1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

đề tài mô hình tố tụng hình sự việt nam theo bộ luật tố tụng hình sự 2015

75 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 578,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để hoạt động tố tụng hình sự này có thể được diễn ra, các cá nhân tham giavào quá trình này phải được xác định một phạm vi, mức độ địa vị pháp lý tố tụng nhất định, những chức năng, thẩm

Trang 1

MỤC LỤC

MÔ HÌNH TỐ TỤNG HÌNH SỰ TẠI VIỆT NAM THEO BỘ LUẬT TỐ TỤNG

I Mô hình tố tụng hình sự Việt Nam trước bộ luật tố tụng hình sự 2015 31

II Mô hình tố tụng hình sự Việt Nam theo bộ luật tố tụng hình sự 2015 34

NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ ĐẶT RA TRONG VIỆC HOÀN THIỆN MÔ

Trang 2

MỞ ĐẦU

I Tính cấp thiết của đề tài

Mô hình tố tụng hình sự là một vấn đề quan trọng trong việc xác định cácyếu tố của một quá trình giải quyết vụ án hình sự Đây cũng là nội dung đượcnhiều người lựa chọn nghiên cứu, tuy nhiên, xét về mặt lý luận khoa học thì chưa

có được những khái niệm về mặt khoa học pháp lý cô đọng

Về thực tiễn mô hình tố tụng hình sự của Việt Nam nếu là trước năm 2015thì có thể khẳng định một cách rõ ràng, đây là mô hình tố tụng thẩm vấn Nhưngvới những sự sửa đổi tương đối căn bản thì cần phải xác định lại xem ở thời điểmhiện tại, mô hình tố tụng Việt Nam đang phát triển theo hướng nào cũng nhưnhững minh chứng cho khẳng định đó Tất nhiên để có được khẳng định đó thìphải nắm được những vấn đề lý luận chung nhất về mô hình tố tụng hình sự

Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 đã có rất nhiều sửa đổi quan trọng, ảnh hưởngtrực tiếp đến việc xác định mô hình tố tụng hình sự của Việt Nam Tuy nhiên, đâymới chỉ là những bước đầu tiên của sự đổi mới nên chắc chắn sẽ vẫn có nhữngđiểm hạn chế còn tồn tại, nhưng đồng thời cũng có những ưu điểm nhất định là cơ

sở cho sự lựa chọn mô hình trên

Chính vì vậy, đề tài nghiên cứu này sẽ chỉ ra được, trước hết là xác địnhđược mô hình tố tụng của Việt Nam, từ đó phân tích những ưu điểm và hạn chế của

mô hình hiện tại và đề ra một số phương hướng hoàn thiện Bộ luật tố tụng hình sựViệt Nam nói chung và mô hình tố tụng hình sự Việt Nam nói riêng

Trang 3

Vì những lý do đó mà việc nghiên cứu đề tài “Mô hình tố tụng hình sự Việt

Nam theo Bộ luật Tố tụng hình sự 2015” sẽ mang tính cấp thiết cả về mặt lý luận

và cả về mặt thực tiễn hoạt động

II Mục tiêu nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của bài là nghiên cứu về mặt lý luận các mô hình tốtụng hình sự trên thế giới và đánh giá về mô hình tố tụng hình sự Việt Nam Trên

cơ sở đó, đánh giá những mặt hạn chế mà chúng ta chưa làm được từ đó hoàn thiện

mô hình TTHS Việt Nam trên nền tảng mô hình tố tụng thẩm vấn có sự tiếp thunhững yếu tố tích cực của mô hình tố tụng thẩm vấn, đáp ứng yêu cầu xây dựngNhà nước pháp quyền, bảo vệ lợi ích của nhân dân

Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề sau:

Nghiên cứu những mô hình tố tụng Hình sự tiêu biểu trên thế giới dựa trên

sự so sánh đối chiếu những điểm khác biệt giữa các mô hình này Nêu những ví dụđiển hình của các mô hình này trên thế giới

Qua việc làm rõ những đặc điểm chủ yếu của mô hình tố tụng, xác định môhình tố tụng Hình sự Việt Nam thông qua nhưng quy định pháp luật hiện hành Từ

đó nêu ra những hạn chế, bất cập của mô hình này và nêu phương hướng hoànthiện qua việc học hỏi những mặt mạnh của mô hình tố tụng tranh tụng đáp ứngmục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do dân, vì dân ở nướcta

III Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 4

Đối tượng nghiên cứu của bài nghiên cứu là mô hình tố tụng hình sự ViệtNam và các vấn đề pháp lý đặt ra, đồng thời đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện

mô hình tố tụng hình sự Việt Nam cũng như Bộ luật Tố tụng hình sự 2015

2 Phạm vi nghiên cứu

Phân tích xoay quanh các đặc điểm cấu trúc của mô hình tố tụng hình sự:Mục tiêu và cách thức giải quyết vụ án hình sự; Các giai đoạn tố tụng; Địa vị pháp

lý của chủ thể khi tham gia tố tụng; Các nguyên tắc sử dụng của tố tụng hình sự

IV Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của bài nghiên cứu là quan điểm của chủ nghĩa Mác –

Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây

dựng nhà nước pháp quyền, cải cách và hoàn thiện hệ thống tư pháp

Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng,chủ nghĩ duy vật lịch sử

Về các phương pháp nghiên cứu khoa học, bài nghiên cứu sử dụng phươngpháp logic, phân tích, so sánh, lịch sử, … để nghiên cứu, nắm vững vấn đề sau đótiến hành so sánh các mô hình tiêu biểu ở các quốc gia trên thế giới từ đó tìm ranhững điểm bất cập và định hướng giải pháp hoàn thiện

V Đóng góp của bài nghiên cứu

Tìm hiểu kỹ càng về những vấn đề mang tính lý luận của mô hình tố tụnghình sự nói chung, đưa ra những khái niệm về khoa học pháp lý của mô hình tốtụng hình sự và đặc điểm cấu trúc của mô hình tố tụng hình sự Đồng thời, tìm hiểuđược những mô hình tố tụng hình sự điển hình của một số quốc gia trên thế giới

Xác định được mô hình tố tụng hình sự của Việt Nam từ sau những đổi mớicủa Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 Phát hiện ra những ưu điểm và hạn chế của mô

Trang 5

hình cũng như các quy định ở thời điểm hiện tại và đề xuất những phương án hoànthiện mô hình tố tụng hình sự Việt Nam xuất phát từ những bài học của mô hình tốtụng hình sự của một số quốc gia trên thế giới

VI Kết cấu bài nghiên cứu

Ngoài phân mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, bài nghiên cứugồm có 3 phần:

Trang 6

Để hoạt động tố tụng hình sự này có thể được diễn ra, các cá nhân tham gia

vào quá trình này phải được xác định một phạm vi, mức độ địa vị pháp lý tố tụng nhất định, những chức năng, thẩm quyền của những cá nhân, tổ chức tham gia

vào quá trình tố tụng Sau đó được diễn ra theo một trình tự, thủ tục chung một

cách nghiêm ngặt, nhằm đảm bảo tất cả đều thực hiện theo một mục đích chung

của tố tụng hình sự nói riêng và quá trình cải cách tư pháp nói chung

Các yếu tố này chính là tổng thể xương sống của quá trình tố tụng hình sự vàchúng tạo thành một hệ thống tố tụng hình sự thống nhất, nhất quán với nhau, và từ

đó, dẫn đến một cách thức giải quyết chung cho quá trình giải quyết tất cả các

vụ án hình sự 1

1Đào Trí Úc, “Tổng quan về mô hình tố tụng hình sự Việt Nam: thực trạng và phương hướng hoàn thiện”, Kỷ yếu

