Tỷ lệ bệnh nhân sử dụng các phác đồ điều trị đái tháo đường typ 2 tại các thời điểm trong nghiên cứu .... Phân tích sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp và rối loạn lipid máu trên bệnh n
TỔNG QUAN
Bệnh đái tháo đường
Theo Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị đái tháo đường type 2 của Bộ Y tế năm 2020, đái tháo đường được mô tả là một rối loạn chuyển hóa không đồng nhất, đặc trưng bởi tăng đường huyết do khiếm khuyết về tiết insulin, hoặc do tác động bất thường của insulin, hoặc cả hai Tình trạng tăng glucose kéo dài gây rối loạn chuyển hóa carbohydrate, protein và lipid, từ đó gây tổn thương ở nhiều cơ quan, đặc biệt là tim mạch, thận, mắt và hệ thần kinh.
1.1.2 Dịch tễ bệnh đái tháo đường Đái tháo đường là một bệnh mạn tính không lây nhiễm phổ biến trên toàn cầu bên cạnh các bệnh tim mạch, ung thư… Theo thống kê của Liên đoàn đái tháo đường thế giới (International Diabetes Federation - IDF) năm 2019, trên toàn thế giới có 463 triệu người độ tuổi 20-79 mắc đái tháo đường (chiếm 9,3% dân số thế giới) và chủ yếu tập trung vào độ tuổi > 60 tuổi Dự đoán vào năm 2045 sẽ có khoảng 700 triệu người mắc đái tháo đường, tức là trong 10 trưởng thành có 1 người mắc bệnh đái tháo đường Cũng theo thống kê của IDF năm 2019 có 4,2 triệu người chết vì đái tháo đường Ước tính năm 2019, chi phí liên quan đến đái tháo đường là 760 tỷ đô la [18] Ở Việt Nam, nghiên cứu năm 2012 của bệnh viện Nội tiết trung ương cho thấy tỷ lệ mắc ĐTĐ trên toàn quốc ở người trưởng thành là 5,4%, tỷ lệ đái tháo đường chưa được chẩn đoán trong cộng đồng là 63,6% [3] Theo thống kê của IDF năm 2019, Việt Nam (nằm trong vùng phía Tây Thái Bình Dương) có hơn 3,7 triệu người mắc ĐTĐ; khoảng 53,4% người mắc ĐTĐ chưa được chẩn đoán ĐTĐ là nguyên nhân tử vong của hơn 30 ngàn người trưởng thành mỗi năm Ước tính chi phí liên quan đến điều trị đái tháo đường là 322,8 đô la/người mỗi năm [18]
Đái tháo đường hiện đang là một vấn đề sức khỏe nghiêm trọng, không chỉ ở các nước phát triển mà còn tác động đến các nước đang phát triển như Việt Nam.
1.1.3 Phân loại đái tháo đường
Theo các khuyến cáo của Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA 2021) và hướng dẫn chẩn đoán và điều trị đái tháo đường typ 2 của Bộ Y tế (2020), bệnh đái tháo đường được phân loại theo các nhóm chuẩn [4], [15].
- Đái tháo đường typ 1: do tế bào β của tuyến tụy bị phá vỡ, thường dẫn đến thiếu hụt insulin tuyệt đối
- Đái tháo đường typ 2: do quá trình giảm tiết insulin trên nền tảng đề kháng với insulin
Đái tháo đường thai kỳ là ĐTĐ được chẩn đoán lần đầu trong thai kỳ, thường xuất hiện ở giữa thai kỳ hoặc ở những tháng cuối và không có bằng chứng về ĐTĐ type 1 hoặc type 2 trước đó.
1.1.4 Cơ chế bệnh sinh đái tháo đường typ 2
Hai yếu tố đặc trưng trong cơ chế bệnh sinh của đái tháo đường typ 2 là rối loạn tiết insulin và đề kháng insulin kết hợp với nhau [7]
1.1.5.1 Các biến chứng cấp tính
Hôn mê nhiễm toan ceton là biến chứng có nguy cơ tử vong cao; nguyên nhân chủ yếu là sự tăng hormone gây tăng glucose huyết và thiếu insulin, làm tăng sản xuất glucose tại gan, tăng ly giải lipid và tăng tổng hợp ceton, dẫn tới nhiễm toan chuyển hóa [14].
Biến chứng mạch máu lớn: xơ vữa mạch vành, xơ vữa mạch não …[1]
Biến chứng mạch máu nhỏ của ĐTĐ typ 2 gồm biến chứng võng mạc, biến chứng thận (viêm hoại tử đài bể thận, bệnh cầu thận đái tháo đường) và bệnh thần kinh ngoại vi (rối loạn cảm giác, vận động và tự động) Những biến chứng này thường gặp ở người cao tuổi mắc ĐTĐ typ 2 [14].
Theo hướng dẫn chẩn đoán và điều trị đái tháo đường typ 2 của Bộ Y tế năm 2020, chẩn đoán đái tháo đường được thực hiện dựa vào một trong bốn tiêu chuẩn sau đây, như được trình bày trong tài liệu tham khảo [4], nhằm đảm bảo chẩn đoán chính xác và kịp thời cho người bệnh.
Glucose huyết lúc đói (FPG) ≥ 126 mg/dL (7 mmol/L) được xem là ngưỡng chẩn đoán đái tháo đường Để xét nghiệm FPG đúng chuẩn, người bệnh phải nhịn ăn tối thiểu 8 giờ, thường là qua đêm từ 8–14 giờ, và có thể uống nước lọc hoặc nước đun sôi để nguội trong thời gian nhịn ăn; tuyệt đối không được uống nước ngọt hoặc ăn uống gì khác.
Glucose huyết ở thời điểm sau 2 giờ làm nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống 75g ≥ 200 mg/dl (hay 11,1 mmol/l)
Nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống phải được thực hiện theo hướng dẫn của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) Bệnh nhân nhịn đói từ nửa đêm trước khi làm nghiệm pháp và uống một lượng glucose tương đương 75 g, được hòa tan trong 250 ml nước Quá trình này nhằm đánh giá khả năng dung nạp glucose của cơ thể và được thực hiện theo đúng quy định y tế để đảm bảo kết quả chính xác và an toàn cho người tham gia.
300 ml nước, uống trong 5 phút, trong 3 ngày trước đó bệnh nhân ăn khẩu phần có khoảng 150– 200 gam carbohydrat mỗi ngày
HbA1c ≥ 6,5% (48 mmol/mol) là ngưỡng cần chú ý trong chẩn đoán rối loạn đường huyết Xét nghiệm HbA1c phải được thực hiện tại phòng thí nghiệm được chuẩn hóa theo tiêu chuẩn quốc tế Ở bệnh nhân có triệu chứng kinh điển của tăng glucose huyết hoặc mức glucose huyết tương ở thời điểm bất kỳ ≥ 200 mg/dL (11,1 mmol/L).
