Một số nghiên cứu tổng quan hệ thống đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư vú .... Mỗi bộ công cụ được thiết kế gồm nhiều câu hỏi đi sâu vào chi tiết một số tiêu chí đại di
Trang 1NHÂN UNG THƯ VÚ KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
HÀ NỘI - 2022
Trang 2BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
BÙI PHƯƠNG THẢO
1701522
TỔNG QUAN HỆ THỐNG VỀ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA BỆNH
NHÂN UNG THƯ VÚ KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
Trang 3LỜI CẢM ƠN Trong suốt quá trình học tập và hoàn thiện khóa luận với đề tài “Tổng quan hệ thống về đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư vú”, em đã nhận
được nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của quý thầy cô, nhà trường, gia đình và bạn bè
Đầu tiên, với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin gửi lời cảm ơn chân thành
tới cô TS Trần Thị Lan Anh đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em rất nhiều trong quá
trình học tập cũng như hoàn thành KLTN này
Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn thầy ThS Dương Viết Tuấn đã trực tiếp
hướng dẫn và tận tình chỉ bảo em tìm ra hướng nghiên cứu, tìm kiếm tài liệu, xử lý và phân tích số liệu, giải quyết vấn đề để có thể hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình tốt nhất
Tiếp theo, em xin cảm ơn các thầy giáo, cô giáo Bộ môn Quản lý & Kinh tế Dược đã truyền cảm hứng, tạo mọi điều kiện thuận lợi và thời gian giúp em thực hiện
đề tài tại bộ môn
Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, phòng Đào tạo, các
phòng ban khác và các thầy cô giáo trường Đại học Dược Hà Nội đã dạy dỗ, chỉ bảo trong quá trình em học tập tại trường
Lời cuối cùng, em xin cảm ơn gia đình, các anh chị, bạn bè, những người luôn bên cạnh cổ vũ, động viên em trong cuộc sống, học tập và thực hiện khóa luận tốt nghiệp
Hà Nội, ngày 27 tháng 06 năm 2022
Sinh viên
Bùi Phương Thảo
Trang 4DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 2
1.1 Khái quát về ung thư vú 2
1.1.1 Khái niệm, triệu chứng, các giai đoạn bệnh và điều trị 2
1.1.2 Dịch tễ học 4
1.1.3 Gánh nặng bệnh tật 5
1.2 Khái quát về chất lượng cuộc sống 7
1.2.1 Chất lượng cuộc sống và chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe 7
1.2.2 Mô hình các khía cạnh của chất lượng cuộc sống và mô hình Ferrell về CLCS 8 1.2.3 Bộ công cụ đánh giá chất lượng cuộc sống 9
1.2.4 Bộ công cụ đánh giá chất lượng cuộc sống và mô hình Ferrell về CLCS để đánh giá CLCS của bệnh nhân ung thư Vú 11
1.2.5 Một số nghiên cứu tổng quan hệ thống đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư vú 12
1.3 Khái quát về phương pháp tổng quan 14
1.3.1 Định nghĩa và ứng dụng của tổng quan hệ thống 14
1.3.2 Các bước tiến hành tổng quan hệ thống 15
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1 Đối tượng nghiên cứu 21
2.2 Phương pháp nghiên cứu 21
2.2.1 Phương pháp tìm kiếm tài liệu 21
2.2.2 Tiêu chuẩn và phương pháp lựa chọn/ loại trừ 22
2.2.3 Phương pháp sàng lọc 24
2.2.4 Trích xuất dữ liệu 24
2.2.5 Đánh giá chất lượng các bài báo được chọn 24
2.2.6 Xử lý số liệu 25
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 26
3.1 Lựa chọn nghiên cứu đưa vào tổng quan hệ thống 26
3.2 Đánh giá chất lượng các nghiên cứu 27
3.3 Tổng quan đánh giá CLCS trong các nghiên cứu 28
Trang 53.3.1 Đặc điểm các nghiên cứu đưa vào tổng quan hệ thống 28
3.3.2 Đặc điểm của bệnh nhân ung thư vú trong các nghiên cứu 29
3.3.3 Bộ công cụ đo lường chất lượng cuộc sống 29
3.3.4 Các khía cạnh của chất lượng cuộc sống 30
3.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới CLCS trong các nghiên cứu 32
3.4.1 Các yếu tố nhân khẩu học 32
3.4.2 Các yếu tố thuộc về điều trị 33
3.4.3 Các biện pháp hỗ trợ can thiệp 36
3.4.4 Thuốc bổ sung và thay thế 38
3.4.5 Các yếu tố ảnh hưởng khác 39
BÀN LUẬN 41
Bàn luận về các nghiên cứu đánh giá CLCS đưa vào tổng quan 41
Bàn luận về các nghiên cứu xác định các yếu tố ảnh hưởng tới CLCS của bệnh nhân UTV đưa vào tổng quan 44
Bàn luận về ưu điểm và hạn chế của đề tài 45
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 47
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
HRQOL Health related quality of life Chất lượng cuộc sống liên quan
tới sức khỏe
EORTC European Organization for
Research and Treatment of Cancer
Tổ chức Nghiên cứu và điều trị ung thư Châu Âu
FACT Functional Assessment of
FACT B Functional Assessment of
Cancer Therapy Breast
Thang đánh giá chức năng của liệu pháp điều trị ung thư vú
FACT G Functional Assessment of
Cancer Therapy General
Thang đánh giá chức năng của liệu pháp điều trị bệnh ung thư
EORTC BR 23 European Organization for
Research and Treatment of Cancer Breast
Tổ chức nghiên cứu và điều trị ung thư Châu Âu – Ung thư vú
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Một số nghiên cứu tổng quan hệ thống về CLCS của BN UTV…… 12
Bảng 2.2: Câu hỏi nghiên cứu PICO(T) 22
Bảng 3.3: Địa điểm và thời gian xuất bản các NC 28
Bảng 3.4: Các bộ công cụ được sử dụng trong các nghiên cứu 30
Bảng 3.5: Các khía cạnh CLCS trong các NC theo mô hình Ferrell 31
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ
Hình 1.1: Số ca mắc mới theo từng loại ung thư trên thế giới năm 2020 5
Hình 1.2: Các khía cạnh CLCS trong mô hình Ferrell 9
Hình 1.3: Mô hình Ferrell bổ sung về CLCS của bệnh nhân ung thư 12
Hình 1.4: Các bước tiến hành tổng quan hệ thống 16
Hình 3.5: Kết quả tìm kiếm và sàng lọc 27
Hình 3.6: Đánh giá chất lượng nghiên cứu đưa vào tổng quan 28
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu và tỷ lệ đang gia tăng nhanh chóng trong những năm gần đây [55] Dữ liệu mới nhất vào năm 2020 của GLOBOCAN (Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Quốc tế) [55] ghi nhận khoảng 19,3 triệu trường hợp ung thư mới mắc và gần 10 triệu trường hợp tử vong do ung thư Trong đó, châu Á chiếm một nửa số trường hợp mắc bệnh và 58,3% số ca tử vong Trong các bệnh ung thư ở nữ giới, ung thư vú (UTV) là phổ biến nhất [29], [49], [54] xảy ra ở mọi quốc gia và ở mọi lứa tuổi Cụ thể, trong giai đoạn 2015 - 2020, có đến 7,8 triệu phụ nữ được chẩn đoán mắc UTV và tỷ lệ này đang tăng nhanh ở châu Á, bao gồm cả các nước đang phát triển và các nước có thu nhập cao như Nhật Bản, Hàn Quốc [55]
Chất lượng cuộc sống (CLCS) là một mục tiêu quan trọng trong quá trình điều trị ung thư nói chung cũng như UTV nói riêng [37] Các nghiên cứu đều chỉ ra rằng CLCS của BN UTV thấp hơn so với dân số chung, đặc biệt ở khía cạnh chức năng vai trò, nhận thức, xã hội và tình trạng sức khỏe tổng quát [32], [33] Bên cạnh đó, việc cải thiện CLCS của BN UTV phụ thuộc vào các yếu tố liên quan đến nhân khẩu học, dịch
tễ và điều trị [23]
Trong bối cảnh trên, nhiều nghiên cứu (NC) đã tiến hành đánh giá CLCS và thực hiện tổng quan hệ thống trên bệnh nhân UTV Tuy nhiên, các NC chưa tập trung đánh giá CLCS toàn diện theo một mô hình cụ thể, dẫn đến CLCS của bệnh nhân UTV chưa được nhìn nhận rõ ràng ở tất cả khía cạnh Cụ thể là, một số NC chỉ đánh giá CLCS trên phụ nữ mắc UTV ở khu vực Mỹ Latin và Iran [9] [16]; hoặc chỉ tập trung đánh giá các yếu tố ảnh hưởng tới CLCS (NC tiến hành ở châu Á của Peh Joo Ho [23]); hoặc chỉ đánh giá CLCS trong 2 năm đầu tiên (kể từ khi được chẩn đoán) [13]; còn NC của Seyed – Mehdi Hashemi [21] lại chỉ đánh giá CLCS của bệnh nhân UTV giai đoạn cuối
Để góp phần vào việc đánh giá CLCS của bệnh nhân UTV, đề tài: “Tổng quan
hệ thống về đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư vú” được tiến
hành với hai mục tiêu sau:
1 Tổng hợp các nghiên cứu đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư
vú
2 Xác định các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư
vú
Trang 10CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1 Khái quát về ung thư vú