Hội thảo khoa học: Hoàn thiện mô hình tố tụng hình sự Việt Nam đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp – kinh nghiệm CHLB Đức, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và Quỹ Hợp tác Quốc tế về pháp luật CHLB Đức tổ chức ngày 9 – 10

tháng 6 năm 2011, Hà Nội Truy cập tại: http://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/79/32

Trang 7

Từ những phân tích trên, có thể dẫn đến một khái niệm mô hình tố tụng hình

có xây dựng mô hình nào, tranh tụng hay thẩm vấn thì cơ bản sẽ đều nhằm xâydựng những mục tiêu trên chỉ có điều, mục tiêu nào sẽ được nhấn mạnh hơn là tùythuộc vào sự điều chỉnh của từng mô hình

Bên cạnh đó, có một vấn đề đặt ra là ở các quốc gia khác nhau sẽ có nhữngcách thức xác định các yếu tố của quá trình tố tụng hình sự khác nhau Bởi nhữngvấn đề về kinh tế - chính trị - xã hội ở mỗi quốc gia sẽ có những đặc điểm riêngbiệt mà căn cứ vào đó mới có thể xây dựng được các yếu tố căn bản nhất để tạo ramột quá trình tố tụng hình sự phù hợp với hệ thống tư pháp của quốc gia đó

Từ đó, khi phân tích và đánh giá các mô hình trên, để so sánh được chúngvới nhau, người ta mới tạo nên được bộ tiêu chí giúp quá trình phân biệt được dễ

2Nguyễn Hà Thanh, “Đổi mới mô hình tố tụng hình sự tại Việt Nam, một số kiến giải cụ thể”, Trang thông tin điện

tử Nội chính Trung Ương, 2014 Truy cập tại link:

http://noichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/201402/doi-moi-mo-hinh-to-tung-hinh-su-tai-viet-nam-mot-so-kien-giai-cu-the-293772/

Trang 8

dàng hơn, bao gồm: mục đích (mục tiêu) và cách thức giải quyết vụ án hình sự; đốitượng tham gia tố tụng hình sự; nguyên tắc và các giai đoạn tố tụng.

b Đặc điểm cấu trúc của mô hình tố tụng hình sự:

i Mục tiêu, chức năng của tố tụng hình sự

Mục tiêu của mô hình tố tụng hình sự là một yếu tố quan trọng, mang tính chất quyết định cách thức giải quyết vụ án hình sự cũng như các hoạt động khác của hoạt động tố tụng hình sự.

Mục tiêu là cái đích cuối cùng mà hệ thống pháp luật đó muốn đạt được sauquá trình giải quyết bất kỳ một vụ án hình sự nào xảy ra trong thực tiễn

Nói rằng mục tiêu là một yếu tố quan trọng là bởi nó là nhân tố chi phốinhững vấn đề khác trong tố tụng hình sự Nếu không đặt ra được một mục tiêuchung, rất có thể, mỗi một hoạt động trong một giai đoạn của tố tụng hình sự sẽđược thực hiện theo những cách rất khác nhau nhằm đạt được mục tiêu của từnggiai đoạn và khi không tạo được ra sự nhất quán cần có, kết quả xử lý các vụ ánhình sự sẽ gây ra những sai lầm nhất định, ảnh hưởng đến chính lợi ích của các cánhân, tổ chức và của chính nền tư pháp của quốc gia Đồng thời, chính từ mục tiêunày, người ta đề ra được cách thức hoạt động của hệ thống pháp luật tố tụng hình

sự để đạt được đúng những mục tiêu đã đề ra

Hầu hết các nước có luật Tố tụng hình sự, họ không trực tiếp đề cập đếnmục đích của tố tụng hình sự trong luật mà cố gắng hiện thực hóa những mục đíchnày thông qua các nguyên tắc hoặc quy định chi tiết được đề ra trong Luật Tố tụnghình sự và cũng thông qua việc thực thi luật (sách các mô hình TT trên TG) Bởivậy, càng có thể khẳng định lại một lần nữa, mục tiêu là một yếu tố mang tính chấtquyết định cách thức hoạt động hay những nguyên tắc giải quyết một vụ án hìnhsự

Trang 9

ii Giai đoạn tố tụng

Giai đoạn Tố tụng hình sự là các bước của quá trình tố tụng hình sự mà mỗi bước tương ứng với một chức năng nhất định trong hoạt động tư pháp hình sự do các chủ thể tham gia vào quá trình tố tụng hình sự thực hiện nhằm đáp ứng những quy định của Luật định ra.

iii Địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia tố tụng hình sự

Chủ thể tham gia tố tụng đó là các cơ quan, người tham gia các quan hệ tố tụng 3 Quan hệ tố tụng là các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, do pháp luật tố tụng hình sự điều chỉnh.

iv Các nguyên tắc của tố tụng hình sự

Nguyên tắc được hiểu với nghĩa là tư tưởng chỉ đạo, quy tắc cơ bản của mộthoạt động nào đó

GS.TS Đào Trí Úc quan niệm: “Nguyên tắc của Luật Tố tụng hình sự lànhững tư tưởng và quan điểm chủ đạo được thể chế hóa bằng pháp luật, có ý nghĩaquyết định đối với việc xác định và thực hiện các hoạt động Tố tụng hình sự và cácquan hệ Tố tụng hình sự, đối với các hình thức và phương pháp thực hiện các hoạtđộng và quan hệ đó.” 4

Như đã đề cập, tố tụng hình sự phải được triển khai trên những định hướngkhác nhau mà tập trung và nổi bật nhất là hai định hướng: phục vụ, bảo vệ lợi íchcông và thỏa mãn, tôn trọng và bảo đảm lợi ích của các bên tố tụng Để đảm bảo

3 Tổng quan về vị trí tố tụng, quyên và nghĩa vụ của các chủ thể, mối quan hệ giữa Viện kiểm sát và Cơ quan điều

tra trong Tố tụng hình sự Việt Nam, thực trạng và xu hướng hoàn thiện, Trang thông tin khoa học Đại học Kiểm sát.

Truy cập tại link: http://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/119/680

4 PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí chủ biên (2014), “Giáo trình Luật Tố tụng Hình sự Việt Nam”, NXB Đại học Quốc gia

Hà Nội.

Trang 10

mục đích đó, tố tụng hình sự phải thực hiện các chức năng tương ứng: chức năngcông tố và chức năng tranh tụng Những chức năng kể trên được thực hiện thôngqua các nguyên tắc đặc trưng của chúng.