Điều trị đái tháo đường typ 2
Trong tài liệu này, mục tiêu điều trị cụ thể cho đái tháo đường type 2 được trình bày dựa trên hai nguồn hướng dẫn quan trọng là hướng dẫn chẩn đoán và điều trị đái tháo đường type 2 của Bộ Y tế năm 2020 và các tiêu chuẩn của Hiệp hội đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA) năm 2021, với nội dung trọng tâm được thể hiện trong bảng 1.1 nhằm đảm bảo quản lý đường huyết hiệu quả, giảm nguy cơ biến chứng và tối ưu hóa chăm sóc người bệnh.
Bảng 1.1 Mục tiêu điều trị cho bệnh nhân ĐTĐ typ 2 [4], [ 15]
Glucose huyết tương mao mạch lúc đói, trước ăn
80 – 130 mg/dl (4,4 – 7,2 mmol/l)* Đỉnh glucose huyết tương mao mạch sau ăn 1-2 giờ
HA50 mg/dl (1,3 mmol/l) ở nữ
Bảng 1.2 Mục tiêu điều trị đái tháo đường ở người già [4]
Cơ sở để chọn lựa HbA1c
Glucose huyết lúc đói hoặc trước ăn (mg/dl)
Glucose lúc đi ngủ (mg/dl)
Mạnh khỏe Còn sống lâu < 7,5% 90-130 90-150 < 140/90 Nhiều bệnh/ sức khỏe trung bình ỳ vọng sống trung bình
Nhiều bệnh phức tạp hoặc bệnh nguy kịch/ sức khỏe kém
1.2.2 Điều trị đái tháo đường typ 2
Trong điều trị đái tháo đường, kết hợp cả biện pháp không dùng thuốc và sử dụng thuốc để đạt được mục tiêu điều trị
1.2.2.1 Biện pháp không dùng thuốc
Chế độ dinh dưỡng nên được cá thể hóa dựa trên tình trạng bệnh, tuổi, thói quen ăn uống, phong tục tập quán và điều kiện kinh tế của mỗi người Việc cá thể hóa chế độ ăn giúp tối ưu hóa dinh dưỡng, hỗ trợ điều trị và phù hợp với khả năng chi trả cũng như thói quen sinh hoạt hàng ngày Vì vậy, sự tư vấn của bác sĩ chuyên khoa dinh dưỡng là cần thiết để thiết lập kế hoạch ăn uống an toàn, hiệu quả và phù hợp với từng hoàn cảnh.
Theo quy trình lâm sàng chẩn đoán và điều trị đái tháo đường type 2 của Bộ Y tế (2020) và hướng dẫn của Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA 2021), ưu tiên điều trị bằng liệu pháp đơn trị liệu và metformin vẫn là lựa chọn hàng đầu cho người bệnh ĐTĐ type 2 mới được chẩn đoán, trừ khi có chống chỉ định hoặc không dung nạp thuốc.
Hình 1.1 Sơ đồ lựa chọn thuốc và phương pháp điều trị ĐTĐ typ 2 [5]
Bên cạnh kiểm soát glucose huyết ở mức mục tiêu, điều trị ĐTĐ cần quản lý toàn diện đa yếu tố: kiểm soát huyết áp, lipid máu, cân nặng, và theo dõi các biến chứng cũng như các bệnh lý kèm theo [3].
Hình 1.2 Các thuốc sử dụng trong ĐTĐ typ 2 – cách tiếp cận tổng quát theo ADA 2021
Thuốc điều trị bệnh đái tháo đường typ 2
Thuốc điều trị đái tháo đường tại bệnh viện YDCT&PHCN tỉnh Phú Thọ năm 2020 gồm các nhóm sau:
- Nhóm kích thích bài tiết insulin: sulfonylure
- Nhóm làm tăng nhạy cảm với insulin ở mô đích: biguanid
Insulin là một protein nên khi uống sẽ bị thủy phân ở đường tiêu hóa, khiến insulin đường uống không mang lại hiệu quả Do đó insulin được dùng bằng đường tiêm, gồm các hình thức tiêm như tiêm bắp hoặc tiêm dưới da; khi cần thiết có thể tiêm tĩnh mạch để phát huy tác dụng nhanh chóng, đặc biệt trong điều trị đái tháo đường.
Insulin là hormone có receptor đặc hiệu trên tế bào người Insulin kích thích chuyển hóa carbohydrate ở cơ, tim và mô mỡ bằng cách tạo thuận lợi cho quá trình vận chuyển glucose vào tế bào Mô thần kinh, hồng cầu và các tế bào ở ruột, gan và ống thận không cần insulin để vận chuyển glucose Ở gan, insulin thúc đẩy phosphoryl hóa glucose thành glucose-6-phosphate, chất này được chuyển thành glycogen hoặc tham gia các con đường chuyển hóa tiếp theo Insulin cũng tác động trực tiếp đến chuyển hóa mỡ và protein: kích thích tổng hợp mỡ, ức chế tiêu mỡ và ngăn giải phóng acid béo tự do từ mô mỡ Ngoài ra, insulin còn kích thích tổng hợp protein.
Theo khuyến cáo của Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA, 2021), insulin nên được cân nhắc sử dụng sớm ở tất cả bệnh nhân đái tháo đường typ 1 và typ 2 khi có bằng chứng của hội chứng chuyển hóa, khi có triệu chứng tăng glucose huyết, hoặc HbA1c cao (>10%), hoặc nồng độ glucose huyết tăng.
Bảng 1.3 Đặc điểm các loại insulin [3]
Dạng insulin Biệt dƣợc Nồng độ
Thời gian khởi phát tác dụng
Thời gian duy trì tác dụng
Chất tương tự insulin tác dụng rất nhanh
100 IU/ml 15-30 phút 4-8 giờ Insulin bán chậm
(insulin tác dụng trung bình hoặc
Chất tương tự insulin tác dụng chậm (insulin glargin hay insulin determir)
Hỗn hợp insulin bán chậm/chất tương tự insulin
Hỗn hợp insulin bán chậm/insulin nhanh
Sulfonylure được chia thành 2 thế hệ [3], [4]:
Thuốc kích thích tế bào beta tụy gắn vào kênh kali phụ thuộc ATP (K_ATP) trên màng tế bào β tụy và đóng kênh này, làm màng tế bào bị khử cực Khi màng tế bào β tụy khử cực, kênh calci phụ thuộc điện thế mở ra, calci luồn vào tế bào và kích hoạt phóng thích insulin từ các granule dự trữ Nhờ cơ chế này, thuốc làm giảm HbA1c từ 1–1,5%.