1.1.1 Khái niệm, triệu chứng, các giai đoạn bệnh và điều trị
Khái niệm
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), UTV phát sinh trong các tế bào niêm mạc (biểu mô) của ống dẫn (85%) hoặc tiểu thùy (15%) trong mô tuyến của vú Ban đầu, khối u được giới hạn trong ống dẫn hoặc tiểu thùy (tại chỗ), nơi nó thường không gây
ra triệu chứng và có khả năng lây lan (di căn) tối thiểu Theo thời gian, những khối u tại chỗ này có thể tiến triển và xâm lấn các mô vú xung quanh (ung thư vú xâm lấn), sau
đó di căn đến các hạch bạch huyết lân cận (di căn vùng) hoặc đến các cơ quan khác trong
cơ thể (di căn xa)
Triệu chứng
Nhìn chung, các triệu chứng của ung thư vú bao gồm:
- Một khối u hoặc dày lên ở vú
- Sự thay đổi về kích thước, hình dạng hoặc trạng thái vú
- Lúm đồng tiền, mẩn đỏ, rỗ hoặc các thay đổi khác trên da
- Thay đổi hình dạng núm vú hoặc thay đổi vùng da xung quanh núm vú (quầng vú)
- Tiết dịch núm vú bất thường
Ung thư vú có thể biểu hiện theo nhiều cách khác nhau, vì vậy phụ nữ có các bất thường dai dẳng (thường kéo dài hơn một tháng) nên trải qua các xét nghiệm bao gồm chụp ảnh vú và trong một số trường hợp, lấy mẫu mô (sinh thiết) để xác định xem khối
u là ác tính (ung thư) hay lành tính
Ung thư tiến triển có thể ăn mòn qua da để gây ra các vết loét hở (loét) nhưng không nhất thiết gây đau đớn Phụ nữ có vết thương ở vú không lành nên được thực hiện sinh thiết Ung thư vú có thể lây lan sang các khu vực khác của cơ thể và gây ra các triệu chứng khác Thông thường, vị trí lây lan có thể phát hiện đầu tiên phổ biến nhất là các hạch bạch huyết dưới cánh tay Theo thời gian, các tế bào ung thư có thể lây lan đến các
cơ quan khác bao gồm phổi, gan, não và xương Khi khối u đến những vị trí này, các triệu chứng mới liên quan đến ung thư xuất hiện như đau xương hoặc đau đầu
Các giai đoạn bệnh
Các giai đoạn của UTV phụ thuộc vào kích thước, loại khối u và lượng tế bào
khối u đã thâm nhập vào các mô vú Mô tả về các giai đoạn khối u đó là: [5]
Giai đoạn 0: là giai đoạn không xâm lấn của khối u Cả tế bào ung thư và không
ung thư chỉ nằm trong ống dẫn hoặc tiểu thùy - nơi khối u bắt đầu phát triển mà không xâm lấn vào các mô vú lân cận Đây còn được gọi là ung thư vú tại chỗ
Trang 11Giai đoạn 1: ung thư biểu mô vú xâm lấn và có thể xâm lấn vi thể trong giai đoạn
này Có hai giai đoạn là 1A và 1B 1A mô tả khối u có kích thước lên đến 2 cm và không
có hạch bạch huyết nào liên quan đến nó; 1B mô tả một nhóm nhỏ tế bào ung thư lớn hơn 0,2 mm xuất hiện trong hạch bạch huyết
Giai đoạn 2: cũng có hai giai đoạn là 2A và 2B 2A mô tả khối u được tìm thấy
trong các hạch bạch huyết ở nách hoặc trong các hạch gác - hạch đầu tiên mà tế bào ung thư có khả năng di căn từ khối u nguyên phát, nhưng không tìm thấy khối u ở vú Khối
u có thể nhỏ hơn hoặc lớn hơn 2 cm nhưng không quá 5 cm; 2B mô tả khối u có thể lớn hơn 5 cm nhưng không thể di chuyển đến các hạch bạch huyết ở nách
Ung thư vú giai đoạn đầu: kích thước khối u nhỏ hơn 5 cm và tế bào ung thư chưa lan đến quá 3 hạch bạch huyết Bao gồm: 1A, 1B và 2A
Giai đoạn 3: được chia thành 3 giai đoạn là 3A, 3B và 3C Trong đó, ở giai đoạn
3A: không tìm thấy khối u ở vú nhưng có thể tìm thấy trong hạch bạch huyết ở nách hoặc trong các hạch bạch huyết; giai đoạn 3B: khối u có thể có kích thước bất kỳ nhưng
đã gây sưng hoặc loét trên da của vú và có thể đã lan đến 9 hạch bạch huyết ở nách hoặc đến các hạch bạch huyết trọng điểm (UTV dạng viêm: da vú đỏ, ấm và sưng lên); giai đoạn 3C mô tả sự lan rộng của khối u lên đến 10 hoặc hơn 10 hạch bạch huyết ở nách
và nó cũng liên quan đến các hạch bạch huyết trên và dưới xương đòn
Giai đoạn 4: là giai đoạn tiến triển và di căn của ung thư, mô tả sự lây lan khối u
sang các cơ quan khác của cơ thể như phổi, xương, não gan,… Đây được gọi là ung thư
vú di căn
Điều trị
Về mặt lâm sàng, mục tiêu của điều trị ung thư vú là loại bỏ tất cả các khối u có thể nhìn thấy được và quản lý bệnh về lâu dài [52] Điều trị ung thư vú có thể mang lại hiệu quả cao (đạt xác suất sống sót là 90% hoặc cao hơn), đặc biệt là khi bệnh được chẩn đoán xác định sớm Hiệu quả của các liệu pháp điều trị UTV phụ thuộc vào toàn bộ quá trình điều trị Điều trị một phần ít có khả năng dẫn đến một kết quả tích cực Tỷ lệ sống
5 năm của bệnh nhân UTV ngày càng được cải thiện Thống kê tại Hoa kỳ năm 2002: giai đoạn 0: 100%; giai đoạn I: 88%; giai đoạn II: 74-81%; giai đoạn III: 41-67%; giai đoạn IV: 15% Đến năm 2012, tỷ lệ này là: giai đoạn 0 và I: 100%; giai đoạn II: 93%; giai đoạn III: 72%; giai đoạn IV: 22% [1]
2001-Điều trị thường bao gồm phẫu thuật và xạ trị để kiểm soát bệnh ở vú, hạch bạch huyết và các khu vực xung quanh (kiểm soát vùng); liệu pháp toàn thân (thuốc chống ung thư được đưa qua đường uống hoặc tiêm tĩnh mạch) để điều trị và / hoặc giảm nguy
cơ mắc bệnh ung thư lan rộng (di căn) Thuốc chống ung thư bao gồm liệu pháp nội tiết (hormone), hóa trị và trong một số trường hợp là liệu pháp sinh học nhắm mục tiêu (kháng thể)
Trang 12Trước đây, tất cả các bệnh nhân ung thư vú đều được điều trị bằng phẫu thuật cắt
bỏ vú (cắt bỏ hoàn toàn vú) Ngày nay, phần lớn có thể được điều trị bằng một thủ thuật nhỏ hơn được gọi là "cắt bỏ khối u" hoặc “cắt bỏ một phần vú”, trong đó chỉ loại bỏ khối u khỏi vú và bệnh nhân được yêu cầu xạ trị vú để giảm thiểu khả năng tái phát ở
vú
Đối với UTV xâm lấn, các hạch bạch huyết được loại bỏ tại thời điểm phẫu thuật Trước đây, bóc tách hoàn toàn hạch bạch huyết ở nách được cho là cần thiết để ngăn chặn sự lây lan của khối u Hiện nay, một thủ thuật hạch bạch huyết nhỏ hơn được gọi
là “sinh thiết nút trọng điểm” được ưa thích hơn vì nó có ít biến chứng hơn Nó sử dụng thuốc nhuộm và / hoặc chất đánh dấu phóng xạ để tìm một vài hạch bạch huyết đầu tiên
mà ung thư có thể lây lan từ vú
Các phương pháp y tế để điều trị UTV, có thể được đưa ra trước phẫu thuật (tân
bổ trợ) hoặc sau phẫu thuật (bổ trợ)
- Ung thư biểu hiện thụ thể estrogen (ER) và / hoặc thụ thể progesterone (PR) (dương tính với hormone) có khả năng đáp ứng với các liệu pháp nội tiết (hormone) như thuốc ức chế tamoxifen hoặc aromatase Những loại thuốc này được dùng bằng đường uống trong vòng 5-10 năm và giảm gần một nửa khả năng tái phát Các liệu pháp nội tiết có thể gây ra các triệu chứng của thời kỳ mãn kinh nhưng nhìn chung được dung nạp tốt
- Ung thư không biểu hiện ER hoặc PR là “âm tính với thụ thể hormone” và cần được điều trị bằng hóa trị liệu trừ khi ung thư rất nhỏ Các phác đồ hóa trị hiện nay rất hiệu quả trong việc giảm nguy cơ lây lan hoặc tái phát của ung thư và thường được áp dụng dưới dạng liệu pháp điều trị ngoại trú Hóa trị ung thư vú nói chung không cần nhập viện nếu không có biến chứng
- Xạ trị đóng vai trò rất quan trọng trong điều trị ung thư vú Với ung thư vú giai đoạn đầu, bức xạ có thể ngăn chặn việc phụ nữ phải phẫu thuật cắt bỏ vú Với ung thư giai đoạn sau, xạ trị có thể làm giảm nguy cơ tái phát ung thư ngay cả khi đã thực hiện phẫu thuật cắt bỏ vú Đối với giai đoạn nặng của ung thư vú, trong một số trường hợp,
xạ trị có thể làm giảm khả năng tử vong do bệnh
1.1.2 Dịch tễ học
So sánh với các loại bệnh ung thư khác về tỷ lệ mới mắc
Năm 2020, có 2,26 triệu ca mắc UTV mới (chiếm 11,7% tổng số ca mắc ung thư mới) Trong đó, UTV nam chiếm khoảng 1% các trường hợp UTV [1] UTV ở phụ nữ
đã vượt qua ung thư phổi, là ung thư được chẩn đoán phổ biến nhất và có tỷ lệ mắc mới cao nhất [55]
Trang 13Hình 1.1: Số ca mắc mới theo từng loại ung thư trên thế giới năm 2020
Thực trạng mắc ung thư vú phân theo các khu vực trên thế giới và châu Á
Ở phụ nữ, UTV chiếm 25% tổng số trường hợp ung thư và 16,67% tổng số trường hợp tử vong do ung thư Do đó, UTV đứng đầu về tỷ lệ mắc ở đại đa số các quốc gia (159 trên 185 quốc gia) và tỷ lệ tử vong ở 110 quốc gia [55]