B Phân loại mô hình tố tụng hình sự trên thế giới

Có rất nhiều cách phân loại mô hình tố tụng, tuy vậy, nhóm nghiên cứu lựachọn phân loại mô hình tố tụng hình sự dựa trên các tiêu chí là mục tiêu của môhình tố tụng, các giai đoạn tố tụng, chủ thể tố tụng và nguyên tắc của mô hình tốtụng

a Mô hình tố tụng thẩm vấn:

i Mục tiêu:

Mục tiêu của mô hình này nghiêng về lợi ích công (bảo vệ hệ thống côngquyền) thì đó mô hình TTHS thẩm vấn Tố tụng thẩm vấn đặt nặng cho mình mụctiêu tìm kiếm sự việc có thực, hay làm sáng tỏ sự thật trong các vụ án hình sự Qua

đó, nhằm trừng trị kẻ phạm tội, bảo vệ quyền lợi của xã hội, quyền lợi của Nhànước

Mục tiêu bảo vệ quyền lợi của xã hội, quyền lợi nhà nước được đề cao, do

đó mà công cuộc tìm ra sự thật khách quan phải được thực hiện bởi các cơ quan đạidiện cho Nhà nước, đặt ra trách nhiệm cho các cơ quan tiến hành tố tụng, ngườitiến hành tố tụng phải làm rõ và tìm kiếm những sự việc khách quan của vụ việc Ở

mô hình này, Nhà nước đại diện cho xã hội thực hiện việc truy cứu trách nhiệmhình sự đối với người bị buộc tội, do đó mà việc giải quyết vụ án hình sự đượcđịnh hình là quan hệ công quyền Khi đặt hai mục tiêu giữa sự công bằng hay lợiích cá nhân với sự thật khách quan hay lợi ích xã hội, mô hình tố tụng thẩm vấn rõràng đề cao mục đích vị xã hội hơn là vị cá nhân Điều này khiến cho cách thức

Trang 11

giải quyết vụ án hình sự của một vài mô hình tố tụng thẩm vấn đôi khi đã xem nhẹquyền lợi tư, chưa tôn trọng những quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, đặc biệt

là đối với những người bị buộc tội

Nhắc tới mô hình tố tụng thẩm vấn thì những mục tiêu mà hệ thống tư

pháp của Trung Quốc đặt ra mang những đặc trưng của mô hình tố tụng thẩm vấn

Điều 2 Luật TTHS Trung Quốc năm 1996 có quy định về nhiệm vụ như sau:

“bảo vệ hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa; bảo vệ các quyền cá nhân, quyền sở hữu, quyền dân chủ của công dân và bảo vệ tiến trình xây dựng xã hội chủ nghĩa”

Nhiệm vụ đặt ra cho Trung Quốc trong quá trình tố tụng hình sự là phải bảo đảmđiều tra chính xác, kịp thời, các tình tiết tội phạm, áp dụng đúng luật, trừng phạt tộiphạm, bảo vệ người vô tội khỏi bị truy cứu trách nhiệm hình sự, giáo dục chongười dân tự nguyện tuân thủ pháp luật và chủ động phòng chống các biểu hiệnphạm tội5

C Mục tiêu được quy định rất cụ thể, nhưng thể hiện rõ những yếu tố mang

tính bảo vệ lợi ích của xã hội nói chung và tìm về sự thật khách quan của vụ

án được đặt lên hàng đầu; cách sắp đặt từng mục đích cũng cho ta thấy, việcbảo vệ quyền và lợi ích cá nhân chỉ được xếp sau lợi ích của hệ thống phápluật của Nhà nước Tính chất công quyền trên là một đặc trưng cho mô hình

iii.

iv

v. 5Tô Văn Hòa chủ biên (2012), “Những mô hình tố tụng hình sự điển hình trên thế giới”, Chương

trình đối tác tư pháp Tr.82,83

Trang 12

0 Thông thường, mô hình tố tụng thẩm vấn sẽ thường chia thành một sốgiai đoạn: 1/ Giai đoạn điều tra; 2/ Giai đoạn truy tố; 3/ Giai đoạn xét

xử ở mỗi giai đoạn, thẩm quyền, nghĩa vụ, của những người thamgia tố tụng đều được quy định rõ ràng trong các Bộ luật Tố tụng hìnhsự

1 Nhìn chung, khác với sự tự do và cởi mở của mô hình tố tụng tranhtụng, quá trình điều tra của mô hình tố tụng thẩm vấn thường khôngcông khai và ít có sự tham gia của luật sư bào chữa Quá trình điều trađược thực hiện bởi cơ quan điều tra là chủ yếu, ít có được sự chủ độngcủa bị cáo cũng như luật sư bào chữa của bị cáo trong quá trình thuthập chứng cứ, tài liệu liên quan Những chứng cứ này về sau cũngđược lưu lại trong hồ sơ vụ án, nhằm làm căn cứ trong quá trình Hộiđồng Thẩm phán đưa ra quyết định

2 Một ví dụ điển hình của mô hình BLTTHS thẩm vấn là Mô hình thẩmvấn trước đây của Trung Quốc

3 Theo Luật Tố tụng hình sự Trung Quốc, quá trình tố tụng được chiathành 2 giai đoạn: 1) giai đoạn trước khi xét xử, gồm có lập hồ sơ vụ

án, điều tra và truy tố;

vi 2) Giai đoạn xét xử, bao gồm xét xử sơ thẩm, kháng cáo nếu có hoặc

các thủ tục tố tụng đặc biệt khác ví dụ như xem xét án tử hình, táithẩm, 6

0 Trong giai đoạn điều tra, cơ quan điều tra chịu trách nhiệm chủ chốt,

sự tham gia của luật sư bào chữa không phải không có nhưng ở mộtmức độ rất hạn chế và mang đậm dấu ấn của của tố tụng thẩm vấn

1 Giai đoạn truy tố tiếp sau đó do Viện Kiểm sát chịu trách nhiệm để đưa

ra một trong các quyết định truy cứu hoặc không truy cứu trách nhiệmhình sự

Trang 13

0 Giai đoạn xét xử cũng trải qua rất nhiều thủ tục: từ chuẩn bị phiên tòa,

mở phiên tòa, quy trình thẩm vấn tại tòa, lời kết tội, đều được quyđịnh chi tiết trong Bộ luật tố tụng hình sự Trung Quốc

xi Chủ thể:

xii.

0 Khác với chủ thể trong mô hình tranh tụng, tố tụng thẩm vấn lại hìnhthành ba chủ thể: cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tốtụng và người tham gia tố tụng, còn các chức năng bào chữa buộc tộitồn tại khá mờ nhạt Sở dĩ có sự khác nhau là do, mô hình thẩm vấnkhông coi vụ án là sự tranh chấp giữa các bên, vụ án hình sự xảy ra bịxem là đã xâm phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích chung của Nhànước của xã hội vì vậy Nhà nước phải có trách nhiệm đứng ra giảiquyết vụ án Công việc chứng minh tội phạm được nhà nước ủy quyềncho cơ quan tư pháp (đặc biệt là Tòa Án), họ đề cao việc giải quyết vụ

án, bảo vệ công lý mà không chú trọng đến việc tạo lập cho bị cáo cácquyền để họ tự bảo vệ mình, nên dẫn đến một hệ quả tất yếu là các chủthể tham gia tố tụng (buộc tội, bào chữa, xét xử) không được phân địnhrạch ròi, địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia tố tụng không bìnhđẳng thực sự giữa cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụngvới người tham gia tố tụng Ở tố tụng thẩm vấn phân thành: cơ quantiến hành tố tụng (Tòa Án, Viện kiểm sát, các cơ quan điều tra, …);người tiến hành tố tụng (Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán, Hộithẩm, Thư ký, Viện trưởng Viện kiểm sát, Phó Viện trưởng Viện kiểmsát, Kiểm sát viên, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra, Điềutra viên)

1 Mô hình tố tụng thẩm vấn đề cao vai trò của thẩm phán Thẩm phán sẽ

là người đưa ra quyết định khi xảy ra một vụ án nào đó, là người cótrách nhiệm tìm ra sự thật trên cơ sở các chứng cứ tìm được và cũng làngười chỉ đạo toàn bộ quá trình tố tụng Như vậy vai trò của Thẩm