Kiểm soát tim mạch và các yếu tố nguy cơ
Glibenclamid được hấp thu tốt qua đường tiêu hóa, và thức ăn không ảnh hưởng đến tốc độ hay mức độ hấp thu Thuốc được chuyển hóa hoàn toàn tại gan, với chất chuyển hóa chủ yếu cũng có tác dụng hạ đường huyết yếu Nửa đời của glibenclamid trung bình từ 1,4 đến 1,8 giờ (khoảng 0,7–3 giờ), và có thể kéo dài ở người suy gan hoặc suy thận.
1.3.2.3 Tác dụng không mong muốn
Rối loạn tiêu hóa, đau bụng, buồn nôn, tiêu chảy [3]
Metformin là đại diện duy nhất còn lại của nhóm biguanid được dùng để điều trị ĐTĐ Hoạt động chính của Metformin là tăng cường hoạt tính của enzyme AMPK (AMP-activated protein kinase) Khi AMPK được kích hoạt, nó thúc đẩy oxy hóa acid béo, tăng hấp thu glucose và tăng chuyển hóa glucose không oxy hóa, đồng thời làm giảm tổng hợp lipid và glucose Kết quả của cơ chế này là làm tăng dự trữ glycogen trong cơ xương, giảm tổng hợp glucose ở gan, tăng nhạy cảm insulin và làm giảm glucose huyết.
1.3.3.2 Chỉ định Điều trị bệnh đái tháo đường typ 2: dùng metformin, đơn trị liệu kết hợp với chế độ ăn và luyện tập, khi tăng đường huyết không thể kiểm soát được bằng chế độ ăn đơn thuần Metformin là thuốc ưu tiên lựa chọn cho những bệnh nhân quá cân
1.4 Kiểm soát bệnh tim mạch và các yếu tố nguy cơ
Bệnh nhân đái tháo đường phải đo huyết áp định kỳ ở mỗi lần thăm khám
Biện pháp không dùng thuốc
Để giảm cân khi thừa cân hoặc béo phì, hãy áp dụng chế độ ăn dành cho người tăng huyết áp, trong đó chú trọng giảm muối và tăng lượng kali trong khẩu phần ăn; đồng thời hạn chế uống rượu và tăng cường hoạt động thể lực để cải thiện sức khỏe và huyết áp.
Theo ADA 2021, điều trị tăng huyết áp ở bệnh nhân tiểu đường nên ưu tiên dùng các nhóm thuốc đã được chứng minh làm giảm nguy cơ bệnh tim mạch, bao gồm ức chế men chuyển (ƯCMC), ức chế thụ thể AT1 (CTTA), thuốc lợi tiểu thiazide và chẹn kênh calci dihydropyridin.
Bệnh nhân đái tháo đường cần kiểm tra bộ lipid máu ít nhất hàng năm [4]
Biện pháp không dùng thuốc
Thay đổi lối sống là yếu tố then chốt cho quản lý lipid máu: giảm cân khi cần thiết, điều chỉnh chế độ ăn để giảm mỡ bão hòa và tổng lượng mỡ tiêu thụ, đồng thời tăng cường tiêu thụ acid béo n-3, chất xơ hòa tan và stanols/sterols thực vật; duy trì cân nặng hợp lý và khuyến khích tăng cường hoạt động thể lực nhằm cải thiện lipid máu và giảm nguy cơ bệnh tim mạch do xơ vữa động mạch ở người bệnh đái tháo đường [4], [15].
Theo hướng dẫn chẩn đoán và điều trị đái tháo đường typ 2 của Bộ Y tế (2020) và Hiệp hội đái tháo đường Hoa Kỳ (2021), statin được xem là thuốc lựa chọn đầu tiên trong điều trị rối loạn lipid máu ở bệnh nhân đái tháo đường, nhằm giảm nguy cơ biến cố tim mạch và cải thiện mức lipid máu ở người có nguy cơ cao [4], [15].
Bảng 1.4 Khuyến cáo của ADA (2021) sử dụng statin và điều trị phối hợp trên bệnh nhân trưởng thành mắc đái tháo đường [15] Độ tuổi
Mắc BTMDXV hoặc nguy cơ BTMDXV
Khuyến cáo sử dụng statin và điều trị phối hợp*
Statin có hiệu lực mạnh trong quản lý LDL-C ở BN mắc BTMDXV Khi LDL-C ≥ 70 mg/dl, nên sử dụng tối đa liều statin dung nạp được và cân nhắc kết hợp với các dược chất giảm LDL-C khác như ezetimibe hoặc ức chế PCSK9 để tối ưu hóa kiểm soát lipid và giảm nguy cơ biến cố tim mạch.
Không Statin hiệu lực trung bình
Statin có hiệu lực mạnh giúp kiểm soát LDL-c ở mức cao Đối với bệnh nhân mắc BTMDXV, khi LDL-c ≥ 70 mg/dl, nên dùng liều tối đa dung nạp statin và cân nhắc phối hợp với các dược chất giảm LDL-c khác như ezetimibe hoặc ức chế PCSK9 để tối ưu hóa kết quả điều trị và đạt mục tiêu hạ LDL-c.
* Khuyến cáo điều trị kết hợp với điều chỉnh lối sống
Bảng 1.5 Hiệu lực các thuốc nhóm statin (liều sử dụng hằng ngày) [15]
Statin hiệu lực trung bình (Giảm LDL-c: 30-49%)
Atovastatin 10-20 mg Rosuvastatin 5-10 mg Simvastatin 20-40 mg Pravastatin 40-80 mg Lovastatin 40 mg Fluvastatin GPKD 80 mg Pitavastatin 1-4 mg
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tƣợng nghiên cứu
Bệnh án này ghi lại quá trình điều trị ngoại trú của bệnh nhân đái tháo đường type 2 tại Khoa Khám bệnh - Bệnh viện Y dược cổ truyền và Phục hồi chức năng tỉnh Phú Thọ, từ tháng 01 năm 2020 đến ngày 30 tháng 6 năm 2020 Hồ sơ mô tả tình trạng bệnh, kế hoạch điều trị và quá trình theo dõi nhằm kiểm soát đường huyết và cải thiện chức năng phục hồi tại cơ sở y tế nói trên.
- Bệnh nhân ngoại trú trên 18 tuổi được chẩn đoán và điều trị ĐTĐ typ 2 bằng thuốc
- Bệnh nhân được làm xét nghiệm glucose huyết đầy đủ
- Bệnh nhân được điều trị liên tục ít nhất 6 tháng
- Bệnh nhân phải nhập viện để điều trị nội trú trong thời gian theo dõi nghiên cứu
Để tối ưu kết quả điều trị, bác sĩ phải xem xét các bệnh lý kèm theo của bệnh nhân có thể ảnh hưởng đến kết quả điều trị, như bệnh tụy ngoại tiết và các bệnh lý nội tiết khác Việc đồng thời dùng các thuốc điều trị HIV và thuốc chống thải ghép như glucocorticoid cũng có thể tác động đến hiệu quả và an toàn của phác đồ điều trị Do đó, quản lý đồng bộ các tình trạng bệnh và thuốc đang dùng là yếu tố quyết định trong quá trình điều trị.
