Phơi nhiễm nghề nghiệp với thuốc độc hại Các loại thuốc điều trị ung thư là những thuốc độc tế bào không chỉ gây ảnh hưởng trực tiếp cho người bệnh sử dụng mà còn ảnh hưởng tới những ng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
HOÀNG THỊ PHƯƠNG
PHÂN TÍCH MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN
ĐẾN SỬ DỤNG THUỐC UNG THƯ TẠI KHOA PHỤ UNG THƯ – BỆNH VIỆN
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
HOÀNG THỊ PHƯƠNG
PHÂN TÍCH MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN
ĐẾN SỬ DỤNG THUỐC UNG THƯ TẠI KHOA PHỤ UNG THƯ – BỆNH VIỆN
PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC
CHUYÊN NGÀNH DƯỢC LÝ VÀ DƯỢC LÂM SÀNG
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự hướng
dẫn tận tình, sự giúp đỡ, động viên của các thầy cô, gia đình, đồng nghiệp và bạn bè
Với tất cả sự kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin trân trọng cảm ơn người
thầy PGS.TS Nguyễn Thị Liên Hương – Nguyên trưởng bộ môn Dược lâm sàng –
Trường Đại học Dược Hà Nội đã trực tiếp hướng dẫn và định hướng khoa học, trang bị
cho tôi kiến thức, kĩ năng trong học tập và nghiên cứu, tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành
luận văn tốt nghiệp Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc tới TS.BS Nguyễn Văn Thắng –
Trưởng khoa Phụ Ung thư – Bệnh viện Phụ sản Trung ương đã hướng dẫn, chỉ bảo tôi
trong suốt quá trình nghiên cứu, người luôn tạo điều kiện tôi trong những năm tháng
thực hiện công tác dược lâm sàng tại Bệnh viện
Tôi xin chân thành cảm ơn TS Lê Bá Hải – Giảng viên bộ môn Dược lâm
sàng – Trường Đại học Dược Hà Nội đã luôn nhiệt tình giúp đỡ, động viên và cho tôi
những ý kiến góp ý quý báu trong quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn lãnh đạo Khoa và tập thể Khoa Dược Bệnh viện Phụ
sản Trung ương đã tạo mọi điều kiện, tận tình hỗ trợ công việc trong thời gian tôi học
tập và nghiên cứu
Tôi xin gửi lời cảm ơn tập thể bác sĩ, điều dưỡng khoa Phụ Ung thư và ban
lãnh đạo Bệnh viện Phụ sản Trung ương đã ủng hộ và tạo điều kiện thuận lợi giúp tôi
hoàn thành luận văn
Cuối cùng, tôi muốn dành lời cảm ơn tới gia đình và những người bạn đã luôn
yêu thương, chăm sóc và là nguồn động viên lớn lao với tôi trong học tập, công tác
cũng như trong cuộc sống
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 4 năm 2022
Học viên
Hoàng Thị Phương
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU – CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Thuốc điều trị ung thư và nguy cơ độc hại của thuốc điều trị ung thư 3
1.1.1 Thuốc điều trị ung thư trong điều trị ung thư ở phụ nữ 3
1.1.2 Nguy cơ độc hại của thuốc điều trị ung thư 6
1.2 Vấn đề liên quan đến thuốc điều trị ung thư 11
1.2.1 Khái niệm và phân loại DRP 11
1.2.2 DRP trong kê đơn thuốc điều trị ung thư 13
1.2.3 DRP trong pha chế và thực hiện thuốc điều trị ung thư 16
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Đối tượng nghiên cứu: 20
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu mục tiêu 1 20
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu mục tiêu 2 20
2.1.3 Đối tượng nghiên cứu mục tiêu 3 20
2.2 Phương pháp nghiên cứu: 21
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu mục tiêu 1 21
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu mục tiêu 2 22
2.2.3 Phương pháp nghiên cứu mục tiêu 3 26
2.3 Xử lý số liệu: 28
Chương 3 KẾT QUẢ 29
Trang 53.1 DRP trong kê đơn thuốc điều trị ung thư 29
3.1.1 Đặc điểm của mẫu nghiên cứu và đặc điểm dùng thuốc điều trị ung thư theo đơn kê 29
3.1.2 DRP trong kê đơn về liều dùng và cách dùng của các thuốc điều trị ung thư 32
3.1.3 DRP trong kê đơn về khoảng cách giữa các chu kì điều trị 35
3.2 DRP trong pha chế thuốc điều trị ung thư tại phòng pha chế tập trung 36
3.2.1 DRP tiềm tàng liên quan đến sự không đầy đủ của SOP hiện tại của bệnh viện 36
3.2.2 DRP liên quan đến tuân thủ các tiêu chuẩn trong SOP của bệnh viện 40
3.2.3 DRP liên quan đến sự sai khác của chế phẩm pha chế với chế phẩm theo YCPC đã được chuẩn hoá 42
3.3 DRP trong thực hiện thuốc điều trị ung thư của điều dưỡng 43
3.3.1 DRP tiềm tàng liên quan đến sai lệch so với tiêu chuẩn thực hành trong thực hiện thuốc điều trị ung thư 43
3.3.2 DRP liên quan đến sai sót trong quá trình thực hiện thuốc điều trị ung thư của điều dưỡng 44
Chương 4 BÀN LUẬN 46
4.1 DRP trong kê đơn thuốc điều trị ung thư 46
4.2 DRP trong pha chế thuốc điều trị ung thư tại phòng pha chế tập trung 49
4.3 DRP trong thực hiện thuốc điều trị ung thư của điều dưỡng 54
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 57
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU – CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ASHP Hiệp hội dược sĩ Hoa Kỳ (American Society of Health-System
Pharmacists)
BSC Tủ an toàn sinh học (biosafety cabinet)
CKPC Công khai pha chế
DRP Vấn đề liên quan đến thuốc (Drug Relate Problem)
DSPC Dược sĩ thực hiện công tác pha chế
NIOSH Viện nghiên cứu quốc gia về sức khỏe và an toàn nghề nghiệp Mỹ
(National Institute for Occupational Safety and Health)
NVYT Nhân viên y tế
PPE Thiết bị bảo hộ cá nhân
SOP Quy trình pha chế thuốc ung thư
USP Dược điển Mỹ (United States Pharmacopoeia)
WHO Tổ chức y tế thế giới (World Health Organization)
YCPC Yêu cầu pha chế
Trang 7
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Các nghiên cứu trên thế giới về DRP ở bệnh nhân ung thư 13
Bảng 3.1 Nguyên nhân gây ra DRP trong kê đơn về liều dùng 33
Bảng 3.2 Phân bố DRP trong kê đơn về dung môi dung môi pha loãng 35
Bảng 3.3 DRP trong kê đơn về tốc độ tiêm truyền truyền 35
Bảng 3.4 Tỉ lệ phù hợp về khoảng cách giữa các chu kì điều trị 36
Bảng 3.5 Tiêu chuẩn trong thực hành pha chế thuốc điều trị ung thư theo khuyến cáo 37
Bảng 3.6 Tiêu chuẩn trong thực thành pha chế thuốc điều trị ung thư cần bổ sung vào SOP 39
Bảng 3.7 Tỉ lệ sai lệch trong quá trình pha chế thuốc điều trị ung thư so với SOP 41
Bảng 3.8 Tỉ lệ DRP của chế phẩm theo từng giai đoạn 42
Bảng 3.9 Sai lệch so với tiêu chuẩn thực hành trong vận chuyển và bảo quản thuốc điều trị ung thư 43
Bảng 3.10 Tỉ lệ sai sót xảy ra trong giai đoạn thực hiện thuốc điều trị ung thư của điều dưỡng 44
Bảng 4.1 So sánh tỉ lệ từng loại sai lệch trong giai đoạn thực hiện thuốc giữa các nghiên cứu 54
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Phân bố phác đồ được chỉ định trên bệnh nhân Ung thư buồng trứng 29
Hình 3.2 Phân bố phác đồ được chỉ định trên bệnh nhân U nguyên bào nuôi 30
Hình 3.3 Phân bố phác đồ được chỉ định trên bệnh nhân Ung thư vú 30
Hình 3.4 Đặc điểm thay đổi phác đồ 31
Hình 3.5 DRP trong kê đơn của thuốc điều trị ung thư 32
Hình 3.6 Mức độ khác biệt về liều dùng trên thực tế so với lý thuyết 33
Hình 3.7 Phân bố DRP trong kê đơn về liều dùng theo từng hoạt chất 34
Hình 3.8 Mức độ khác biệt tốc độ tiêm truyền giữa thực hiện của điều dưỡng với chỉ định của bác sĩ 45
Trang 9và sau quá trình dùng thuốc để phát hiện, xử lý kịp thời các tác dụng không mong muốn
Nhằm nâng cao hiệu quả của công tác quản lý sử dụng thuốc lấy bệnh nhân làm trung tâm, cần phải có sự phối hợp chặt chẽ của nhóm đa ngành: bác sĩ – dược