Trang 14

phán trong mô hình thẩm vấn rất khác so

Trang 15

xiii với vai trò của Thẩm phán trong tố tụng tranh trụng, ở đây Thẩm phán

là trung tâm của quá trình xét xử, tiến hành cả chức năng xét, chứcnăng điều tra, chức năng buộc tội và chức năng bào chữa Trong khi

đó, Thẩm phán trong mô hình tố tụng thẩm vấn được đề cao hơn thì vaitrò của cơ quan thực hiện chức năng công tố và luật sư bào chữa kháthụ động Tại phiên tòa, các câu hỏi cho các nhân chứng và các bênliên quan là do thẩm phán đặt câu hỏi và phát triển sự kiện theo hướnglàm rõ sự thật khách quan của vụ án, các luật sư chủ yếu chỉ tranh luận

để giải thích về các chứng cứ liên quan đến vụ án mà có thể các chứng

cứ này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc đưa ra phán quyết của thẩmphán Phiên tòa trong tố tụng thẩm vấn không phải là cuộc tranh tụnggiữa các bên buộc tội và gỡ tội, mà thực chất là sự tiếp tục của việcđiều tra, thẩm định chứng cứ, làm rõ sự thật khách quan của vụ án7

0 Tòa Án không chỉ là trọng tài mà còn tích cực tham gia vào quá trìnhchứng minh bị cáo có tội hay không có tội Ta có thể thấy, dường nhưtoàn bộ trách nhiệm được đặt lên Hội đồng xét xử trong khi các bêncòn lại không phát huy được sự chủ động

1 Ở tố tụng thẩm vấn cơ quan có chức năng công tố có những quyền hạnlớn hơn so với trong tố tụng tranh tụng, cơ quan có chức năng công tố

có quyền chỉ đạo công tác điều tra, ra quyết định khởi tố Chế định Hộithẩm nhân dân cũng có sự khác biệt với Bồi thẩm đoàn trong mô hìnhtranh tụng ở chỗ nếu như Bồi thẩm đoàn chỉ tham gia trong việc raquyết định người bị cáo buộc phạm tội có tội hay là không, còn nhữngvấn đề về mức xử phạt và quy định của pháp luật như nào sẽ do Thẩmphán quyết định thì ở Hội thẩm lại có sự ngang quyền với Thẩm phántrong những quyết định về vụ án

xiv.

xv. 7 Nguyễn Hải Ninh, Nguyễn Hà Thanh, “Tố tụng tranh tụng và tố tụng thẩm vấn trong tư pháp hình

sự thế giới”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 148 (2009.)

Trang 16

0 Mô hình tố tụng thẩm vấn điển hình ta có thể tham khảo đó là mô hình

tố tụng của Trung Quốc

1 Theo quy định tại Điều 5 Luật tố tụng hình sự Trung Quốc thì Toà ánnhân dân thực hiện chức năng xét xử độc lập theo luật và không bị canthiệp bởi bất kỳ cơ quan hành chính, tổ chức hoặc cá nhân nào Tuynhiên, trên thực tế Tòa án không được hoàn toàn độc lập Hoạt độngcủa Tòa án bị giám sát bởi ủy ban Pháp luật chính trị của Đảng cộngsản Trung quốc Tòa án cũng phụ thuộc chính quyền địa phương vềvấn đề ngân sách và nhân sự Hội đồng nhân dân quyết định ngân sách

và nhân sự của Tòa án cùng cấp Thẩm phán cũng không thể đưa raquyết định độc lập Quyết định của Thẩm phán được xem xét kỹlưỡng, bị giám sát, bị chỉ đạo và bị hủy bỏ bởi ủy ban Thẩm phán vàChánh án của mỗi Tòa án mà không ai trong số những người này thamgia xét xử trực tiếp vụ án8

2 Viện kiểm sát của Trung Quốc được thiết kế, bố trí một cách độc lập

Về mặt tổ chức hệ thống này có sự khác biệt với các nền tư pháp khác.Viện kiểm sát không trực thuộc Bộ Tư pháp và cũng không liên kết vớiTòa Án Viện kiểm sát thực hiện quyền công tố (chỉ có Viện kiểm sátmới có quyền truy tố vụ án hình sự ở Trung Quốc), có quyền điều tra(có thẩm quyền điều tra ba loại hình tội phạm chủ yếu đó là tội muachuộc và hối lộ; tội xao lãng, lơ là nhiệm vụ của công chức; tội xâmphạm quyền con người và quyền chính trị), có quyền giám sát thủ tục

tố tụng hình sự (trong giai đoạn xét xử, Viện kiểm sát có trách nhiệmluận tội, đưa ra mức hình phạt, giám sát hoạt động xét xử của Tòa án,bảo đảm làm rõ sự thật một cách chính xác và kịp thời, vận dụng đúngđắn pháp luật, trừng phạt các phần tử phạm tội, bảo đảm người vô tộikhông bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bảo đảm thi hành pháp luậthình sự của Nhà nước một cách thống nhất, đúng đắn để bảo vệ

xvi.

xvii. 8“Mô hình tố tụng Trung Quốc”, Trang thông tin khoa học Đại học Kiểm sát Truy cập tại link:

http://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/79/142

Trang 17

xviii pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền thân thể, quyền tài sản, quyền

dân chủ và các quyền khác của công dân, bảo đảm tiến hành thuận lợi

sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa)

0 Theo quy định của Luật TTHS Trung Quốc thì Thẩm phán, Kiểm sátviên, Điều tra viên mới có quyền thu thập chứng cứ Trong ba cơ quantiến hành tố tụng thì Cơ quan điều tra có vai trò chủ đạo trong việc thuthập chứng cứ Bị can, bị cáo có quyền nhưng không có nghĩa vụ phảichứng minh là mình vô tội Đây là đặc trưng điển hình của mô hình tốtụng thẩm vấn của Trung Quốc

xix Nguyên tắc:

xx.

0 Mô hình tố tụng thẩm vấn gắn với chức năng công tố, các đòi hỏi về

pháp chế, trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án hình sự; đòi hỏi xác địnhcho được sự thật khách quan của vụ án; không thừa nhận sự suy đoán

vô tội Có thể nói rằng, những đòi hỏi này cũng chính là các nguyêntắc của tố tụng hình sự và chúng là những nguyên tắc đặc trưng cho tốtụng thẩm vấn

1 Mô hình tố tụng hình sự của Trung Quốc theo Bộ luật Tố tụng Hình sự

1976 là điển hình cho mô hình tố tụng thẩm vấn do đã đẩy mạnh vaitrò, nghiêng hẳn cán cân ưu thế về các cơ quan công quyền trong quátrình tố tụng hình sự và đi theo hướng suy đoán có tội thông qua cácnguyên tắc điều chỉnh hệ thống pháp luật này

2 Bộ luật Tố tụng Hình sự 1976 của Trung Quốc quy định: khi Việnkiểm sát truy tố một vụ án, anh ta phải chuyển tất cả hồ sơ vụ án vàchứng cứ sang tòa xét xử Thẩm phán thường xem xét kĩ hồ sơ, và sẽgặp gỡ bị cáo để thẩm vấn trước khi ra quyết định có khởi tố vụ án haykhông Thẩm phán chỉ đưa ra xét xử khi chắc chắn rằng các tình tiếthình sự đã rõ ràng và có đầy đủ chứng cứ Trong cả quá