Từ khoảng năm 2000, tỷ lệ mắc UTV ở một số quốc gia như Canada, Anh, Pháp,
Mỹ đã ổn định hoặc giảm xuống, nguyên nhân có thể là do việc giảm sử dụng hormone mãn kinh hoặc tỷ lệ tham gia sàng lọc UTV đã ổn định Trái lại, tỷ lệ mới mắc ở các khu vực trước đó có nguy cơ thấp như Châu Mỹ Latinh, Châu Phi hay Châu Á (ngay cả các nước có thu nhập cao: Nhật Bản, Hàn Quốc) lại tăng lên nhanh chóng , chủ yếu là do sự gia tăng tình trạng béo phì, ít hoạt động thể chất, chậm sinh đẻ, sinh con ít hơn, thời gian cho con bú ngắn hơn,… [47] [55]
Tại các nước Đông Nam Á, trong giai đoạn 2002 – 2012, tỷ lệ mắc UTV gia tăng
ở Malaysia, Indonesia và Thái Lan lần lượt là 25,6%, 54,4% và 76,5% Đặc biệt, tại Việt Nam, tỷ lệ mới mắc UTV đã tăng lên hơn hai lần trong hai thập kỷ qua, khiến UTV trở thành bệnh ung thư được chẩn đoán thường xuyên nhất ở phụ nữ Việt Nam từ năm 2012 Theo GLOBOCAN, số ca mắc mới UTV năm 2012 ở Việt Nam là 11.067 ca và con số này đã tăng lên 15.229 ca vào năm 2018 và 21.555 ca vào năm 2020 (chiếm tỷ lệ gần 25.8% tổng số ca mắc ung thư)
Trang 14nữ, UTV là nguyên nhân tử vong hàng đầu do ung thư (tỷ lệ tử vong là 16,67%) ở 110 quốc gia Tỷ lệ tử vong do ung thư vú ở nhiều nước thu nhập thấp và trung bình cao hơn đáng kể (17%) so với các nước có thu nhập cao [44] [47] Tỷ lệ tử vong do ung thư vú được chuẩn hóa theo độ tuổi ở các nước có thu nhập cao đã giảm 40% từ những năm
1980 đến 2020 Những nước này đạt được mức giảm tỷ lệ tử vong do UTV là 2-4% mỗi năm Nếu tỷ lệ tử vong hàng năm giảm 2,5% trên toàn thế giới, thì sẽ tránh được 2,5 triệu ca tử vong do UTV giai đoạn 2020 - 2040
Tỷ lệ tử vong ở nhiều nước thu nhập cao như Mỹ, Canada và nhiều nước Châu
Âu đã giảm kể từ những năm 1990 Cụ thể, ở Mỹ trong giai đoạn 2013 – 2018, tỷ lệ tử vong giảm 1% mỗi năm Sự sụt giảm này được cho là do có sàng lọc chụp X - quang tuyến vú, các phương pháp điều trị tốt hơn và nhận thức người bệnh được nâng cao Ngược lại, tỷ lệ tử vong tiếp tục tăng lên ở các quốc gia khu vực Châu Mỹ Latin, Châu Phi và Châu Á Ví dụ, tỷ lệ tử vong tăng liên tục ở Nhật Bản (1.1% mỗi năm trong giai đoạn 1997 - 2011) và Hàn Quốc (2,1% trong giai đoạn 1994 - 2011) Nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng này là do sự thay đổi của các yếu tố nguy cơ cùng với việc hạn chế tiếp cận việc phát hiện và điều trị sớm UTV
Gánh nặng tài chính
Theo một nghiên cứu gần đây của các nhà nghiên cứu tại Đại học Johns Hopkins,
sự suy thoái tài chính do ung thư vú có thể kéo dài nhiều năm sau khi chẩn đoán và gây
ra hậu quả kinh tế tích lũy và tiến triển cho những người sống sót, gia đình và xã hội Gánh nặng tài chính của bệnh UTV rất lớn, ngay cả những người có bảo hiểm y tế đầy
đủ [42] [6]
Một ví dụ cụ thể là chi phí chăm sóc sức khỏe hàng năm bệnh UTV là 20,5 tỷ đô
la Mỹ (USD) vào năm 2020, tăng 32% so với năm 2010 Khi chi phí này tăng lên, bệnh nhân tăng gánh nặng tài chính thông qua việc chia sẻ chi phí dưới hình thức tăng các khoản khấu trừ, đồng thanh toán và phí bảo hiểm Đặc biệt hơn, chi phí dành cho giai đoạn chăm sóc liên tục trong quần thể bệnh nhân ung thư vú cao hơn so với các bệnh ung thư khác vì khả năng sống sót được cải thiện qua tất cả các giai đoạn, đòi hỏi bệnh nhân phải được theo dõi hình ảnh liên tục và điều trị toàn thân tốn kém Ngoài chi phí thanh toán trực tiếp, bệnh nhân còn phải chịu thêm các chi phí gián tiếp, như lương bị mất do thời gian nghỉ làm, chăm sóc trẻ em hoặc chi phí đi lại Vì vậy, khó khăn hoặc căng thẳng tài chính mà bệnh nhân phải trải qua, là một tác dụng phụ của việc chăm sóc UTV có liên quan đến việc giảm chất lượng cuộc sống [42]
Theo một công bố gần đây của Viện ung thư quốc gia Hoa Kỳ đăng tải trên tạp chí uy tín Forbes, chi phí điều trị UTV cao hơn bất kỳ bệnh lý ác tính nào khác Viện cho biết vào năm 2020, chi phí y tế cho bệnh ung thư vú lên tới 16,5 tỷ USD, nhiều hơn ung thư đại trực tràng (14 tỷ USD), ung thư hạch (12 tỷ USD), ung thư phổi (12 tỷ USD)
Trang 15và ung thư tuyến tiền liệt (12 tỷ USD) Có đến hơn một nửa số BN mắc UTV gặp gánh nặng và khó khăn tài chính
1.2 Khái quát về chất lượng cuộc sống
1.2.1 Chất lượng cuộc sống và chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe
Chất lượng cuộc sống (Quality of life - QOL, CLCS) là một khái niệm đa chiều
bao gồm các lĩnh vực liên quan đến thể chất, chức năng, tâm lý/ cảm xúc và phúc lợi xã hội liên quan đến sức khỏe CLCS là một kết quả quan trọng trong quá trình điều trị ung thư vì bệnh nhân ung thư thường bị giảm chất lượng cuộc sống trong quá trình hóa trị [37], [52]
Khái niệm về “Chất lượng cuộc sống” hướng sự chú ý đến “bản thể xã hội và tâm
lý hoàn chỉnh: cá nhân thực hiện các vai trò xã hội, sự nhạy bén về tinh thần, trạng thái
và cảm giác hạnh phúc và mối quan hệ với những người khác CLCS khá trừu tượng và khó có thể đo lường,chẳng hạn rất khó để đo lường kinh nghiệm sống hay ý nghĩa của hành động [27]
Mặc dù CLCS có tầm quan trọng trong y tế và lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, vẫn còn tranh luận về khái niệm và phương pháp luận về ý nghĩa của CLCS và về những gì
nên được đo lường Không có định nghĩa thống nhất về khái niệm; tuy nhiên, Tổ chức
Y tế Thế giới (WHO) đưa ra định nghĩa: “CLCS là những cảm nhận của mỗi cá nhân
về vị trí của họ trong bối cảnh văn hóa mà họ đang sống và hệ thống giá trị có liên quan như mục tiêu, kỳ vọng, tiêu chuẩn và những mối quan tâm khác” Đây là một khái niệm rộng lớn bị tác động bởi sức khỏe thể chất, trạng thái tâm lý, mức độ độc lập, các mối quan hệ xã hội, tín ngưỡng cá nhân và môi trường liên quan [20] [2]
Theo dõi thường xuyên và đo lường CLCS cùng với can thiệp kịp thời để nâng cao cảm xúc của bệnh nhân và các yếu tố liên quan khác (thể chất, tinh thần,…) có thể giúp cải thiện việc giảm triệu chứng, chăm sóc và phục hồi chức năng, do đó cải thiện kết quả lâu dài của bệnh nhân ung thư
Kiến thức về CLCS rất quan trọng để hiểu được hậu quả của bệnh tật và phương pháp điều trị, cũng như để ra quyết định y tế giữa các nhóm tuổi và nền văn hóa CLCS
là một điểm cuối quan trọng trong nghiên cứu y tế và sức khỏe, nghiên cứu CLCS liên quan đến nhiều nhóm mục tiêu và thiết kế nghiên cứu
“Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe” (Health related quality of life
- HRQOL) thường được mô tả là: “Một thuật ngữ đề cập đến các khía cạnh sức khỏe của chất lượng cuộc sống, thường được coi là phản ánh tác động của bệnh tật và điều trị đối với tình trạng khuyết tật và hoạt động hàng ngày; nó cũng được coi là phản ánh tác động của nhận thức sức khỏe đối với khả năng sống một cuộc sống viên mãn của một
cá nhân Tuy nhiên, cụ thể hơn HRQOL là thước đo giá trị được ấn định cho thời gian
Trang 16sống được điều chỉnh bởi sự suy giảm, trạng thái chức năng, nhận thức và cơ hội, do ảnh hưởng bởi bệnh tật, thương tích, điều trị và chính sách ” [20]
Các thuật ngữ sức khỏe HRQOL và QOL thường được sử dụng thay thế cho nhau trong tài liệu, đặc biệt trong lĩnh vực sức khỏe Tuy nhiên, các thuật ngữ này có các định nghĩa và mục đích sử dụng khác nhau, và tồn tại vấn đề là một số nhà nghiên cứu không phân biệt được giữa chúng Vì vậy, hầu hết các nghiên cứu CLCS trong lĩnh vực y tế và sức khỏe đều có những hạn chế về mặt khái niệm và phương pháp luận [20] [4]
1.2.2 Mô hình các khía cạnh của chất lượng cuộc sống và mô hình Ferrell về
CLCS
Bởi vì các khía cạnh đa chiều của CLCS và việc sử dụng thuật ngữ này đa dạng trên nhiều tình trạng sức khỏe và bệnh tật khác nhau, các nhà nghiên cứu đã sử dụng nhiều mô hình CLCS khác nhau để hướng dẫn nghiên cứu của họ CLCS thường được quan niệm là năng động, chủ quan, đa chiều, và các chiều thường bao gồm các yếu tố thể chất, xã hội, tâm lý và tinh thần Hoặc cũng có thể cụ thể hơn như cảm xúc, chức năng nhận thức, tình trạng kinh tế và trí tuệ,…[8] [27] Đối với mỗi khía cạnh, CLCS