sĩ – điều dưỡng Với vai trò quan trọng trong hoạt động nhóm đa ngành, dược sĩ lâm sàng có nhiệm vụ cung cấp thông tin thuốc và tư vấn sử dụng thuốc cho bác sĩ, điều dưỡng cũng như bệnh nhân, xem xét sử dụng thuốc, giám sát sử dụng thuốc cho người bệnh, tham gia theo dõi đáp ứng của người bệnh; góp phần phòng tránh, phát hiện và xử trí các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc (Drug Relate Problem – DRP) [3] DRP có thể xảy ra ở bất cứ giai đoạn nào từ kê đơn đến pha chế, cấp phát, thực hiện và giám sát sau khi sử dụng thuốc trên bệnh nhân Việc phát hiện ra các DRP có ý nghĩa quan trọng đối với bệnh nhân nhất là những đối tượng mắc bệnh lý đặc biệt và/hoặc sử dụng các thuốc có nguy cơ cao như thuốc điều trị ung thư Tại Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu khảo sát tình hình sử dụng thuốc, xác định các DRP trong sử dụng thuốc tại các khoa Ung bướu [1], [6], [8], [9], [10], [11], [12] Hoạt động phát hiện DRP và đưa ra những can thiệp hợp lý của dược sĩ lâm sàng sẽ giúp nâng cao hiệu quả điều trị, giảm tỉ lệ tử vong và đem lại nhiều lợi ích về kinh tế [41]
Trang 10Nhận thấy tầm quan trọng của dược sĩ trong hoạt động nhóm đa ngành, Bệnh viện Phụ sản Trung ương đã triển khai các hoạt động dược lâm sàng để phối hợp với bác sĩ và điều dưỡng trong công tác chăm sóc người bệnh Dược lâm sàng
đã hoạt động tại một số khoa trọng điểm của Bệnh viện trong đó có khoa Phụ Ung thư Tuy nhiên, với đội ngũ nhân lực còn mỏng, dược sĩ lâm sàng tại khoa Phụ Ung thư còn phải kiêm nhiệm nhiều công việc khác Do đó, việc việc thẩm định y lệnh, giám sát việc thực hiện thuốc điều trị ung thư của điều dưỡng và theo dõi phản ứng
có hại của thuốc trên bệnh nhân để phát hiện DRP chưa được thực hiện thường xuyên Vì vậy, với mong muốn có cái nhìn khái quát về DRP trong quá trình sử dụng thuốc điều trị ung thư tại khoa Phụ Ung thư, chúng tôi tiến hành đề tài: “Phân tích một số vấn đề liên quan đến thuốc ung thư tại khoa Phụ Ung thư - Bệnh viện Phụ sản Trung ương.” với 03 mục tiêu:
1 Phân tích các vấn đề liên quan đến thuốc (DRP) trong kê đơn thuốc điều trị ung thư tại khoa Phụ Ung thư bao gồm liều dùng, cách dùng, khoảng cách giữa các chu kì điều trị
2 Phân tích các vấn đề liên quan đến thuốc (DRP) trong pha chế thuốc điều trị ung thư tại phòng pha chế tập trung
3 Phân tích các vấn đề liên quan đến thuốc (DRP) trong thực hiện thuốc điều trị ung thư của điều dưỡng
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Thuốc điều trị ung thư và nguy cơ độc hại của thuốc điều trị ung thư 1.1.1 Thuốc điều trị ung thư trong điều trị ung thư ở phụ nữ
1.1.1.1 Khái niệm thuốc điều trị ung thư
Thuốc điều trị ung thư được biết đến với nhiều tên gọi khác như hóa trị, thuốc chống ung thư, thuốc độc tế bào hoặc thuốc độc hại [5], [58]
Khái niệm “thuốc độc hại” lần đầu tiên được Hiệp hội dược sĩ Hoa Kỳ (ASHP) sử dụng vào năm 1990 Theo AHSP, thuốc độc hại được định nghĩa là một chất đã có bằng chứng xác thực về mặt thống kê, dựa trên ít nhất một nghiên cứu tiến hành trên các nguyên tắc khoa học đã được định trước, có khả năng gây ra các tác động cấp hoặc mãn tính lên sức khỏe người lao động tiếp xúc với nó, bao gồm các chất hóa học gây ung thư, các tác nhân có độc tính cao, các độc tố đối với sinh sản, các chất gây kích thích, các chất ăn mòn, chất gây nhạy cảm (sensitizer), và tác nhân gây ra tác động lên cơ quan đích [20]
Năm 2004, Viện nghiên cứu quốc gia về sức khỏe và an toàn nghề nghiệp
Mỹ (NIOSH) đưa ra 6 tiêu chí xác định một thuốc được coi là thuốc độc hại bao gồm: gây ung thư gây quái thai gây hại trên vật liệu di truyền (genotoxic) gây độc tính sinh sản: sảy thai, thai chết muộn, vô sinh gây độc cho các nội tạng với liều thấp: tổn thương gan, hoại tử cục bộ tại các mô tiếp xúc có cấu trúc hoặc độc tính tương tự như các loại thuốc được phân loại là độc hại [51]
Năm 2007, đề cập tới vấn đề phơi nhiễm nghề nghiệp, Hiệp hội Quốc tế của
Ủy ban tiêu chuẩn Dược học Ung thư (The International Society of Oncology Pharmacy Practitioners) xác định thuốc độc hại là một thuốc gây ra nguy hiểm cho nhân viên y tế do độc tính vốn có của nó Những thuốc này được xác định dựa trên
ít nhất một trong bốn đặc điểm sau đây: là những chất gây ung thư gây độc lên gen gây quái thai hoặc độc hại ở liều thấp trên mô hình động vật hoặc trên những bệnh nhân được điều trị [43]
Trang 121.1.1.2 Sử dụng thuốc trong điều trị ung thư ở phụ nữ
Ở phụ nữ, các loại ung thư thường gặp là ung thư vú, buồng trứng, đại trực tràng, nội mạc tử cung, phổi, cổ tử cung và da [78] Tỷ lệ mắc ung thư ở phụ nữ liên tục tăng theo từng năm Theo số liệu thống kê năm 2020 trong báo cáo của GLOBOCAN, số ca mắc mới ung thư vú là 261.419 ca (chiếm 24,5% tổng số ca mắc mới), ung thư đại trực tràng là 865.630 ca (chiếm 8.4%), ung thư phổi là 770.828 ca (chiếm 8,4%), ung thư cổ tử cung là 604.127 ca (chiếm 6,5%), ung thư
tử cung là 417.367 ca (chiếm 4,5%), ung thư buồng trứng là 369.580 ca (chiếm 3,4%) [81] Hiện nay, có nhiều phương pháp để điều trị ung thư như phẫu thuật, đốt sóng cao tần, nút mạch hóa chất, xạ trị, hóa trị, điều trị đích, điều trị nội tiết, điều trị miễn dịch [3] Trong đó, hóa trị là một trong những phương pháp được áp dụng phổ biến Các thuốc điều trị ung thư thường là các tác nhân kìm chế sự phát triển của khối u bằng cách can thiệp vào sự nhân lên của tế bào ung thư [3] Có nhiều nhóm thuốc điều trị ung thư khác nhau với các cơ chế tác động khác nhau vào chu trình tế bào Các phương pháp hóa trị bao gồm: hóa trị bổ trợ trước hay hóa trị tân
bổ trợ; hóa trị bổ trợ; hóa trị điều trị bệnh ở giai đoạn di căn, lan tràn Tùy vào từng loại bệnh ung thư, loại mô bệnh học, thể trạng bệnh nhân mà bác sĩ sẽ lựa chọn phác đồ cho phù hợp
Tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương, điều trị ung thư được tập trung ở khoa Phụ Ung thư với các mặt bệnh phổ biến nhất là Ung thư buồng trứng, Ung thư cổ tử cung, U nguyên bào nuôi và Ung thư vú Tuy nhiên, điều trị nội khoa thường chỉ được áp dụng trong 3 bệnh chính đó là Ung thư buồng trứng, U nguyên bào nuôi và Ung thư vú
Ung thư buồng trứng [2]:
Hóa trị được chỉ định trong nhiều tình huống khác nhau:
- Giai đoạn sớm có nguy cơ cao: hóa trị mang tính hỗ trợ sau phẫu thuật tận gốc nhằm giảm thiểu nguy cơ tái phát
Trang 13- Giai đoạn lan rộng: Có nhiều kiểu phối hợp hóa trị gây đáp ứng với phẫu thuật
để tăng thêm thời gian sống thêm toàn bộ cũng như thời gian sống thêm không bệnh
+ Hóa trị đối với ung thư biểu mô: hóa trị dựa trên chất platinum (cisplatin, carboplatin) đơn độc hoặc phối hợp Alkyl hóa hoặc phối hợp paclitaxel
+ Hóa trị các ung thư tế bào mầm và dây sinh dục
U tế bào mầm ác tính: không cần điều trị hóa chất cho u quái không trưởng thành mức độ I, giai đoạn Ia đã phẫu thuật thì không cần điều trị hóa chất thêm Các trường hợp khác thì điều trị hóa chất sau phẫu thuật: Phác đồ BEP, PVB hoặc VAC
Các u dây sinh dục đối với giai đoạn I, hóa chất được áp dụng cho phụ nữ < 40 tuổi và các giai đoạn sau Phác đồ thường dùng là: PVB hoặc cisplatin + doxorubicin + etoposide
U nguyên bào nuôi [2]:
- Với nhóm bệnh nhân có nguy cơ thấp (bệnh ở giai đoạn I, II hoặc III với điểm tiên lượng theo WHO < 7 điểm) sẽ được bắt đầu với đơn hóa trị liệu bằng phác đồ Methotrexat hoặc Dactinomycin
- Với nhóm bệnh nhân có nguy cơ cao (bệnh ở giai đoạn I, II hoặc III mà có điểm tiên lượng theo WHO ≥ 7 hoặc bệnh ở giai đoạn IV): Phác đồ khởi đầu
là EMA-CO Nếu xuất hiện kháng hóa chất thì chuyển sang phác đồ EMA-EP
và sau đó là BEP hoặc paclitaxel + cisplastin/ etoposide
Ung thư vú: Hóa trị được áp dụng cho phần lớn các bệnh nhân UTV vào một giai đoạn nào đó trong các phác đồ bổ trợ, tân bổ trợ và điều trị đích Đây là phương pháp hiệu quả cao, mang lại rất nhiều lợi ích về sống thêm cho người bệnh Các phác đồ thường được sử dụng trong điều trị ung thư vú là Docetaxel; Doxorubicin – Cyclophosphamid – Paclitaxel; Doxorubicin – Cyclophosphamid – Docetaxel – Trastuzumab [4]
Trang 141.1.2 Nguy cơ độc hại của thuốc điều trị ung thư
1.1.2.1 Phơi nhiễm nghề nghiệp với thuốc độc hại
Các loại thuốc điều trị ung thư là những thuốc độc tế bào không chỉ gây ảnh hưởng trực tiếp cho người bệnh sử dụng mà còn ảnh hưởng tới những người thường xuyên tiếp xúc, từ người sản xuất, vận chuyển, người giữ kho, người giao nhận cấp phát, dược sĩ pha chế, bác sĩ, điều dưỡng thực hiện thuốc trên bệnh nhân và y công làm việc vệ sinh [24], [51], [53] Nguy cơ tác động tới sức khỏe của thuốc điều trị ung thư tỉ lệ với mức độ phơi nhiễm và độc tính vốn có của chúng [53] Khu vực phơi nhiễm cao nhất là khu vực có liên quan đến pha chế và đối tượng có nguy cơ phơi nhiễm cao nhất chính là nhân viên y tế thực hiện pha chế hóa trị liệu [33] Bên cạnh đó, điều dưỡng thực hiện thuốc trên bệnh nhân cũng là một trong những đối tượng có nguy cơ cao chịu ảnh hưởng bởi độc tính của thuốc điều trị ung thư
Các con đường phơi nhiễm với thuốc độc hại bao gồm: hít phải những giọt nhỏ, bụi và hơi của thuốc, tiếp xúc trực tiếp qua da hoặc mắt, hấp thu qua da, ăn uống, hút thuốc trong quá trình chuẩn bị, thực hiện hoặc tiêu hủy thuốc gây độc tế bào hoặc ngẫu nhiên do tiêm phải [24], [50], [64] Trong đó, hấp thu qua da là con đường thường gặp nhất mà thuốc xâm nhập vào cơ thể [67] Nguy cơ cao nhất thuốc độc hại tiếp xúc với da là khi xảy ra sự cố tràn đổ Bên cạnh đó khi làm việc với các
bề mặt bị ô nhiễm trong quá trình chuẩn bị, thực hiện thuốc hoặc tiêu hủy thuốc độc hại cũng có thể khiến da tiếp xúc với thuốc độc hại Một số nghiên cứu cho thấy thuốc bị nhiễm trên các bề mặt như vỏ lọ thuốc, tủ an toàn sinh học (BSC - Biosafety cabinet), bàn, sàn nhà, trang thiết bị và hầu hết bề mặt trong khu vực điều trị bệnh nhân [43], [50] Chi tiết các thao tác khi thực hành với thuốc độc hại được chúng tôi tổng kết trong phụ lục l
1.1.2.2 Ảnh hưởng của phơi nhiễm với thuốc độc hại
Bằng chứng đã chỉ ra rằng người lao động đang tiếp xúc với các loại thuốc độc hại bị ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ mặc dù có sử dụng các biện pháp bảo hộ theo hướng dẫn hiện hành [51] Tiếp xúc với các thuốc điều trị ung thư có thể gây ra các tác dụng phụ cả cấp tính và lâu dài Các triệu chứng cấp tính như kích
Trang 15ứng da, đau họng, ho mãn tính, kích thích hoặc loét niêm mạc, kích thích mắt hoặc họng, chóng mặt, đau đầu, rụng tóc, phản ứng dị ứng, tiêu chảy, buồn nôn và nôn [32], [35] Nếu tiếp xúc lâu dài, các độc tính có thể gặp như suy gan, suy thận, phá huỷ ADN, gây ung thư, vô sinh Ngoài ra, tiếp xúc trong thời kỳ mang thai làm tăng rủi ro bất thường của thai nhi, thai ngoài tử cung, sảy thai, sinh non, trẻ thiếu cân, thiểu năng học tập, Nhiều độc tính quan trọng xảy ra ở cơ quan và mô như tủy xương (gây giảm bạch cầu, thiếu máu, giảm tiểu cầu), gan, bàng quang, thận, phổi [32], [35]
Khả năng gây hại và mức độ nghiêm trọng của các rủi ro do thuốc độc hại gây ra cho người lao động phụ thuộc vào một số yếu tố sau [52]:
Độc tính của thuốc: Điều này đề cập đến loại tác hại mà một loại thuốc có thể gây ra cho sức khỏe của con người Ví dụ, thuốc độc tế bào được sử dụng để tiêu diệt tế bào ung thư, nhưng chúng cũng có thể gây ung thư hoặc các tác hại khác cho nhân viên y tế làm việc hoặc xử lý chúng mà không được bảo vệ đầy
đủ Một số loại thuốc có thể gây hại cho khả năng sinh con khỏe mạnh của người
Hiệu lực của thuốc: Một số loại thuốc rất độc với liều lượng rất thấp, trong khi các loại thuốc khác chỉ có thể gây hại khi người lao động tiếp xúc với liều lượng rất cao Tiếp xúc với liều lượng cao của các loại thuốc độc hại là không phổ biến ở hầu hết các cơ sở chăm sóc sức khỏe
Lộ trình phơi nhiễm: Làm thế nào người lao động có thể tiếp xúc với một loại thuốc là một yếu tố quan trọng cần xem xét trong việc phát triển các chiến lược để kiểm soát phơi nhiễm Người lao động có thể tiếp xúc với các loại thuốc nguy hiểm qua hơi thở, bụi hoặc bình xịt, hấp thụ qua da (ví dụ, chạm vào bụi hoặc cặn lỏng trên bề mặt), nuốt hoặc vô tình tiêm phải
Tính chất vật lý và hóa học của thuốc: Các đặc tính vật lý và hóa học của thuốc ảnh hưởng đến nguy cơ của thuốc bao gồm áp suất hơi, trạng thái vật lý (rắn, lỏng hoặc khí) và trọng lượng phân tử của thuốc Nhiều loại thuốc có áp suất hơi rất thấp, vì vậy hơi hít vào không phải là con đường tiếp xúc đáng lo
Trang 16ngại đối với hầu hết các loại thuốc Tuy nhiên, thuốc ở dạng lỏng hoặc dạng bột có thể được hít vào dưới dạng bình xịt, giọt hoặc bụi Ngoài ra, thuốc có thể được hấp thụ qua da, đặc biệt nếu da bị nứt nẻ, trầy xước hoặc có vết cắt hoặc vết xước Nhưng tiếp xúc với da không nhất thiết dẫn đến độc tính Ví
dụ, khi một loại thuốc có trọng lượng phân tử cao, như một kháng thể đơn dòng và chế độ dùng thuốc điển hình của nó là qua đường tiêm, thì tỉ lệ thuốc được hấp thụ qua da còn nguyên vẹn rất thấp Do đó, khả năng người lao động
bị tổn hại do phơi nhiễm cũng rất thấp
Dạng bào chế: Điều này đề cập đến dạng thuốc dùng để sử dụng — chẳng hạn
như bột, chất lỏng, viên nang hoặc thuốc tiêm pha sẵn Giống như các đặc tính vật lý và hóa học của một loại thuốc, công thức của thuốc là một chỉ số quan trọng về các loại biện pháp phòng ngừa cần thiết để tránh tiếp xúc Cần có các chiến lược quản lý rủi ro khác nhau đối với dạng bột hơn là các ống tiêm pha sẵn
Hoạt động tại khu vực làm việc: Điều này liên quan đến cách người lao động quản lý và sử dụng thuốc tại nơi làm việc — chẳng hạn như bảo quản, pha chế, vận chuyển hoặc thực hiện thuốc điều trị ung thư tại khoa phòng Các hoạt động khác nhau có khả năng tiếp xúc với nhân viên y tế rất khác nhau
Do độc tính cao của thuốc điều trị ung thư và rủi ro nghiêm trọng liên quan đến phơi nhiễm thuốc độc hại cho sức khỏe của người lao động, việc ban hành các tài liệu khuyến cáo, hướng dẫn về thao tác an toàn với các thuốc độc hại/thuốc điều trị ung thư cho mọi đối tượng có liên quan đến quá trình phân phối, sử dụng các thuốc này trở thành mối quan tâm hàng đầu của các cơ quan, tổ chức quản lý cũng như các cơ sở có sản xuất, sử dụng thuốc nguy hiểm
1.1.2.3 Biện pháp hạn chế phơi nhiễm với thuốc điều trị ung thư
Tiếp xúc nghề nghiệp với các loại thuốc gây độc tế bào gây nguy hiểm đáng