- Bệnh nhân đái tháo đường thai kỳ.
Phương pháp nghiên cứu
Chọn mẫu thuận tiện, ngẫu nhiên, thu nhận các bệnh án của bệnh nhân thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ vào trong nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được thực hiện là hồi cứu mô tả, thu thập dữ liệu từ dữ liệu điện tử và bệnh án giấy, không can thiệp vào đối tượng nghiên cứu, và tổng hợp kết quả dựa trên phiếu thu thập thông tin (phụ lục 1).
Các thời điểm nghiên cứu:
- T0: Lúc bắt đầu thăm khám và điều trị
- T3: sau 3 tháng điều trị (tính từ thời điểm T0)
- T6: sau 6 tháng điều trị (tính từ thời điểm T0)
2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu
Nghiên cứu tiến hành thu thập thông tin từ cơ sở dữ liệu của phần mềm quản lý bệnh viện và hồ sơ bệnh án giấy của bệnh nhân đến khám và điều trị trong thời gian từ 01/01/2020 đến 30/6/2020 Dữ liệu được lọc để chỉ đưa vào phân tích những trường hợp đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ các đối tượng không phù hợp theo tiêu chuẩn loại trừ, đảm bảo tính đầy đủ và độ tin cậy của kết quả nghiên cứu.
Quy trình lấy mẫu như sau:
Bước 1: Dựa vào dữ liệu bệnh nhân khám ngoại trú tại khoa Khám bệnh - Bệnh viện YDCT&PHCN từ tháng 01 đến tháng 06/2020
Bước 2: Dựa trên thông tin về các xét nghiệm được chỉ định cho các bệnh nhân trong danh sách thu được ở bước 1, hãy chọn ra danh sách bệnh nhân sẽ thực hiện các xét nghiệm gồm glucose máu lúc đói, triglycerid và HDL-cholesterol, nhằm đánh giá tổng thể nguy cơ và phục vụ cho kế hoạch chăm sóc sức khỏe phù hợp.
Bước 3: Dựa vào thông tin về thời gian tái khám trong danh sách thu được ở bước
2, chọn ra danh sách bệnh nhân tái khám định kỳ hàng tháng đầy đủ
Trong Bước 4, dựa trên danh sách thu được ở Bước 3, tiếp tục loại trừ những bệnh nhân phải nhập viện trong thời gian theo dõi nghiên cứu và những người có các bệnh lý khác có thể làm ảnh hưởng đến kết quả điều trị Đồng thời loại trừ cả những bệnh nhân mắc đái tháo đường thai kỳ, nhằm thu được danh sách bệnh nhân đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ cho nghiên cứu.
Thời điểm bắt đầu nghiên cứu (T0) được xác định là thời điểm bệnh nhân được làm xét nghiệm glucose huyết lần đầu tiên, diễn ra từ tháng 01 đến tháng 06/2020 Tại thời điểm T0, chúng tôi thu thập các thông tin liên quan nhằm làm cơ sở cho phân tích dữ liệu và đảm bảo dữ liệu thu thập được đầy đủ, nhất quán và phù hợp với mục tiêu nghiên cứu.
- Đặc điểm bệnh nhân: tuổi, giới, cân nặng, chiều cao, huyết áp, bệnh mắc kèm, tiền sử dùng thuốc
- Các xét nghiệm sinh hóa máu: glucose huyết lúc đói, triglycerid, HDL-c, creatinin
- Đơn thuốc: tên thuốc, hàm lượng, liều lượng, cách dùng
Thời điểm sau 3 tháng điều trị (T3) và thời điểm sau 6 tháng điều trị (T6) tính từ thời điểm T0 Thu thập các thông tin về:
- Các xét nghiệm sinh hóa máu: glucose huyết lúc đói, triglycerid, HDL-c, creatinin
- Đơn thuốc: Tên thuốc, hàm lượng, liều lượng, cách dùng.
Nội dung nghiên cứu
Mục tiêu 1 của nghiên cứu là phân tích đặc điểm sử dụng thuốc điều trị ĐTĐ typ 2 trên bệnh nhân ngoại trú tại Bệnh viện YDCT&PHCN tỉnh Phú Thọ từ tháng 01/2020 đến tháng 06/2020 Đặc điểm chung của bệnh nhân trong nghiên cứu được mô tả nhằm làm rõ nhóm bệnh nhân tham gia, mức độ bệnh lý và các yếu tố liên quan đến lựa chọn và sử dụng thuốc điều trị ĐTĐ typ 2 tại cơ sở y tế địa phương.
- Đặc điểm BMI của bệnh nhân
Các chỉ số cận lâm sàng của bệnh nhân tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu T0:
Glucose huyết lúc đói (FPG), huyết áp, creatinine, triglycerid, HDL-c
Phân tích đặc điểm sử dụng thuốc điều trị ĐTĐ typ 2 trên bệnh nhân ngoại trú tại các thời điểm nghiên cứu
- Danh mục các thuốc điều trị ĐTĐ typ 2 sử dụng tại các thời điểm nghiên cứu
- Liều dùng các thuốc điều trị ĐTĐ typ 2 trong mẫu nghiên cứu
- Tỷ lệ bệnh nhân sử dụng các thuốc điều trị đái tháo đường typ 2 tại các thời điểm nghiên cứu
- Các phác đồ điều trị ĐTĐ typ 2 sử dụng tại các thời điểm nghiên cứu
- Tỷ lệ bệnh nhân thay đổi phác đồ điều trị tại các thời điểm nghiên cứu
- Phân tích sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp và rối loạn lipid máu trên bệnh nhân ĐTĐ typ 2 tại các thời điểm nghiên cứu
Mục tiêu 2 của nghiên cứu là phân tích hiệu quả sử dụng thuốc điều trị ĐTĐ týp 2 ở bệnh nhân ngoại trú tại Bệnh viện YDCT&PHCN tỉnh Phú Thọ sau 3 tháng và 6 tháng điều trị Đánh giá chính gồm mức kiểm soát đường huyết và HbA1c, đường huyết lúc đói, tần suất tác dụng phụ và mức độ tuân thủ để xác định an toàn và hiệu quả của phác đồ thuốc hiện có Nghiên cứu sẽ so sánh các chỉ số ở thời điểm 3 tháng và 6 tháng nhằm làm rõ thời điểm tối ưu cho sự cải thiện kiểm soát đường huyết và an toàn thuốc Kết quả phân tích sẽ phản ánh hiệu quả thực tế của thuốc điều trị ĐTĐ týp 2 trên bệnh nhân ngoại trú tại Phú Thọ và đóng góp cho nâng cao chất lượng quản lý đái tháo đường tại cơ sở y tế địa phương.