có thể được nhìn nhận khác nhau và có sự khác biệt có trọng lượng Những thay đổi trong một khía cạnh có thể ảnh hưởng đến nhận thức trong các khía cạnh khác Chẳng hạn, sự gián đoạn trong lĩnh vực vật lý có thể ảnh hưởng đến tâm lý của cá nhân hoặc phúc lợi xã hội [27]
Một số mô hình CLCS được sử dụng phổ biến đó là: [7]
- Mô hình CLCS của Wilson và Cleary kết hợp hai mô hình: y sinh và khoa học
xã hội; bao gồm năm lĩnh vực chính được xác định rõ ràng: sinh học, triệu chứng, chức năng, nhận thức sức khỏe chung và CLCS tổng thể
- Mô hình CLCS của Ferrans và cộng sự (xuất bản bản sửa đổi mô hình CLCS của Wilson và Cleary)
- Mô hình CLCS của tổ chức y tế thế giới World Health Organization International Classification of Functioning Disability and Health (WHO ICF)
Tuy nhiên điểm chung của các mô hình trên là không tập trung đến bệnh nhân mắc ung thư ở độ tuổi trưởng thành Trong việc đo lường CLCS của những người sống sót sau ung thư, Ferrell và các cộng sự đã trình bày một mô hình bao gồm bốn lĩnh vực
- thể chất, xã hội, tâm lý và tinh thần [27] [14]
Trang 17Hình 1.2: Các khía cạnh CLCS trong mô hình Ferrell
- Sức khỏe thể chất là việc kiểm soát hoặc giảm bớt các triệu chứng, duy trì chức năng và tính độc lập (thể lực, sự mệt mỏi; hoạt động chức năng; giấc ngủ và sự nghỉ ngơi; đau đớn; khả năng sinh sản; sức khỏe thể chất tổng quát)
- Sức khỏe tâm lý là nỗ lực duy trì cảm giác kiểm soát trong đối mặt với bệnh tật
đe dọa tính mạng đặc trưng bởi đau khổ về cảm xúc, cuộc sống bị thay đổi và nỗi sợ hãi trước những điều chưa biết cũng như những thay đổi tích cực trong cuộc sống (sự lo âu,
sự trầm cảm, nỗi sợ tái mắc bệnh, nhận thức và sự tập trung, phiền muộn về chẩn đoán
và kiểm soát điều trị)
- Sức khỏe xã hội là nỗ lực đối phó với tác động của bệnh ung thư đối với mỗi cá nhân, các vai trò và các mối quan hệ của họ; chức năng tình cảm, tình dục; niềm vui; ngoại hình; tài chính, công việc; sự cô lập
- Sức khỏe tinh thần là khả năng duy trì hy vọng và có được ý nghĩa từ trải nghiệm ung thư được đặc trưng bởi sự không chắc chắn (ý nghĩa của bệnh tật, sự tâm linh, siêu thoát, sức mạnh bên trong,…)
1.2.3 Bộ công cụ đánh giá Chất lượng cuộc sống
Việc lựa chọn bộ công cụ đánh giá CLCS phụ thuộc vào mục tiêu của nghiên cứu Các bộ câu hỏi (bộ công cụ) được các Trung tâm nghiên cứu CLCS thiết kế nên để phỏng vấn bệnh nhân hoặc để bệnh nhân tự trả lời Mỗi bộ công cụ được thiết kế gồm nhiều câu hỏi đi sâu vào chi tiết một số tiêu chí đại diện cho CLCS của bệnh nhân về mặt sức khoẻ, ví dụ mức độ đau, khó thở, mất ngủ, khả năng tự mình thực hiện các sinh hoạt cơ thể…Mỗi bộ công cụ có thể đi sâu vào lượng giá một số lĩnh vực chuyên biệt khác nhau, ví dụ có bộ chuyên về trầm cảm, có bộ chuyên về hoạt động chức năng, có
bộ chuyên cho bệnh nhân ung thư…
Sử dụng các bộ công cụ lượng giá CLCS giúp đánh giá tình trạng hài lòng của người bệnh Các bộ công cụ CLCS hiện nay đang được dùng trong nhiều thử nghiệm lâm sàng để dự báo thời gian sống thêm, đáp ứng với điều trị và để phát hiện sớm các
Trang 18biến chứng về tâm lý/tâm thần Thông thường, người ta sử dụng các công cụ đo lường CLCS là các bộ câu hỏi bao gồm nhiều hạng mục [19], trong đó có thể chia thành bộ câu hỏi chung và bộ câu hỏi riêng cho bệnh nhân
Bộ công cụ chung đánh giá CLCS
Các bộ công cụ chung đo lường CLCS được sử dụng trong các trường hợp: đánh giá các bệnh khác nhau, điều kiện khác nhau, để mở rộng kết quả hoặc khi chưa có các công cụ riêng cho vấn đề quan tâm
Có thể kể tên một số bộ công cụ chung như: [22]
1 Bộ câu hỏi SF-36 (36-Item Short Form survey) do tổ chức RAND (Mỹ) xây dựng
2 Bộ câu hỏi SF-12 (12-Item Short Form survey) được phát triển bởi Ware và cộng sự, xuất bản năm 1996
3 Nottingham Health Profile (NHP) được phát triển bởi Hunt và cộng sự, xuất bản năm 1981
4 EuroQol Instrument (EQ5D) được tổ chức EuroQoL Group xây dựng
5 The SF-6D (Short-Form Six-Dimension) được giới thiệu bởi Brazier và cộng
sự
năm 2002
Tuy nhiên, các công cụ đánh giá chung thường không đi sâu vào bất kỳ vấn đề
cụ thể nào nên không khai thác hết được các khía cạnh của vấn đề mà nhà nghiên cứu quan tâm trên đối tượng bệnh nhân
Bộ công cụ riêng đánh giá CLCS
Các công cụ riêng được ra đời nhằm đánh giá một cách đặc hiệu và chuyên sâu hơn đối với một số đối tượng, vấn đề cụ thể Công cụ này có thể dành riêng cho từng loại bệnh (suy tim, hen suyễn hoặc ung thư), hoặc cho một số đối tượng bệnh nhân (người già yếu hoặc trẻ nhỏ), hoặc cho một chức năng nhất định (giấc ngủ hoặc chức năng tình dục) hoặc cho một triệu chứng (đau đớn, dị ứng da) [19]
Để đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư, có các bộ công cụ:
1 Cancer Needs Questionnaire – Short Form (CNQ-SF)
2 Cancer Rehabilitation Evaluation System – Short Form (CARES-SF)
3 European Organization for Research and Treatment of Cancer QOL Cancer Specific Version (Tổ chức nghiên cứu và điều trị ung thư châu Âu) (EORTC QLQ-C30) Trong đó, lại có các bộ công cụ cụ thể để đánh giá CLCS của bệnh nhân ung thư vú (EORTC QLQ BR23), của bệnh nhân ung thư thanh quản (EORTC H&N 35),…
4 Functional Assessment of Cancer Therapy – General (FACT-G), trong đó lại
có bộ công cụ đánh giá dành riêng cho BN UTV là Funtional Assessment of Cancer Therapy – Breast (FACT – B)
Trang 191.2.4 Bộ công cụ đánh giá chất lượng cuộc sống và mô hình Ferrell về CLCS để
đánh giá CLCS của bệnh nhân ung thư Vú
Đối với bệnh nhân UTV, khái niệm CLCS nói đến tình trạng hài lòng của bệnh nhân về các phương diện hoạt động thể chất, tinh thần và xã hội trong quá trình mắc và điều trị bệnh; cũng như nói đến tác động của UTV và quá trình điều trị UTV đã ảnh hưởng như thế nào đến cuộc sống và hoạt động bình thường của người bệnh [4]
Theo mô hình CLCS dành cho bệnh nhân ung thư của Ferrell, CLCS có thể được nhìn nhận trong 4 khía cạnh: thể chất, tâm lý, xã hội, tinh thần [14], [27]
Năm 2021, Firkins và cộng sự đã đưa ra một mô hình kết hợp giữa mô hình Ferrell về chất lượng cuộc sống và một số bộ công cụ đánh giá chất lượng cuộc sống bệnh nhân Mô hình kết hợp giữa mô hình Ferrell về chất lượng cuộc sống và một số bộ câu hỏi đánh giá CLCS (sau đây gọi tắt là mô hình Ferrell bổ sung) đưa ra một cách tiếp cận cho từng khía cạnh của CLCS qua các thang đo chi tiết được sử dụng phổ biến và được xác thực rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới hiện nay Mô hình Ferrell bổ sung về chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư được trình bày ở dưới đây [15]
Trong nghiên cứu này, dựa trên mô hình của Ferrell năm 1995 và mô hình Ferrell
bổ sung của Firkins năm 2021, chúng tôi sẽ tổng quan các nghiên cứu đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư vú
Trang 20Hình 1.3: Mô hình Ferrell bổ sung về CLCS của bệnh nhân ung thư
1.2.5 Một số nghiên cứu tổng quan hệ thống đánh giá chất lượng cuộc sống của
bệnh nhân ung thư vú
Bảng 1.1: Một số nghiên cứu tổng quan hệ thống về CLCS của BN UTV
2022
Các nghiên cứu đánh giá CLCS của bệnh nhân UTV ở Iran
15 NC Những bệnh nhân UTV ở Iran
có chất lượng cuộc sống trung bình ở hầu hết các khía cạnh Chất lượng cuộc sống/ tình trạng sức khỏe tổng quát được báo cáo là 72,48 (KTC 95%: 64,94-79,82) Ngoài ra, khía
Sức khỏe xã hội
Các vai trò và mối quan hệ
Chức năng tình cảm, tình dục
Tài chính, công việc
Thang đo phổ biến
Thang xã hội: EORTC, FACT,
SF 36 Thang vai trò: EORTC
Mối quan hệ với bác sĩ UT:
FACT
Sức khỏe tinh thần
Ý nghĩa của bệnh tật Tâm linh Sức khỏe bên trong
Sự siêu thoát Thang đo phổ biến Không được đề cập trong các công
cụ đánh giá phổ biến
CLCS của bệnh nhân Ung thư
Trang 21cạnh CLCS bị suy giảm tồi tệ nhất liên quan đến chức năng cảm xúc (56,70) (KTC 95%: 49,84-63,55) và khó khăn tài chính (43,57) (KTC 95%: 31,47-55,67)