Trang 18

xxi trình điều tra và xem xét hồ sơ án này, bên bị cáo đều không được tiếp

cận và tác động đến các bằng chứng

0 Thấy rằng, đi theo các nguyên tắc này, vô hình chung, bị cáo đã bị kếtluận là có tội trước khi phiên xét xử bắt đầu Phiên toà chỉ được coi làhình thức do ưu thế phản biện của bên bị cáo từ rất ít đến không hề có

iii Trong TT Tranh tụng, thông qua sự tranh luận (cuộc tranh đấu) tự do

và cởi mở giữa hai bên (một bên là Nhà nước và bên kia là nguời bịbuộc tội) có các dữ kiện chính xác về vụ việc, sự thật cuối cùng cũng

sẽ được mở ra Sự tự do và cởi mở chính là để đảm bảo cho mục tiêucông bằng cho các bên Dù là bên buộc tội hay là bên bị buộc tội thìđều phải được tôn trọng, đều phải được đáp ứng những quyền và lợiích hợp pháp mà pháp luật trao cho họ Như vậy, lợi ích của các cánhân đã được đặt lên hàng đầu thay vì lợi ích xã hội

0 Chính bởi mô hình tố tụng tranh tụng cho rằng đây là tranh chấp giữacác bên, vậy nên quá trình giải quyết phải được hai bên tranh luận để

tự bảo vệ quyền lợi của mình, nghĩa vụ của họ là phải cung cấp nhữngchứng cứ chứng minh sự thật cho quan tòa, quan tòa khi đó được coinhư “trọng tài” đứng giữa để phán xử xem, trong hai bên, đâu mới là

sự thật, đâu là kẻ phải chịu tội Yếu tố về sự thật khách quan của vụ ánsau cùng cũng sẽ được xác định thông qua những màn tranh luận củahai bên Vậy nên, mục tiêu đi tìm sự thật khách quan được xếp saumục tiêu tìm kiếm sự công bằng cho các bên tranh tụng trong mô hình

Trang 19

tố tụng tranh tụng.

Trang 20

1 Khi nói tới mô hình tố tụng tranh tụng thì mô hình tố tụng của Hoa Kỳ

là một điển hình Mục tiêu được Hoa Kỳ đặt ra trong quá trình giảiquyết vụ án hình sự là ưu tiên việc kiểm soát tội phạm, đồng thời duytrì một quy trình thủ tục công bằng, mà cụ thể là kiểm soát hiệu quả tộiphạm thông qua một quy trình, thủ tục được quản lý được thiết kế đểđảm bảo kết án đúng người, đúng tội mà vẫn bảo vệ được quyền conngười của bất cứ cá nhân nào bị kết án, cũng như quyền con người củatất cả các công dân, ngay cả khi họ không bị buộc tội.9

2 Từ mục tiêu thấy được sự đề cao việc đảm bảo quyền con người,quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân một cách rất rõ ràng cùng vớimục tiêu vốn có của luật tố tụng hình sự về tội phạm Chính vì thế mà

có một nguyên tắc rất đặc trưng của mô hình tố tụng tranh tụng, đó lànguyên tắc “mặc cả thú tội” “mặc cả thú tội” được sử dụng rộng rãitrong tố tụng hình sự Hoa Kỳ Mặc cả thú tội là sự thoả thuận theo đó,công tố viên cho phép bị cáo nhận tội để đổi lại một vài nhượng bộnhư giảm lời buộc tội hoặc đưa ra một mức án khoan dung hơn Cáccông tố viên cũng thực hiện quyền tự quyết trong việc thương thuyếtvới luật sư biện hộ Có những lợi thế của mặc cả thú tội cho cả bên bịbuộc tội lẫn Nhà nước Đối với bị cáo, đó là cơ hội được giảm mức án

và chi phí cho luật sư Đối với Chính phủ, nó làm giảm chi phí choviệc truy tố, cải thiện tính hiệu quả của các Tòa án bằng việc phải xử lýcác vụ án ít hơn bằng các thủ tục đầy đủ của một phiên tòa và cho phépbên công tố có thể giành hết các nguồn lực của mình để giải quyếtnhững vụ án nghiêm trọng hơn.10 Nguyên tắc này là một ví dụ xácđáng cho việc tôn trọng quyền lợi của cá nhân trong khi giải quyết vụ

án hình sự và là điển hình cho mô hình tố tụng tranh tụng

iv.

v. 9Tô Văn Hòa chủ biên (2012), “Những mô hình tố tụng hình sự điển hình trên thế giới”, Chương

trình đối tác tư pháp Tr.366 vi.

vii. 10“Mô hình tố tụng Hợp chủng quốc Hoa Kỳ”, Trang thông tin khoa học Đại học Kiểm sát Truy

cập tại link: http://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/79/152

Trang 21

viii Giai đoạn:

ix.

0 Trong khoa học, các giai đoạn tố tụng trong mô hình tranh tụng đượcthể hiện như sau:

1 Mô hình tố tụng tranh tụng không có giai đoạn điều tra rõ ràng như của

mô hình tố tụng thẩm vấn Vụ án chỉ được coi là chính thức khi có cáotrạng để thực hiện các thủ tục tranh tụng tại tòa án Mọi chứng cứ hoàntoàn do các bên tự thu thập và chỉ được đưa ra tranh luận tại phiên tòa.Ngay trong quá trình xét xử, các bên vẫn tiếp tục hoạt động thu thậpcác chứng cứ và có thể xuất trình vào bất kỳ thời điểm nào của phiêntòa Bên buộc tội và bên bào chữa sử dụng quyền kiểm tra chéo đối vớingười làm chứng để xác định tính trung thực hay sự thiên vị trong cáclời khai của họ

2 Vì vậy, ngay cả các sự kiện diễn ra tại phiên tòa cũng có thể được cácbên dùng làm chứng cứ chống lại nhau Mỗi bên có quyền đặt câu hỏitrực tiếp cho bên kia cũng như những người làm chứng, giám địnhviên, thậm chí có quyền ngắt lời bên kia để phản bác

3 Ở mô hình tranh tụng điển hình là Hoa Kỳ có ba giai đoạn chính nhưsau:

là người thực hiện quá trình điều tra sơ bộ trên Nếu như sau quá trìnhđánh gia và điều tra sơ bộ, nhận thấy có đủ cơ sở về các tình tiết hợp lý

về hành hành vi có thể coi là tội phạm thì cơ quan FBI mới thực hiện quátrình điều tra đầy đủ, đồng thời phải xây dựng “hồ

Trang 22

G sơ vụ án” Tuy nhiên, có một điểm khác biệt là những chứng cứ, tài liệu ở hồ

sơ vụ án trong quá trình điều tra chỉ là “bằng chứng tiềm năng” – tức làchừng nào nó còn chưa được thẩm phán xét xử chính thức chấp nhận, thì nócòn chưa được coi là bằng chứng11

a Truy tố:

H.

a Ở giai đoạn này, công tố viên sẽ xem lại báo cáo truy tố của điều tra viêncùng với các file đính kèm để quyết định xem việc truy cứu trách nhiệmhình sự có cơ sở hay không

b Về cơ bản, giai đoạn này chủ yếu xem lại những tài liệu, chứng cứ để xácđịnh xem, có tiếp tục chuyển hồ sơ vụ án sang tòa án để chuẩn bị xét xửhay không

I Giai đoạn xét xử

J.

a Ở mô hình này vẫn bao gồm các cấp xét xử: sơ thẩm, phúc thẩm, giámđốc thẩm với các bên đóng vai trò chính trong giai đoạn này là công tốviên, luật sư bào chữa, bị can và thẩm phán đứng giữa để phán xét tínhđúng sai giữa các bên