kể Do đó, NVYT bắt buộc phải nhận thức được những nguy cơ tiềm tàng của các thuốc điều trị ung thư và cần phải sử dụng các biện pháp phòng ngừa được khuyến nghị để giảm thiểu sự phơi nhiễm Trong đó, pha chế thuốc tập trung trong khu vực
Trang 17riêng sử dụng tủ vô trùng cách ly (isolator) hoặc BSC, thiết bị bảo hộ cá nhân (PPE)
là những biện pháp quan trọng nhất [50] NVYT có tiếp xúc, làm việc với thuốc điều trị ung thư cần phải được đào tạo khi pha chế cũng như xử lý các sự cố tràn đổ hoặc rò rỉ Nhân viên không được ăn uống, nhai kẹo cao su, dùng mỹ phẩm hoặc trữ
đồ ăn gần khu vực pha chế Nhân viên đang có thai, dự định có thai hoặc đang cho con bú nên được chuyển sang làm các công việc khác không phải tiếp xúc với các thuốc độc hại Người đang mắc các bệnh nhiễm khuẩn, điều trị bằng thuốc ức chế miễn dịch nên ngừng việc pha chế thuốc nếu có thể Nhân viên nên có các khoảng giải lao trong thời gian pha chế thuốc để duy trì khả năng tập trung [25]
Pha chế tập trung thuốc điều trị ung thư:
Trên thế giới: Năm 1986, Cơ quan quản lý sức khỏe và an toàn nghề nghiệp của Mỹ (Occupational Safety and Health Administration) đã đưa ra hướng dẫn đầu tiên về các thiết bị, trang phục, quy trình cần thiết nhằm đảm bảo an toàn cho cán bộ
y tế khi tiếp xúc với thuốc điều trị ung thư [54] Năm 1987, Hiệp hội dược học ung thư Pháp (Société Française Pharmacie Oncologique) đã đưa ra khuyến cáo về việc cần thiết thực hiện phân liều thuốc điều trị ung thư tập trung tại khoa Dược bệnh viện, đặt dưới sự giám sát và thực hiện của dược sĩ Đến năm 2004, trên cơ sở điều L162-22-7 của luật An toàn xã hội, việc này mới trở thành bắt buộc đối với các cơ
sở y tế trên toàn nước Pháp [62] Tại Mỹ, các hướng dẫn NIOSH (2004), USP 797 (2012), USP 800 (2016) và AHFS (2006) đều thống nhất biện pháp tốt nhất để hạn chế phơi nhiễm với thuốc điều trị ung thư là pha chế tập trung Đồng thời, cần phải
có quy trình thực hành chuẩn để giải quyết các khía cạnh của việc pha chế an toàn [51], [57], [65], [66]
Ở Việt Nam, pha chế thuốc điều trị ung thư đã được Bộ Y tế đề cập đến tại điều 18 - thông tư 22/2011/TT-BYT quy định tổ chức hoạt động của Khoa Dược: khoa Dược đảm nhiệm việc pha chế thuốc điều trị ung thư vào trong dịch truyền hoặc trong dung dịch tiêm cho khoa lâm sàng Phòng chuẩn bị thuốc ung thư phải đảm bảo an toàn cho người chuẩn bị và an toàn cho môi trường Tuy nhiên, đến nay
Bộ Y tế chưa có văn bản ban hành quy định pháp lý liên quan đến quy trình pha chế
Trang 18thuốc điều trị ung thư như trang thiết bị, con người, quy trình kỹ thuật Việc thực hiện pha chế thuốc điều trị ung thư là do các cơ sở y tế căn cứ vào tình hình cụ thể của đơn vị mình để tổ chức triển khai cho phù hợp
Trang phục bảo hộ:
Bên cạnh những quy định về việc pha chế tập trung thuốc điều trị ung thư, nhiều tổ chức trên thế giới đã ban hành các hướng dẫn thao tác an toàn với thuốc độc hại chủ yếu tập trung vào vấn đề áp dụng trang thiết bị bảo hộ, các biện pháp giám sát y tế và giám sát môi trường [29], [31], [51]
Các trang phục bảo hộ được khuyến cáo sử dụng bao gồm:
Găng tay: Nên sử dụng loại găng chất lượng cao, không có bột, làm từ latex, nitrile, polurethan, neoprene, hoặc các chất liệu khác đáp ứng tiêu chuẩn của găng sử dụng cho hóa trị liệu Găng tay nên được thay sau mỗi 30 phút hoặc ngay sau khi bị rách, thủng hoặc nhiễm bẩn Nên đeo 02 đôi găng tay khi thực hiện mở và làm sạch hộp thuốc, chuẩn bị thuốc điều trị ung thư, xử lý sự cố tràn đổ, làm sạch buồng pha Khi thực hiện tiêm truyền thuốc điều trị ung thư, chăm sóc bệnh nhân,
xử lý thoát mạch, vệ sinh phòng pha chế, vệ sinh giường bệnh có vấy nhiễm, tập hợp và vận chuyển rác thải, làm việc trong các phòng dược, khoa khám bệnh, điều trị có liên quan đến thuốc điều trị ung thư khác cần đeo ít nhất 01 đôi găng tay Trước khi đeo găng và sau khi tháo găng cần phải rửa sạch tay bằng xà phòng và nước
Áo choàng: Áo choàng cần phải làm từ chất liệu không có xơ và hủy bỏ được, thấm nước kém hoặc không thấm nước, kín hoàn toàn đằng trước và cổ, tay dài có chun co giãn hoặc cổ tay ôm vừa khít Các loại áo vải hoặc áo khoác phòng thí nghiệm hấp thụ được chất lỏng và không có hàng rào chống lại quá trình thấm thuốc độc hại Phải mặc áo choàng khi mở và làm sạch hộp thuốc, chuẩn bị và thực hiện tiêm truyền thuốc điều trị ung thư, chăm sóc bệnh nhân, xử lý thoát mạch, vệ sinh giường bệnh có vấy nhiễm, xử lý sự cố tràn đổ, vệ sinh phòng pha, làm sạch buồng pha chế, làm việc trong các phòng dược, khoa khám bệnh, điều trị có liên
Trang 19quan đến thuốc điều trị ung thư khác Áo choàng phải được thay hàng ngày hoặc ngay sau khi bị nhiễm bẩn và không được mặc ra bên ngoài khu vực pha chế thuốc ung thư
Khẩu trang: Nên đeo khẩu trang loại mặt nạ phòng độc được NIOSH phê duyệt (N95) khi: nâng cửa BSC lên hoặc khi xử lý sự cố tràn đổ và khi khử nhiễm BSC cả trong và ngoài Nên đeo khẩu trang phẫu thuật trong suốt quá trình chuẩn bị các loại thuốc điều trị ung thư và quá trình thực hiện tiêm truyền cho bệnh nhân
Mũ, giày và kính bảo hộ: mũ che tóc dùng một lần và bao giày trong suốt quá trình chuẩn bị các loại thuốc chống ung thư Kính bảo hộ nên đeo khi có bất kì rủi ro nào như khi tiến hành khử nhiễm BSC hay có sự cố tràn đổ
Xử lý rác thải và làm sạch môi trường:
Việc xử lý rác thải và làm sạch môi trường rất cần thiết trong việc giảm nguy cơ phơi nhiễm với thuốc điều trị ung thư [43], [50], [51], [57] Việc làm sạch môi trường trong buồng pha chế còn giúp loại bỏ sự vấy nhiễm vào bên trong buồng pha, từ đó làm tăng chất lượng sản phẩm Các khuyến cáo về xử lý rác thải và làm sạch môi trường bao gồm: quy định về việc bảo hộ với NVYT trong xử lý rác thải
và làm sạch môi trường, phân loại rác thải trong phòng pha chế và xử lý sự cố tràn
đổ Chi tiết các hướng dẫn được chúng tôi trích dẫn trong phụ lục 6, phụ lục 8, phụ lục 9
1.2 Vấn đề liên quan đến thuốc điều trị ung thư
1.2.1 Khái niệm và phân loại DRP
Trang 20Theo ASHP, DRP “là tình huống liên quan đến điều trị bằng thuốc, thực sự hoặc có thể gây trở ngại đến việc đạt hiệu quả điều trị tối ưu trên một bệnh nhân cụ thể” [19]
Như vậy, DRP là một khái niệm rộng, bao gồm cả sai sót liên quan đến thuốc (Medication Error), biến cố bất lợi của thuốc (Adverse Drug Event hay Adverse Event) và phản ứng có hại của thuốc (Adverse drug reactions)
1.2.1.2 Phân loại DRP
DRP có thể xảy ra ở bất kỳ giai đoạn nào trong quá trình sử dụng thuốc, từ
kê đơn của bác sĩ, cấp phát thuốc của dược sĩ đến thực hiện thuốc của điều dưỡng
và sử dụng thuốc, tuân thủ điều trị của người bệnh [22] Trong mỗi giai đoạn, DRP lại được chia thành nhiều loại khác nhau:
DRP trong kê đơn, truyền đạt đơn thuốc: được tính từ khi bác sĩ kê đơn thuốc đến khi đơn thuốc được chuyển tới khoa Dược, bao gồm DRP về thiếu thông tin trong đơn thuốc, lựa chọn thuốc, liều dùng, cách dùng thuốc, tương tác – tương
kỵ thuốc và thiếu điều trị [22], [59]
DRP trong cấp phát thuốc: tính từ khi đơn thuốc đến khoa Dược cho đến khi thuốc được phát tới khoa phòng cho điều dưỡng thực hiện thuốc cho người bệnh hoặc phát cho người bệnh ngoại trú, bao gồm DRP do sai thuốc (sai loại thuốc, sai hàm lượng, sai dạng bào chế), sai nhãn, thiếu hoặc thừa thuốc, thuốc quá hạn sử dụng [44]
