là sản phẩm của tự nhiên và xã hội nên quá trình hình thành và phát triểncủa con người luôn bị quyết định bởi các hệ thống quy luật khác nhau nhưngthống nhất với nhau Chúng cùng tác động, tạo nên thể thống nhất hoàn chỉnhtrong đời sống con người bao gồm cả mặt sinh học và mặt xã hội Mối quan hệsinh học và xã hội là cơ sở để hình thành các nhu cầu về sinh học và nhu cầu xã

Trang 9

hội trong đời sống con người như nhu cầu ăn, mặc, ở, nhu cầu tái sản xuất xãhội, nhu cầu tình cảm, nhu cầu thẩm mỹ, nhu cầu hưởng thụ các giá trị tinh thần.

Như vậy ta thấy rõ mặt sinh học là cơ sở tất yếu tự nhiên của con ngườicòn mặt xã hội là đặc trưng bản chất nhất để phân biệt con người với loài vật.Hai mặt trên thống nhất với nhau để tạo nên con người tự nhiên- xã hội hay mộtthực thể song trùng

Để nhấn mạnh bản chất xã hội của con người Mác đã nêu trong luận đề

nổi tiếng Luận cương về Phoiơbăc: “bản chất con người không phải là một cái

trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chấtcon người là tổng hoà các quan hệ xã hội”

Trong đời sống con người, xét trên ba phương diện khác nhau: quan hệgiữa con người với tự nhiên, với xã hội và chính bản thân con người, suy đếncùng đều mang tính xã hội Nhưng có thể nói quan hệ giữa con người với conngười là quan hệ bản chất nhất bao trùm lên các mối quan hệ khác Thực tế lịch

sử đã chứng minh không có một cá nhân nào có thể tự đáp ứng đầy đủ nhu cầucủa bản thân cũng như không thể lao động một cách độc lập tuyệt đối để SXVC

mà phải liên kết lại với nhau, phân công lao động và trao đổi sản phẩm chonhau Từ đó hình thành các quan hệ xã hội, điều chỉnh và chi phối hoạt động,hành vi của con người Chỉ trong toàn bộ các mối quan hệ đó, con người mớibộc lộ toàn bộ bản chất của mình Trong điều kiện lịch sử cụ thể nhất định, bằnghoạt động thực tiễn của mình, con người sản xuất ra của cải vật chất đồng thờihoàn thiện bản thân mình

Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử Không có giới tự nhiên,không có lịch sử xã hội thì không tồn tại con người Bởi vậy con người là sảnphẩm của lịch sử Song điều quan trọng là con người luôn luôn là chủ thể củalịch sử - xã hội

Con người sáng tạo ra lịch sử, nhưng không bao giờ sáng tạo ra lịch sửtrong những hoàn cảnh và điều kiện được lựa chọn, mà trong hoàn cảnh và điềukiện sẵn có do quá khứ để lại Do đó ta phải luôn chú ý tới mối quan hệ hai

Trang 10

chiều giữa hiện tại và quá khứ, đặc biệt là môi trường sống của con người.Thông qua môi trường sống con người có sự tác động qua lại lẫn nhau thực hiệncác quan hệ xã hội tạo nên bản chất người, làm cho con người khác với con vật.

2.2.2 Con người là nhân tố trung tâm có tính quyết định LLSX

Trong các yếu tố của LLSX, “LLSX hàng đầu của toàn thể nhân loại làcông nhân là người lao động” Con người là nhân vật chính của lịch sử, vừa làmục tiêu, vừa là động lực để phát triển xã hội nhân tố con người vừa là phươngtiện sáng tạo ra mọi giá trị của cải vật chất và tinh thần, sáng tạo và hoàn thiệnngay chính bản thân mình đồng thời vừa là chủ nhân sử dụng có hiệu quả mọitài sản vô giá ấy Trên phương diện đó vai trò nhân tố con người lao động trongLLSX là yếu tố động nhất sáng tạo nhất của quá trình sản xuất Nhân tố trungtâm của con người chính là sức lao động bao gồm thể lực và trí lực Không cóngười lao động nào trong quá trình sản xuất vật chất lại không cần đến lao đôngthể lực hay lao động cơ bắp Chính những người lao động là chủ thể của quátrình lao động sản xuất, với sức mạnh và kĩ năng lao động của mình, sử dụng tưliệu lao động trước hết là công cụ lao động, tác động vào đối tượng lao động đểsản xuất ra của cải vật chất Cùng với quá trình lao động sản xuất, sức mạnh và