K Về cơ bản, mô hình Tố tụng hình sự của Hoa Kỳ là đặc trưng cho mô hình tố

tụng hình sự tranh tụng Do vậy, với giai đoạn tố tụng, mặc dù cũng đượcchia một cách tương đối thành các giai đoạn, nhưng hầu hết không rõ ràng,

mà cơ bản chỉ có trước xét xử và xét xử Từng giai đoạn cũng không đượcquy định rõ ràng cụ thể trong Bộ luật tố tụng hình sự, nhưng trong quá trìnhthực hiện thì cơ bản vẫn được thực hiện một cách tuần tự như phần trình bày

Trang 23

0 Mô hình tố tụng tranh tụng được xây dựng và vận hành trên cơ sở ápdụng triệt để nguyên tắc tranh tụng Ba chức năng: buộc tội, gỡ tội vàxét xử kết hợp, thống nhất với nhau, bảo đảm cho việc giải quyết vụ ánđược khách quan hơn Chức năng này tồn tại vì sự có mặt, vận độngcủa chức năng kia Thiếu một trong ba chức năng nêu trên, tranh tụngtrong TTHS sẽ không còn đầy đủ ý nghĩa của nó Tuy vậy, các chứcnăng này không đồng thời cùng xuất hiện mà chức năng xét xử cóphần xuất hiện muộn hơn hai chức năng còn lại, điều này có thể hiểu

rõ hơn khi tiến hành bắt giữ một chủ thể với tư cách bị can thì lúc đó

sẽ xuất hiện chức năng buộc tội và chức năng gỡ tội Hai chức năngnày luôn luôn đối lập nhau, tạo thành hai bên tham gia tố tụng trongmột vụ án Hình sự Từ đó sẽ hình thành nên chức năng xét xử của Tòa

Án12

1 Bên buộc tội trong mô hình này bao gồm các chủ thể Cơ quan điều tra

và Điều tra viên, Viện công tố hay Viện kiểm sát, Công tố viên hayKiểm sát viên, người bị hại, nguyên đơn dân sự và người đại diện hợppháp (người bảo vệ quyền lợi) của họ; Bên gỡ tội bao gồm các chủ thểthực hiện chức năng bào chữa bao gồm người bị cáo buộc phạm tội, bịcan, bị cáo, người bị kết án, người bào chữa, bị đơn dân sự và ngườiđại diện hợp pháp (người bảo vệ quyền lợi) của họ

2 Trách nhiệm đưa ra chứng cứ ở mô hình này thuộc về các bên: bênbuộc tội (với đại diện là cơ quan thực hiện chức năng công tố) và bên

gỡ tội (bên bào chữa có trách nhiệm chứng minh mình vô tội), các bên

có sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ với nhau, không ai có quyền lựchơn ai Mọi thông tin thu được trong quá trình điều tra đều chưa đượcxem xét cho đến khi được trình bày trước tòa Hình thức tố tụng nàydựa trên quan điểm cho rằng, tố tụng là giông như một cuộc “đấu trí”tại Tòa án giữa một bên là Nhà nước (thông qua đại diện là cơ quanCông tố)

v.

Trang 24

vi. 12 Nguyễn Đức Mai, “Đặc điểm của mô hình tố tụng tranh tụng và phương hướng hoàn thiện mô

hình tố tụng hình sự ở Việt Nam (Kỳ 1)”, Trang thông tin khoa học Đại học Kiểm sát Truy cập tại

link: http://tks.edu.vn/thong-tin-khoa- hoc/chi-tiet/79/296

Trang 25

vii và một bên là công dân bị nghi thực hiện tội phạm; mà đã là cuộc tranh

đấu thì hai bên đều được sử dụng các quyền và nghĩa vụ pháp lý nhưnhau trong việc thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ, phân tích vàđưa ra các kết luận đối với những việc cụ thể.13

0 Kết quả xét xử vụ án tại phiên toà "ai thắng, ai thua” chủ yếu phụthuộc vào trình độ, năng lực chuyên môn và nghệ thuật của người thựchiện chức năng công tố và của luật sư bào chữa, qua đó ta có thể thấyvai trò quan trọng chủ động của Công tố viên và Luật sư bào chữa Tòa

Án chỉ đóng vai trò là trọng tài phân xử giữa các bên, là chủ thể duynhất thực hiện chức năng xét xử thông qua Hội đồng xét xử, Thẩmphán, Bồi thẩm đoàn Thẩm phán giữ vai trò trung lập, họ đứng ngoàimọi cuộc tranh luận và chỉ là người điều khiển phiên tòa, quan sát cácbên tranh luận để đánh giá, xem xét căn cứ dựa trên những gì hai bêncung cấp và tranh cãi với nhau để từ đó rút ra kết luận chứ không thamgia thẩm vấn, điều tra hoặc chỉ tham gia một cách mờ nhạt Như vậy,vai trò của Thẩm phán trở nên thụ động, chức năng xét xử có sự hạnchế

1 Bồi thẩm đoàn như bị tách khỏi phiên tòa, họ chỉ có một nhiệm vụ duynhất là quan sát quá trình tranh cãi gay gắt giữa bên buộc tội và bên gỡtội cho đến khi vào phòng nghị án để quyết định vấn đề có hay không

có tội Khác với chế định Hội thẩm ở một số nước theo mô hình tốtụng thẩm vấn, các nước thuộc hệ thống tố tụng tranh tụng áp dụng chếđịnh bồi thẩm đoàn cho phép những công dân bình thường có sự hiểubiết pháp luật ở mức tối thiểu tham gia xét xử các vụ án hình sự Bồithẩm đoàn chỉ có nhiệm vụ xác định bị cáo có tội hay không có tội, cònviệc áp dụng pháp luật và hình phạt đối với bị cáo thuộc thẩm quyềncủa Thẩm phán

Trang 26

xii. Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 148 (2009.)

Trang 27

xiii chuyên nghiệp14 Địa vị pháp lý của các chủ thể hoạt động tố tụng như

công tố viên, luật sư, thẩm phán, bồi thẩm được chia sẻ quyền lực và

có tính đối trọng chứ không nghiêng hẳn về bên nào đó

0 Khi nhắc tới Tố tụng tranh tụng, ta không thể không nhắc tới mô hìnhTTHS của Hoa Kỳ - mô hình tố tụng tranh tụng điển hình Tòa án xét

xử là người ra quyết định trung lập giữa hai bên tranh tụng (công tốviên và bào chữa) Tòa án không phải là cơ quan buộc tội và cũngkhông có vai trò gì trong quyết định buộc tội của Công tố viên Thẩmphán không nhận và nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi phiên xét xửdiễn ra Tòa án không có quyền ra lệnh cho bồi thẩm đoàn xem xét mộttội danh lớn hơn với tội danh mà công tố viên và đại bồi thẩm đoàn đãbuộc tội cho bị cáo Đối với hoạt động điều tra, Tòa án có vai trò quantrọng trong việc phê chuẩn các lệnh khám xét, bắt giữ, lựa chọn các bồithẩm viên trong đại bồi thẩm đoàn, … nhằm mục đích kiềm chế hoặtđộng điều tra, chống sự lạm quyền và ngăn ngừa những vi phạm có thểxảy ra từ phía cơ quan điều tra đối với các quyền tố tụng của người bịtình nghi phạm tội, tuy nhiên Tòa án lại không có thẩm quyền yêu cầuđiều tra tiếp hoặc trả lại vụ án cho cơ quan điều tra hoặc cho đại bồithẩm đoàn để điều tra bổ sung Hơn nữa, không phải Thẩm phán mà làcác bên sẽ là người quyết định nhân chứng nào sẽ được triệu tập trướcTòa Các quy định này được đặt ra với mục đích nhằm đảm bảo Thẩmphán thưc sự là những trọng tài trung lập và khách quan khi phiên xửdiễn ra15

1 Cơ quan Công tố: Công tố viên ở Mỹ có một quyền lực hết sức quantrọng, đó là quyền tùy nghi truy tố, là người có quyền lực nhất trong hệthống tư pháp hình sự Các công tố viên thực hiện quyền tự quyếtkhông bị ràng buộc, có quyền

Trang 28

trình đối tác tư pháp.