DRP trong chuẩn bị và thực hiện thuốc: bao gồm giai đoạn dược sĩ pha chế một số loại thuốc đặc biệt (thuốc độc tế bào, dịch nuôi dưỡng đường tĩnh mạch), điều dưỡng chuẩn bị thuốc (hoàn nguyên, pha loãng, nghiền thuốc ) và thực hiện thuốc cho bệnh nhân Các vấn đề liên quan đến thuốc trong giai đoạn này bao gồm DRP về loại thuốc, dung môi pha thuốc, đường dùng, thời điểm dùng, nồng độ, tốc
độ tiêm truyền, tương kị thuốc, kỹ thuật dùng thuốc, bỏ thuốc [68]
Trang 21DRP trong theo dõi, giám sát sử dụng thuốc (sau khi thuốc được dùng cho bệnh nhân): bao gồm phản ứng có hại của thuốc, DRP do thiếu các xét nghiệm để giám sát theo dõi độc tính, hiệu quả của thuốc
DRP trong thông tin và đào tạo bệnh nhân: người bệnh hoặc bác sĩ, nhân viên y tế khác thiếu hoặc chủ động yêu cầu về thông tin thuốc cũng được cho là DRP
DRP trong giai đoạn bệnh nhân ngoại trú sau ra viện: DRP về tuân thủ dùng thuốc của người bệnh
1.2.2 DRP trong kê đơn thuốc điều trị ung thư
DRP trong kê đơn bao gồm: kê đơn không hợp lý, không phù hợp, kê đơn thiếu, kê đơn quá mức, kê đơn không hiệu quả, xuất phát từ nhận thức hoặc quyết định y tế sai lầm liên quan đến điều trị hoặc theo dõi điều trị Trong sử dụng thuốc điều trị ung thư, DRP trong kê đơn được báo cáo là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất chiếm khoảng 70% các DRP có thể gây ra tác dụng không mong muốn trên bệnh nhân [70]
Trên thế giới, đã có nhiều nghiên cứu phát hiện, đánh giá các DRP trên nhóm đối tượng bệnh nhân ung thư Tóm tắt các nghiên cứu được thể hiện trong bảng 1.5:
Bảng 1.1 Các nghiên cứu trên thế giới về DRP ở bệnh nhân ung thư
Kết quả (Số lượng, loại DRP phổ biến nhất)
-894 DRP
-DRP quá liều (51%)
Trang 22đa ngành để phát hiện DRP và
đề xuất can thiệp Cehajie et al (Na
uy – 2014) [30]
- Nghiên cứu tiến cứu
- Dược sĩ phân tích đơn thuốc
và phỏng vấn bệnh nhân để phát hiện DRP
48 bệnh nhân nội trú
-100 DRP
-DRP liên quan đến đơn thuốc không đầy đủ thông tin (41%)
Polykarpou.G et
al (Cyprus –
2012) [56]
- Nghiên cứu tiến cứu
- Dược sĩ tham gia đi buồng cùng bác sĩ để phát hiện DRP
và đề xuất can thiệp
104 bệnh nhân nội trú
- 115 DRP
- DRP lựa chọn thuốc (29.6%)
546 bệnh nhân
- 952 DRP
- DRP chống chỉ định và tương tác thuốc: (trên 90%)
- 494 DRP
- DRP thiếu thông tin người bệnh, thiếu xét nghiệm và tương tác thuốc
Bremberg (Thụy
Điển – 2006)
[26]
- Nghiên cứu tiến cứu
- Dược sĩ tham gia đi buồng cùng bác sĩ và ghi nhận DRP
58 bệnh nhân nội trú
- 114 DRP
- DRP thiếu điều trị (32%)
Yeoh T - Nghiên cứu hồi cứu, mô tả 294 bệnh - 1091 DRP
Trang 23(Singapo –
2015) [71]
cắt ngăng trong 2 năm
- Dược sĩ phân tích đơn thuốc ngoại trú và ghi nhận DRP
nhân ngoại trú
- DRP tương tác thuốc (36%)
-14 DRP
- DRP tương tác thuốc (42%)
Aita Marianna,
et al (2013), [16]
- Nghiên cứu hồi cứu
- Thông tin được thu thập từ đơn thuốc điện tử từ tháng 1 năm 2007 đến tháng 12 năm
2008
835 đơn thuốc
- 167 DRP
- DRP thiếu thông tin
Diaz-Carrasco et
al (2007), [36]
- Nghiên cứu hồi cứu
- Thông tin được thu thập từ đơn thuốc trong khoảng thời gian 2 năm (2003-2004)
43.188 đơn thuốc
- 135 DRP
- DRP sai liều (38,5%)
Từ bảng tóm tắt các nghiên cứu trên thế giới cho thấy: Đa số các nghiên cứu tiến cứu được tiến hành trên bệnh nhân nội trú, được dược sĩ lâm sàng xác định khi tham gia đi buồng cùng bác sĩ - đây cũng là hoạt động phổ biến trong thực hành dược lâm sàng ở nhiều nước Số lượng DRP giữa các nghiên cứu cũng chênh lệch khá lớn, do thiết kế nghiên cứu có đặc điểm bệnh nhân, loại hình nghiên cứu, cách thức phát hiện DRP, tiêu chí đánh giá DRP khác nhau
Tại Việt Nam, trong cơ sở luận án, luận văn của trường Đại học Dược Hà Nội, có một số nghiên cứu xác định và phân tích các DRP trong quá trình sử dụng thuốc điều trị ung thư như nghiên cứu của Nguyễn Văn Thành (2020), Lại Thị Ngọc Anh và cộng sự (2015), Nguyễn Duy Tân (2015), Nguyễn Thùy Giang (2014), Hồ
Trang 24Mai Anh (2010) [6], [8], [9], [11], [12] Tuy nhiên, chúng tôi chưa tìm được các công bố chính thức trên các tạp chí chuyên ngành Các luận văn, luận án đã đưa ra một số vấn đề về DRP trong quá trình kê đơn thuốc điều trị ung thư như DRP trong lựa chọn phác đồ, DRP liều dùng, DRP về thời gian truyền hóa chất, DRP về dung môi, DRP về thể tích dung môi, DRP về khoảng thời gian giữa các chu kì điều trị
Như vậy, bất kì thao tác liên quan đến việc kê đơn đều là các bước có thể tiềm ẩn nguy cơ gây ra DRP Nguyên nhân gây ra DRP trong kê đơn có thể bao gồm: chọn sai thuốc, sai liều, sai đường dùng, sai tần suất, thời gian điều trị, kê đơn không phù hợp hoặc sai đặc điểm của từng bệnh nhân, các điều trị đồng thời khác; hoặc do việc đánh giá phản ứng có hại tiềm ẩn của một phương pháp điều trị Trong
đó, DRP trong việc lựa chọn liều lượng chiếm tỉ lệ cao nhất ước chừng khoảng 50% tất cả lỗi kê đơn [70]
Một trong những nguyên nhân gây ra DRP trong kê đơn về liều dùng đó là cách làm tròn liều chưa phù hợp Theo Hội Dược phẩm huyết học và Ung thư (The Hematology/Oncology Pharmacy Association): Việc làm tròn liều lượng 10% cho các thuốc gây độc tế bào giúp đơn giản hoá quy trình cho NVYT, không có tác động tiêu cực đến sự an toàn và hiệu quả của phác đồ điều trị Do đó, các tác nhân gây độc tế bào được xem xét để làm tròn liều trong vòng 10% liều được chỉ định [38]
1.2.3 DRP trong pha chế và thực hiện thuốc điều trị ung thư
DRP trong pha chế và thực hiện thuốc được xác định là các sai lệch trong quá trình chuẩn bị, thực hiện thuốc so với chỉ định của bác sĩ, hướng dẫn của bệnh viện và nhà sản xuất [32], [55], [63]
DRP trong giai đoạn pha chế thuốc bao gồm pha sai thuốc, pha thiếu thuốc, chuẩn bị liều sai, pha sai liều, pha thêm liều, pha sai dạng bào chế, thuốc có nguy cơ
bị hỏng, sai kỹ thuật chuẩn bị, các lỗi sai khác khi chuẩn bị DRP trong thực hiện thuốc bao gồm: sai do bỏ lỡ thuốc, sai thời điểm thực hiện thuốc, sai kỹ thuật thực
Trang 25hiện thuốc, sai tốc độ thực hiện thuốc, sai đường dùng và các lỗi sai thực hiện khác [18], [23]
DRP trong chuẩn bị và thực hiện thuốc xảy ra có thể do một số nguyên nhân sau: sự thiếu nhận thức về nguy cơ có thể xảy ra, thiếu quy trình hợp lý và các thiết bị cần thiết, không đủ nhân lực, nhân viên không được đào tạo và thiếu tập trung khi làm việc, không kiểm tra thông tin của bệnh nhân trước khi thực hiện, sắp xếp các thuốc tương tự trong cùng khu vực, không kiểm tra thứ tự thực hiện thuốc, thiếu kiểm tra độc lập bởi nhân viên thứ hai trước khi thực hiện thuốc, nhãn cảnh báo không đầy đủ Ngoài ra, sử dụng các thuốc ít quen thuộc hoặc thuốc yêu cầu dùng thiết bị chuyên dụng có thể dễ dẫn tới sai sót hơn Các thuốc có quy trình sử dụng phức tạp cũng có tỉ lệ mắc lỗi cao hơn Các yếu tố môi trường như tiếng ồn, bị gián đoạn trong khi thực hiện một quy trình dùng thuốc và thiếu ánh sáng cũng góp phần làm tăng tỉ lệ mắc lỗi khi chuẩn bị và thực hiện thuốc [49]
Trong một nghiên cứu đa quốc gia đã được thực hiện tại Anh, Đức và Pháp cho thấy trong 824 liều đã được chuẩn bị và 798 liều đã được thực hiện: DRP được phát hiện nhiều nhất là sản phẩm không được dán nhãn hoặc dán nhãn không chính xác (559 DRP) với tỉ lệ khác nhạu giữa các nước lần lượt là 43%, 99% và 20% [32]