- Phân tích hiệu quả kiểm soát glucose huyết lúc đói sau 3 tháng và 6 tháng điều trị
- Phân tích hiệu quả kiểm soát huyết áp sau 3 tháng và 6 tháng điều trị
- Phân tích hiệu quả kiểm soát lipid máu sau 3 tháng và 6 tháng điều trị.
Các tiêu chuẩn đánh giá trong nghiên cứu
2.4.1 Tiêu chuẩn hiệu quả điều trị
Trong nghiên cứu này, chúng tôi xây dựng các tiêu chí dựa trên mục tiêu điều trị được Bộ Y tế đề ra trong hướng dẫn chẩn đoán và điều trị ĐTĐ Các tiêu chí này nhằm chuẩn hóa đánh giá tình trạng người bệnh, tăng tính nhất quán giữa chẩn đoán và quản lý điều trị, và tối ưu hóa kết quả điều trị theo khuyến cáo của Bộ Y tế Việc phát triển các tiêu chí này sẽ hỗ trợ các bác sĩ áp dụng đúng đắn các nguyên tắc điều trị ĐTĐ, nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh và tuân thủ phác đồ điều trị.
2020 [4], phân loại hiệu quả điều trị như bảng 2.1
Bảng 2.1 Tiêu chuẩn điều trị
Chỉ số/phân loại Đạt Chƣa đạt
2.4.2 Tiêu chuẩn đánh giá chỉ số khối cơ thể BMI
Thể trạng của bệnh nhân được đánh giá căn cứ vào chỉ số khối cơ thể BMI tính theo công thức: (người châu á)
BMI = Cân nặng (kg)/ [Chiều cao (m)]2
Bảng 2.2 Tiêu chuẩn đánh giá chỉ số khối cơ thể BMI
Thừa cân (có nguy cơ) 23-24,9
2.4.3 Tiêu chuẩn lựa chọn các thuốc điều trị bệnh mắc kèm
Phác đồ kết hợp điều trị tăng huyết áp ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 được coi là phù hợp khi kết hợp các nhóm thuốc ức chế men chuyển (ACE inhibitors), ức chế thụ thể angiotensin II (ARB), chẹn kênh calci và lợi tiểu Sự phối hợp này giúp kiểm soát huyết áp hiệu quả, bảo vệ chức năng thận và làm giảm nguy cơ biến chứng tim mạch ở người ĐTĐ type 2, đồng thời cần xem xét kỹ lưỡng tác dụng phụ và tương tác thuốc để đảm bảo hiệu quả lâu dài.
Phác đồ kết hợp điều trị rối loạn lipid ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2 được cho là phù hợp khi: (1) bệnh nhân có bệnh tim mạch và được điều trị statin bất kể trị số lipid máu ban đầu; hoặc (2) không có bệnh tim mạch nhưng trên 40 tuổi và có nhiều hơn một yếu tố nguy cơ tim mạch khác Việc sử dụng statin nên tuân thủ hướng dẫn chẩn đoán và điều trị đái tháo đường typ 2 của Bộ Y tế (2020) và Hiệp hội đái tháo đường Hoa Kỳ (2021), được trình bày trong bảng 1.4 và bảng 1.5.
2.4.4 Các hình thức thay đổi phác đồ điều trị
Trong nghiên cứu, các hình thức thay đổi phác đồ điều trị được định nghĩa trong bảng 2.3
Bảng 2.3 Các hình thức thay đổi phác đồ điều trị
Phác đồ không đổi Giữ nguyên thuốc và liều dùng
Phác đồ thêm thuốc Thêm 1 hoạt chất mới vào phác đồ dùng ngay trước Phác đồ bớt thuốc Bớt 1 hoạt chất có trong phác đồ trước đó
Phác đồ tăng liều Giữ nguyên hoạt chất điều trị nhưng tăng liều thuốc
Phác đồ giảm liều Giữ nguyên hoạt chất điều trị nhưng giảm liều thuốc Phác đồ đổi thuốc Bỏ đi 1 hoạt chất trong phác đồ trước đó và thêm
Xử lý số liệu
Thu thập thông tin từ các bệnh án nghiên cứu theo Mẫu phiếu thu thập dữ liệu đã được xây dựng sẵn nhằm khảo sát đúng các tiêu chí đã được xác định trước Việc sử dụng mẫu phiếu chuẩn giúp ghi nhận dữ liệu đầy đủ, đồng nhất và phù hợp với mục tiêu nghiên cứu, đồng thời tăng độ tin cậy của kết quả và bảo đảm tính khách quan Quá trình thu thập dữ liệu được thực hiện trên cơ sở tuân thủ quy trình nghiên cứu, quản lý dữ liệu y khoa và đảm bảo an toàn, riêng tư cho thông tin bệnh nhân.
Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm nhập liệu Microsoft Excel 2013 Sau khi nhập liệu, các kết quả được chiết xuất từ phần mềm xử lý số liệu để xác định các chỉ tiêu cần thiết cho phân tích thống kê Đối với các biến có phân bố chuẩn, dữ liệu được mô tả theo trung bình (TB) ± độ lệch chuẩn (SD) Đối với các biến phân bố không chuẩn, dữ liệu được mô tả bằng trung vị và khoảng tứ phân vị (IQR) Các biến số phân hạng được biểu diễn dưới dạng tần suất và tỷ lệ %.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Phân tích đặc điểm sử dụng thuốc điều trị đái tháo đường typ 2 trên bệnh nhân ngoại trú
3.1.1 Đặc điểm chung của bệnh nhân trong nghiên cứu
Vào thời điểm bắt đầu nghiên cứu (T0), đề tài đã lựa chọn 150 bệnh án đáp ứng đầy đủ tiêu chí lựa chọn và tiêu chí loại trừ để đưa vào nghiên cứu Các đặc điểm chung của bệnh nhân tham gia được trình bày trong bảng 3.1.
Bảng 3.1 Đặc điểm chung của bệnh nhân Đặc điểm Số BN Tỷ lệ (%)
Trong nghiên cứu này, số lượng bệnh nhân nam chiếm 51,3%, nhiều hơn số bệnh nhân nữ Tuổi trung bình của bệnh nhân là 62,75 ± 8,73 tuổi, trong đó 99,3% ở độ tuổi ≥40 Tỷ lệ bệnh nhân ĐTĐ typ 2 mắc THA là 37,9%, và tỷ lệ mắc RLLP là 29,9%.