bố từ 01/2000 đến 7/2019 đã được thực hiện, đo lường CLCS của bệnh nhân UTV
8 NC Điểm CLCS trung bình của
những người sống sót sau ung thư vú thay đổi từ 63,0 (RAND SF-36, 0-100) đến 110,5 (FACT-B, 0-123) So với những phụ nữ không có tiền sử
CLCS tốt hơn, 3 NC cho thấy CLCS tương tự và 2 NC cho thấy điểm số CLCS trung bình thấp hơn
[21]
mehdi Hashemi
Seyed-2019
Các nghiên cứu đánh giá CLCS của bệnh nhân UTV giai đoạn cuối
20 NC Giá trị trung bình của CLCS
được báo cáo là từ 31,1 đến 75,6 Dựa trên kết quả của phương pháp hiệu ứng ngẫu nhiên (random effect method), giá trị trung bình chung của CLCS là 60,5 (khoảng tin cậy 95% 56,0, 65,0; I2 = 99,0%)
Có 6/20 NC phân loại CLCS là tốt, trung bình hoặc kém; ít hơn một phần ba bệnh nhân (21%) có CLCS tốt
EORTC-QLQ-57 NC Ở Châu Á, bệnh nhân UTV,
đặc biệt là những bệnh nhân mắc các bệnh đi kèm khác và những bệnh nhân được điều trị bằng hóa trị liệu, với ít hỗ trợ
xã hội hơn và với nhiều nhu cầu chưa được đáp ứng hơn, có
Trang 22FACT-B ở bệnh nhân UTV ở châu Á
CLCS kém hơn Hỗ trợ xã hội phù hợp và đáp ứng nhu cầu của bệnh nhân có thể cải thiện CLCS của bệnh nhân
[9]
Salehoddin Bouya
2018
Dựa trên EORTC-QLQ-C30
và phương pháp hiệu ứng ngẫu nhiên (random effect method), điểm trung bình tổng hợp của CLCS ở 1073 người là 57,88 (95% CI 48,26-67,41, I 2 = 97,90%) và điểm trung bình tổng hợp dựa trên chất lượng cuộc sống trên WHOQOL-BREF ở 357 người là 66,79 (95% CI 45,96-87,62, I 2 = 99,50%) Như vậy điểm CLCS
ở mức độ vừa phải, có thể sử dụng các biện pháp can thiệp
để cải thiện CLCS
1.3 Khái quát về phương pháp tổng quan
1.3.1 Định nghĩa và ứng dụng của tổng quan hệ thống
Phương pháp tổng quan tài liệu có hệ thống (Sytematic Review hay SR) là một
cuộc điều tra khoa học tập trung vào một câu hỏi cụ thể và sử dụng các phương pháp
khoa học rõ ràng, được chỉ định trước để xác định, lựa chọn, đánh giá và tóm tắt những
phát hiện về các nghiên cứu tương tự nhưng riêng biệt [45]
Vai trò của tổng quan hệ thống: Đem lại kiến thức mang tính hệ thống về một
chủ đề cụ thể; mang tính “phản biện” các nghiên cứu trước đó nhằm nêu lên những phát
hiện, những chứng cứ gây tranh cãi và những khoảng trống Qua đó, giúp lập kế hoạch
cho chương trình nghiên cứu trong tương lai và ngăn chặn các nghiên cứu không cần
thiết Đó là cả một quá trình phân tích và tổng hợp, chứ không chỉ đơn giản là sự liệt kê,
mô tả hay tóm tắt đơn lẻ, rời rạc [3]
Tổng quan hệ thống có những ưu điểm cụ thể do sử dụng các phương pháp rõ
ràng hạn chế sự thiên vị, đưa ra kết luận đáng tin cậy và chính xác, dễ dàng cung cấp
thông tin cần thiết cho nhà nghiên cứu, giúp giảm thời gian chậm trễ trong việc thực
hiện các nghiên cứu, cải thiện khả năng tổng quát hóa và tính nhất quán của các kết quả
Trang 23Việc tạo ra các giả thuyết mới về các nhóm con của quần thể nghiên cứu, và về tổng thể, làm tăng độ chính xác của các kết quả [18]
Đối với lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, SR có vai trò đặc biệt quan trọng Các bác
sĩ, dược sĩ lâm sàng cần cập nhật kiến thức về lĩnh vực của họ và SR thường được sử dụng như một điểm khởi đầu để phát triển các hướng dẫn thực hành lâm sàng bởi vì các quyết định chăm sóc sức khỏe cho từng bệnh nhân và các chính sách y tế công cộng nên được cung cấp thông tin bằng các bằng chứng nghiên cứu tốt nhất hiện có Hơn nữa, hầu hết các bác sĩ, dược sĩ lâm sàng và chuyên gia y tế công cộng không có thời gian để theo dõi tất cả các bài báo gốc, đọc kỹ chúng và thu thập bằng chứng mà họ cần cho các câu hỏi của mình, các đánh giá có hệ thống và hướng dẫn thực hành lâm sàng có thể là nguồn bằng chứng tốt nhất của họ Đánh giá có hệ thống nhằm xác định, đánh giá và tóm tắt các phát hiện của tất cả các nghiên cứu cá nhân có liên quan về một vấn đề liên quan đến sức khỏe, do đó làm cho các bằng chứng sẵn có dễ tiếp cận hơn đối với những người
ra quyết định [18]
1.3.2 Các bước tiến hành tổng quan hệ thống
Cấu phần của tổng quan hệ thống: Bắt đầu bằng một câu hỏi được trình bày rõ ràng; sử dụng các phương pháp rõ ràng, chặt chẽ để xác định, phê bình, thẩm định và tổng hợp các nghiên cứu liên quan; đánh giá chất lượng và xem xét giá trị các bằng chứng liên quan trước khi tiến hành tổng hợp, phân tích dữ liệu; báo cáo phương pháp luận, các nghiên cứu được đưa vào đánh giá và kết luận; cuối cùng là có thể tái sản xuất (cập nhật kết quả) [3]
Có rất nhiều tài liệu với cách chia các bước tiến hành tổng quan hệ thống khác nhau Và đề tài này sẽ đưa ra 3 giai đoạn (8 bước tiến hành) cơ bản để thực hiện tổng quan tài liệu có hệ thống, tham khảo từ các nguồn tài liệu [3], [18], [45], [51], [28], [40] Trên thực tế, các bước cơ bản này không dễ dàng thực hiện, nghiên cứu viên sẽ gặp những vấn đề khác mà không có chỉ dẫn chi tiết
Trang 24Hình 1.4: Các bước tiến hành tổng quan hệ thống
Giai đoạn 1: Xác định phạm vi và câu hỏi nghiên cứu
- Xác định phạm vi và câu hỏi nghiên cứu
Đây là bước quan trọng nhất của bài tổng quan hệ thống vì các bước tiếp theo đều dựa trên bước này Để xác định câu hỏi nghiên cứu, trước tiên hãy thiết lập chi tiết mục tiêu chính và phụ của nghiên cứu [40] Giống như các thiết kế nghiên cứu khác, câu hỏi nghiên cứu của SR phải khả thi, thú vị, mới lạ và phù hợp với tiêu chuẩn đạo đức Vì vậy, phải xây dựng được câu hỏi nghiên cứu rõ ràng, logic Hai công cụ phổ biến được sử dụng: PICO hoặc SPIDER PICO (P – Population: Quần thể, I – Intervention: Can thiệp, C – Comparision: So sánh, O – Outcome: Kết quả) được sử dụng hầu hết trong tổng hợp bằng chứng định lượng Các tác giả đã chứng minh rằng PICO có độ nhạy cao hơn so với cách tiếp cận SPIDER cụ thể hơn SPIDER (S – Sample: Mẫu, PI - Phenomenon of Interes: Hiện tượng quan tâm, D – Design: Thiết kế, E – Evaluation: Đánh giá, R – Research type: Loại nghiên cứu) được đề xuất như một phương pháp tìm kiếm định tính và phương pháp hỗn hợp [51]
Đối với nghiên cứu quan sát (không có yếu tố can thiệp và so sánh), thường chỉ dùng hai yếu tố P (quần thể) và O (kết quả) để xây dựng câu hỏi nghiên cứu
Sau khi xây dựng được câu hỏi nghiên cứu, cần xác định phạm vi nghiên cứu và điều chỉnh cho phù hợp bằng cách thực hiện tìm kiếm sơ bộ Việc này nhằm xác định các bài viết có liên quan, đảm bảo tính hợp lệ của ý tưởng nghiên cứu, tránh trùng lặp với các câu hỏi đã giải quyết trước đó và đảm bảo có đủ bài viết để thực hiện phân tích Hơn nữa, các chủ đề cần tập trung vào các vấn đề chăm sóc sức khỏe có liên quan và
Trang 25quan trọng, phản ánh khoa học hiện tại và phù hợp với các phương pháp đánh giá đã được thông qua [51]
Giai đoạn 2: Xác định các nghiên cứu liên quan
- Xây dựng tiêu chí lựa chọn và loại trừ
Tiêu chí lựa chọn phụ thuộc vào câu hỏi nghiên cứu (PICO) và kết hợp các đặc điểm nghiên cứu có thể bao gồm thiết kế nghiên cứu, ngày xuất bản và vị trí địa lý; đặc điểm của dân số nghiên cứu như tuổi, giới tính và tình trạng của bệnh; đặc điểm của sự phơi nhiễm và kết quả đo lường; đặc điểm của các phương pháp được sử dụng như loại phân tích, điều chỉnh các yếu tố gây nhiễu, biện pháp được báo cáo trong hiệp hội, … [40]
Các tiêu chí loại trừ chủ yếu là “không liên quan đến câu hỏi nghiên cứu”, “nghiên cứu trùng lặp”, “nghiên cứu không tìm được toàn văn” Tóm lại, sẽ lựa chọn những bài báo chứa thông tin trả lời câu hỏi nghiên cứu Nhưng quan trọng nhất là phải rõ ràng và đầy đủ thông tin, kể cả tích cực hay tiêu cực [20]
- Tìm kiếm nghiên cứu
Xây dựng chiến lược tìm kiếm
Một chiến lược tìm kiếm tiêu chuẩn được sử dụng trong PubMed, sau đó được sửa đổi theo từng cơ sở dữ liệu cụ thể để có được kết quả phù hợp nhất (Cochrane, Embase,…) Chiến lược tìm kiếm cơ bản được xây dựng dựa trên công thức câu hỏi nghiên cứu (ví dụ: PICO hoặc PICOS) Bao gồm:
+ Tiêu đề MeSH (Medical Subject Heading) là một từ điển điện tử gồm có khoảng 19.000 từ vựng hay thuật ngữ (con số này tăng theo thời gian với bệnh và khái niệm mới), được sắp xếp theo giai tầng (hierarchical), từ những chủ đề khái quát chung đến những chủ đề chuyên biệt Nó được sử dụng để lập chỉ mục, lập danh mục và tìm kiếm thông tin liên quan đến y sinh và sức khỏe
+ Các từ khóa (keywords) được sử dụng với mục đích tìm kiếm được nhiều kết quả phù hợp với mục tiêu nhất và được đặt trong dấu ngoặc kép để đảm bảo tìm kiếm đúng từ khóa cần tìm Từ đại diện “*” để thay thế cho các ký tự có thể có
+ Các trường dữ liệu: Title, Abstract, Keyword,… (ti, ab, kw,…) Đây lần lượt tương ứng với phần tiêu đề và tóm tắt của bài báo khoa học Đối với cơ sở Cochrane Library, có thêm trường dữ liệu Keyword- trường từ khóa, được hệ thống mặc định thêm vào khi tìm kiếm
+ Các toán tử được sử dụng: AND, OR,…Toán tử được sử dụng để liên kết MeSH
và các từ khóa lại với nhau Trong đó, OR cho kết quả là hợp của các tìm kiếm riêng lẻ; AND cho kết quả là giao của các tìm kiếm riêng lẻ
Trang 26+ Bộ lọc: để tìm kiếm các nghiên cứu mục tiêu chính xác hơn Ví dụ như bộ lọc thời gian giúp nghiên cứu viên lựa chọn được ngay các bài báo được xuất bản trong khoảng thời gian quan tâm
Ngoài ra, không nên sử dụng các thuật ngữ cho Kết quả vì việc đưa chúng vào
có thể cản trở việc tìm kiếm cơ sở dữ liệu để lấy các nghiên cứu đủ điều kiện vì kết quả được sử dụng không được đề cập rõ ràng trong các bài báo
Tiến hành tìm kiếm nghiên cứu
Theo hướng dẫn của AMSTAR, ít nhất hai cơ sở dữ liệu phải được tìm kiếm trong SR Việc tăng số lượng cơ sở dữ liệu được tìm kiếm giúp nhận được kết quả chính xác và toàn diện hơn Có 12 cơ sở dữ liệu (PubMed, Scopus, Web of Science, EMBASE, GHL, VHL, Cochrane, Google Scholar, Clinical tests.gov, mRCTs, POPLINE và SIGLE) bao gồm hầu hết các bài báo đã xuất bản trong y học và lĩnh vực chăm sóc sức khỏe [51]
Trước tiên, nghiên cứu viên cần lựa chọn cơ sở dữ liệu phù hợp với lĩnh vực nghiên cứu, thiết kế nghiên cứu,…và sau đó tiến hành tìm kiếm bằng chiến lược đã xây dựng ở trên, chỉnh sửa tiêu đề MeSH và từ khóa sao cho phù hợp
Cuối cùng, tất cả các bài báo được thu thập vào một thư viện Endnote để xóa các bản trùng lặp và các bài báo còn lại sau đó được xuất sang một trang tính excel với thông tin cần thiết để sàng lọc, có thể là tên tác giả, năm xuất bản, tạp chí, DOI, liên kết URL
và tóm tắt [51]
- Sàng lọc và lựa chọn nghiên cứu
Chương 4 của tài liệu “Cochrane Handbook for Systematic Review of interventions” [28] đã nêu quy trình điển hình để sàng lọc và lựa chọn nghiên cứu, gồm
8 bước như sau:
+ Hợp nhất các kết quả tìm kiếm từ các nguồn khác nhau bằng phần mềm quản
lý tài liệu tham khảo và loại bỏ các bản ghi trùng lặp của cùng một báo cáo (tức là các bản ghi báo cáo cùng tên tạp chí, số lượng và số trang)
+ Kiểm tra các tiêu đề và phần tóm tắt để loại bỏ các báo cáo rõ ràng là không liên quan
+ Truy xuất toàn bộ nội dung của các báo cáo có thể có liên quan
+ Liên kết nhiều báo cáo của cùng một nghiên cứu với nhau
+ Kiểm tra các báo cáo toàn văn về sự tuân thủ của các nghiên cứu với các tiêu chí đủ điều kiện
+ Liên hệ với các tác giả (nếu thích hợp) để làm rõ tính đủ điều kiện của nghiên cứu (có thể thích hợp để yêu cầu thêm thông tin hay kết quả của nghiên cứu) Nếu các nghiên cứu vẫn chưa hoàn thành / không thể đạt được, chúng nên được gắn thẻ và ghi
Trang 27là chưa hoàn thành và nên được liệt kê trong bảng 'Đặc điểm của các nghiên cứu đang chờ phân loại' trong tổng quan
+ Đưa ra quyết định cuối cùng về việc đưa vào nghiên cứu và tiến hành thu thập
dữ liệu
+ Gắn thẻ hoặc ghi lại bất kỳ thử nghiệm đang diễn ra nào chưa được báo cáo để
có thể thêm chúng vào bảng nghiên cứu đang diễn ra
Quá trình này nên được thực hiện độc lập bởi ít nhất là 2 người, để có thể giảm khả năng các bài báo liên quan bị loại bỏ Nếu có sự bất đồng thì nên được xem xét bởi một người khác – trọng tài để đưa ra quyết định cuối cùng [28], [3], [51]
Toàn bộ quá trình lựa chọn phải được ghi lại đầy đủ chi tiết để có thể hoàn thành một sơ đồ và bảng 'Đặc điểm của các nghiên cứu bị loại trừ” Trong quá trình lựa chọn, điều quan trọng là phải theo dõi số lượng tài liệu tham khảo và sau đó là số lượng nghiên cứu để có thể xây dựng một sơ đồ luồng Quyết định và lý do loại trừ có thể được theo dõi bằng cách sử dụng phần mềm quản lý tài liệu tham khảo (Endnote, zotero,…), một tài liệu hoặc bảng tính đơn giản hoặc sử dụng phần mềm xem xét có hệ thống chuyên dụng
- Đánh giá chất lượng các nghiên cứu
Chất lượng của nghiên cứu bao gồm cách một nghiên cứu đã được tiến hành (chất lượng phương pháp luận) và cách nghiên cứu đó được mô tả (chất lượng báo cáo và khả năng tái lập) Phương pháp luận kém và báo cáo chất lượng của các nghiên cứu được đưa vào tổng quan có thể dẫn đến sai lệch Vì vậy, việc đánh giá chất lượng nghiên cứu độc lập của hai nghiên cứu viên là điều cần thiết để đảm bảo tính chính xác và tính tổng quát [40]
Sử dụng công cụ đánh giá là các bảng kiểm, ví dụ bảng kiểm STROBE để đánh giá chất lượng nghiên cứu quan sát định lượng; bảng kiểm CONSORT trong đánh giá chất lượng nghiên cứu can thiệp thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng; bảng kiểm CHEERS trong đánh giá chất lượng nghiên cứu kinh tế Dược [3] Ngoài ra, đối với các thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng (RCT) thì có thể sử dụng thang đánh giá của Jadad; đối với nghiên cứu quan sát và cắt ngang thì sử dụng công cụ NIH,…[51]
Giai đoạn 3: Tổng hợp kết quả từ các nghiên cứu lựa chọn
- Thu thập dữ liệu
Trích xuất dữ liệu có trong nghiên cứu sử dụng biểu mẫu thu thập được xác định trước Sử dụng các mục trong biểu mẫu, hai nghiên cứu viên đánh giá độc lập và trích xuất dữ liệu chi tiết từ mỗi bài báo Chú ý đến quá trình khai thác dữ liệu sẽ mang lại sự hiểu biết ban đầu và mô tả về các đặc điểm chung của các bài báo và sẽ mở đường cho phân tích, diễn giải quá trình tổng hợp để theo dõi Khi giải nén dữ liệu, viết tắt rõ ràng,
Trang 28chuyển đổi cẩn thận tất cả dữ liệu bằng cách sử dụng cùng (các) đơn vị, duy trì định nghĩa nhất quán và giữ nội dung ngắn gọn [40]
Các thông tin cần thu thập bao gồm: [3]
+ Thông tin về nghiên cứu: tác giả, năm tiến hành, mục tiêu nghiên cứu, quốc gia, thời gian,…
+ Phương pháp nghiên cứu: thiết kế, quần thể, can thiệp, kết cục, thống kê,… + Kết quả và kết luận nghiên cứu: kết cục chính, kết cục phụ, kết luận
+ Các dữ liệu khác: nguồn tài trợ
- Phân tích dữ liệu
Trong bước này, dữ liệu từ cơ sở dữ liệu mới được hình thành được đối chiếu, nhập vào chương trình đánh giá thống kê (SPSS hoặc Excel), và được chuẩn bị để phân tích
Các phân tích có thể mang tính mô tả, chẳng hạn như một bản tóm tắt có cấu trúc
và thảo luận về các đặc điểm, mối liên kết và chất lượng của nghiên cứu hoặc có thể là định lượng, liên quan đến các phân tích thống kê [40]
Dữ liệu có thể được tổng hợp một cách định lượng nếu các nghiên cứu không quá khác biệt về: kết cục nghiên cứu, quy mô dân số, đặc điểm dân số va can thiệp so sánh
Một số dữ liệu cần phải quy đổi về cùng hệ quy chiếu (cùng thời điểm, cùng đơn
vị tiền tệ) để so sánh [3]
- Tổng hợp kết quả
Bước cuối cùng là tổng hợp kết quả và viết báo cáo Nếu khoảng thời gian kể từ khi bắt đầu tìm kiếm cơ sở dữ liệu là 6-12 tháng, tìm kiếm sẽ được cập nhật thành xác định các bài báo đã xuất bản gần đây Có các hướng dẫn về cách báo cáo tổng quan có
hệ thống và phân tích tổng hợp tạo điều kiện cho sự minh bạch, khả năng tái tạo, và khả năng so sánh giữa các nghiên cứu PRISMA, QUOROM (phát triển thành PRISMA) và MOOSE là fowchart mô tả bằng đồ thị trình tự báo cáo đánh giá có hệ thống và phân tích tổng hợp [40], [3]