Trang 29

xix quyết định ai là người bị truy tố, đưa ra những lời buộc tội nào, khi nào

thì bỏ qua lời buộc tội, có thực hiện việc mặc cả thú tội hay không vàcần phải tổ chức thực hiện việc truy tố như thế nào Các công tố viênthực hiện quyền tự quyết khi ra quyết định trong ba lĩnh vực chủ yếulà: Quyết định đưa ra lời buộc tội (Nếu công tố viên quyết định truy tố

vụ việc ra Toà thì họ có trách nhiệm buộc tội gì, bao nhiêu tội và mức

độ nghiêm trọng của tội phạm Quyết định truy tố của công tố viên cóảnh hưởng quan trọng đối với hình phạt mà kẻ phạm tội có thể bị Toà

án tuyên phạt nếu bị kết tội Công tố viên Hoa Kỳ còn thực thi quyềnhạn đáng kể về các vấn đề hình phạt thông qua quyết định buộc tội),quyết định đình chỉ vụ án (bãi bỏ lời buộc tội khi xét thấy việc điều tracủa cảnh sát không đúng thủ tục hoặc chứng cứ yếu, không đủ để buộctội hoặc có khả năng Toà án sẽ không chấp nhận các chứng cứ đó.) vàmặc cả thú tội Như vậy, trong mô hình TTHS của Hoa Kỳ, Công tốviên không có bất kỳ một quyền hạn giám sát nào đối với các cơ quanđiều tra, tòa án hay bất cứ cơ quan nào khác, chức năng duy nhất củaVăn phòng Công tố là truy tố16

xx Nguyên tắc:

xxi.

0 Ở mô hình tố tụng tranh tụng, chức năng tranh tụng phát sinh trên cơ

sở tôn trọng lợi ích tư của các bên tham gia tố tụng Chức năng này đặt

ra các yêu cầu về tính tùy nghi truy tố, cho phép xem xét tính hợp lýcủa việc truy tố và xử lý trách nhiệm hình sự coi kết luận của Tòa án làchân lý cuối cùng của vụ án hình sự (sự thật hình thức), thừa nhận suyđoán vô tội

1 Trong quan điểm của mình đối với vụ kiện “liên quan tới vai trò củatòa án trong hệ thống tranh tụng” (Vụ Greenlaw kiện Hoa Kỳ), Tòa Tốicao đã nhấn mạnh tới đặc điểm tranh tụng của Mô hình Tố tụng hình

sự Hoa Kỳ rằng: hệ thống

Trang 30

xxii. 16“Mô hình tố tụng Hợp chủng quốc Hoa Kỳ”, Trang thông tin khoa học Đại học Kiểm sát Truy

cập tại link: http://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/79/152

Trang 31

xxiii tranh tụng của Hoa Kỳ phải tuân theo nguyên tắc các bên trình bày,

trao cho Tòa án vai trò trọng tài xem xét vấn đề mà các bên trình bày.Tòa án Tối cao đã khẳng định một lý luận bao trùm lên hệ thống phápluật tố tụng hình sự, đó là: hệ thống tranh tụng Hoa Kỳ được thiết kếtrên cơ sở các bên là người biết rõ điều gì là tốt nhất cho họ, và họ chịutrách nhiệm về việc gia tăng tình tiết và lý lẽ biện hộ để mình đượcgiảm nhẹ Thấy rằng, quan điểm này đặt ra những vấn đề cơ bản cùngnhững nguyên tắc tương ứng sau:

L Các bên tham gia tố tụng phải được tiếp cận, làm gia tăng thêm cácthông tin, chứng cứ có lợi và loại trừ các chứng cứ không hợp pháp

M Các bên tranh tụng tại tòa dựa trên các thông tin, bằng chứng được tìm

ra hợp pháp và bình đẳng Tòa án đóng vai trò trọng tài phân định dựa trên nộidung tranh tụng tại phiên xét xử

N Nghĩa vụ của bên bị đơn là chứng minh rằng mình không có tội hoặcgiảm nhẹ tội, dẫn đến nghĩa vụ chứng minh thuộc về bên công tố Kết quả của quátrình tố tụng hình sự đúng pháp luật, bị cáo chỉ được coi là có tội khi chịu một bản

án của đã có hiệu lực Tòa án vì đã bị chứng minh là có tội bởi bên công tố

a Mô hình tố tụng đan xen:

i Mục tiêu:

ii.

0 Nếu có sự kết hợp giữa các mối quan hệ trên thì có thể đó là mô hình

tố tụng xen kẽ Xoay quanh hai mục tiêu trên, đối với mô hình tố tụngxen kẽ, có thể nói, hai mục đích trên được đặt ngang nhau và khó đểnói rằng, đâu mới là mục tiêu chính và được đề cao hơn yếu tố còn lại

1 Mô hình tố tụng xen kẽ cũng có thể đặt ra cho mình những nguyên tắcriêng, nhất định, để đảm bảo rằng các cơ quan tiến hành tố tụng vẫnthực hiện đầy đủ

Trang 32

iii những nhiệm vụ của mình để tìm được sự thật xoay quanh vụ việc

nhưng cũng luôn phải đảm bảo, không được xâm hại đến bất cứ quyền

và lợi ích hợp pháp của các cá nhân có liên quan

0 Về mô hình tố tụng xen kẽ, mô hình tố tụng hình sự của Nga có thể coi

là một điển hình của mô hình tố tụng xen kẽ sau nhiều năm biến độngcủa pháp luật tố tụng hình sự tại Nga

1 Theo Bộ luật TTHS của Nga, cả mục đích công bằng và hạn chế tộiphạm đều được nhấn mạnh ngang nhau Điều 6 Bộ luật BLTTHS củaNga quy định xét xử hình sự nhằm 2 mục đích chính:

O Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân và các tổ chức bị thiệthại bởi tội phạm

P Bảo vệ các cá nhân khỏi việc buộc tội trái pháp luật và vô căn cứ, xâmphạm hoặc hạn chế các quyền tự do cơ bản của họ17

Q Sự không phân định giữa 2 mục tiêu trên chính là yếu tố tạo nên mô hình tố

tụng hình sự xen kẽ của Nga

i Giai đoạn:

ii.

0 Hiểu một cách đơn giản, mô hình tố tụng xen kẽ là sự kết hợp của hai

mô hình tố tụng thẩm vấn và tố tụng tranh tụng Nói về mô hình đanxen, mô hình tố tụng thẩm vấn thể hiện ở chỗ các giai đoạn được quyđịnh rất rõ ràng, buộc các bên tham gia phải thực hiện theo đúng nhữngquy định đó, chỉ cần có bất kỳ giai đoạn nào bị bỏ qua cũng sẽ là cơ sởkhiến cho hoạt động giải quyết vụ án bị gián đoạn hoặc tạm dừng.Trong từng giai đoạn, các chức năng, thẩm quyền của từng cá

iii.

iv.

v. 17Tô Văn Hòa chủ biên (2012), “Những mô hình tố tụng hình sự điển hình trên thế giới”, Chương

trình đối tác tư pháp Tr.147

Trang 33

vi nhân, tổ chức tham gia vào quá trình tố tụng lại mang một vài nét của

tố tụng tranh tụng Cụ thể như ở ví dụ sau:

0 Tại Pháp, quá trình xét xử được chia thành 3 giai đoạn:

vii.