Trong nghiên cứu phối hợp đa ngành của Serrano – Fabia và cộng sự (2010) về DRP liên quan đến thuốc điều trị ung thư: DRP trong chuẩn bị và thực hiện thuốc chiếm 21,0% và 1,1% tổng số các DRP Trong đó, DRP ảnh hưởng đến bệnh nhân chiếm 70% trong giai đoạn chuẩn bị và 66,6% trong giai đoạn thực hiện thuốc trên tổng số DRP trong từng giai đoạn DRP trong chuẩn bị thuốc dùng đường tĩnh mạch chiếm tỉ lệ lớn nhất (14,1%), cụ thể là chuẩn bị thuốc với dung môi khác với dung môi được quy định trong phác đồ [61]
Trong nghiên cứu của Ford và cộng sự (2006) về DRP trong chuẩn bị và thực hiện thuốc đường tĩnh mạch tại khoa ung thư: DRP trong giai đoạn chuẩn bị và thực hiện thuốc chiếm 38% và 41% tổng số DRP, trong đó chỉ 2% DRP được đánh giá có thể dẫn tới biến cố bất lợi [39]
Trang 26Những biện pháp như: sử dụng chế phẩm được chuẩn bị sẵn từ các công ty, xây dựng quy trình chuẩn, đào tạo cho điều dưỡng sử dụng các thiết bị kiểm soát tốc độ tiêm truyền, tiến hành kiểm tra chéo khi thực hiện đều có thể làm hạn chế DRP trong quá trình pha chế và thực hiện thuốc [47], [55] Bên cạnh đó, một trong những biện pháp giảm thiểu sai sót trong quá trình pha chế đó là pha chế tập trung Ngoài mục đích giảm thiểu phơi nhiễm với thuốc điều trị ung thư, thực hiện pha chế tập trung còn giúp nâng cao chất lượng thành phẩm pha chế Một số nghiên cứu đã được thực hiện nhằm phát hiện các sai sót về thuốc trong quá trình pha chế cho thấy: Tỉ lệ sai sót thuốc xảy ra trong quá trình pha chế tập trung thấp hơn nhiều so với các nghiên cứu trước đây được báo cáo [40], [60]
Tại Việt Nam, mặc dù chưa tìm được nghiên cứu nào trên các tạp chí chuyên ngành nhưng trong cơ sở dữ liệu của trường Đại học Dược Hà Nội đã có nhiều đề tài là khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ, chuyên khoa thực hiện khảo sát, mô tả các sai lệch trong quá trình chuẩn bị và thực hiện thuốc điều trị ung thư
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hường (2020) về khảo sát hoạt động chuẩn bị
và thực hiện thuốc điều trị ung thư tại Bệnh viện Ung bướu tỉnh Thanh Hóa cho kết quả: Sai lệch xảy ra trong giai đoạn chuẩn bị thuốc nhiều hơn giai đoạn thực hiện thuốc, với tỉ lệ tương ứng là 53,5% và 46,5% (chênh lệch 7%) Trong giai đoạn thực hiện thuốc các sai lệch chiếm tỉ lệ cao nhất là sai lệch do sai kỹ thuật thực hiện thuốc (27,7%) và không dán nhãn cho sản phẩm khi chuẩn bị (20,1%) Không xảy
ra sai lệch nào do bỏ lỡ thuốc khi thực hiện, sai dạng bào chế Trong giai đoạn chuẩn bị thuốc, (nếu bỏ qua lỗi dán nhãn chai thuốc khi chuẩn bị - 100% quan sát đều mắc phải), thì sai lệch xảy ra phổ biến nhất là sai kỹ thuật chuẩn bị (65,9%), sai liều do lỗi chuẩn bị (48,7%) và thuốc có nguy cơ bị hỏng (19,2%) [10]
Nghiên cứu của Bạch Văn Dương (2017) về khảo sát hoạt động chuẩn bị và thực hiện thuốc điều trị ung thư tại một Bệnh viện chuyên khoa ung bướu chỉ ra rằng sai lệch trong giai đoạn pha chế và thực hiện thuốc trung bình là 3,9 sai lệch/lượt sử dụng thuốc Sai lệch trong giai đoạn thực hiện thuốc chiếm 63,3%, giai đoạn chuẩn bị thuốc (pha chế) chiếm 36,7% Trong giai đoạn chuẩn bị thuốc, sai
Trang 27lệch xảy ra phổ biến nhất là sai do chai thuốc không được dán nhãn khi chuẩn bị (46,6%), sai kỹ thuật chuẩn bị (36,6%) (chủ yếu là sai thể tích dung môi hoàn nguyên (20,3%)), sai liều do lỗi chuẩn bị (27,1%) (phần lớn là do rớt hóa chất (10,8%)) và thuốc có nguy cơ bị hỏng (25,6%) Sai lệch trong giai đoạn thực hiện thuốc phổ biến nhất là sai kỹ thuật thực hiện thuốc (82,5%) (phần lớn là không tráng dây truyền trước và sau mỗi lần thực hiện thuốc) và sai tốc độ truyền (78,2%) [1]
Nghiên cứu của Nguyễn Thùy Giang (2014) về khảo sát cách sử dụng thuốc chống ung thư tại khoa Phụ ung thư – Bệnh viện Phụ sản Trung ương cho thấy: sai lệch trong giai đoạn pha chế và thực hiện thuốc trung bình là 3,2 sai lệch/lượt sử dụng thuốc, trong đó tỉ lệ sai lệch trong giai đoạn thực hiện chiếm 67,7% và giai đoạn pha chế chiếm 32,3% Sai lệch trong pha chế chủ yếu là sai kỹ thuật pha chế (62,7%), tiếp theo là các lỗi sai liều do pha chế (18,9%), thuốc có nguy cơ hỏng (13,1%) và bỏ thuốc (5,2%) Riêng sai lệch trong giai đoạn thực hiện thuốc xảy ra 100% số lượt quan sát về lỗi tốc độ tiêm truyền, không tráng dây truyền trước và sau mỗi lần dùng thuốc [11]
Trang 28Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu:
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu mục tiêu 1
Đối tượng nghiên cứu là toàn bộ hồ sơ bệnh án của các bệnh nhân điều trị tại khoa Phụ Ung thư có sử dụng thuốc điều trị ung thư thỏa mãn các tiêu chuẩn sau:
2.1.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn:
Hồ sơ bệnh án của các bệnh nhân có mã lưu trữ “K” hoặc “Chorio” có ngày ra viện từ ngày 1/7/2021 đến ngày 31/12/2021
Được chỉ định ít nhất một trong các loại thuốc điều trị ung thư
Đã dùng thuốc điều trị ung thư ít nhất 1 chu kỳ
2.1.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ:
Bệnh án không tiếp cận được
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu mục tiêu 2
Hướng dẫn của các hiệp hội, tổ chức chuyên ngành và cơ quan quản lý về sử dụng an toàn thuốc độc hại và “Quy trình pha chế thuốc ung thư” (SOP) của bệnh viện
Quá trình chuẩn bị thuốc điều trị ung thư của các dược sĩ thực hiện công tác pha chế (DSPC) tại phòng pha chế tập trung thuốc ung thư trong thời gian từ 1/11/2021 đến 15/2/2022
2.1.3 Đối tượng nghiên cứu mục tiêu 3
Quá trình thực hiện thuốc điều trị ung thư của các điều dưỡng tại khoa Phụ Ung thư Bệnh viện Phụ sản Trung ương trong thời gian từ 1/11/2021 đến 15/2/2022
Trang 292.2 Phương pháp nghiên cứu:
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu mục tiêu 1
2.2.1.1 Thiết kế nghiên cứu mục tiêu 1
Nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu từ bệnh án của bệnh nhân
2.2.1.2 Phương pháp thu thập dữ liệu mục tiêu 1
Phương pháp lấy mẫu: Toàn bộ bệnh án của các bệnh nhân thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ đều được chúng tôi đưa vào nghiên cứu
Thông tin bệnh án được điền theo “Mẫu phiếu thu thập thông tin bệnh án” (Phụ lục 12)
2.2.1.3 Chỉ tiêu nghiên cứu mục tiêu 1
Đặc điểm của mẫu nghiên cứu và đặc điểm trong kê đơn cách dùng thuốc điều trị ung thư
- Đặc điểm về chẩn đoán
- Đặc điểm về lựa chọn phác đồ
- Đặc điểm về cách dùng thuốc điều trị ung thư (đường dùng, dung môi pha loãng)
DRP trong kê đơn về liều dùng và cách dùng của thuốc điều trị ung thư:
- DRP trong kê đơn về liều dùng:
+ Tỉ lệ DRP trong kê đơn về liều dùng
+ Mức độ khác biệt về liều dùng thực tế và liều dùng lý thuyết
+ Nguyên nhân dẫn đến DRP về liều dùng
- DRP trong kê đơn về cách dùng:
+ Tỉ lệ DRP trong kê đơn về cách dùng
+ Tỷ lệ kê đơn đường dùng không phù hợp
+ Tỉ lệ kê đơn dung môi pha loãng không phù hợp
+ Tỉ lệ kê đơn thời gian tiêm truyền không phù hợp
DRP trong kê đơn về khoảng cách giữa các chu kì điều trị
Trang 30- Tỉ lệ đơn kê khoảng cách giữa các chu kì điều trị không phù hợp
2.2.1.4 Quy ước:
Liều lý thuyết:được tính bằng liều theo phác đồ được cá thể hoá dựa trên các thông số chiều cao, cân nặng, chức năng gan thận và độc tính trên hệ tạo máu của bệnh nhân