Trang 29CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Các nghiên cứu đánh giá CLCS và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến CLCS của bệnh nhân UTV
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp tìm kiếm tài liệu
a, Nguồn dữ liệu tìm kiếm
Đề tài sử dụng 2 cơ sở dữ liệu là Pubmed (Medline) và Cochrane Library
PubMed là một cơ sở dữ liệu truy cập miễn phí, chủ yếu qua MEDLINE về các
tài liệu tham khảo và tóm tắt về các chủ đề khoa học đời sống và y sinh học Thêm vào
đó, PubMed còn cung cấp đường dẫn đến bản toàn văn của các bài báo khoa học Các bản toàn văn này thường được công bố trên trang web của nhà xuất bản hoặc trên PubMed Central (PMC)
Cochrane Library là một cơ sở dữ liệu tìm kiếm các y văn tổng hợp phục vụ trả
lời câu hỏi lâm sàng đối với những chủ đề quen thuộc, đã sẵn có nhiều nghiên cứu Hiểu một cách đơn giản, chúng ta có rất nhiều nghiên cứu nhỏ lẻ được thiết kế để trả lời cho một câu hỏi
- Xác định các thuật ngữ khác biệt/từ đồng nghĩa cho các khái niệm cụ thể: dựa vào câu hỏi nghiên cứu, các Mesh term (tiêu đề y khoa) cùng rất nhiều từ khóa được sử dụng, kết hợp cùng với các toán tử, các trường dữ liệu và dấu ngoặc kép, kí tự thay thế
- Hoàn thiện câu lệnh tra cứu trên 2 nguồn cơ sở dữ liệu
- Chạy các tìm kiếm sơ bộ để kiểm tra việc thu hồi và truy xuất
- Lưu chính xác các chiến lược tìm kiếm cho các cơ sở dữ liệu
Chi tiết về chiến lược tìm kiếm được trình bày ở Phụ lục 1
b, Chiến lược tìm kiếm
Việc tiến hành tìm kiếm các nghiên cứu một cách hệ thống trên cơ sở dữ liệu Pubmed và Cochrane vào ngày 05/01/2022, với các nhóm từ khóa được xác định bằng phương pháp PICO và hệ thống tự động cập nhật các bài báo mới qua email Câu lệnh
tìm kiếm được trình bày chi tiết tại Phụ lục 1
Trang 30Bảng 2.2: Câu hỏi nghiên cứu PICO(T)
P (Patient/ Population/ Problem/
Program)
Bệnh nhân bị ung thư vú
I (Intervention)
C (Comparison)
sống liên quan đến sức khỏe đươc đánh giá bởi các bộ công cụ EORTC C30, EORTC BR23, FACT G, FACT B
đã có rất nhiều sự thay đổi trong chẩn đoán, điều trị và phòng ngừa UTV Vì thế, đề tài nghiên cứu lựa chọn dữ liệu được xuất bản trong thời gian trên để đảm bảo tính cập nhật, hạn chế sai sót giữa các nghiên cứu và đồng thời đảm bảo đủ dữ liệu để làm tổng quan tài liệu có hệ thống
Đề tài chỉ chọn dữ liệu có bộ công cụ đánh giá chất lượng cuộc sống là EORTC C30, EORTC BR 23 và FACT B, FACT G với 2 lí do Thứ nhất, đây là các bộ công cụ phổ biến và đáng tin cậy để đánh giá chất lượng cuộc sống, EORTC C30 và EORTC
BR 23 thường được sử dụng cùng nhau, tương tự đối với FACT B, FACT G Thứ 2, việc chỉ định 4 bộ công cụ này giúp hạn chế số lượng kết quả tìm được, phù hợp với người nghiên cứu và đảm bảo dữ liệu thu được đồng bộ hơn Và lý do cuối cùng, 4 bộ công cụ trên phù hợp với mô hình Ferrell bổ sung mà đề tài này sẽ căn cứ
Chi tiết mô tả về 4 bộ công cụ đánh giá CLCS theo mô hình Ferrell được trình
bày chi tiết ở Phụ lục 2
2.2.2 Tiêu chuẩn và phương pháp lựa chọn/ loại trừ
a, Tiêu chuẩn lựa chọn
- Đối tượng của các nghiên cứu: bệnh nhân bị UTV ở châu Á
Việc chỉ lựa chọn nghiên cứu có đối tượng tham gia là BN UTV ở châu Á giúp tập trung dữ liệu vào quần thể đích Châu Á có diện tích lớn nhất trong các châu lục trên thế giới (29,4% tổng diện tích lục địa) Trong số các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc châu Á, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Israel, Hồng Kong, Ma Cao được công nhận là những quốc gia và vùng lãnh thổ có nền kinh tế công nghiệp phát triển, số
Trang 31còn lại là các nước đang phát triển (trong đó có Việt Nam) Mặc dù còn tồn tại khoảng cách, tuy nhiên các nước châu Á nhìn chung có sự tăng trưởng và phát triển nhất định Ngoài ra, các nước trong cùng khu vực có sự giao thoa văn hóa, phát triển công nghệ, khoa học, kỹ thuật điều trị ung thư nói chung và ung thư vú nói riêng
- Kết quả đầu ra: chất lượng cuộc sống, chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe của bệnh nhân ung thư vú, được đo lường bởi các bộ công cụ EORTC C30, EORTC
BR 23, FACT B, FACT G
- Nghiên cứu đã được công bố và được viết bằng Tiếng Anh
- Thời gian: lựa chọn các nghiên cứu được xuất bản trong thời gian từ 01/01/2017- 01/01/2022
b, Tiêu chuẩn loại trừ
Căn cứ vào các tiêu chí lựa chọn, tiến hành loại trừ nghiên cứu theo các tiêu chí sau:
Tiêu chí 1: nghiên cứu không có địa điểm quan tâm (châu Á) và ở các nước ngoài châu
Á
Tiêu chí 2: nghiên cứu là các bài tổng quan
Tiêu chí 3: nghiên cứu không sử dụng các bộ công cụ đánh giá CLCS: EORTC QLQ C30, EORTC QLQ BR23, FACT G, FACT B
Tiêu chí 4: nghiên cứu không đo lường CLCS, CLCS không phải “primary outcome” (*)
Tiêu chí 5: nghiên cứu trên bệnh nhân ung thư nói chung và/hoặc không nói về ung thư
vú
Tiêu chí 6: nghiên cứu không phải trên người
Tiêu chí 7: nghiên cứu không được viết bằng Tiếng anh
Tiêu chí 8: nghiên cứu không được công bố
Tiêu chí 9: nghiên cứu thí điểm
Tiêu chí 10: chỉ là báo cáo hội nghị
Tiêu chí 11: đối tượng nghiên cứu không mắc K vú, có thể là người chăm sóc, người trong gia đình bệnh nhân
Tiêu chí 12: các nghiên cứu trùng lăp
(*) Các nghiên cứu dù có báo cáo kết quả đánh giá CLCS nhưng CLCS không phải là kết quả chính (primary outcome) Nghiên cứu đánh giá chi phí hiệu quả, nghiên cứu đánh giá chi phí thỏa dụng Nghiên cứu có phương pháp luận dựa trên kết quả những khía cạnh triệu chứng nhỏ lẻ được báo cáo từ bệnh nhân chẳng hạn như giảm khả năng hoạt động, mệt mỏi, suy giảm nhận thức, vấn đề tâm lý và suy giảm đời sống tình dục, nhưng không phải chất lượng cuộc sống Nghiên cứu sử dụng các bộ công cụ không
Trang 32phải do bệnh nhân tự báo cáo Nghiên cứu thẩm định, đánh giá tính xác thực và độ tin cậy của bộ công cụ đo lường CLCS
Tại bước sàng lọc này, căn cứ vào các tiêu chí lựa chọn và loại trừ, 2 người tiến hành đọc, đánh giá và sàng lọc nghiên cứu một cách độc lập để giảm thiểu sự thiên vị
và đảm bảo tính khách quan cho nghiên cứu Nếu có sự không chắc chắn giữa 2 người thì cần có sự đánh giá độc lập và quyết định của người thứ 3
Tiếp tục trích xuất dữ liệu của các nghiên cứu được lựa chọn sau cùng ở trên chi tiết hơn trên file Microsoft Excel Các dữ liệu được trích xuất từ các nghiên cứu bao gồm:
- Các đặc điểm của nghiên cứu, bao gồm: tên nghiên cứu, tác giả, năm xuất bản, nơi tiến hành (quốc gia); loại thiết kế nghiên cứu
- Các đặc điểm của mẫu nghiên cứu, bao gồm: cỡ mẫu, nhân khẩu học, giai đoạn bệnh, can thiệp được sử dụng
- Các vấn đề liên quan đến chất lượng cuộc sống: Định nghĩa chất lượng cuộc sống, công cụ đo lường chất lượng cuộc sống, các khía cạnh của chất lượng cuộc sống, các yếu tố ảnh hưởng tới CLCS, các kết quả và kết luận
2.2.5 Đánh giá chất lượng các bài báo được chọn
Sau khi tiến hành đọc chi tiết nội dung các bài báo, 2 nghiên cứu viên tiến hành đánh giá chất lượng nghiên cứu một cách độc lập
Đối với các RCT, việc đánh giá sử dụng thang điểm Jadad – đã được Jadad và cộng sự hoàn thiện năm 1996 [25] Thang Jadad bao gồm 3 câu hỏi chính với 2 đáp án
Trang 33là Có/ Không Với câu hỏi (1) và (2), mỗi câu sẽ có thêm một câu hỏi phụ Như vậy, điểm tối đa mà 1 NC có thể đạt được là 5 điểm NC được coi là có chất lượng Tốt nếu đạt từ 3 điểm trở lên, được coi là chất lượng Kém nếu đạt điểm nhỏ hơn hoặc bằng 2
Đối với các nghiên cứu quan sát, việc đánh giá sử dụng thang đánh giá chất lượng của Viện sức khỏe Quốc gia Hoa Kỳ - NIH (National Institute of Health) Thang đánh giá bao gồm 14 câu hỏi với các đáp án: Có/ Không/ Không xác định/ Không áp dụng và Không báo cáo Chất lượng NC được đánh giá ở 3 mức độ: Tốt, Trung bình, Kém Trong
đó, đánh giá quan trọng liên quan đến việc xem xét rủi ro tiềm ẩn về sai lệch lựa chọn, sai lệch thông tin, sai lệch đo lường hoặc gây nhiễu Rủi ro sai lệch cao dẫn đến xếp hạng chất lượng Kém; rủi ro sai lệch thấp có nghĩa là xếp hạng chất lượng Tốt