3.1.2 Các chỉ số cận lâm sàng của bệnh nhân tại thời điểm T0
3.1.2.1 Chỉ số glucose huyết lúc đói (FPG) tại thời điểm T0
Chỉ số glucose huyết lúc đói (FPG) của bệnh nhân trong nghiên cứu tại thời điểm T0 được thể hiện trong bảng 3.2
Bảng 3.2 Các chỉ số glucose huyết lúc đói (FPG) tại thời điểm T0
Chỉ số Số BN Tỷ lệ (%)
Chỉ số glucose huyết lúc đói (FPG) tại thời điểm T0 có giá trị trung bình khá cao, đạt 9,3 ± 2,81 mmol/L Trong đó, 23,3% bệnh nhân có FPG ở mức 4,4–7,2 mmol/L, 73,4% có FPG từ 7,3–16,7 mmol/L và 3,3% có FPG ≥ 16,7 mmol/L.
3.1.2.2 Các chỉ số huyết áp tại thời điểm T0
Các chỉ số huyết áp và lipid máu, bao gồm triglycerid và HDL-c, của các bệnh nhân đạt chỉ tiêu trong nghiên cứu tại thời điểm T0 được trình bày ở Bảng 3.3.
Bảng 3.3 Các chỉ số huyết áp và lipid máu tại thời điểm T0 Đặc điểm Số BN Tỷ lệ (%)
Tại thời điểm T0, huyết áp của toàn bộ bệnh nhân được đo và ghi nhận trong nghiên cứu Huyết áp tâm thu trung bình là 123,6 ± 8,99 mmHg, huyết áp tâm trương trung bình là 78,8 ± 3,47 mmHg Có 89,3% bệnh nhân có huyết áp đạt dưới 140/90 mmHg.
Ở thời điểm T0, toàn bộ bệnh nhân tham gia nghiên cứu được xét nghiệm hai chỉ số lipid máu là triglyceride và HDL-C Kết quả cho thấy có 34,7% bệnh nhân đạt mục tiêu triglyceride, trong khi 31,3% đạt mục tiêu HDL-C.
3.1.2.3 Thể trạng của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu
Tổng số 150 bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu được theo dõi chiều cao, cân nặng thể hiện trong bảng 3.4
Bảng 3.4 Phân loại bệnh nhân theo thể trạng
Phân loại BMI (kg/m 2 ) Số bệnh nhân
Thừa cân (có nguy cơ) 23-24,9 43 28,7
Kết quả bảng trên cho thấy BMI trung bình của BN trong mẫu nghiên cứu là 22,5 ± 2,04 (kg/m 2 ) Tỷ lệ bệnh nhân có thể trạng bình thường chiếm tỷ lệ cao nhất chiếm 57,3% Tỷ lệ bệnh nhân có nguy cơ thừa cân và béo phì độ 1 cũng khá cao lần lượt là (28,7% và 10,7%) Tỷ lệ bệnh nhân gầy là 3,3%
3.1.3 Phân tích danh mục các thuốc điều trị đái tháo đường typ 2 sử dụng tại các thời điểm nghiên cứu
Các thuốc điều trị đái tháo đường typ 2 được sử dụng tại các thời điểm nghiên cứu được thể hiện trong bảng 3.5
Bảng 3.5 Danh mục các thuốc điều trị ĐTĐ typ 2 sử dụng tại các thời điểm nghiên cứu
Nhóm thuốc Dƣợc chất Biệt dƣợc, hàm lƣợng Dạng bào chế
Sulfonylure Glimepirid Glimepirid 4mg Viên nén
Phối hợp cố định liều
Insulin Insulin trộn, hỗn hợp
Wosulin R 40IU/ml Hỗn dịch
Scilin N 40IU/ml Hỗn dịch
Danh mục các thuốc điều trị đái tháo đường type 2 được sử dụng trong nghiên cứu được chia thành hai nhóm chính: thuốc đường uống và thuốc tiêm (insulin) Ở nhóm thuốc đường uống, các thuốc được sử dụng gồm nhóm biguanid (metformin), nhóm sulfonylurea (glimepiride), và dạng phối hợp cố định liều giữa metformin và glibenclamide (Glirit DHG 500 mg/2,5 mg) Các dạng thuốc đường uống đều được bào chế ở dạng viên nén thông thường.
3.1.4 Tỷ lệ bệnh nhân sử dụng các phác đồ điều trị đái tháo đường typ 2 tại các thời điểm trong nghiên cứu
Tỷ lệ bệnh nhân sử dụng các phác đồ điều trị đái tháo đường typ 2 tại các thời điểm nghiên cứu được thể hiện qua bảng 3.6
Bảng 3.6 Các phác đồ điều trị ĐTĐ typ 2 tại các thời điểm nghiên cứu
(N0) Phác đồ đường uống đơn độc
Phác đồ đường uống phối hợp
Tại 3 thời điểm nghiên cứu, có tất cả 04 kiểu phác đồ điều trị đái tháo đường typ 2 được sử dụng Trong đó, phác đồ phối hợp các thuốc điều trị đường uống chiếm tỷ lệ cao nhất trong cả 3 thời điểm nghiên cứu Cụ thể, tỷ lệ bệnh nhân sử dụng phác đồ đường uống phối hợp metformin và sulfonylure tại T0 là 84,7%, tại T3 là 83,3% và T6 là 83,3% Tỷ lệ bệnh nhân sử dụng phác đồ metformin đơn độc chỉ có 3 bệnh nhân chiếm 2% Tỷ lệ bệnh nhân sử dụng phác đồ chứa insulin tại các thời điểm thay đổi không đáng kể (chiếm khoảng 14% tại các thời điểm)
3.1.5 Tỷ lệ bệnh nhân thay đổi phác đồ điều trị tại các thời điểm nghiên cứu
Kết quả về sự thay đổi phác đồ điều trị ĐTĐ typ 2 tại các thời điểm T3 và T6 được thể hiện trong bảng 3.7
Bảng 3.7 Tỷ lệ bệnh nhân thay đổi phác đồ điều trị tại thời điểm T3 và T6
Bảng 3.8 Lý do thay đổi phác đồ
Lý do thay đổi phác đồ Thời điểm T3 Thời điểm T6
Số BN Tỷ lệ % Số BN Tỷ lệ %
Chưa đạt mục tiêu điều trị 29 59,2 30 55,6
Do biến cố bất lợi 05 10,2 03 5,6 hoa Dược hết thuốc 12 24,5 19 35,1
Vào thời điểm T3, 67,3% bệnh nhân không thay đổi phác đồ điều trị, trong khi 32,7% bệnh nhân đã thay đổi phác đồ Trong số những người thay đổi phác đồ, đổi thuốc điều trị đái tháo đường type 2 là hình thức thay đổi phác đồ phổ biến nhất, chiếm 30,7%.