Tỉ lệ DRP trong kê đơn về liều dùng: Liều dùng thực tế của bệnh nhân có sai khác trên 10% so với liều lý thuyết
DRP trong kê đơn về cách dùng: Bao gồm kê đơn đường dùng, dung môi pha loãng không phù hợp hoặc thời gian tiêm truyền không phù hợp
Kê đơn đường dùng không phù hợp: Đường dùng trong bệnh án khác với đường dùng theo hướng dẫn tại phụ lục 2
Kê đơn dung môi pha loãng không phù hợp: Loại dung môi hoặc thể tích dung môi pha loãng khác với hướng dẫn tại phụ lục 2
Kê đơn về thời gian tiêm truyền không phù hợp: Thời gian tiêm truyền khác vượt quá 10% so với hướng dẫn tại phụ lục 2
DRP trong kê đơn khoảng cách giữa các chu kì điều trị: Khoảng cách giữa các chu kì khác so với độ dài chu kì chuẩn tại phụ lục 16
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu mục tiêu 2
Các DRP xảy ra trong giai đoạn pha chế thuốc điều trị ung thư chủ yếu liên quan đến chất lượng chế phẩm được pha chế và an toàn cho người pha chế Với mục đích ban đầu là đưa ra các bước để thực hiện, nên trong quy trình SOP, bệnh viện chưa đưa vào các tiêu chuẩn cho từng bước, từng giai đoạn Nhằm hỗ trợ bệnh viện Phụ sản Trung ương rà soát lại, cải tiến và hoàn thiện quy trình SOP tại đơn vị, chúng tôi tiến hành đánh giá các DRP trong quá trình pha chế thuốc điều trị ung thư bao gồm: DRP liên quan đến tiêu chuẩn cần bổ sung vào quy trình SOP của bệnh viện, DRP liên quan đến tuân thủ SOP của dược sĩ pha chế, DRP liên quan đến sự sai khác của chế phẩm sau pha chế với chế phẩm theo yêu cầu của phiếu YCPC chuẩn
Trang 312.2.2.1 Thiết kế nghiên cứu mục tiêu 2
Nghiên cứu mô tả tiến cứu, quan sát trực tiếp
2.2.2.2 Phương pháp thu thập dữ liệu mục tiêu 2
Tổng quan tài liệu: các khuyến cáo và hướng dẫn thực hành được tìm kiếm trên nguồn cơ sở dữ liệu Pubmed và trang web của các Hiệp hội Ung thư, cơ quan quản lý các nước Cú pháp tìm kiếm được hình thành bằng cách sử dụng các toán từ “OR” và “AND” để liên kết các từ khóa: “Cytotoxic drugs”,
“Hazardous drugs”, “Antineoplastic agents”, “Cytotoxins”, “Pharmaceutical preparations”, “Preventing occupational exposure”, “Guideline”, “Standards
of Practice”, “Safety”, “Cytotoxic drug preparation”, “Personal protective equipment” Dựa trên khuyến cáo của các hiệp hội trên thế giới, đối chiếu với quy trình tại bệnh viện, chúng tôi chỉ ra những tiêu chuẩn cần thiết để bổ sung vào SOP
Để đánh giá DRP liên quan đến tuân thủ SOP, nhóm nghiên cứu tiến hành quan sát trực tiếp quá trình pha chế của dược sĩ Thông tin thu thập được điền vào mẫu phiếu thu thập thông tin (phụ lục 13)
Để đánh giá DRP liên quan đến sự sai khác của chế phẩm pha chế với chế phẩm theo YCPC đã được chuẩn hoá, chúng tôi xác định sự sai khác giữa chế phẩm pha chế sau từng giai đoạn với thông tin cần đạt được theo yêu cầu của phiếu YCPC chuẩn
Hiện nay, tại phòng pha chế tập trung thuốc ung thư, có 01 dược sĩ phụ trách phòng pha chế, 04 dược sĩ thực hiện pha chế và chia thành 02 cặp (01 dược sĩ đại học – 01 dược sĩ trung học), mỗi cặp sẽ thực hiện pha chế trong vòng 1 tháng sau đó tiến hành đổi vị trí cho nhau Trung bình mỗi tháng phòng pha chế tiếp nhận khoảng 100 bệnh nhân với khoảng trên 200 chai dịch truyền được yêu cầu pha chế Để có thể đánh giá quá trình pha chế của các dược sĩ được đầy đủ, toàn diện hơn, các DRP được đánh giá trên cả 2 cặp pha chế được đồng đều, nhóm nghiên cứu tiến hành quan sát mỗi cặp pha chế trong vòng 1 tuần làm việc (cụ thể: nhóm 1 thời gian từ 08/11/2021 đến ngày
Trang 3212/11/2021, nhóm 2 từ ngày 07/2/2022 đến ngày 11/02/2022) Với vai trò là người phụ trách phòng pha chế, nghiên cứu viên thực hiện việc quan sát thường quy, dược sĩ pha chế không biết được mục đích thực sự của nghiên cứu
2.2.2.3 Chỉ tiêu nghiên cứu mục tiêu 2
DRP tiềm tàng liên quan đến sự không đầy đủ của SOP hiện tại của bệnh viện
- Những tiêu chuẩn cần có trong thực hành pha chế thuốc điều trị ung thư
- Những tiêu chuẩn cần bổ sung vào quy trình SOP của bệnh viện
DRP liên quan đến tuân thủ các tiêu chuẩn trong SOP của bệnh viện:
- DRP xuất hiện ở bước “Đối chiếu, kiểm tra, duyệt phiếu YCPC”
- DRP xuất hiện ở bước “Nhập dữ liệu vào phầm mềm pha chế”
- DRP xuất hiện ở các bước chuẩn bị trước pha chế:
+ Tỉ lệ không vệ sinh isolator bằng cồn 700 trước khi pha chế
+ Tỉ lệ không in bảng tổng hợp cách pha dán lên isolator
+ Tỉ lệ dán sai nhãn pha chế lên chai dịch truyền
- DRP xuất hiện ở bước “Thực hiện pha chế theo từng loại thuốc”:
+ Tỉ lệ không tiến hành tra đối thông tin trong quá trình pha chế
+ Tỉ lệ thực hiện sai kỹ thuật lắc
+ Tỉ lệ không ghi thời gian pha chế lên các lọ thuốc thừa
- DRP xuất hiện ở các bước sau pha chế:
+ Tỉ lệ không ghi thời gian pha chế vào phiếu CKPC
+ Tỉ lệ bảo quản thuốc không đúng
+ Tỉ lệ không vệ sinh buồng pha bằng cồn 700 sau khi pha chế xong
+ Tỉ lệ không tổng hợp sổ thuốc pha chế theo ngày
DRP liên quan đến sự sai khác của chế phẩm pha chế với chế phẩm theo YCPC đã được chuẩn hoá
Trang 33- Tỉ lệ sai thông tin chung
- Tỉ lệ sai tên thuốc – hàm lượng
- Tỉ lệ sai liều lượng
- Tỉ lệ sai dung môi hoàn nguyên
- Tỉ lệ sai dung môi pha loãng
- Tỉ lệ sai thể tích thành phẩm
2.2.2.4 Quy ước
Một phiếu YCPC chuẩn được định nghĩa là phiếu YCPC sau khi đã được chuẩn hoá:
- Thông tin hành chính: Đầy đủ thông tin, và phù hợp với sổ thuốc đã duyệt
- Thông tin về thuốc: Đầy đủ thông tin, phù hợp với sổ thuốc đã duyệt và phù hợp với khuyến cáo về dung môi, thể tích thành phẩm
Một DRP liên quan đến tuân thủ các tiêu chuẩn trong SOP của bệnh viện được định nghĩa là không tuân thủ/không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ một bước hoặc 1 tiêu chuẩn cụ thể trong quy trình pha chế gây ra nguy cơ sai sót hoặc dẫn đến xuất hiện sai sót khi hoàn thành bước đó (chi tiết quy trình SOP được trình bày tại phụ lục 4)
DRP xuất hiện ở bước “Đối chiếu, kiểm tra, duyệt phiếu YCPC” được xác định khi có bất cứ khác biệt nào giữa phiếu YCPC đã được DSPC duyệt so với phiếu YCPC chuẩn
DRP xuất hiện ở bước “Nhập dữ liệu vào phầm mềm pha chế” được xác định khi có bất cứ khác biệt nào giữa phiếu CKPC sau khi đã được đối chiếu kiểm tra - so với phiếu YCPC chuẩn
Một DRP sai thông tin chung được xác định khi một trong các thông tin sau không đầy đủ hoặc sai khác với thông tin hành chính trong phiếu YCPC chuẩn: họ tên bệnh nhân, năm sinh/tuổi, mã bệnh nhân, số buồng, số giường, bác sĩ, chiều cao, cân nặng, diện tích da, chẩn đoán, phác đồ, ngày pha, ngày yêu cầu
Trang 34 Một DRP về thuốc được xác định dựa trên các sai sót về tên thuốc - hàm lượng, dung môi hoàn nguyên, dung môi pha loãng, thể tích thành phẩm so với phiếu YCPC chuẩn
Vì lý do đạo đức nên trong một số trường hợp người quan sát nhận thấy có bất
kỳ sai sót nào ở giai đoạn “tiến hành pha chế từng thuốc” người quan sát sẽ can thiệp tới dược sĩ để đảm bảo không tạo ra chế phẩm chứa sai sót để dùng trên bệnh nhân Khi đó sai sót đó vẫn được ghi nhận
2.2.3 Phương pháp nghiên cứu mục tiêu 3
Tại khoa Phụ Ung thư Bệnh viện Phụ sản Trung ương, các điều dưỡng nhận thành phẩm từ phòng pha thuốc độc tế bào để bảo quản và sử dụng cho bệnh nhân