0 1/ Giai đoạn điều tra; 2/ Giai đoạn truy tố; 3/ Giai đoạn

xét xử Trong các giai đoạn lại có nhiều yếu tố của tranhtụng:

1 Luật sư có quyền tham gia ngay từ giai đoạn đầu tiên của quá trình tốtụng, tức là ngay khi bị can bị bắt giữ, bị tạm giam Bị can có quyềngiữ im lặng cho đến khi có mặt luật sư

2 Trong giai đoạn điều tra, các bên có quyền yêu cầu Thẩm phán điều trathực hiện một số hoạt động mà họ thấy cần thiết Thẩm phán điều trakhông còn quyền cho tạm giam bị can, tức là không còn chức năng tàiphán này như trước đây Một loại Thẩm phán mới (phụ trách việc tạmgiam và trả tự do bị can) đã được lập ra để thực hiện chức năng tàiphán này

3 Trong quá trình xét xử vụ án tại phiên toà, Công tố viên và các luật sư

có quyền trực tiếp đặt câu hỏi cho các bên đương sự mà không cần xinphép chủ tọa

4 Các bên có quyền đề nghị triệu tập ra toà một số lượng người làmchứng không hạn chế18

5 Nói tóm lại, có thể nói, mô hình tố tụng hình sự của Pháp là một điểnhình cho mình tố tụng hình sự đan xen trên Thế giới

xiii. 18 Nguyễn Đức Mai, “Đặc điểm của mô hình tố tụng tranh tụng và phương hướng hoàn thiện mô

hình tố tụng hình sự ở Việt Nam (Kỳ 1)”, Trang thông tin khoa học Đại học Kiểm sát Truy cập tại

link: http://tks.edu.vn/thong-tin-khoa- hoc/chi-tiet/79/296

Trang 34

0 Nếu có những mô hình không có sự phân định rạch ròi về địa vị pháp

lí của các chủ thể là thẩm vấn hay tranh tụng thì đó chính là mô hình tốtụng xen kẽ Đây là mô hình có sự pha trộn, lai tạp giữa hai mô hìnhtrên Thường thì vai trò, địa vị pháp lý của từng chủ thể sẽ có sự thayđổi tùy vào hoàn cảnh của từng quốc gia, tùy vào truyền thống vănhóa, kinh tế, xã hội của từng nước sẽ có sự đan xen các yếu tố của cảhai mô hình tranh tụng và thẩm vấn để hoàn thiện hơn hệ thống phápluật của quốc gia đó

1 Đại diện cho mô hình tố tụng này không thể không nhắc tới mô hình tốtụng hình sự của CHLB Nga TTHS Liên bang Nga vừa có yếu tố củatranh tụng, vừa mang đặc điểm của TTHS thẩm vấn BLTTHS 2001cho thấy sự chuyển đổi mang tính cách mạng và cơ bản của mô hình tưpháp hình sự Nga từ một hệ thống tố tụng thẩm vấn có xu hướng thiên

về bên công tố sang hệ thống tranh tụng dựa trên cơ sở tính bình đẳng

và công bằng, bảo vệ các quyền cá nhân và trao quyền cho các bồithẩm viên là những công dân bình thường có quyền quyết định việc cótội hay vô tội trong những vụ án hình sự nghiêm trọng Vai trò của cơquan tiến hành tố tụng và của các bên trong chứng minh tội phạm cũngthay đổi theo hướng bị cáo và Công tố viên tham gia một cách bìnhđẳng vào tiến trình tố tụng, Thẩm phán từ vai trò tích cực trong việcbuộc tội chuyển sang vai trò là một trọng tài trung lập Nếu như toàn

bộ hoạt động TTHS của mô hình Xô viết được cấu trúc theo các giaiđoạn tố tụng nối tiếp nhau thì hoạt động TTHS theo mô hình của nướcNga mới được chia làm hai thủ tục chính: Thủ tục TTHS tiền xét xử vàthủ tục TTHS ở Tòa án

2 Tòa án: trong mô hình TTHS của Nga, tòa án có vai trò đặc biệt, vừa làchủ thể duy nhất đảm nhiệm chức năng xét xử (tòa án không thực hiệncông việc gỡ tội hay truy tố mà tạo điều kiện cần thiết để các bên thựchiện chức năng buộc tội và gỡ tội một cách riêng biệt), vừa thực hiện

Trang 35

nhiệm vụ giám sát hoạt động tố tụng của

Trang 36

xiv các chủ thể trong thủ tục tiền xét xử, toàn bộ kết quả của giai đoạn điều

tra chỉ có tính chất sơ bộ, không có tính bắt buộc đối với Tòa án vàTòa án mở rộng hoạt động giám sát của mình trong thủ tục tiền xét xử.Xuất phát từ nhận thức về chức năng xét xử của tòa án trên cơ sởnguyên tắc phân chia quyền lực, trong đó quyền lực tư pháp là mộttrong ba nhánh quyền lực của nhà nước độc lập có vai trò kiềm chế,cân bằng sức mạnh giữa quyền lực lập pháp và quyền lực hành pháp,trong đó giám sát của tòa án cũng là một trong những cách thức thưchiện chức năng xét xử của tòa án, do vậy việc mở rộng vai trò giám sátcủa Tòa án ở thủ tục tiền xét xử được đánh giá như là nhân tố tích cựcnhằm bảo đảm pháp chế và hiệu quả của hoạt động tố tụng hình sự Ởphiên tòa sơ thẩm, Tòa án có vai trò tích cực, chủ động và thực hiệnnhiều thẩm quyền thuộc chức năng buộc tội như: Nghiên cứu trước hồ

sơ vụ án, xem xét chứng cứ do cơ quan điều tra thu thập đã đầy đủ đểđưa vụ án ra xét xử hay chưa, Viện kiểm sát có để lọt tội hay không, tộidanh truy tố có phù hợp không… thực chất là Tòa án đã đánh giáchứng cứ, đã hình thành niềm tin nội tâm của mình về việc bị cáo cótội hay không có tội trước khi xét xử Tòa án có quyền trả hồ sơ choViện kiểm sát để điều tra bổ sung Khi xét xử, Tòa án có quyền khởi tố

vụ án khi cho rằng Viện kiểm sát để lọt tội phạm, có quyền tiếp tục xét

xừ theo tự chung khi Viện kiểm sát đã rút toàn bộ quyết định truy tố.Tòa án thực hiện việc xét hỏi đầu tiên và có vai trò là người xét hỏichính trong thi xét hỏi tại phiên tòa (Trước khi ban hành Bộ luật tốtụng hình sự năm 2001, các Thẩm phán không được đánh giá cao về vịtrí, vai trò của họ trong TTHS và có mức lương thấp Họ cùng xét xửtrong một hội đồng với hai Thẩm phán không chuyên khác gọi là Hộithẩm nhân dân Theo Bộ luật năm 2001, sự độc lập và thẩm quyền củacác Thẩm phán được tăng cường một cách đáng kể Thẩm phán cótrách nhiệm giám sát các hoạt động điều tra và bảo vệ các quyền cá

Trang 37

nhân Bên cạnh đó, vai trò của Thẩm phán trung lập hơn trong tiếntrình tranh tụng trước Tòa Bộ luật tố tụng hình sự

Ngày đăng: 14/08/2022, 19:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w