Tại thời điểm T6: Tỷ lệ bệnh nhân không thay đổi phác đồ điều trị là 64%
Tỷ lệ bệnh nhân thay đổi phác đồ điều trị là 36% Trong đó, đổi thuốc điều trị vẫn hình thức chiếm tỷ lệ cao nhất (34,6%)
Nguyên nhân do khoa Dược hết thuốc, phải thay thế thuốc cùng nhóm chiếm tỷ lệ tương đối cao lần lượt tại thời điểm T3 và T6 là (24,5%, 35,1%)
Sự thay đổi phác đồ
3.1.6 Phân tích sử dụng thuốc theo BMI của bệnh nhân
Nhóm thuốc sulfonylure, insulin là những thuốc có khả năng gây tăng cân
Do vậy, chúng tôi thống kê việc dùng thuốc trong nhóm các bệnh nhân có BMI ≥
Bảng 3.9 Phân tích sử dụng thuốc theo BMI của bệnh nhân
Trong nhóm bệnh nhân có BMI ≥ 23, có 32 bệnh nhân dùng Glimepirid (54,2%), 19 bệnh nhân dùng Glirit (32,2%) và 8 bệnh nhân dùng insulin (13,6%) Cần theo dõi cân nặng ở nhóm bệnh nhân này và khuyến khích họ vận động nhiều hơn.
3.1.7 Phân tích sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp và rối loạn lipid máu trên bệnh nhân ĐTĐ typ 2 tại các thời điểm nghiên cứu
3.1.7.1 Phân tích sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp
Phác đồ điều trị tăng huyết áp trên bệnh nhân đái tháo đường typ 2 trong nghiên cứu tại các thời điểm được thể hiện trong bảng 3.10
Bảng 3.10 Phác đồ điều trị THA sử dụng tại các thời điểm nghiên cứu
Phác đồ đơn độc ƯCMC/CTTA 26 45,6 27 47,4 24 42,1
Có 3 nhóm thuốc điều trị THA được sử dụng trong nghiên cứu bao gồm: nhóm thuốc ức chế men chuyển (ƯCMC); nhóm thuốc ức chế thụ thể AT1 (CTTA); nhóm chẹn kênh calci (CKCa) Phác đồ điều trị THA là nhóm phác đồ đơn độc Trong phác đồ đơn trị liệu, nhóm dược chất (ƯCMC/CTTA) có tỷ lệ lần lượt là 45,6%; 47,4% và 42,1% tại thời điểm T0, T3, T6; nhóm chẹn kênh calci (CKCa) có tỷ lệ lần lượt là 54,4%; 52,6% và 57,9% tại thời điểm T0, T3, T6
3.1.7.2 Phân tích sử dụng thuốc điều trị rối loạn lipid máu
Phác đồ điều trị rối loạn lipid máu được sử dụng trong nghiên cứu tại các thời điểm được thể hiện trong bảng 3.11
Bảng 3.11 Tỷ lệ dùng thuốc điều trị rối loạn lipid máu tại các thời điểm nghiên cứu
Nhóm điều trị rối loạn lipid máu trong nghiên cứu là nhóm statin, bao gồm Simvastatin 20mg và 40mg Vào thời điểm T0, 29,3% bệnh nhân đã sử dụng statin; tại các thời điểm T3 và T6, tỷ lệ này lần lượt là 27,3% và 28,7%.
Phân tích hiệu quả điều trị và thay đổi phác đồ theo hiệu quả điều trị trên bệnh nhân đái tháo đường typ 2 ngoại trú
3.2.1 Phân tích hiệu quả kiểm soát glucose huyết lúc đói sau 3 và 6 tháng điều trị
Kết quả đánh giá hiệu quả kiểm soát glucose huyết lúc đói (FPG) sau 3 và 6 tháng điều trị trong nghiên cứu được thể hiện ở bảng 3.12
Bảng 3.12 Hiệu quả kiểm soát glucose huyết lúc đói tại thời điểm T3 và T6
Thời điểm TB ± SD Đạt mục tiêu (FPG 4,4 – 7,2) Chƣa đạt mục tiêu
Số BN Tỷ lệ % Số BN Tỷ lệ % T0 (N0) 9,3 ± 2,81 35 23,3 115 76,7
Giá trị trung bình FPG tại thời điểm T3 và T6 vẫn còn cao và có sự dao động nhẹ ở các mức 9,3 ± 2,81; 9,11 ± 2,92; 8,87 ± 2,49 mmol/l tại T0, T3 và T6
Về tỷ lệ bệnh nhân đạt mục tiêu FPG, tại thời điểm T0 có 23,3% bệnh nhân đạt mục tiêu Tại thời điểm T3, tỷ lệ này tăng nhẹ lên 24,7%; đến T6, tỷ lệ bệnh nhân đạt mục tiêu FPG tăng lên 27,3% so với T0 và T3 Số lượng bệnh nhân chưa kiểm soát được glucose máu đói vẫn còn cao, tuy nhiên chưa ghi nhận trường hợp bệnh nhân nào có biểu hiện hạ đường huyết trên lâm sàng.
3.2.2 Phân tích hiệu quả kiểm soát huyết áp sau 3 và 6 tháng điều trị
Bảng 3.13 Hiệu quả kiểm soát huyết áp tại thời điểm T3 và T6
Số BN Tỷ lệ % Số BN Tỷ lệ %
Hiệu quả kiểm soát huyết áp của mẫu nghiên cứu sau 6 tháng điều trị cho thấy kết quả khả quan, với bệnh viện duy trì kiểm soát huyết áp ở mức ổn định cho người bệnh Tại thời điểm T0, 89,3% bệnh nhân kiểm soát được huyết áp, và sau 6 tháng điều trị tỷ lệ này vẫn ở mức 88,7%, cho thấy hiệu quả điều trị được duy trì liên tục trong thời gian theo dõi.
3.2.3 Phân tích hiệu quả kiểm soát lipid máu sau 3 và 6 tháng điều trị
Bảng 3.14 Hiệu quả kiểm soát lipid máu tại thời điểm T3 và T6
Chỉ số Thời điểm Trung bình
Trị số triglycerid trung bình ở mức kiểm soát kém trên 1,7 mmol/L cho thấy nhóm bệnh nhân không đạt mục tiêu có giá trị cao hơn so với nhóm đạt mục tiêu; trong khi đó, giá trị HDL-c duy trì tương đối ổn định.