kỹ năng lao động của con người không ngừng được tăng lên, đặc biệt là trí tuệcủa con người ngày càng phát triển Trong quá trình đó không những con người

sử dụng trí tuệ nội tại của mình mà còn được kế thừa những kinh nghiệm quahọc hỏi lẫn nhau giữa những người lao động cho nên có thể nói kinh nghiệmcũng là một LLSX Kinh nghiệm được tích luỹ dần trở thành kỹ năng và cao hơnnữa nó có thể trở thành tri thức khoa học, kỹ thuật, công nghệ

Vai trò con người trong thời đại mới là cần hiểu sâu sắc những giá trị lớnlao và ý nghĩa quyết định của nhân tố con người, chủ thể của mọi sáng tạo, mọinguồn của cải vật chất và văn hoá, mọi nền văn minh của các quốc gia….Conngười phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần,trong sáng về đạo đức là động lực của sự nghiệp xây dựng xã hội mới, đồng thời

là mục tiêu của CNXH

Trang 11

Hơn nữa, các nhân tố khác đều là sản phẩm của người lao động Chỉ cónhân tố con người mới có thể làm thay đổi được công cụ sản xuất làm cho sảnxuất ngày càng phát triển với năng suất và chất lượng cao, thay đổi quan hệ sảnxuất và các quan hệ xã hội khác Công cụ lao động thô sơ hay hiện đại, xấu haytốt, phụ thuộc trực tiếp vào nhân tố con người Giới tự nhiên nói chung và đốitượng lao động nói riêng, chỉ là những vật vô tri vô giác mà thôi Nó chỉ có ýnghĩa khi trở thành sản phẩm phục vụ nhu cầu của con người Muốn vậy tất yếungười lao động phải tác động vào tư liệu sản xuất để sản sinh ra nó Như thế quátrình SXVC không thể thoát ly khỏi lao động của con người Trong thời đại mới,nhân tố con người có tri thức ngày càng đóng vai trò quyết định hơn trongLLSX Có thể khẳng định rằng nhân tố con người đóng vai trò quyết định quátrình lao động sản xuất ra của cải vật chất.

CHƯƠNG 3 CHIẾN LƯỢC ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO 3.1 Vai trò và thực trạng nguồn nhân lực nước ta

Trong các nguồn lực có thể khai thác như nguồn lực tự nhiên, nguồn lựckhoa học công nghệ, nguồn lực con người thì nguồn lực con người là quyết địnhnhất bởi lẽ những nguồn lực khác chỉ có thể khai thác có hiệu quả khi nguồn lựccon người được phát huy Những nguồn lực khác ngày càng cạn kiệt, ngược lạinguồn lực con người ngày càng đa dạng và phong phú

Các lĩnh vực khoa học khác nhau có thể hiểu nguồn lực theo những cáchkhác nhau, nhưng chung nhất nguồn lực là một hệ thống các nhân tố mà mỗi

Ngày đăng: 15/08/2022, 01:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Minh Hạc, nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nxb Chính trị quốc gia, 2001 Khác
2. Nghiêm Đình Vỳ (chủ biên), Phát triển giáo dục và đào tạo nhân tài, Nxb Chính trị quốc gia, 2002 Khác
3. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc, Nxb Chính trị quốc gia, 2001 Khác
4. Ngô Đình Giao (chủ biên), Suy nghĩ về công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta, Nxb Chính trị quốc gia, 1996 Khác
5. Nguồn chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001- 2010, Khoa giáo Trung ương, Hà Nội, 2000 Khác
6. Dự thảo tầm nhìn Việt Nam 2020, Bộ khoa học công nghệ và môi trường, 2001 Khác
7. Phạm Minh Hạc, Tổng kết mười năm (1990 - 2000) xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, Nxb Chính trị quốc gia, 2000 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w