Do đó, các điều dưỡng cần phải tuân thủ các tiêu chuẩn về vận chuyển và bảo quản thuốc điều trị ung thư đồng thời đảm bảo việc thực hiện thuốc trên bệnh nhân chính xác và an toàn Nhóm nghiên cứu tiến hành đánh giá DRP trong việc thực hiện thuốc điều trị ung thư của điều dưỡng bao gồm: DRP liên quan đến sai lệch so với các tiêu chuẩn thực hành về vận chuyển và bảo quản thuốc điều trị ung thư và DRP
về sai sót xảy ra trong quá trình thực hiện thuốc điều trị ung thư của điều dưỡng
2.2.3.1 Thiết kế nghiên cứu mục tiêu 3
Nghiên cứu mô tả tiến cứu, quan sát trực tiếp
2.2.3.2 Phương pháp thu thập dữ liệu mục tiêu 3
Nghiên cứu viên tiến hành quan sát trực tiếp cách thực hiện thuốc điều trị ung thư của điều dưỡng từ khi nhận thuốc từ phòng pha chế tập trung đến khi kết thúc dùng thuốc trên bệnh nhân Mỗi buổi làm việc có từ 4 - 6 điều dưỡng đảm nhiệm nhiệm vụ thực hiện thuốc trên bệnh nhân Nghiên cứu viên bố trí quan sát việc thực hiện thuốc trên từng bệnh nhân và đảm bảo quan sát được tối đa việc thực hiện thuốc của tất cả các điều dưỡng trong quá trình nghiên cứu Điều dưỡng không biết được chính xác mục đích quan sát của nghiên cứu viên Thông tin thu thập được điền vào Mẫu phiếu thu thập thông tin (phụ lục 14)
Trang 352.2.3.3 Chỉ tiêu nghiên cứu mục tiêu 3
DRP liên quan đến sai lệch so với tiêu chuẩn thực hành trong thực hiện thuốc thuốc điều trị ung thư:
- Tỉ lệ DRP liên quan đến sai lệch so với tiêu chuẩn trong vận chuyển thuốc điều trị ung thư
+ Tỉ lệ DRP không đóng gói riêng biệt thuốc điều trị ung thư với các loại thuốc khác
+Tỉ lệ DRP không để thuốc trong túi zip kép (hoặc túi đóng kín) và đặt trong hộp bên ngoài có thể hiện biểu tượng/ ghi chú “Thuốc độc tế bào”
+ Tỉ lệ DRP không đeo găng tay khi vận chuyển thuốc
+ Tỉ lệ DRP không mang theo bộ kít xử trí sự cố tràn, đổ
- Tỉ lệ DRP liên quan đến sai lệch so với tiêu chuẩn trong bảo quản thuốc điều trị ung thư:
+ Tỉ lệ DRP không bảo quản thuốc riêng biệt với các thuốc khác
+ Tỉ lệ DRP không bảo quản thuốc trong các thùng kín
DRP liên quan đến sai sót trong quá trình thực hiện thuốc điều trị ung thư của điều dưỡng:
Đánh giá DRP liên quan đến sai lệch so với tiêu chuẩn thực hành trong thực
hiện thuốc điều trị ung thư dựa trên các tiêu chuẩn trong y văn được tổng kết
trong phụ lục 10 và phụ lục 11
Trang 36 Đánh giá DRP liên quan đến sai sót trong quá trình thực hiện thuốc điều trị
ung thư dựa trên y lệnh của bác sĩ trong bệnh án
Tốc độ tiêm truyền được xác định bằng cách đếm số giọt/phút trong 3 lần sau
đó chia trung bình để xác định tốc độ tiêm truyền ngay tại thời điểm điều
dưỡng bắt đầu thực hiện liều thuốc trên bệnh nhân DRP sai tốc độ tiêm truyền
được xác định khi tốc độ trung bình khác vượt quá 10% so với tốc độ tiêm
truyền được bác sĩ kê trong bệnh án
DRP sai kỹ thuật thực hiện thuốc được xác định nếu sử dụng quy trình không
thích hợp/ kỹ thuật không đúng trong thực hiện thuốc (ví dụ: có bọt khí trong
bơm tiêm dây truyền; không tiêm truyền hết thuốc; không tráng dây truyền
trước và sau mỗi lần dùng thuốc)
Vì lý do đạo đức nên trong một số trường hợp người quan sát nhận thấy có bất
kỳ sai sót nào có thể gây hậu quả nghiêm trọng trên bệnh nhân như sai thuốc,
bỏ lỡ thuốc, sai thứ tự thực hiện thuốc, sai đường dùng người quan sát sẽ can
thiệp tới điều dưỡng Khi đó sai sót đó vẫn được ghi nhận
2.3 Xử lý số liệu:
Số liệu được nhập trực tiếp từ các mẫu phiếu thu thập dữ liệu vào phần
mềm Microsoft Office Excel và được xử lý bằng phần mềm Microsoft Office Excel
Trang 37Chương 3 KẾT QUẢ 3.1 DRP trong kê đơn thuốc điều trị ung thư
3.1.1 Đặc điểm của mẫu nghiên cứu và đặc điểm dùng thuốc điều trị ung thư theo đơn kê
Trong khoảng thời gian nghiên cứu, 99 bệnh án được lựa chọn vào nghiên cứu thoả mãn các tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ Bệnh nhân được chẩn đoán và điều trị cho 3 loại Ung thư: Ung thư buồng trứng (55,6%), U nguyên bào nuôi (41,4%) và Ung thư vú (3,0%)
3.1.1.1 Đặc điểm về lựa chọn phác đồ
Đặc điểm lựa chọn phác đồ:
Phân bố các phác đồ được lựa chọn trong điều trị tại khoa Phụ Ung thư cho từng bệnh lý được trình bày trong các hình 3.1, hình 3.2, hình 3.3
Hình 3.1 Phân bố phác đồ được chỉ định trên bệnh nhân Ung thư buồng trứng
Trong điều trị Ung thư buồng trứng, phác đồ Paclitaxel – Carboplatin là phác đồ được lựa chọn điều trị nhiều nhất (39,0%) Tiếp đến là phác đồ Bleomycin – Etoposid – Cisplatin (BEP) (23,7%) và phác đồ Docetaxel – Carboplatin (18,6%)
Avastin - Paclitaxel - Carboplatin
Docetaxel Docetaxel-Cyclophosphamid
Doxorubicin Doxorubicin - Cyclophosphamid
Doxorubicin liposome
Gemcitabin - carboplatin - Avastin
Trang 38Hình 3.2 Phân bố phác đồ được chỉ định trên bệnh nhân U nguyên bào nuôi
Trong điều trị U nguyên bào nuôi, Methotrexat là phác đồ được lựa chọn phổ biến nhất tại khoa Phụ Ung thư (43,6%), tiếp theo là phác đồ EMACO (29,1%)
Hình 3.3 Phân bố phác đồ được chỉ định trên bệnh nhân Ung thư vú
Trong số 3 phác đồ được sử dụng để điều trị Ung thư vú, Doxorubicin – Cyclophosphamid được lựa chọn nhiều hơn 2 phác đồ còn lại
Đặc điểm thay đổi phác đồ:
Doxorubicin - Cyclophosphamid - Paclitaxel
Trang 39Phần lớn các bệnh án thu thập được trong mẫu nghiên cứu đều được chỉ định dùng 1 phác đồ (86,3 %)
Có 11 bệnh án dùng 2 phác đồ (10,8%), trong đó, có 9 bệnh án có chẩn đoán UNBN (các phác đồ chuyển từ: MTX sang Dactinomycin, EP sang EMACO, EMACO sang EMAEP), 1 bệnh án UTBT (từ Paclitaxel – Carboplatin sang Avastin
- Paclitaxel - Carboplatin và 1 bệnh án UTV (chuyển từ Doxorubicin – Cyclophosphamid sang Docetaxel-Trastuzumab) Có duy nhất một bệnh án sử dụng
4 phác đồ, thứ tự chuyển phác đồ từ Doxorubicin lyposome sang Doxorubicin đến Gemcitabin và sang Gemcitabin – Carboplatin
Đặc điểm thay đổi phác đồ trên quần thể bệnh nhân nghiên cứu được thể hiện trong hình 3.4
Hình 3.4 Đặc điểm thay đổi phác đồ
3.1.1.2 Đặc điểm về cách dùng thuốc điều trị ung thư
100% thuốc điều trị ung thư được sử dụng tại khoa Phụ Ung thư đều được dùng đường tiêm – truyền, và chủ yếu là truyền tĩnh mạch (60,1%) Có tổng số 1.710 trường hợp thuốc điều trị ung thư cần được pha loãng trước khi sử dụng (64,4%) Dung môi pha loãng được sử dụng tại viện là Glucose 5% (43,4%) và NaCl 0,9% (56,6%)
Trang 403.1.2 DRP trong kê đơn về liều dùng và cách dùng của các thuốc điều trị ung thư
Với 99 bệnh án nghiên cứu, chúng tôi thống kê được 619 chu kì điều trị, với tổng số 2.808 lượt kê đơn thuốc điều trị ung thư Trong số 2.808 lượt kê đơn này có tới 1.073 DRP được phát hiện: DRP trong kê đơn về liều dùng là nhiều nhất (68,8%), tiếp theo là DRP trong kê đơn về tốc độ tiêm truyền (23,3%) Chi tiết các DRP trong kê đơn được thể hiện trong hình 3.5
Hình 3.5 DRP trong kê đơn của thuốc điều trị ung thư
3.1.2.1 DRP trong kê đơn về liều dùng thuốc điều trị ung thư
Mức độ khác biệt về liều dùng trên thực tế so với liều lý thuyết:
Mặc dù tỉ lệ DRP trong kê đơn về liều dùng khá cao (68,8%) nhưng sự chênh lệch giữa liều thực tế và liều lý thuyết phần lớn tập trung ở mức 10 - 30% (82,2%) Các DRP có khoảng chênh lệch liều trên 30% không nhiều (17,8%), tuy nhiên ở mức liều chênh lệch này lại tiềm tàng nhiều nguy hiểm cho bệnh nhân cũng
DRP trong kê đơn về tốc độ tiêm truyền