Chi tiết về các thang đánh giá chất lượng nghiên cứu được trình bày tại Phụ lục
Trang 34CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Lựa chọn nghiên cứu đưa vào tổng quan hệ thống
Thực hiện tìm kiếm bài báo theo câu lệnh đã xây dựng tại 2 cơ sở dữ liệu Pubmed
và Cochrane, được 1447 bài báo Trong đó 383 bài trên cơ sở dữ liệu Pubmed và 1064
bài trên sở sở dữ liệu Cochrane (chi tiết được trình bày tại Phụ lục 1) Dữ liệu 1447 bài
báo được quản lý trên phần mềm Endnote X9 Tại đây, sử dụng chức năng tìm bài báo trùng lặp và tiến hành lọc thủ công, nghiên cứu đã loại bỏ được 37 bài báo cùng có trên
2 nguồn cơ sở dữ liệu trên Như vậy, còn lại 1410 bài báo được đưa vào quá trình lựa chọn tiếp theo
Các bài báo được sàng lọc tiêu đề và tóm tắt một cách độc lập, dựa trên các tiêu chí lựa chọn và loại trừ đã xác định Kết quả là từ 1410 bài báo tìm kiếm ban đầu, lựa chọn được 144 bài báo đủ tiêu chí để tiến hành sàng lọc toàn văn Quá trình sàng lọc tiêu đề và tóm tắt này được thực hiện độc lập bởi hai nghiên cứu viên
Tiếp theo, 144 bài báo được tiến hành sàng lọc toàn văn dựa trên các tiêu chí lựa chọn và loại trừ đã xác định Quá trình sàng lọc toàn văn được thực hiện độc lập bởi hai nghiên cứu viên Cuối cùng, 20 bài báo thỏa mãn các tiêu chí được đưa vào phân tích trong bài tổng quan hệ thống này sau khi thống nhất ý kiến giữa các nghiên cứu viên
Trang 35Hình 3.5: Kết quả tìm kiếm và sàng lọc
3.2 Đánh giá chất lượng các nghiên cứu
Trước khi chiết xuất dữ liệu, tiến hành đánh giá chất lượng các nghiên cứu được lựa chọn Với các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng (RCT), đề tài đánh giá theo thang Jadad; với các nghiên cứu quan sát (thuần tập, mô tả, dọc), đề tài sử dụng
thang NIH Chi tiết nội dung của 2 thang đánh giá được trình bày tại Phụ lục 7
Đối với các nghiên cứu RCT được đánh giá theo thang Jadad: 14/16 nghiên cứu
có tổng điểm từ 3 trở lên và được đánh giá chất lượng Tốt; 2/16 có điểm dưới 3 và được đánh giá chất lượng Kém
Trang 36Đối với các nghiên cứu quan sát được đánh giá theo thang NIH: 3/4 nghiên cứu được đánh giá chất lượng Tốt và 1/4 nghiên cứu được đánh giá chất lượng Trung bình
Chi tiết đánh giá chất lượng nghiên cứu được trình bày tại Phụ lục 6
Hình 3.6: Đánh giá chất lượng nghiên cứu đưa vào tổng quan
3.3 Tổng quan đánh giá CLCS trong các nghiên cứu
3.3.1 Đặc điểm các nghiên cứu đưa vào tổng quan hệ thống
Đặc điểm của 20 nghiên cứu đưa vào tổng quan được trình bày tại Phụ lục 3
20 nghiên cứu được thực hiện tại 4 quốc gia Trong đó, 10 nghiên cứu được thực hiện ở Trung Quốc chiếm tỷ lệ cao nhất với 50% tổng số lượng nghiên cứu Thứ 2 là Hàn Quốc, với 6 nghiên cứu, chiếm tỷ lệ 30% tổng số lượng nghiên cứu Thứ 3 là Nhật Bản, với 3 nghiên cứu, chiếm tỷ lệ 15% tổng số lượng nghiên cứu Và cuối cùng là Indonesia với 1 nghiên cứu, chiếm tỷ lệ 5% tổng số lượng nghiên cứu
Bảng 3.3: Địa điểm và thời gian xuất bản các NC
và 4 nghiên cứu quan sát Trong 4 nghiên cứu quan sát này, có 1 nghiên cứu thuần tập
và 3 nghiên cứu mô tả
Về việc nhận tài trợ, có 10/20 nghiên cứu (chiếm 50%) nhận tài trợ; 9/20 nghiên cứu không đề cập đến và 1/20 nghiên cứu không nhận tài trợ
0 2 4 6 8 10 12 14 16 18
Trang 373.3.2 Đặc điểm của bệnh nhân ung thư vú trong các nghiên cứu
Đặc điểm của bệnh nhân UTV trong 20 NC được trình bày chi tiết tại Phụ lục 3
Tổng số người tham gia các nghiên cứu là 3853 bệnh nhân ung thư vú Cỡ mẫu
NC nhỏ nhất là 26 BN trong NC của Irena Sakura Rini tiến hành ở Indonesia [46]; cỡ mẫu NC lớn nhất là 897 BN trong NC của Yong Sik Yung thực hiện ở Hàn Quốc [30] Tất cả các bệnh nhân đều là nữ, từ 18 tuổi trở lên và thường dao động trong khoảng 18-
75 tuổi
Về tình trạng khối u của các bệnh nhân tham gia nghiên cứu: 7/20 nghiên cứu không quan tâm đến tình trạng khối u (chiếm 35%); 4/20 nghiên cứu bao gồm các bệnh nhân UTV giai đoạn đầu (chiếm 20%); 2/20 nghiên cứu bao gồm các bệnh nhân UTV giai đoạn muộn (chiếm 10%) và còn lại 7/20 nghiên cứu bao gồm các bệnh nhân ở hầu hết các giai đoạn của UTV (0 – IV) chiếm 35%
Điểm CLCS của các bệnh nhân UTV: điểm tình trạng sức khỏe tổng quát/ chất lượng cuộc sống trong khoảng 40 - 83 điểm (thang EORTC C30, phạm vi 100 điểm) và 78,12 – 117 điểm (thang FACT B, phạm vi 148 điểm) Có 3 nghiên cứu không báo cáo điểm CLCS mà so sánh với nhóm chứng, kết quả là các tỷ lệ điểm số CLCS của nhóm chứng và nhóm can thiệp [29], [36], [30] Ngoài ra, điểm CLCS còn được đánh giá trên tất cả các thang đo triệu chứng và thang đo chức năng
Các điểm số được đánh giá trong các NC được trình bày chi tiết tại Phụ lục 5
Thời điểm đo lường CLCS của các bệnh nhân UTV trong 20 nghiên cứu: đối với các nghiên cứu can thiệp phẫu thuật, CLCS hầu hết được đánh giá tại thời điểm ngay trước khi phẫu thuật, ngay sau khi phẫu thuật và 1, 3, 6, 12 tháng sau phẫu thuật; đối với các nghiên cứu đánh giá hiệu quả của liệu pháp nội tiết thì thời gian theo dõi dài hơn, lên tới 3 năm trong nghiên cứu đánh giá tác dụng lâu dài của Letrozole do Yong Sik Jung cùng cộng sự thực hiện [30]
3.3.3 Bộ công cụ đo lường chất lượng cuộc sống
Bảng mô tả 4 công cụ đo lường CLCS được sử dụng trong các bài báo và phân
tích chúng theo mô hình CLCS của Ferrell được trình bày trong Phụ lục 2
Bộ công cụ được sử dụng nhiều nhất là FACT B, với 10 nghiên cứu; thứ 2 là bộ công cụ EORTC C30, với 9 nghiên cứu; thứ 3 là bộ công cụ EORTC BR 23 với 4 nghiên cứu và cuối cùng là FACT G với 3 nghiên cứu Đặc biệt, bộ công cụ EORTC BR 23 không được sử dụng một mình, mà chỉ được sử dụng kết hợp cùng EORTC C30 trong
4 nghiên cứu
Có 6/20 nghiên cứu sử dụng đồng thời 2 bộ công cụ để đánh giá CLCS của bệnh nhân ung thư Vú Trong đó có 4/20 nghiên cứu sử dụng đồng thời EORTC C30 và EORTC BR 23, 2/20 nghiên cứu sử dụng đồng thời FACT B và FACT G
Thống kê số lượng NC sử dụng 4 bộ công cụ như sau:
Trang 38Bảng 3.4: Các bộ công cụ được sử dụng trong các nghiên cứu
3.3.4 Các khía cạnh của chất lượng cuộc sống
Mô hình CLCS của Ferrell được sử dụng cho tổng quan này bao gồm bốn khía cạnh của CLCS, đó là: thể chất, tâm lý, xã hội và tinh thần Mô hình này đã được trình bày ở các phần trên
Khía cạnh thể chất, tâm lý và xã hội của chất lượng cuộc sống được đánh giá trong tất cả 20 nghiên cứu Khía cạnh tinh thần của CLCS chỉ được đề cập đến trong 4 nghiên cứu sử dụng bộ công cụ EORTC BR 23, trong hạng mục viễn cảnh tương lai
Định nghĩa rõ ràng về CLCS chỉ được cung cấp trong 2 nghiên cứu của Jing
Wang và Ai Ch’I Liew [52] [36] Các định nghĩa này đã được nhắc tới tại phần Khái
quát về CLCS
Trang 39Bảng 3.5: Các khía cạnh CLCS trong các NC theo mô hình Ferrell
Các khía cạnh CLCS Các khía cạnh CLCS theo mô
hình Ferrell Thể
chất
Tâm
lý
Xã hội
Tinh thần
1 [52] Jing
Wang 2021
EORTC C30, EORTC
BR 23
EORTC C30: tình trạng sức khỏe toàn cầu (GHS/ QOL), 5 thang đo chức năng (thể chất, vai trò, cảm xúc, nhận thức và xã hội), 9 thang
đo triệu chứng
EORTC BR 23: 4 hạng mục chức năng (hình ảnh cơ thể, hoạt động tình dục, hưởng thụ tình dục, viễn cảnh tương lai) và bốn hạng mục triệu chứng
Tình trạng sức khỏe toàn cầu (GHS/ QOL), 5 thang đo chức năng (thể chất, vai trò, cảm xúc, nhận thức và xã hội), 9 thang đo triệu chứng
FACT G Sức khỏe thể chất, Sức khỏe xã
hội/gia đình, Sức khỏe tinh thần, Sức khỏe chức năng, triệu chứng của UTV
11 Qian
Lu 2019
FACT B, FACT G
Sức khỏe thể chất, Sức khỏe xã hội/gia đình, Sức khỏe tinh thần, Sức khỏe chức năng, triệu chứng của UTV
12 Hiromi
Okuyama
2018
Trang 40Sức khỏe thể chất (PWB), xã hội/
gia đình (SWB), hạnh phúc về cảm xúc (EWB), hạnh phúc chức năng (FWB), và các mối quan tâm khác đối với bệnh ung thư vú (BCS)
3.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới CLCS trong các nghiên cứu
Các yếu tố ảnh hưởng đến CLCS của BN UTV trong các NC được trình bày chi