3.2.4 Phân tích sự thay đổi phác đồ điều trị tại thời điểm T3 và T6 trên những bệnh nhân được xét nghiệm glucose huyết
3.2.4.1 Phân tích sự thay đổi phác đồ điều trị tại T3 và T6 trên những bệnh nhân đạt glucose huyết mục tiêu
Bảng 3.15 Sự thay đổi phác đồ điều trị tại thời điểm T3 và T6 trên những bệnh nhân đạt glucose huyết mục tiêu
Sự thay đổi phác đồ
(NA) hông đổi phác đồ 23 62,2 26 63,5
Vào thời điểm T3, có 37 bệnh nhân đạt mục tiêu điều trị, trong đó 37,8% bệnh nhân thay đổi phác đồ điều trị và đạt hiệu quả điều trị Hình thức thay đổi phác đồ được áp dụng nhiều nhất là đổi thuốc, chiếm 35,1% tổng số bệnh nhân Đến thời điểm T6, số bệnh nhân đạt mục tiêu là 41 người, và 36,5% bệnh nhân thay đổi phác đồ đã đạt hiệu quả điều trị.
3.2.4.2 Phân tích sự thay đổi phác đồ điều trị tại T3 và T6 trên những bệnh nhân chưa đạt glucose huyết mục tiêu
Bảng 3.16 Sự thay đổi phác đồ điều trị tại thời điểm T3 và T6 trên những bệnh nhân chưa đạt glucose huyết mục tiêu
Sự thay đổi phác đồ
Ở thời điểm T3, trong 113 bệnh nhân không đạt mục tiêu điều trị, có tới 69% không được thay đổi phác đồ điều trị Đến thời điểm T6, ở 109 bệnh nhân không đạt mục tiêu điều trị, 64,2% vẫn giữ nguyên phác đồ điều trị.
Một trong những nguyên nhân chính khiến bệnh nhân chưa đạt được mục tiêu kiểm soát glucose huyết là phác đồ điều trị chưa phù hợp với đặc điểm và tình trạng của từng người, hoặc bệnh nhân không tuân thủ phác đồ điều trị của bác sĩ Để cải thiện, cần đánh giá lại phác đồ dựa trên kết quả xét nghiệm và mức đường huyết, đồng thời xem xét khả năng tuân thủ của người bệnh để điều chỉnh liệu pháp cho phù hợp Việc tăng cường giáo dục sức khỏe, hỗ trợ người bệnh và giao tiếp thường xuyên giữa bác sĩ và người bệnh giúp nâng cao sự tuân thủ điều trị và hiệu quả kiểm soát glucose huyết Đây là yếu tố then chốt trong quản lý đái tháo đường và ngăn ngừa biến chứng.
BÀN LUẬN
Phân tích đặc điểm sử dụng thuốc điều trị đái tháo đường typ 2 trên bệnh nhân ngoại trú
4.1.1 Đặc điểm chung của bệnh nhân trong nghiên cứu
Về giới tính, nghiên cứu này có 150 bệnh nhân, trong đó nam chiếm 51,3% và nữ 48,7% (nam cao hơn nữ) Tuy nhiên, ở các nghiên cứu trên cùng đối tượng bệnh nhân, tỉ lệ nữ lại cao hơn nam, điển hình là nghiên cứu của Lê Thị Thu Hà tại Bệnh viện Gang thép Thái Nguyên (2019) với nữ 55,8% và nam 44,2%, và nghiên cứu của Đoàn Thị Nết tại Bệnh viện YHCT&PHCN tỉnh Bắc Ninh (2019) với nữ 54,5% và nam 44,5% [34], [30].
Ở phần tuổi, độ tuổi trung bình của bệnh nhân trong nghiên cứu là 62,75 ± 8,73 tuổi, trong đó nhóm bệnh nhân ≥40 tuổi chiếm 99,3%, cho thấy đặc điểm ĐTĐ typ 2 thường có khởi phát ở tuổi trên 40 và có tính phù hợp với thực tế lâm sàng [14] Điều này cho thấy độ tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu gần tương đương với nghiên cứu của Lê Thị Thu Hà tại Bệnh viện Gang thép Thái Nguyên.
(2019) (trung bình 63,8 ± 9,2 tuổi) và trong nghiên cứu của Đoàn Thị Nết thực hiện tại bệnh viện YHCT&PHCN tỉnh Bắc Ninh (2019) (trung bình 63,08 ± 10,06 tuổi)
Về bệnh mắc kèm ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2, tăng huyết áp (THA) và rối loạn lipid máu (RLLP) là những biến chứng thường gặp, với tần suất khoảng 50–70%; trong nghiên cứu cụ thể, 37,9% mắc kèm THA và 29,9% mắc kèm RLLP, và do tuổi trung bình nhóm nghiên cứu khá cao (gần 63 tuổi) cùng nhóm tuổi từ 40 trở lên nên nguy cơ THA và RLLP tăng lên Các nghiên cứu trên cùng đối tượng cũng ghi nhận tỷ lệ cao THA và RLLP máu, như Lê Thị Thu Hà tại Bệnh viện Gang thép Thái Nguyên (2019) với THA và RLLP lần lượt là 66,9% và 81,2%, hoặc Đoàn Thị Nết tại Bệnh viện YHCT&PHCN tỉnh Bắc Ninh (2019) là 63,6% và 16,2% [34], [30] Trong điều trị đái tháo đường typ 2 không chỉ dừng lại ở kiểm soát nồng độ glucose huyết mà còn cần kiểm soát toàn diện nhiều yếu tố: huyết áp, lipid máu, cân nặng và các biến chứng khác cũng như các bệnh lý kèm theo [3].
4.1.2 Các chỉ số cận lâm sàng của bệnh nhân tại thời điểm T0
Về chỉ số glucose huyết lúc đói (FPG)
Trong nghiên cứu tại thời điểm T0, giá trị trung bình glucose huyết lúc đói của nhóm bệnh nhân vẫn ở mức cao với 9,3 ± 2,81 mmol/l Chỉ có 23,3% bệnh nhân có FPG trong khoảng 4,4–7,2 mmol/l, trong khi 73,4% có FPG > 7,2 mmol/l và đặc biệt có 5 bệnh nhân có FPG ≥ 16,7 mmol/l Tuy nhiên chưa ghi nhận trường hợp hạ đường huyết lâm sàng, dù hạ đường huyết quá mức là một tác dụng phụ thường gặp khi điều trị đái tháo đường, do đó nhân viên y tế cần hướng dẫn bệnh nhân về nguyên nhân và cách nhận biết các triệu chứng hạ đường huyết để phòng ngừa và xử lý kịp thời So với kết quả của Đoàn Thị Nết tại Bệnh viện YHCT&PHCN tỉnh Bắc Ninh (2019), glucose huyết lúc đói là 7,73 ± 2,19 mmol/L, phân bố FPG: