1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chuyên đề lí luận văn học: VĂN HỌC NHÀ VĂN QUÁ TRÌNH SÁNG TÁC ( Lệ Na sưu tầm )

96 86 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Văn Học Nhà Văn Quá Trình Sáng Tác
Tác giả Phượng Lưu, Nguyễn Trọng Nghĩa, La Khắc Hòa, Lê Lưu Oanh
Trường học Đại học Sư phạm
Chuyên ngành Lí luận văn học
Thể loại chuyên đề
Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 193,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tìm hiểu về chuyên đề lí luận văn học: VĂN HỌC - NHÀ VĂN - QUÁ TRÌNH SÁNG TÁC. Nội dung được biên soạn đầy đủ, chi tiết, tổng hợp kiến thức về lí luận văn học cho học sinh chuyên văn hoặc đang tìm hiểu thêm về bộ môn lí luận văn học. Có ví dụ dẫn chứng phong phú nên không quá khô khan khi tiếp cận. Được biên soạn rõ ràng và dễ hiểu.

Trang 1

NHÓM 1:

Nguồn: Sách LÍ LUẬN VĂN HỌC Tập 1 - Phượng Lưu, Nguyễn Trọng Nghĩa, La Khắc Hòa, Lê Lưu Oanh - NXB Đại học Sư phạm

-VĂN HỌC - CHƯƠNG I: VĂN NGHỆ, HÌNH THÁI Ý THỨC XÃ HỘI

THẨM MĨ

Văn học là một hình thái ý thức xã hội, bắt nguồn từ đời sống, phản ánh đời sống, bày tỏ một quan điểm, một cách nhìn, một tình cảm đối với đời sống Nhưng văn học nói riêng cũng như nghệ thuật nói chung, không giống các hình thái ý thức xã hội khác bởi có những đặc thù riêng mang tính thẩm mĩ về đối tượng, nội dung và phương thức thể hiện.

I

Đặc trưng đối tượng và nội dung của văn học

1 Đối tượng của văn học

Nội dung là yếu tố đầu tiên quy định sự khác nhau của văn học so với các hình thái

ý thức xã hội khác như chính trị, đạo đức, tôn giáo, lịch sử, địa lí, sinh học Nội dung, trước hết là cái được nhận thức, chiếm lĩnh từ đối tượng

Vậy đối tượng của văn học là gì?

Mĩ học duy tâm khách quan từ thời Platông đến Hêghen đều cho rằng đối tượng củanghệ thuật chính là biểu hiện của thế giới thần linh, của những linh cảm thần thánh, của ý niệm tuyệt đối – một thế giới sản sinh trước loài người Nghĩa là, mọi đối tượng của nghệ thuật cũng như của văn học đều là thế giới của thần linh, của những điều huyền bí, cao cả Văn học nghệ thuật suy cho cùng là sự hồi tưởng và miêu tả thế giới ấy, một thế giới không thuộc phạm vi đời sống hiện thực Quan điểm này

đã đề cao và thần thánh hóa đối tượng của văn học nghệ thuật Cho nên không lạ gì khi chúng ta bắt gặp hầu hết đối tượng phản ánh của văn học, nghệ thuật thời cổ chính là các câu chuyện về các vị thần linh: từ người khổng lồ Khoa Phụ đuổi bắt mặt trời, Nữ Oa vá trời trong thần thoại Trung Quốc, đến các vị thần trên đỉnh Ôlempơ và con cháu của của các vị thần đó như Hécquyn, Asin trong văn học Hi Lạp cổ đại, rồi Thánh Gióng, Sơn Tinh, Thủy Tinh, Lạc Long Quân và Âu Cơ của người Việt

Mĩ học duy tâm chủ quan lại cho rằng, đối tượng nghệ thuật chính là những cảm giácchủ quan, là cái tôi bề sâu trong bản chất con người của nghệ sĩ, không liên quan gì đến đời sống hiện thực Đây là một quan điểm đầy mâu thuẫn, bởi mọi cảm giác của con người bao giờ cũng chính là sự phản ánh của thế giới hiện thực Còn các nhà mĩ học duy vật từ xưa đến nay đều khẳng định, đối tượng của nghệ thuật chính là toàn bộ đời sống hiện thực khách quan Tsécnưsépxki đã nói: Phạm vi của nghệ thuật gồm tất cả những gì có trong hiện thực (trong thiên nhiên và trong xã

Trang 2

hội) làm cho con người quan tâm Quan điểm này đã đưa đối tượng của nghệ thuật

về gần gũi với hiện thực đời sống

.Thực ra, từ thời xa xưa, con người đã biết văn học nghệ thuật bắt nguồn từ đời sống Ở Trung Quốc, thuyết cảm vật đã chỉ rõ: mùa xuân, mùa thu, các mùa thay thế nhau, làm cảnh vật biến đổi, tâm hồn cũng thay đổi theo Còn theo các thuyết thingôn chí, thi duyên tình: văn chương tạo nên do con người có cảnh ngộ trong lòng mình muốn bộc lộ, mà cảnh ngộ đó cũng là do tác động của đời sống tạo nên

Như vậy, có thể nói, đối tượng của văn học, nghệ thuật là toàn bộ đời sống xã hội và tự nhiên Tsécnưsépxki từng nói: “Cái đẹp là cuộc sống” vì lí do đó Nhưng

phạm vi này vô cùng rộng Bởi lẽ, nếu nói đối tượng của văn học là đời sống thì chưa tách biệt với đối tượng của các ngành khoa học và các hình thái ý thức xã hội

khác như lịch sử, địa lí, hóa học, y học, chính trị, đạo đức Văn học phải có cách nhận thức và thể hiện đối tượng khác biệt Nếu như đối tượng của triết học là

những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy, là mối quan hệ giữa vật chất và ý thức; đối tượng của lịch sử là các sự kiện lịch sử, sự thay thế nhau của các chế độ; đối tượng của đạo đức học là các chuẩn mực đạo đức trong mối quan hệ

người với người thì đối tượng của văn học là toàn bộ đời sống hiện thực,

nhưng chỉ là hiện thực có ý nghĩa đối với đời sống tâm hồn, tình cảm con

người Tức là, dù văn học có miêu tả thế giới bên ngoài như thiên nhiên, lịch sử,

chiến tranh, hòa bình , văn học cũng chỉ chú ý tới quan hệ của chúng đối với con người Văn học, nghệ thuật nhìn thấy trong các hiện tượng đời sống những ý nghĩa

“quan hệ người kết tinh trong sự vật” Thế giới khách quan trong văn học là thế giớiđược kết cấu trong các mối liên hệ với con người Người ta gặp tất cả các hình thức

đời sống trong văn học, từ những hiện tượng tự nhiên “mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi, sông”, tiếng sấm rền vang, giọt mưa rơi tí tách, tiếng sóng ào ạt xô bờ, một tiếng chim ban mai đến những biến cố lịch sử lớn lao Nhưng cái văn học chú ý

là kết quả, ý nghĩa của tất cả những hiện tượng đời sống đó đối với con người Văn học không nhìn thiên nhiên như một nhà sinh học, một nhà khí tượng học, mà thấy

ở đó tâm trạng, số phận, vận mệnh con người: tiếng chim ban mai là âm thanh của niềm vui sống, đám mây trắng vô tận là hình ảnh của sự hư vô, cái hư ảo, phù du của kiếp người Ngay cả các hiện tượng lịch sử cũng được văn học nhìn nhận dưới góc độ khác biệt Sau những những biến cố dữ dội của cách mạng Nga tháng Hai vàtháng Mười năm 1917, Rôtsin đã nói với Katia: “Mọi cuộc chiến tranh rồi sẽ qua đi,cách mạng sẽ thôi gào thét, chỉ còn tấm lòng em dịu dàng ngàn đời bất diệt” (Con đường đau khổ - A Tônxtôi) Khi nhìn thấy ngôi sao chổi trên bầu trời Matxcơva năm 1812, trong lòng Pie Bêdukhốp tràn ngập những tình cảm cao thượng và mới

mẻ (Chiến tranh và hòa bình – L Tônxtôi) Điều văn học quan tâm là tác động của những biến cố lịch sử, của tự nhiên, của thế giới xung quanh tới tâm hồn con người chứ không phải bản thân những biến cố ấy

Như vậy, đối tượng của văn học là hiện thực mang ý nghĩa người Văn học

không miêu tả thế giới trong ý nghĩa chung nhất của sự vật Điều mà văn học chú ý

Trang 3

chính là một “quan hệ người kết tinh trong sự vật”: dòng sông là nơi lưu giữ những

kỉ niệm tuổi thơ, đầm sen là nơi gặp gỡ, giao duyên, con đê làng là ranh giới của hồn quê và văn minh thị thành Đó chính là những giá trị nhân sinh thể hiện trong

sự vật Có thể nói, đối tượng của văn học nói riêng, nghệ thuật nói chung, là toàn bộthế giới hiện thực có ý nghĩa đối với sự sống con người, mang tư tưởng, tình cảm, khát vọng của con người “Nghệ thuật được tác thành bởi Con người Nó là sự biểu đạt của con người trước thế giới tự nhiên và đời sống” (Bách khoa toàn thư

Comtorp’s) Trong toàn bộ thế giới hiện thực đó, con người với toàn bộ các quan hệcủa nó là đối tượng trung tâm của văn học.ấ

Toàn bộ thế giới khi được tái hiện trong tác phẩm đều được tái hiện dưới con mắt một con người cụ thể Đó có thể là người kể chuyện, là nhân vật hoặc nhân vật trữ tình Con người trong văn học trở thành những trung tâm giá trị, trung tâm đánh giá, trung tâm kết tinh các kinh nghiệm quan hệ giữa con người và thế giới Khi lấy con người làm hệ quy chiếu, làm trung tâm miêu tả, văn học có một điểm tựa nhìn

ra thế giới, bởi văn học nhìn thế giới qua lăng kính của những con người có cá tính

riêng Do đó, miêu tả con người là phương thức miêu tả toàn thế giới Văn học không miêu tả con người như một nhà triết học, chính trị học, đạo đức học, y học, giải phẫu học , mà thấy đó là con người có lịch sử cá nhân, có tính cách,

có tình cảm, có số phận với những quan hệ cụ thể, cá biệt Khi nhà thơ Tố Hữu

viết về Bác Hồ: Cha đã đi đày đau nỗi riêng, Còn nghe dưới gót nặng dây xiềng, Mẹnằm dưới đất hay chăng hỡi, Xin sáng lòng con ngọn lửa thiêng (Theo chân Bác) ta thấy hiện lên hình ảnh Bác Hồ

Không phải như một nhà chính trị trừu tượng mà là một con người có tâm hồn, tình cảm và số phận riêng

Con người trong văn học còn tiêu biểu cho những quan hệ xã hội nhất định, vì vậy, con người được miêu tả vừa như những kiểu quan hệ xã hội kết tinh trong những tính cách (tham lam, keo kiệt, hiền lành, trung hậu ), vừa cả thế giới tâm hồn, tư tưởng của chính họ Có thể nói, toàn bộ lịch sử văn học của nhân loại chính là lịch

sử tâm hồn con người Vì thế, con người trong văn học không giống với con người

là đối tượng của các ngành khoa học khác như lịch sử, đạo đức, sinh học, y học Điều đó khẳng định tính không thể thiếu được của văn học trong lịch sử ý thức nhânloại

Bên cạnh con người là đối tượng chính, văn học còn hướng tới đời sống trong toàn bộ tính phong phú và muôn vẻ của các biểu hiện thẩm mĩ của nó Đó là

toàn bộ đời sống trong tính cụ thể, sinh động, toàn vẹn, với mọi âm thanh, màu sắc, mùi vị vô cùng sinh động và gợi cảm Văn học cũng như nghệ thuật luôn hướng tới cái đẹp của đời sống, đặc biệt là cái đẹp về hình thức của sự vật: ánh chiều tà đỏ

ối, một lá ngô đồng rụng, giọt sương mai long lanh Nhưng tất cả cái đẹp này của cuộc sống cũng đều được tái hiện dưới con mắt của một con người cụ thể với nhữngkinh nghiệm, ấn tượng và sự tinh tế Có những bài thơ chỉ như bức tranh thiên nhiên, thiếu vắng con người:

Trang 4

Lạc hà dữ cô lộ tề phi, Thu thủy cộng trường thiên nhất sắc (Ráng chiều vạc lẻ cùng bay, Nước thu cùng với trời thu một màu)

(Vương Bột)

Nhưng bức tranh thực sự vẫn bộc lộ gián tiếp về cái nhìn của con người về tự nhiên,một tự nhiên giàu màu sắc và nhịp điệu, giàu sức sống và sức biểu hiện, làm thư thái tâm hồn con người Đúng như Hêghen nhận xét “Đối tượng của thơ không phải

là mặt trời, núi non, phong cảnh mà là những hứng thú về tinh thần”, hoặc “Thiên nhiên là mẫu mực vĩnh hằng của nghệ thuật, và trong thiên nhiên thì đẹp đẽ và cao quý nhất vẫn là con người” (Biêlinxki) Vì vậy, có thể khẳng định, đối tượng của văn học là toàn bộ thế giới mà đời sống của con người là trung tâm M Gorki nhận xét “Văn học là nhân học” chính vì những lí do đó

2 Nội dung tình cảm xã hội thẩm mĩ

Đại văn hào L Tôn Xtôi nói: “Nghệ thuật là một hoạt động của loài người bắt đầukhi một người tự giác truyền đạt những tình cảm mình đã thể nghiệm cho người khác bằng các dấu hiệu bên ngoài, làm cho người khác lây lan được những tình cảm

ấy, thể nghiệm được chúng”

Đồng chí Lê Duẩn cũng khẳng định: “Để hiểu một việc gì thì con người dùng lí

lẽ, lí trí, nhưng khi hành động thì phải có tình cảm: lí trí giúp con người có tình cảmđúng, ngược lại tình cảm có dồi dào thì lí trí mới đứng vững Công tác tư tưởng không phải chỉ nắm lí luận thôi, mà phải biết gắn tình cảm với lí luận, cho nên các mặt văn học nghệ thuật là rất quan trọng” Nhưng cần lưu ý rằng, không phải bất

cứ tình cảm nào, cho dù rất mãnh liệt, cũng có thể trở thành nội dung của nghệ thuật

Nghệ thuật không những có thể, mà còn cần thiết biểu hiện những tình cảm cá nhân, nhưng không phải là những cái cá biệt, nhất thời, ngẫu nhiên, mà phải mang ý

nghĩa khái quát chung nào đó Tình cảm trong nghệ thuật, do đó là tình cảm mang sắc thái xã hội, là một loại “tình cảm thông minh”.

Nghệ thuật chỉ là bóng dáng của cuộc đời, chứ không phải bản thân cuộc đời đích thực Nghệ thuật chỉ gợi lên những ham muốn thưởng thức, chiêm ngưỡng, thưởng ngoạn chứ không thể kích thích những khát khao chiếm lĩnh

Tuy nghệ thuật có nhiều loại hình, nhưng âm nhạc tiêu biểu cho nghệ thuật thính giác, hội hoạ tiêu biểu cho nghệ thuật thị giác và văn học (lấy ngôn từ làm chất liệu,

là một loại nghệ thuật tổng hợp gián tiếp), được thưởng thức qua óc tưởng tượng là

cơ bản nhất

Nghệ thuật tuy không phải là buông thả, vô nguyên tắc, vô trách nhiệm, nhưng phải thật “vô tư”, không vướng víu bởi những quyền lợi và đòi hỏi quá thiết thực,

Trang 5

cho dù có cần thiết và cấp bách đến đâu Những phút giây thưởng thức nghệ thuật, tâm hồn vốn là trong sáng vô ngần, hư tâm và thành tâm vui sướng hoặc đau khổ trước số phận con người, vận mệnh của đất nước, hướng đi của lịch sử, những vấn

đề xã hội lớn lao, liên quan đến mọi người, không phải chỉ cho một người Nhưng cũng chính tâm hồn vô tư, trong sáng như vậy, con người dễ vươn đến cái hoàn thiện và cao đẹp

Tình cảm cao đẹp đó, tất nhiên là bắt nguồn từ xã hội, trực tiếp hơn là từ tâm hồn nghệ sĩ, với tư cách một con người xã hội Họ không những nhiệt liệt ca ngợi cái đẹp vốn có, mà còn căm ghét, nổi giận hơn ai hết trước cái xấu xa , thấp hèn Cho nên một khi cái xấu xa, bỉ ổi, ngụy trá trong đời hiện rõ lên rõ nét hơn trong nghệ

thuật, thì điều đó cũng có ý nghĩa mĩ học Tình cảm xã hội thẩm mĩ, trước hết là tình cảm, cho nên phải chân thành

Tình cảm thông thường đã thế, tình cảm xã hội thẩm mĩ là thái độ đẹp với người và vì người, lại càng phải hết mực chân thành, là tình cảm rất đỗi cao cả, cao đẹp; nó cao thượng ngay trong phán xét, cũng như trong phê bình, không lẩn tránh mà trực diện với cái xấu xa thấp hèn, nhưng là đối sánh nó theo một

lí tưởng và ước mơ cao đẹp.

Trong truyện ngắn Quạ đen của nhà văn Nga Bunin kể về chuyện hai cha con tranh nhau cô giúp việc, chiến thắng thuộc về người cha nhưng với tư cách là người trần thuật ngôi thứ nhất, người con đã nguyền rủa, chửi bới cha là quạ đen Đây là một tình cảm tự nhiên chủ nghĩa Nghệ thuật không thoát li nhưng cần làm cho những tâm hồn con người được nâng cao hơn so với tình cảm thực tế hang ngày trong mọi lĩnh vực cuộc sống

Tình cảm xã hội thẩm mĩ không lẩn tránh mà thực hiện với cái xấu, thấp hèn, nhưng là đối sánh nó theo một lí tưởng và ước mơ cao đẹp Khi một tác phẩm văn nghệ làm xúc động lòng người, trực tiếp hướng về họ những gì cao đẹp, hoặc lánh

xa những gì sai trái, thấp hèn, mà xét đến cùng cũng là gián tiếp gắn bó với cái đẹp, thì điều đó mặc nhiên cũng có nghĩa là giúp họ hiểu đúng them về việc đời, lẽ đời Tình cảm xã hội thẩm mĩ, do đó tuy không đồng nhất, nhưng là thống nhất với

chân lí và đạo lí Nó sẽ bồi dưỡng tình đời cho con người biết khát khao, trực tiếp hoặc gián tiếp vươn đến cái cao đẹp, cái hoàn thiện có thể có được ở từng nơi, từng lúc Bởi vậy, những giá trị ấy sẽ góp phần xây dựng nên những cao

nguyên tinh thần, làm chỗ dựa cho mọi thành viên xã hội trong việc nhìn đời, nhìn người

II

Hình tượng nghệ thuật

“Nghệ thuật quả thực là biểu hiện tình cảm, nhưng nếu không tạo hình thì nó không thể biểu hiện Quá trình tạo hình này được tiến hành trong những vật môi giới cảm tính”

Trang 6

“Chúng ta nghe được toàn bộ giai điệu từ thấp đến cao nhất của tình cảm loài

người Nó là sự vận động và rung động của toàn bộ sinh mệnh chúng ta”

Hình tượng nghệ thuật tái hiện đời sống trong các hiện tượng riêng biệt của nó, hìnhtượng bao hàm sự thống nhất biện chứng giữa thuộc tính chung và cá biệt Nó hiện

ra một cách cụ thể, độc đáo, không lặp lại nhưng chứa đựng những thuộc tính chungcủa hiện tượng, sự vật, chứa đựng quy luật chung của đời sống, khách thể đời sốngđược nghệ sĩ tái hiện lại một cách sáng tạo trong những tác phẩm nghệ thuật Đó cóthể là một đồ vật, một phong cảnh thiên nhiên hay một sự kiện xã hội được cảmnhận

Hình tượng nghệ thuật với tư cách là phương thức tồn tại của nghệ thuật sẽ xác địnhđặc trưng trọn vẹn của nghệ thuật Qua những hình tượng trên sẽ bộc lộ một cách trọn vẹn trong sự kết hợp nhuần nhuyễn nghệ thuật sống động, các mặt đối tượng vànội dung chính nói với nhau

1. Hình tượng nghệ thuật như một khách thể tinh thần đặc thù

Gọi là “khách thể” bởi vì đó là thế giới tinh thần đã được khách thể hoá thành mộthiện tượng xã hội tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của người sáng tạo hay người thưởng thức, cũng không gắn liền với quá trình tâm lí, thần kinh của tác giả như trong quá trình sáng tạo

Gọi là “tinh thần” bởi vì tinh thần là một cấp phản ánh đặc biệt của ý thức con người, là “hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan” kiểu khác, trong đó cái được phản ánh xuất hiện trong ý thức con người như một tồn tại khác của nó

Những cái tinh thần được gìn giữ và truyền lại trong những phương tiện vật chất nhất định và trở thành những khác thể trong đời sống xã hội Con người không chỉ sống trong thế giới vật chất, mà còn trong thế giới tinh thần do các thế hệ trước truyền lại và do thực tiễn đời sống không ngừng tạo ra Lạc Long Quân, Âu Cơ, Vua Hùng, Thánh Gióng, Bà Trưng, Bà Triệu đều đang tồn tại như những khách thểtinh thần trong tâm hồn người Việt Những gì tinh túy nhất trong hiện thực đều được tinh thần hóa để trở thành những khách thể tinh thần như vậy

Hình tượng nghệ thuật như một khác thế nghệ thuật và tác động vào con người với tất cả “tính thực tại” tinh thần của nó Bản chất hình tượng không giản đơn chỉ ở tạo hình, và không phải mọi tạo hình đều tạo được hình tượng.

Có ý kiến quy cấu trúc của hình tượng vào ví von và ẩn dụ Điều đó không phải bao giờ cũng phù hợp với thực tế mà mặt khác dễ rơi vào những quan sát bề ngoài Khi ở lầu Ngưng Bích, Kiều thấy: “Buồn trông gió cuốn mặt duềnh / Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi” thì cả nàng Kiều lẫn Nguyễn Du không hẳn ai cũng nghĩ đến một phép tu từ chuyển nghĩa bóng bẩy nào cả, mà là cái mô trường xa lạ đầy hiểm nguy đã chuyển thành cái thế gió cuốn sóng vỗ xung quanh nàng Đối với nàng, song và gió ấy có thật trong tinh thần Cũng như trong Bài ca mùa xuân 1961,

Trang 7

Tố Hữu viết: “Biển vui dâng sóng trắng đầu ghềnh” thì biển vui ấy quả đã đến với tinh thần của người Việt Nam trước những ngưỡng cửa chủ nghĩa xã hội đó.

Hình tượng tinh thần là một khách thể tinh thần, mọi phương tiện biểu hiện chỉ có

ý nghĩa khi nào làm sống lại các khách thể đó, và người đọc tác phẩm, chỉ khi nào xâm nhập được vào thế giới tinh thần đó mới có thể nảy sinh được sự thưởng thức, đồng cảm

2. Tính tạo hình và biểu hiện của hình tượng

Hình tượng nghệ thuật là cái được sáng tạo, được khái quát, không phải là cái sao chép, cái có sẵn, hình tượng nghệ thuật về bản chất là một hiện tượng tinh thần, nó không thể được “đưa cho mà là làm nảy sinh, xuất hiện”

Ngay cái vô hình cũng nhờ tạo hình mà xuất hiện trong nghệ thuật X Ấy

Anhxtanh có viết “Trước cái nhìn bên trong, trước cảm giác của tác giả, hiện lên một hình tượng nào đấy, thể hiện được một cách xúc động đề tài biến hình tượng ấythành vài ba hình ảnh riêng biệt, những chi tiết mà trong sự tổng hợp và đối chiếu với nhau, chúng lại gợi lên trong ý thức và tình cảm của con người cảm thụ đúng cái hình tượng xuất phát: được khái quát ấy” Không có tạo hình thì không có hình tượng Bởi vì hình tượng nghệ thuật về bản chất là một hiện tượng tinh thần, nó không thể được “đưa cho mà là làm nảy sinh, xuất hiện”

Nó chỉ chọn lọc những chi tiết ít ỏi nhất nhưng giàu sức biểu hiện nhất, tiêu biểu nhất cho một cuộc sống, một tình huống, một tính cách Giá trị và ý nghĩa của tạo hình là thể hiện chỉnh thể Sê Khốp từng nói chỉ một mảnh chai vỡ lấp loáng mà thểhiện được cảnh sắc một đêm trăng

Nguyễn Đình Thi thích chi tiết “Trống Tràng Thành lung lay bóng nguyệt” gợi lên không khí xao động, khi quân xâm lăng phạm vào bờ cõi thuở nào trong Chinh phụ ngâm khúc Nguyễn Tuân thích chi tiết tiếng ếch trên sông làm sống dậy một niềm hoài cổ của Tú Xương trong bài Sông Lấp Chỉ một chi tiết “Quà chân tìm hơi

ấm đêm mưa” trong thơ Hồng Nguyên cũng gợi lại kỷ niệm của một thời kháng chiến Đó là những chi tiết “biết nói”, về bản chất, tạo hình trong nghệ thuật là một cấu tạo tập trung dồn nén, mang tính ước lệ ở những mức độ khác nhau

Biểu hiện là phẩm chất tất yếu của tạo hình, là khả năng bộc lộ cái bên trong, cái bản chất của sự vật, hé mở những nỗi niềm thầm kín trong tâm hồn Biểu hiện gợi lên sự toàn vẹn, đầy đặn của hình tượng, và nhất là thể hiện khuynh hướng tư tưởngtình cảm của con người, của tác giả trước các hiện tượng đời sống Chính vì vậy trong hình tượng nghệ thuật mọi chi tiết đều có ý nghĩa và chức năng của chúng, không có chi tiết thừa Hơn thế nữa, chi tiết trong hình tượng lại thường mang tính chất đa nghĩa, vừa gợi không gian, thời gian, vừa gợi tình huống, tính cách và thái

độ của tác giả đối với chúng

Cơ sở của tạo hình là sự tương đồng của nó so với cái được miêu tả, dù cái được miêu tả là có thực hay tưởng tượng Cơ sở của biểu hiện là khác biệt Sự kết hợp tạo

Trang 8

hình và biểu hiện làm cho hình tượng có được một hình thức nghệ thuật độc đáo

Đó là một thể thống nhất sinh động giữa thực và hư, trực tiếp và gián tiếp, ổn định

và biến hóa, thống nhất và đa dạng, mang đầy nội dung cuộc sống, tư tưởng và cảm xúc

3. Hình tượng và kí hiệu

Kí hiệu là phương tiện để giữ gìn và truyền đạt kinh nghiệm xã hội giữa người và người Hình tượng nghệ thuật muốn giữ lại và truyền đạt cho người khác cũng phải được khách quan hóa thành kí hiệu, không chỉ bằng từ ngữ và các chất liệu khác,

mà còn bằng các chi tiết tạo hình, biểu hiện

Nếu đặc trưng của kí hiệu là thay thế một cái khác, thì đặc trưng của hình tượng, vừa là tồn tại khác, vừa là phản ánh, khái quát; một hình tượng nghệ thuật đích thực luôn luôn chỉ ra cái mới, phát hiện cái độc đáo mang cá tính nghệ sĩ Chẳng hạn Tố Hữu viết:

Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ Mặt trời chân lí chói qua tim Hồn tôi là một vườn hoa lá Rất đậm hương và rộn tiếng chim…

Mỗi thời kì văn học dân tộc, các thể loại, loại hình nghệ thuật khác nhau, văn nghệ các dân tộc khác nhau, các nhà văn khác nhau đều có cách mã hoá khác nhau, tạo thành ngôn ngữ nghệ thuật riêng trong từng trường hợp

Hình tượng nghệ thuật vừa là sự phản ánh, nhận thức đời sống, lại vừa là một hiệntượng kí hiệu giao tiếp Bản chất sự phản ánh nhận thức có xu hướng tìm tòi cái mới, phát hiện ra cái độc đáo Từ đó diễn ra quá trình thường xuyên đổi mới và cắt nghĩa lại kí hiệu, sáng tạo kí hiệu mới

Muốn hiểu hình tượng nghệ thuật, đòi hỏi phải có một sự giải mã, chiếm lĩnh ngôn ngữ nghệ thuật Chỉ có đi vào đời sống mới tạo ra con đường làm phong phú, đổi mới cho ngôn ngữ nghệ thuật

4. Hình tượng nghệ thuật là một quan hệ xã hội – thẩm mĩ

Đặc trưng của hình tượng nghệ thuật là ở sự thống nhất giữa cái cá biệt, cụ thể, cảm tính và cái chung, mà ở chỉnh thể các quan hệ xã hội – thẩm mĩ được thể hiện Trước hết là quan hệ giữa thế giới nghệ thuật với hiện tại mà nó phản ánh; thứ đến, quan hệ của tác giả đối với cuộc sống trong tác phẩm, quan hệ tác giả với người đọc, quan hệ hình tượng với ngôn ngữ của một nền văn hoá; cuối cùng, quan hệ củacác yếu tố của bức tranh đời sống

Trang 9

Tính hình tượng nghệ thuật không thể hiện qua việc tái hiện cái cụ thể cảm tính giảnđơn, mà là thể hiện qua quan hệ chồng nén, đối xứng, nhân hoá, ví von, ẩn dụ, trùngđiệp tạo thành những phức hợp quan hệ mang nội dung khái quát Chỉ trong quan

hệ đời sống thì chi tiết mới phơi bày ý tưởng kín đáo của nó

5. Tính nghệ thuật của hình tượng

Hình tượng nghệ thuật khác hình tượng phi nghệ thuật hay giả nghệ thuật ở sức truyền cảm mạnh mẽ, sức thức tỉnh tư tưởng lớn lao, ở khả năng lôi cuốn con người tham gia vào đời sống xã hội Tính nghệ thuật đặc trưng bởi sự thuyết phục, chiều sâu nhận thức, sức hấp dẫn lôi cuốn Sức hấp dẫn là một dấu hiệu quan trọng

Điđơrô nói với nghệ sĩ: “Trước hết anh phải làm cho tôi cảm động, kinh hoàng, tê

mê, anh phải làm cho tôi sợ hãi, run rẩy, rơi lệ hay căm hờn”

Không phải ngẫu nhiên mà ngôn ngữ nước nào cũng gọi động” Đó là vì nó chứng

tỏ có sự phù hợp tối cao giữa hình thức phẩm chất nghệ thuật bằng các từ “sống”,

“tự nhiên”, “sinh nghệ thuật với nội dung cuộc sống ở bên trong

Tính sinh động bắt đầu ở khả năng từ một số chi tiết hữu hình ít ỏi mà gợi lên rõ ràng một chỉnh thể toàn vẹn

Nhưng tính sinh động không chỉ là hiệu quả của việc tái hiện giản đơn mà gắn liền với sự khêu gợi cảm xúc, khái quát tư tưởng, sự truyền đạt một cái nhìn với cuộc đời

Phương diện vô cùng quan trọng của tính sinh động ở chỗ miêu tả con người, sự vậtnhư là nó, lại vừa không phải nó, vừa giống lại vừa không giống

Nghệ thuật “hay ở chỗ vừa giống vừa không giống, không giống quá thì dối đời, giống quá thì mị đời” Nhân vật sinh động không bao giờ một chiều, cứng nhắc, mà biến hoá bất ngờ

Chân lí nghệ thuật là chân lí về quan hệ, nó không khách quan lạnh lùng như chân líkhách thể Đó là chân lí làm ngạc nhiên, sững sờ, khao khát

Nghệ thuật là sự hài phục nổi, cá biệt và khái quát, tự nhiên và nhân tạo, vật chất và hoà trong các hỗn tạp, là cái thống nhất giữa sự muôn màu Tính nghệ thuật làm tíchcực hoá khả năng cảm thụ của con người nâng họ lên hàng nghệ sĩ, khẳng định vai trò chủ thể của con người trước thế giới

Văn nghệ với tư cách là một hình thái ý thức xã hội thẩm mĩ Không nên hiểu tính nghệ thuật một cách cứng nhắc như là tính chặt chẽ, tính đối xứng hài hoà, cốt truyện lôi cuốn hồi hộp, văn bóng bẩy mượt mà Tính nghệ thuật đa dạng như bản than nghệ thuật Tiêu chuẩn cuối cùng của nó là sự thống nhất hoàn mĩ của nội dung

và hình thức nghệ thuật, là sức gây ấn tượng mang tính tư tưởng của hiện tượng đời sống, phản ánh được hiện thực nhiều mặt và vận động biến hoá không ngừng

Trang 10

CHƯƠNG 2: VĂN HỌC VỚI HIỆN THỰC ĐỜI SỐNG.

Văn học cũng như văn nghệ nói chung là lĩnh vực của tình cảm thẩm mĩ, nhưng vẫn

là một loại hình thái ý thức xã hội, phản ánh tồn tại xã hội Mối quan hệ giữa văn học với hiện thực là mối quan hệ giữa cái phản ánh và cái được phản ánh Phản

ánh luận Mác – Lênin là cơ sở triết học để giải quyết mối quan hệ này

Như thế có nghĩa hiện thực là nguồn gốc của nhận thức , của ý thức Khẳng định văn học nghệ thuật chỉ sự biểu hiện tâm lí chủ quan của các lực lượng xã hội

Bôgơđanốp vẫn duy tâm , vì đã giải thích ý thức bằng ý thức Văn học dĩ nhiên không tách rời với tư tưởng nhưng chính tư tưởng cũng bắt nguồn từ hiện thực xét đến cùng bất kì nền văn nghệ nào cũng hình thành trên một cơ sở hiện thực nhất định Bất kì một nghệ sĩ nào cũng thoát thai từ một môi trường sống nào đó Bất kìmột tác phẩm nào cũng là sự khúc xạ từ những vấn đề trong cuộc sống Nhà văn chọn lựa và áp dụng phương pháp sáng tạo nào đó là do thế giới quan của họ quyết định Nhưng sự hình thành phương pháp chung của một trào lưu văn học , xét đến cùng , cũng là bắt nguồn từ thực tại khách quan Tính hiện thực , do đó , là thuộc tính tất yếu của văn nghệ Điều này , dĩ nhiên cũng đúng cho cả những trào lưu ,

những nghệ sĩ , những tác phẩm lạc hậu , hoặc thậm chí phản động ” Phản ánh với nhận thức

Không phải bất cứ trào lưu văn nghệ nào bất cứ nghệ sĩ và tác phẩm nào cũng có tácdụng nhận thức như vậy Nhận thức và phản ánh tuy có liên quan với nhau , nhưng khác nhau Nhận thức bắt nguồn từ phản ánh , nhưng không phải sự phản ánh nào cũng có giá trị và tác dụng nhận thức , bởi vì có phản ánh đúng và phản ánh sai Cho nên , khi nói tính hiện thực là thuộc tính của văn nghệ , điều đó không hề có nghĩa là một sự đánh giá về phẩm chất Tác phẩm văn nghệ nào cũng có tỉnh hiện thực , nhưng không phải đều có tính chân thật Chỉ có những tác phẩm phản ánh đúng đắn bản chất hay một vài khía cạnh bản chất của hiện thực – nghĩa là có giá trị

và tác dụng nhận thức – thì mới có tính chân thật Tính chân thật cao độ , giá tri nhận thức to lớn của Truyện Kiều là ở chỗ nó đã vạch ra bản chất chà đạp quyền sống của con người trong chế độ phong kiến

Chức năng nhận thức thể hiện ở vai trò phản ánh hiện thực của văn học Nó có

thể đem đến cho người đọc một thế giới tri thức mênh mông về đời sống vật chất vàđời sống tinh thần của nhân loại từ xưa đến nay; về vẻ đẹp thiên nhiên ở nước mình

Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Đình Chiểu, Hồ Chí Minh, Ngô Tất Tố, Nam Cao,

Trang 11

Tố Hữu… đều cho thấy cái gì là đáng yêu, đáng ghét trong xã hội, giúp chúng ta có khả năng phân tích, đánh giá để nhận ra chân giá trị của mỗi con người Nguyễn Dumiêu tả những cảnh đời, những số phận bị vùi dập, khổ đau để thấy khát vọng về quyền sống của cọn người mãnh liệt biết chừng nào Văn học cách mạng thể hiện quàn điểm sống chết của nhiều thế hệ sẵn sàng hi sinh cho sự nghiệp cứu dân, cứu nước Thậm chí, từ những chi tiết tưởng chừng nhỏ nhặt trong cuộc sống được nhà ván đưa vào tác phẩm cũng giúp người đọc soi mình vào đó để sống tốt hơn (Đi đường, Tự khuyên mình, Ốm nặng – Hồ Chí Minh; Con cá chột nưa, Trăng trối –

Tố Hữu…)

I Phản ánh với sáng tạo

Sáng tạo là kết quả của quá trình dấn thân, nhập cuộc, tích lũy, hun đúc, một tiến

trình cọ xát dữ dội Sáng tạo không có nghĩa là bịa đặt Sáng tạo nghệ thuật giống như sáng tạo cuộc sống, cần có yếu tố thẩm mỹ, tính chân thực cao, có khả năng tác động mạnh mẽ vào nhận thức của người đọc Chính nỗ lực sáng tạo của

người nghệ sĩ là sức sống của thơ ca

Bản chất của lao động nghệ thuật là sáng tạo, một sự lao động miệt mài không ngừng nghỉ Văn chương sẽ ra sao nếu tác phẩm này là bản sao của tác phẩm kia? Nếu mỗi người nghệ sĩ đều bằng lòng với những điều có sẵn? Câu chữ mòn sáo, lời văn đơn điệu, quen nhàm? Ấy là cái chết của nghệ thuật, cái chết của người nghệ sĩ trong mỗi nhà văn

Nếu không có sự góc nhìn khác, suy nghĩ khác, không sáng tạo trong cách xây dựngcốt truyện, cuộc đời, số phận, tính cách nhân vật, thì các nhân vật như lão Hạc, Chí Phèo, Bá Kiến,… trong tác phẩm của Nam Cao cũng sẽ bị thời gian phủ lấp, bởi nó

na ná các nhân vật khác, không để lại ấn tượng gì Nếu không có tấm lòng nhân đạocao cả, có cái nhìn thấu suốt cuộc đời và nếu thiếu bản lĩnh Văn chương thì có lẽ Nguyễn Du đã để cho nhân vật Thúy Kiều dẫm vào vết xe đỗ của các “yêu cơ” từng

có trước đó rồi

Không đi theo con đường sáng tạo, nhà thơ sẽ chỉ còn lại một mình giữa sự thờ ơ, quên lãng của người đọc Như thế, cuộc đời cầm bút của người nghệ sĩ trở nên vô nghĩa Bởi “điều còn lại đối với mỗi nhà văn chính là cái giọng nói riêng của mình”.Yêu cầu về sáng tạo ấy gợi nhắc trong lòng người đọc nỗi nhớ khôn nguôi về nhữngnhà thơ đã dành trọn cuộc đời mình cho văn chương, nghệ thuật

Văn học là một trong những hình thái nghệ thuật phản ánh đời sống Nếu các nhà khoa học lấy mục đích cuối cùng của việc nghiên cứu là nhằm đạt tới chân lý kháchquan biểu thị qua những định lý, định luật mang tính khuôn mẫu, là nguyên tắc chung… thì các nhà văn lại phải tìm trong hiện thực cuộc sống bộn bề những vấn đề

cá biệt mang tính bản chất và phản ánh vào trong tác phẩm thông qua những hình thức nghệ thuật riêng với quan điểm của riêng mình

Trang 12

Điển hình cung oán ngâm Cung oán ngâm khúc là một trong những tuyệt tác trong văn học Việt Nam trung đại bởi ngoài nội dung trăn trở về thân phận của những người cung phi nói riêng và phận đàn bà nói chung, tác phẩm này còn thể hiện sự

kỳ tài diệu bút của thi nhân

Chinh phụ ngâm

Sự lạnh lẽo và nỗi cô đơn bủa vây của người chinh phụ

Những gắng gượng để thoát khỏi nỗi cô đơn của người chinh phụ

Niềm khát khao niềm hạnh phúc lứa đôi của người chinh phụ

II Phản ánh và tác động

-Về phương diện xã hội, con người trong văn nghệ được phản ánh như những hiện tượng tiêu biểu cho mối quan hệ xã hội nhất định Về mặt này, văn nghệ nhận thức con người như những tính cách, Đó là những con người sống, cá thể, cảm tính nhưng lại thể hiện rõ nét những phẩm chất có ý nghĩa xã hội, đại diện cho một giai cấp, một tầng lớp, một dân tộc

- Về phương diện đạo đức, tính cách mà văn nghệ nắm bắt không trừu tượng: Văn

học khám phá ý nghĩa đạo đức trong các tình huống éo le, phức tạp nhất, trong những trường hợp không thể nhìn thấy một cách giản đơn, bề ngoài Về phương diện chính trị, văn học miêu tả con người trong đời sống chính trị không phải mang bản chất giai cấp trừu tượng mà như những tính cách cụ thể è Làm sống lại đời sốngchính trị cũng như làm sống lại cuộc sống của con người trong những cơn bão táp chính trị

Với Thúy Kiều, Nguyễn Du khắc họa hình tượng Kiều với nhan sắc tươi thắm, rực

rỡ của một tuyệt thế giai nhân Vẻ đẹp ấy tuy phải khiến cho “hoa ghen, liễu hờn”, làm “nghiêng nước nghiêng thành” nhưng những tàn phá khốc liệt của cuộc đời và năm tháng vẫn không thể làm phai nhạt Trong quan niệm của xã hội phong kiến vốn coi thường phụ nữ Nếu có thì xã hội ấy cũng chỉ ghi nhận ở sắc đẹp và đức hạnh Còn với Nguyễn Du, ông đã đề cao, ca ngợi Thúy Kiều là người có vẻ đẹp toàn diện: từ sắc đẹp đến tài năng bẩm sinh, điêu luyện và tình cảm, tâm hồn

Nguyễn Du ca ngợi những tài hoa nghệ thuật của Kiều: thơ phú,họa, hồ cầm và đặc biệt là tự soạn riêng cho mình khúc nhạc “Bạc mệnh”, ông đã đề cao cái nhạy bén, phong phú, sâu sắc trong tình cảm và tâm hồn Thúy Kiều Thúy Kiều đẹp là thế, nàng như chiếc nam châm hút vào mình bao điều hay, người tốt nhưng cũng có cả những cái xấu xa trên suốt chặng đường đời mười lăm năm đầy gió bụi, truân

chuyên Ấy chính là tiếng khóc thương cảm, cảm thông cho những con người tài hoa bạc mệnh

Trang 13

Chương 3: Ý THỨC XÃ HỘI TRONG VĂN HỌC

I Văn học với các hình thái ý thức khác trong xã hội

1 Văn học với triết học:

Từ xa xưa, khi trình độ tư duy của con người còn đang thấp kém thì đời sống tinh thần của con người có hiện tượng “văn triết bất phân” Ở phương Tây, trước đây, triết học được xem là khoa học của mọi khoa học Nghĩa là nó bao gồm toàn bộ sự hiểu biết của con người về thế giới, nó thay thế cho toàn bộ các khoa học Nhưng dần dần nó nhờ sự tiến bộ của tri thức cụ thể của con người dẫn tới có

sự phân ngành khoa học thì triết học không còn là khoa học của mọi khoa học Nó trở thành khoa học độc lập

Tuy vậy, ngay cả khi triết học trở thành một khoa học độc lập và văn

chương trở thành một loại hình nghệ thuật độc lập thì giữa chúng vẫn tồn tại một quan hệ khăng khít Triết học và văn chương là những hình thái ý thức xã hội thuộc kiến trúc thượng tầng do cơ sở kinh tế quyết định Marx : “Triết học không đứng ngoài thế giới” Bởi vì “các nhà triết học không phải mọc từ dưới đất lên như nấm,

họ là con đẻ của thời đại họ, cả nhân dân nước họ, và những tinh hoa tốt đẹp nhất, quý báu nhất và khó trông thấy nhất của thời đại và của nhân dân nước họ, đều thể hiện trong tư tưởng triết học Cái tinh thần đã xây dựng nên các hệ thống triết học trong bộ óc những nhà triết học, cũng là cái tinh thần đã xây dựng đường sắt với những bàn tay công nhân”

Cũng như văn chương, triết học là hình thái ý thức xã hội nhằm mục đích nhận thức thế giới, nhận thức, khám phá chân lí cuộc sống để cải tạo thế giới, cải tạo cuộc sống Triết học chẳng qua là hệ thống tri thức chung nhất của con người vềthế giới Mặt khác, tác phẩm văn chương xuất sắc, đạt được tầm nhận thức và phản ảnh sâu sắc, có ý nghĩa khái quát cao về những vấn đề lớn, vấn đề chung của xã hội thì cũng có nghĩa đạt được những kết luận mang tính triết học, là những tư tưởng triết học Tác phẩm văn chương chẳng qua là sự thể hiện qua một cơ cấu hình tượngnghệ thuật những quan điểm, quan niệm của nghệ sĩ về cuộc sống Những quan điểm, quan niệm của nhà văn đó là những kết luận triết học Nói đến triết học là nói đến thế giới quan và nhân sinh quan, tức là nói đến ý thức tư tưởng Nói đến văn chương là nói đến nghệ thuật miêu tả, phản ánh Quan hệ giữa triết học và văn chương nghệ thuật là quan hệ giữa ý thức tư tưởng với nghệ thuật miêu tả, phản ánh Nói đến triết học là nói đến vấn đề lí trí, nói đến nghệ thuật là nói đến vấn đề tình cảm Tình cảm và lí trí là nhất trí Lê Duẩn nói: “thường thường triết học giải quyết vấn đề lí trí, nghệ thuật xây dựng tình cảm, cả hai đều phải nhất trí với nhau” Triết học cung cấp cho văn chương lối nhìn cách nghĩ, cách rút ra những kết luận về hiện tượng và sự vật Văn chương bằng tình cảm nêu lên được những vấn

đề cuộc sống, con người, những mối quan hệ giữa người và người, giữa người với

Trang 14

tự nhiên và văn chương đạt được tầm triết học Những tư tưởng triết học thường có

ý nghĩa chỉ đường cho văn chương, làm cơ sở tư tưởng cho văn chương, làm chỗ dựa tinh thần cho văn chương Triết học Mác – Lênin là một khoa học chân chính

đã thực sự soi đườngcho văn chương nghệ thuật Các nghệ sĩ hiện thức xã hội chủ nghĩa được chủ nghĩa Mác – Lênin vũ trang cho nhận thức khách quan, chính xác các quy luật phát triển của thế giới Những quy luật này giúp họ chẳng những chỉ đường hướng đi mà còn giúp họ vạch ra đúng đắn những gì quan trọng nhất, chủ yếu nhất trong quá trình phát triển của thế giới, và chỉ giúp họ xử lí một cách đúng đắn những sự kiện những hiện tượng phức tạp trong đời sống Triết học Mác – Lênin được các nghệ sĩ hiện thực xã hội chủ nghĩa coi như là một vũ khí tư duy và

tư tưởng Với triết học Mác – Lênin, phương pháp nghệ thuật hiện thực xã hội chủ nghĩa đã đánh dấu một bước ngoặt, một sự thay đổi về chất trong phương pháp nghệthuật

Triết học và văn chương gần gũi và ảnh hưởng lẫn nhau như vậy Nhưng triết học là một khoa học, còn văn chương là một nghệ thuật Những tác phẩm văn

chương dù có tầm khái quát cao về cuộc sống đến đâu cũng chỉ đạt đến tầm nhận thức có tính chất triết học, chứ bản thân nó không phải và không thể trở thành tác phẩm triết học với tư cách là một khoa học Ngược lại, các tác phẩm triết học dù viết có sinh động đến đâu cũng không trở thành một tác phẩm văn chương với tư cách là một nghệ thuật được Sự khác nhau giữa triết học văn chương nghệ thuật là

ở phương pháp khái quát chân lí cuộc sống và ở phương thức nhận thức và biểu hiện cuộc sống Triết học dùng tư duy logic để nhận thức, nghiên cứu các hiện tượng đời sống và khái quát lại thành những quy luật, khái niệm Văn chương

nghiên cứu cuộc sống cũng đạt tới những nhận thức khái quát về hiện tượng cuộc sống, nhưng văn chương thể hiện nó dưới những hình tượng sinh động Phương pháp biểu hiện của văn chương là phương pháp hình tượng hóa, điển hình hóa Hìnhthức của nghệ thuật là “hình thức hình tượng” , ở nghệ thuật điển hình tồn tại trong cái cá biệt Phương pháp biểu hiện trong triết học là phương pháp trừu tượng hóa, khái quát hóa Mọi hiện tượng ngẫu nhiên, cá biệt đều bị loại bỏ

Có thể nói, quan hệ giữa triết học và văn chương là quan hệ giữa ý thức tư tưởng (đã được quy lại thành thế giới quan, nhân sinh quan) với nghệ thuật miêu tả, phản ánh

2.Văn học với chính trị:

Trong mối liên hệ giữa các hình thái ý thức xã hội thì chính trị và văn học có quan hệ nhiều từng bậc và trực tiếp nhất Chính trị không chỉ là hình thái ý thức mà còn là các thể chế, tổ chức tương ứng Đã gồm các quan hệ giữa các giai cấp, tổ chức nhà nước, đoàn thể, phe nhóm, luật pháp, đấu tranh giữa các lực lượng xã hội khác nhau, giữa các dân tộc, quốc gia Chính trị gắn chặt với kinh tế, là “biểu hiện tập trung của kinh tế” (Lênin) Chính trị tác động trực tiếp đến đời sống của mọi người từ trẻ đến già, đời sống, người chết vì nó liên quan đến quyền con người từ ăn

ở, lao động, học tập, nghỉ ngơi đến tự do suy nghĩ, sáng tạo, bày tỏ thái độ tư tưởng

Trang 15

trước mọi vấn đề nhân sinh, thế sự, quá khứ, hiện tại, tương lai… Chính trị có loại tiến bộ, tốt đẹp, cũng có loại phản động, lạc hậu, xấu xa Chính trị luôn vận động, đổi thay Nó có thể tạo ra thái bình, thịnh trị, no ấm, yên vui, hạnh phúc,…cũng có thể gây chiến tranh, loạn lạc, đói rét,… Chính trị tác động đến toàn bộ đời sống không chỉ hiện tại mà cả tương lai, không chỉ với con người mà cả môi trường tự nhiên và xã hội.

Văn học luôn tìm kiếm cái để để vui sướng, say mê, ca ngợi, nuôi dưỡng và phát triển Từ đó, nó phát hiện vạch trần cái sai, cái xấu để lên án, chỉ trích, phủ nhận Văn học có nhiệm vụ nhân đạo hóa đời sống, làm cho tinh thần con người ngày càng lớn lên tốt đẹp Vì thế văn học chân chính luôn dễ dàng gặp gỡ tư tưởng chính trị tiến bộ trong sự nghiệp giải phóng con người, “phó chính trừ tà” (Hồ Chí Minh) Là trợ thủ đắc lực cho chính trị tiến bộ và hạnh phúc nhân dân Do đó văn học mang phẩm chất nhân đạo lại thường dễ va chạm mâu thuẫn với chính trị bảo thủ phản động

Văn học chỉ chứa đựng một phần nào đó của ý thức chính trị qua cảm xúc thẩm mỹ, nhiệt hứng yêu ghét Có những trường hợp văn học trực tiếp tuyên truyền chính trị, lấy tư tưởng chính trị làm nội dung chủ yếu như văn thơ cách mạng, yêu nước trong nhà tù đế quốc thời kỳ nước ta còn bị nô lệ Đó là loại văn học có tính đặc thù, có thể gọi là văn học chính trị mang giá trị riêng không thể xem nhẹ, coi thường trong đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc

Với tính độc lập tương đối của nó, văn học có tác động trở lại chính trị đúng theo hướng này, khi theo hướng khác Chính trị thường xuyên yêu cầu văn nghệ phục vụ nó như một vũ khí trong đấu tranh xã hội Nhưng văn học lại đối lập với chính trị khi mà lý tưởng thẩm mĩ của nó mâu thuẫn với lý tưởng chính trị, với thực trạng vô nhân đạo của đời sống trong sự chi phối của một hoàn cảnh chính trị nào

đó Và khi đó văn nghệ có hại cho chính trị của giai cấp thống trị và thứ văn nghệ

ấy lại có lợi cho một lực lượng chính trị khác Trong đấu tranh giai cấp, không có chính trị và văn nghệ trung lập Khi văn nghệ tỏ ra có hại cho chính trị thì chính trị thường vô hiệu hóa hoặc đàn áp văn nghệ bằng bàn tay sắt hay bàn tay nhung của

nó Từ xưa đến nay đều vậy Ví dụ khi Uýtman vì tư duy, tư tưởng tiến bộ mà bị đuổi khỏi tòa soạn báo Đại Bàng Brúclin năm 1848 và bị Bộ trưởng Griêm Háclơn cách chức ra khỏi Bộ Nội vụ hợp chủng Quốc Hoa Kỳ vì tập thơ “Lá cỏ” của ông Không ít các nhà thơ yêu nước cách mạng ở nước ta như Phan bội Châu, Ngô Đức

Kế, Huỳnh Thúc Kháng, Hồ Chí Minh, Tố Hữu, đã bị chính quyền thực dân, phong kiến giam hãm, tù đày Tất nhiên cũng có sự mâu thuẫn đối kháng giữa ý thức chính trị tiến bộ và văn học lạc hậu phản động

⇨ Tóm lại ngoài sự khác nhau về hình thái và cách biểu hiện, văn học về chính trị không đối lập nhau về bản chất xã hội Văn học và chính trị

có những gặp gỡ, giao thoa khi tham gia vào đấu tranh xã hội, bộc lộ lý

Trang 16

tưởng xã hội thẩm mỹ hoặc ngược lại Khi phản ánh, suy ngẫm, bàn luận về đời sống, số phận con người văn học bao giờ cũng chịu ảnh hưởng về một quan điểm, một thái độ chính trị nhất định Trong xã hội

có giai cấp và đấu tranh giai cấp không có văn học ở ngoài chính trị

Hồ Chí Minh viết: “Nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác không thể đứng ngoài mà phải ở trong kinh tế và chính trị.”

2.Văn học với đạo đức:

Là một hình thái ý thức xã hội, đạo đức như một định chế xã hội có chức năng điều chỉnh hành vi con người trong mọi lĩnh vực đời sống của nó Đạo đức hình thành một cách tự phát trong lịch sử loài người từ ý thức của đại đa số nhân dân vì

sự cần thiết, nhu cầu, lợi ích chung của xã hội và được cộng đồng thừa nhận như những quy tắc, bổn phận trong ứng xử của cá nhân gần với lương tâm, nghĩa vụ, phẩm cách, trách nhiệm Nó được củng cố bằng những tấm gương nhân cách, bằng thói quen, phong tục hay dư luận xã hội Ý thức đạo đức phản ánh những quan hệ người ở các dạng quan niệm, những tiêu chuẩn, nguyên tắc về Thiện-ác, tốt – xấu, công bằng – bất công,…

Đạo đức và văn học có mối liên hệ nội tại, cũng có bản chất ý thức về những

nguyên tắc, tiêu chuẩn, giá trị tinh thần trong quan hệ giữa người với người Phản ánh, suy ngẫm về đời sống con người, văn học xưa nay đều đụng chạm đến các vấn

đề đạo đức, cái thiện, cái ác và những tác động của nó cùng các quan hệ ứng xử cộng đồng Những khái niệm đạo đức mang tính trừu tượng thường được cụ thể hóa, sinh động hóa trong hình tượng văn học Ý thức đạo đức thường được truyền tải trong văn nghệ Lý tưởng xã hội thẩm mỹ so sánh văn học trong quá trình sáng tác, tiếp nhận, luôn gắn bó với lý tưởng đạo đức Cái đẹp gắn với cái thiện, với lòng

nhân ái, đức hi sinh vị tha, đối lập với cái xấu, cái ác, cái vô luân… Trong chức năng giáo dục của mình, văn học rất quan tâm đến giáo dục đạo đức Ca dao,

tục ngữ chứa rất nhiều bài học đạo đức, “ăn trông nồi ngồi trông hướng”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”,… Truyện Trầu cau là giáo dục tình nghĩa thủy chung anh em, vợchồng; Cây khế là bài học về lòng vị tha và thói tham lam; Nhị thập tứ hiếu là tuyêntruyền chữ hiếu theo quan niệm đạo đức phong kiến Bất khuất là ca ngợi khí tiết vàđạo đức của những người yêu nước, cách mạng và cộng sản chân chính Đạo đức nhờ văn nghệ mà thấm sâu vào lòng người Văn nghệ đích thực luôn hàm chứa đạo đức tiến bộ và trường tồn cùng đời sống

3.Văn học với tôn giáo:

Giáo trình Triết học Mác – Lênin, phần trình bày về hình thái kinh tế xã hội có định nghĩa: “Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những quan điểm chính trị, pháp quyền, triết học, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật… cùng với những thiết chế xã hội tương ứng như nhà nước, đảng phái, giáo hội, các đoàn thể xã hội… được hình thành trên cơ sở hạ tầng nhất định” Trong đó mỗi yếu tố của kiến trúc thượng tầng

Trang 17

như chính trị, pháp quyền, triết học, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật… có đặc điểm riêng, có quy luật vận động phát triển riêng nhưng “không có hình thái ý thức xã hộinào tồn tại độc lập tuyệt đối như trong chân không” chúng liên hệ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau và đều hình thành trên cơ sở hạ tầng Văn học nằm trong nghệ

thuật nói chung Như vậy, mối quan hệ giữa tôn giáo và văn học là mối quan hệ ảnh hưởng, tác động qua lại lẫn nhau của hai hình thái ý thức thuộc kiến trúc thượng tầng trong cấu trúc của một xã hội.

Ngày nay, càng ngày chúng ta càng không thể phủ nhận được vai trò cực kỳ to lớn của tâm linh (niềm tin, tín ngưỡng, tôn giáo) đối với đời sống con người Là mộtmặt quan trọng của đời sống tinh thần, sự tồn tại của tôn giáo với các yếu tố của nó trong hiện thực cuộc sống con người là không thể phủ nhận được

Hơn nữa, một trong những đặc trưng của văn học là phản ánh hiện thực, tất nhiên

nó không phải sự mô phỏng, minh hoạ hiện thực một cách hời hợt, dễ dãi Vì vậy sựhiện diện của tôn giáo như một mảng của hiện thực đời sống con người vào trong tác phẩm văn học cũng là một thực tế, một sự tất yếu

Phương Lựu trong phần viết về Thi học so sánh có đưa ra một nhận xét rất xác đáng

về mối quan hệ này trên cơ sở đối sánh với mối quan hệ giữa triết học, đạo đức với văn học: “Đạo đức, nhất là triết học tác động mạnh mẽ đến nghệ thuật nhưng tôn giáo lại gắn bó chặt chẽ với nghệ thuật theo một ý nghĩa khác Triết học dù sâu sắc bao nhiêu, đạo đức dù có cao cả đến đâu, cũng là nhằm giải thích thế giới hoặc hướng đạo cuộc sống thực tế Còn tôn giáo bao giờ cũng hướng về một thế giới khác, cho nên nó dễ bắt gặp tính chất lí tưởng vươn lên trên thực tế của nghệ

thuật… Tôn giáo tác động đến văn học, và từ đó đến thi học, là vì cả hai, trên một ý nghĩa nào đó, đều là siêu thực” Theo tác giả, cái chất keo khiến tôn giáo và nghệ thuật gắn bó chặt chẽ là tính siêu thực, lý tưởng trong thế giới hình tượng mà văn học và tôn giáo xây dựng lên

Có thể nói, mối quan hệ giữa tôn giáo và văn học là một mối quan hệ gắn bó lâu bền và đã được kiểm nghiệm qua thời gian Các tư tưởng, giáo lý tôn giáo bên cạnh các phương thức tồn tại thông thường như nghi thức, niềm tin hoặc kiến trúc, điêu khắc…còn mượn hình thức biểu hiện bằng chính ngôn ngữ, hình tượng văn học để tồn tại, lưu truyền Do đó, không phải ngẫu nhiên mà Kinh Thánh, Kinh Coran, Kinh Veda, những cuốn sách ghi triết lý nhà Phật, những lời dạy của Khổng tử, Mạnh tử, những trước tác của Lão – Trang… ở một góc độ nào đó được xem là những sáng tạo nghệ thuật đích thực, không chỉ trong thời kỳ văn – sử - triết bất phân mà cả trong thời kỳ hiện đại Về phần mình, văn học cũng tìm thấy ở tôn giáo một nguồn mạch vô tận về đề tài, chủ đề, cảm hứng, hình ảnh, motif, nhân vật, cốt truyện…Có thể nói “tôn giáo đã góp phần tạo nên nhiều kỳ tích trong nghệ thuật” Hai xu hướng chính trong các tác phẩm văn học ghi đậm dấu ấn tôn giáo là: Xu hướng thứ nhất, các nhà văn dùng những tư tưởng sâu sắc, đầy nhân bản, hướng thiện và mang đậm ý niệm triết học của tôn giáo để soi sáng thế tục và ngược lại, xuhướng thứ hai là các nhà văn đem thế tục để soi vào tôn giáo Song, tác phẩm văn

Trang 18

học nếu chỉ dừng lại ở minh hoạ hay truyền bá nội dung tư tưởng tôn giáo thì khó

có thể trở thành kiệt tác Ở những tác phẩm lớn có dấu vết tôn giáo, thường thấy tôngiáo đóng vai trò như một chất liệu nghệ thuật, có những chức năng nghệ thuật riêng nhưng quan trọng nhất là nó giúp khám phá đời sống, tâm hồn con người ở chiều sâu mới Tất nhiên ở mỗi một thời đại, mỗi một dân tộc mối quan hệ tôn giáo – văn học có những quy luật riêng phù hợp với đặc điểm lịch sử, xã hội của dân tộc

và của thời đại đó “Trong buổi sơ khai của lịch sử, thần thoại chính là tôn giáo của người Hy Lạp ”, nói khác đi ở thời kỳ trình độ nhận thức còn thấp và tư duy của conngười còn mang tính chất nguyên hợp, tôn giáo và văn học lẫn vào nhau Khi trình

độ nhận thức và tư duy của con người được nâng cao, văn học viết ra đời và phát triển, tôn giáo và văn học, cái này không phải là cái kia và ngược lại bởi chúng đã quan hệ với nhau theo những quy luật mới phù hợp hơn nhưng không kém gắn bó.Trong số các nền văn học trên thế giới, có không ít các nền văn học có quan hệ cực kỳ mật thiết với tôn giáo, chẳng hạn như văn học Ấn Độ, văn học Trung Quốc, văn học Nga… Với văn học Ấn Độ “gần như toàn bộ các tác phẩm văn học Ấn Độ (…) đều liên quan tới đề tài tôn giáo” và “quá trình sáng tạo nghệ thuật của người nghệ sĩ Ấn Độ cũng được nhìn nhận như một nỗ lực tôn giáo” Nhận xét về một trong những đặc điểm nổi bật của văn học Nga thế kỷ XIX, nhà triết học tôn giáo Nga N.L Berdyaev (1874-1948) đã viết: “Trong văn học Nga, ở các nhà văn Nga vĩđại, các motip và đề tài tôn giáo có tác động mạnh mẽ hơn bất kỳ nền văn học nào Toàn bộ nền văn học thế kỷ XIX của chúng ta bị hành hạ bởi đề tài Kitô giáo, nó luôn kiếm tìm sự cứu rỗi, sự giải thoát khỏi cái ác, niềm khổ đau, nỗi sợ hãi trong cuộc sống của cá nhân con người, của dân tộc và của thế giới Tư tưởng tôn giáo nhức nhối trong những tác phẩm lớn của nó” Có thể nói, những biểu hiện của phong cách tôn giáo hoá thông qua các yếu tố tôn giáo trong văn học là vô cùng phong phú, đa dạng, thậm chí khá phức tạp Tuy vậy, dựa vào tính phổ biến, chúng

ta có thể tìm hiểu những sự ảnh hưởng của tôn giáo trong văn học ở các cấp độ như:

Đề tài tôn giáo; Hình tượng và chi tiết tôn giáo; Môtip tôn giáo; Cảm quan và tư tưởng tôn giáo…Nguyễn Du không dưới một lần truyền bá và tin vào thuyết luân hồi của đạo Phật ở Văn tế thập loại chúng sinh hay truyện Kiều Trừ tính phản khoa học, sự mê hoặc con người và màu sắc phản động cho các hoạt động chính trị ủng

hộ các thế lực áp bức, đè nén nhân dân thì tôn giáo vẫn thường gặp văn học ở tình thương, sự an ủi con người đau khổ Chủ nghĩa nhân văn tôn giáo cũng là một nguồn cảm hứng của văn , đồng cảm với con người nhân đạo trong văn chương

II.

Tính giai cấp của văn học.

1 Nguồn gốc của tính giai cấp trong văn học

Giai cấp là những tập đoàn trong xã hội có chung những quyền lợi về kinh tế, dẫn đến những địa vị xã hội tương ứng Tính giai cấp trong văn học là vấn đề giai cấp được ý thức bằng văn học.

Trang 19

Nói tính giai cấp trong văn học là xác định bản chất ý thức xã hội của văn học Đó là một thuộc tính tất yếu của văn học trong xã hội có giai cấp Tính giai cấp của văn học phản ánh lợi ích, ý thức, tư tưởng, tình cảm, tâm lí, cách sống của một tầng lớp xã hội, một giai cấp nhất định.

Vì sao văn học mang tính giai cấp? Hiện thực luôn có vấn đề giai cấp Trong xã hội có giai cấp thì chủ thể sáng tạo hay tiếp nhận (nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình, nghiên cứu, lí luận, bạn đọc) luôn là người thuộc một giai cấp, tầng lớp nhất định Ýthức của các chủ thể ấy chịu sự chi phối của đời sống vật chất và các quan hệ xã hộicủa bản thân họ và giai cấp họ Muốn hay không, các chủ thể ấy cũng nhìn nhận mọi vấn đề, trong đó có văn học, qua lăng kính ý thức chủ quan của mình, tức là ý thức có tính giai cấp

Chủ thể sáng tạo – các nghệ sỹ ngôn từ - vốn là những người rất nhạy cảm Đúng như M.Gorki đã nói: “Nhà văn là tai, là mắt, là tiếng nói của giai cấp Nhà văn có thể không có ý thức về điều đó, nhưng bao giờ nhà văn cũng là một bộ phận, là một cảm quan của giai cấp” Bởi vậy khi sáng tác bao giờ nhà văn cũng nhìn nhận các đối tượng nhận thức bằng quan niệm, cách cảm, cách nghĩ được tạo ra từ hoàn cảnh sống, từ các quan hệ xã hội của giai cấp mà nhà văn ấy là người đại diện Quan niệm mĩ học của chủ nghĩa Mác – Lênin cũng đã chỉ ra rằng: cá nhân trong xã hội bao giờ cũng thuộc về một giai cấp nhất định Nhưng nhà văn không chỉ là con người bình thường mà là một nghệ sĩ rất nhạy cảm với những vấn đề của cuộc sống,

do đó việc phát hiện ra tính giai cấp trong những vấn đề cuộc sống càng sắc bén

Từ những điều nói trên, ta có thể kết luận: hoạt động văn học từ sáng tác đến tiếp nhận luôn mang tính giai cấp bởi chủ thể của nó trong xã hội phân chia giai cấp bao giờ cũng có tính giai cấp Tính giai cấp hiển nhiên là một thuộc tính tất yếu của văn học trong xã hội có giai cấp

Có ý kiến giải thích tính giai cấp của văn học bằng đối tượng của văn học, cho rằng hiện thực đời sống, trong đó có con người là một hiện thực đã phân chia giai cấp, con người cũng là những người của giai cấp khác nhau, lịch sử xã hội là lịch sử đấu tranh giai cấp cho nên khi phản ánh những đối tượng ấy vào văn học tất sẽ làm cho văn học mang tính giai cấp; đối tượng nhận thức có tính giai cấp thì sự phản ánh nó phải có tính giai cấp Giải thích như vậy chỉ đúng một phần Nếu đối tượng nhận thức không mang tính giai cấp như vũ trụ, các hiện tượng tự nhiên phong, hoa, tuyết, nguyệt hoặc cây, cỏ mai, lan, trúc, cúc thì sự phản ánh vào tác phẩm sẽ không

có tính giai cấp hay sao? Yếu tố quyết định tính giai cấp của văn học không phụ thuộc vào đề tài mà phụ thuộc vào quan niệm, cách cảm, cách nghĩ, mang tính giai cấp của chủ thể sáng tạo và sau đó là của chủ thể tiếp nhận khi nhìn văn học như một quá trình từ sáng tạo đến bạn đọc

Dĩ nhiên phải biết đào sâu tìm cho ra hạt nhân giai cấp trong cái mớ rối rắm của tư tưởng nhà văn Trường hợp Lamactin – nhà văn lãng mạn tiêu cực Pháp, thoạt nhìn

Trang 20

thì hình như không đại diện cho một lợi ích thực tế và giai cấp nào cả, nhưng Mác

đã nhìn thấy rằng: “Ông ta là cuộc tổng khởi nghĩa với những ảo tưởng, những thi

vị, với nội dung hư ảo và với những khẩu khí của nó Nhưng thật ra, cứ do lập trường cũng như do quan điểm mà xét, thì người phát ngôn ấy của cách mạng thángHai vẫn thuộc về giai cấp tư sản”

Vì mang tính giai cấp nên văn học thường dễ trở thành vũ khí sắc bén để đấu tranh giữa hai giai cấp đối lập trên lĩnh vực tinh thần, tư tưởng nhằm bảo vệ quyền lợi giai cấp mình và chống lại giai cấp khác Trong xã hội phong kiến, tầng lớp vua chúa, quan lại muốn thiết lập một trật tự xã hội theo kiểu cha truyền con nối, kiểu như:

Con vua thì lại làm vua Con sãi ở chùa lại quét lá đa.

Nhưng quần chúng nhân dân trong xã hội ấy không chấp nhận trật tự xã hội kiểu như vậy Họ mong ước trật tự đó sẽ thay đổi:

Bao giờ dân nổi can qua Con vua thất thế lại ra quét chùa.

Ghép bốn câu ca dao này lại chính là sự thể hiện quan niệm của hai giai cấp đối lập

Tuy nhiên, nhà văn có thể xuất thân từ giai cấp này, nhưng tư tưởng và lập trường không chỉ bó hẹp trong quan điểm của giai cấp mình mà còn vươn tới những lí tưởng nhân đạo và tiến bộ của thời đại, đi ngược lại quan điểm và thiên kiến của giai cấp mình Bởi lẽ, quan điểm tiến bộ và nhân đạo của họ được hình thành trực tiếp từ những quan sát hiện thực, từ kinh nghiệm sống và phong trào đấu tranh của nhân dân, đã làm cho họ vượt qua những giới hạn của quan điểm giai cấp mình Nhiều nhà văn lớn như Bandắc, Tônxtôi, Nguyễn Du, Thi Nại Am, Tào Tuyết Cần đã trở thành những “nghịch tử” của giai cấp mình vì lẽ đó

2.Những biểu hiện của tính giai cấp trong văn học

Nhìn tổng quan thì tính giai cấp biểu hiện ở mọi yếu tố trong tác phẩm nhưng chủ yếu là ở những vấn đề sau:

Trang 21

Sự lựa chọn đề tài để phản ánh

Việc nhà văn hướng ngòi bút của mình vào lĩnh vực nào để phản ánh có liên quan đến lập trường, quan điểm giai cấp của chính nhà văn ấy Trước Cách mạng Tháng Tám 1945, hiện thực cuộc sống ở nước ta rất phong phú, muôn màu, muôn vẻ Mỗi nhà văn tùy thuộc vào quan điểm của mình để lựa chọn đề tài phản ánh Ví dụ: các nhà văn trong nhóm tiểu thuyết Tự lực văn đoàn nhìn nhận xã hội theo ý thức hệ của giai cấp tư sản và tiểu tư sản Họ thường xuyên quan tâm tới những vấn đề éo

le, trắc trở của tình yêu hoặc mơ mộng thoát li cuộc sống thực tại Họ ít quan tâm tới số phận của những cuộc đời đói khổ, tăm tối vì bị bóc lột tới cùng cực như các nhà văn hiện thực phê phán – những nhà văn sống gần gũi với quần chúng nhân dân, đứng trên lập trường, quan điểm của nhân dân Chủ nghĩa cổ điển Pháp thế kỉ XVII phục vụ nhà nước phong kiến thường hướng về các đề tài cuộc sống cung đình của giới thượng lưu, quý tộc, chia đề tài và thể loại văn học làm hai loại: cao quý và thấp hèn Các nhà văn phát ngôn cho giai cấp thống trị thường lẩn tránh các vấn đề bức bối của đời sống nhân dân lao khổ hoặc sự tàn ác, xấu xa, đồi bại của những kẻ ăn trên, ngồi trốc

Cách xử lí đề tài

Tính giai cấp trong tác phẩm văn học biểu hiện rõ nhất ở chỗ nhà văn nhận thức và giải quyết những vấn đề đã đặt ra trong tác phẩm theo quan điểm, theo cách nhìn của giai cấp nào Vấn đề này quan trọng là ở chỗ: Các nhà văn tuy cùng sống trong một xã hội, cùng hướng về một đề tài nhưng do quan điểm giai cấp khác nhau dẫn tới cách giải quyết vấn đề khác nhau Ví dụ: ở nước ta thời kì 1930 – 1945, nếu các tác phẩm Những ngày vui của Nhất Linh – Khái Hưng, Con đường sáng của Hoàng Đạo đã xuyên tạc sự thật ở nông thôn Việt Nam, xuyên tạc mối quan hệ giữa giai cấp địa chủ phong kiến và nông dân thì các tác phẩm của Ngô Tất Tố, Nam Cao và

Vũ Trọng Phụng lại phản ánh một cách chân thực hiện thực đen tối của xã hội Việt Nam thời ấy với những mâu thuẫn giai cấp không gì có thể điều hòa được

Vấn đề xây dựng nhân vật – đặc biệt là nhân vật lí tưởng

Trong xã hội có giai cấp, nhà văn khi xây dựng nhân vật cũng bộc lộ quan điểm củagiai cấp thông qua việc xây dựng nhân vật

Những tác phẩm thời trung cổ ở châu Âu thường tô vẽ các nhân vật hiệp sĩ cao thượng, quả cảm và trung thực, xem đó là những hình ảnh lí tưởng của tầng lớp quýtộc thượng lưu Nhân vật Aivanhô của Oantơ Xcốt là thí dụ

Văn học phương Đông thời phong kiến thường lấy mẫu người quân tử, liệt nữ, trượng phu, tiết phụ làm nhân vật trung tâm Đó là những con người mang nặng đạo đức và lễ giáo phong kiến, xem nhẹ tình cảm và những nguyện vọng riêng tư,

Trang 22

chỉ hướng tới tôn thờ những giáo lí cơ bản của các quan hệ phong kiến như quân thần, phụ tử, phu thê

Nhân vật trong các sáng tác của nhà văn hiện thực phê phán tiến bộ Nam Cao ở thời

kì 1930 – 1945 là những con người có hoài bão, có khát vọng cao cả nhưng bị cuộc sống đời thường tẻ nhạt, nghèo đói, vô nghĩa, đẩy họ vào những tấn bi kịch như Hộ trong truyện ngắn Đời thừa, Thứ trong tiểu thuyết Sống mòn

Nhân vật lí tưởng trong nền văn học vô sản là những người giác ngộ lí tưởng cách mạng, xuất hiện với tư thế người anh hùng mới, làm chủ cuộc đời và làm chủ vận mệnh của mình Paven Vlaxôp trong Người mẹ, Tiệp trong Bão biển Dĩ nhiên tác phẩm văn học không chỉ viết về nhân vật lí tưởng nhưng khi viết về bất cứ loại nhânvật nào khác, tính giai cấp của nhà văn vẫn thể hiện ở chỗ họ sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp dựa vào nhân vật lí tưởng của mình để đánh giá nhân vật khác Đặc biệt ở những tác phẩm mô tả những con người phản diện làm nhân vật trung tâm thì nhà văn lại thông qua việc phê phán những con người và cuộc sống nào đó để biểu hiện

lí tưởng chính diện của mình

3.Tính giai cấp trong văn học là một vấn đề mang tính lịch sử

Tính giai cấp là một biểu hiện của tính người phổ biến trong văn học Biểu hiện về tính giai cấp trong văn học đã có từ rất xa xưa với những câu chuyện cổ tích, những câu ca dao tục ngữ Nội dung giai cấp lúc đầu mới được chú ý ở phương diện mâu thuẫn, đối lập giàu – nghèo, thiện – ác, tốt – xấu Một số phẩm chất xấu như độc ác,tham lam thường gắn với tầng lớp trên trong xã hội, còn những phẩm chất như hiền lành, thật thà, chăm chỉ thuộc về những con người tầng lớp lao động, như cô Tấm, Thạch Sanh, Sọ Dừa, nàng Lọ Lem Về sau, văn học dần chú ý đến sứ mệnh đấu tranh, phê phán, tố cáo của mình: Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm, Đâm mấythằng gian bút chẳng tà (Nguyễn Đình Chiểu)

Đến khi xuất hiện chủ nghĩa Mác – Lênin, vấn đề giai cấp trong văn học mới được

ý thức triệt để: văn học trở thành vũ khí đấu tranh giai cấp Văn học phải giúp vào

Trang 23

việc “xoay chế độ, phá cường quyền” (Sóng Hồng), “phải biết xung phong”, “nghệ

sĩ là chiến sĩ” (Hồ Chí Minh), “câu thơ đuổi giặc” (Chế Lan Viên) Trong điều kiện xã hội phân hóa rõ rệt (có địch và ta, có chúng ta và chúng nó, tư sản và công nhân, địa chủ và nông dân ), văn học mang tính giai cấp nổi bật: ca ngợi, xót thương người lao động, tố cáo quân áp bức, bóc lột, ý thức sâu sắc về sứ mệnh lịch

sử thay đổi chế độ của giai cấp mình Văn học Việt Nam 1945-1975 và trước đó, dòng văn học hiện thực phê phán cũng như dòng văn học cách mạng đều có ý thức

về tính giai cấp: Bước đường cùng (Nguyễn Công Hoan), Tắt đèn (Ngô Tất Tố), Chí Phèo (Nam Cao), Vỡ bờ (Nguyễn Đình Thi), Sóng gầm (Nguyên Hồng), Ông lão chăn bò trên núi Thắm (Xuân Thu), Mẹ con đồng chí Chanh (Nguyễn Đình Thi), Vùng mỏ (Võ Huy Tâm)

Giai đoạn kháng chiến bảo vệ độc lập dân tộc, tính giai cấp thể hiện trong việc tố cáo xâm lược, ca ngợi tinh thần anh dũng của nhân dân Trong điều kiện xã hội hiện nay, khi các vấn đề giai cấp đối kháng không còn thể hiện một cách rõ rệt trong đời sống, tính giai cấp ẩn vào những vấn đề mang tính người muôn thuở hơn: đấu tranh giữa cái thiện và cái ác; thông cảm với người nghèo; tố cáo những kẻ giàu

có mà nhẫn tâm, độc ác; lên án sự sa đoạ, tối tăm, lạc hậu vì nghèo đói Có thể giaiđoạn này, những nội dung tính giai cấp lại trở về gần gũi với cái nhân loại hơn

⇨ Tóm lại, văn học xưa nay đều phản ánh tính giai cấp của con người quacác nhân vật, và điều đó giúp cho người đọc hiểu sâu hơn về bản chất

xã hội của con người Tuy nhiên, tuyệt đối hóa tính giai cấp của văn học là biểu hiện của xã hội học dung tục và làm nghèo văn học Con người trong văn học vốn phong phú và đa dạng hơn con người giai cấp rất nhiều

CHƯƠNG 4: VĂN HÓA DÂN TỘC TRONG VĂN HỌC

I Vị trí của văn học trong văn hóa

   Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau,

liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người Về cơ bản, văn hóa có thể chia ra hai dạng: văn hóa tinh thần (hay còn gọi là văn hóa phi vật chất là những ý niệm, tín ngưỡng, phong tục, tập quán, giá trị, chuẩn

mực,  ) và văn hóa vật chất (ngoài các yếu tố phi vật chất như giá trị, tiêu

chuẩn, nền văn hóa còn bao gồm tất cả những sáng tạo hữu hình của con

Trang 24

người mà trong xã hội học gọi chung là đồ tạo tác) Nhưng chúng không ở trong

trạng thái thuần túy đối lập nhau Trong văn hóa tinh thần vẫn phải có yếu tố vật chất và ngược lại Điều này chí ít cũng có thể nghiệm thấy như sau: sản phẩm của văn hóa tinh thần cũng phải được vật thể hóa theo một dạng thái nào đó Ngược lại, toàn bộ quá trình của một sản phẩm văn hóa – vật chất cũng chính là biểu hiện mục đích, phương sách và mô thức của tinh thần con người, và đó là “điều phân biệt trước tiến giữa một kiến trúc sư tồi nhất với một con ong giỏi nhất” như Mác đã nói

   Sự kết hợp giữa hai yếu tố vật chất và tinh thần trong hai loại văn hóa là theo tỉ lệ

áp đảo hoặc thiên về cực này hoặc thiên về cực kia Ngược lại, có một số tác phẩm

là kết quả của một sự tự giác, cố ý sáng tạo ra – ta gọi đó là văn hóa tinh thần-vật chất, là văn hóa nghệ thuật (văn hóa mang tính nghệ thuật) Qua đây, chúng ta có thêm căn cứ để thấy vị trí không thể thay thế và vai trò to lớn của nghệ thuật trong đời sống xã hội “Cái cao quý của một đất nước, một dân tộc là ở giá trị văn hóa Văn học nghệ thuật có nhiệm vụ và tác dụng to lớn trong việc sáng tác tạo nên những gía trị cao quý ấy” (Phạm Văn Đồng)

   Tuy năm chung trong loại “văn hóa tinh thần – vật chất”, hay theo cách nói của Kagan là kết tinh của hai loai văn hóa tinh thần và văn hóa vật chất, nhưng sự kết hợp giữa hai yếu tố tinh thần và vật chất trong nghệ thuật vẫn mang những tỉ lệ có phần khác nhau tùy theo từng loại hình Tất cả các loại hình nghệ thuật khác, chất liệu của chúng đều là vật chất với những trạng thái khác nhau còn duy nhất chỉ có chất liệu của văn học mới là phi vật chất mà thôi Với tư cách là chất liệu của văn hoc, ngôn từ chỉ là kí hiệu của vật chất Nhưng chính là kí hiệu cho nên ngôn từ có thể đại diện cho bất cứ sự vật, hiện tượng, trạng thái trên cõi đời này, tham gia trực

tiếp vào quá trình tư duy, tư tưởng và tình cảm con người Mặc dù hình tượng văn học không thể trực quan nhưng nó lại có khả năng biểu hiện đến mức tối đa nhân tâm và thê sự, lại rất phổ biến trong sáng tác, tiếp nhận, truyền bá và bảo tồn “Thơ văn là loại hình nghệ thuật cao cấp nhất” (Bielinski) Những kiệt tác như Truyện Kiều đã “làm đất nước hóa thành thơ” (Chế Lan Viên) Cho nên, nếu đúng nghệ thuật là một loại văn hóa đặc biệt thì ngôn ngữ với tư cách

là biểu hiện đầu tiên, cơ bản, vĩ địa của văn hóa nhân loại làm chất liệu, văn học chính là gương mặt tiêu biểu cho văn hóa tinh thần của mỗi dân tộc.

   Tất nhiên khả năng tiêu biểu cho văn hóa là một việc còn trong từng tác phẩm vănhọc cụ thể có đạt được giá trị văn hóa hay không là một việc khác Và chắc chắn cũng như bất cứ giá trị nào khác giá trị văn hóa trong tác phẩm văn học rồi sẽ chỉ một số ít người đạt đến mà thôi.Bởi vì giá trị văn hoá đòi hỏi trước tiên ở chủ thể nhà văn phải đồng thời là nhà văn hóa, có ý thức thường xuyên, tự giác và dồi dào

để soi rõ và biểu hiện khách thể, phải luôn luôn biết nhìn đời như một trạng thái nhân sinh trong một bối cảnh văn hóa nhất định Trên cơ sở đó có thể nhìn nhận tính văn hóa được tăng cường trong tác phẩm văn học theo các mặt sau: 

  Về mặt đề tài phải được triển khai với những chất liệu văn hóa phong phú chan

chứa bản sắc dân tộc, màu sắc địa phương khu vực và sắc thái lịch sử Phong cảnh thiên nhiên của đất nước, tập trung hàng ngàn đời của dân tộc phải có vị trí xứng đáng trong tác phẩm

Trang 25

   Về mặt chủ đề, phải triển khai những mâu thuẫn trong đời sống trên toàn bộ quá

trình phát triển của văn hóa dân tộc Ở đây không phải chỉ có quan hệ xã hội mà còn

có quan hệ giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với thế giới siêu hình của thần thánh ma quỷ

  Về mặt nhân vật, phải khắc họa được tính cách văn hóa, và đây là điều then chốt

nhất Tính cách văn hóa của dân tộc không phải chỉ định vị trên bình diện chính trị

-xã hội mà còn phải được triển khai trên nhiều bình diện khác nhau như tinh thần - luân lý, bình diện triết học - sinh thái và cuối cùng là trên nhiều   bình diện khác như về tín ngưỡng, địa phương, gia tộc, tuổi tác nghề nghiệp giới tính,… Được triểnkhai trên nhiều bình diện như vậy nhằm mục đích hiểu toàn diện hơn và từ đó mới

có thể lí giải khía cạnh chính trị - xã hội của nó một cách đích thực và có hiệu quả hơn Muốn thực sự hiểu cái “tiểu vũ trụ” này cần dứt khoát tiếp cận nó từ nhiều bình diện Cái cụ thể trong tính toàn thể của nhân vật văn học, không thể chỉ là tính cách chính trị mà là tính cách văn hoá

   Về mặt thi pháp và thể loại, thì do chiều kích của văn hoá là sâu rộng về không

gian, thời gian, dạng tồn tại của văn hoá là đa dạng và tế vị, cho nên một nền văn học giàu tính văn hoá, không thể đơn điệu về một thi pháp… Ở đây ta bắt gặp vô số phương thức biểu hiện được tích tụ trong kho tàng văn học dân rộ và nhân loại: lãngmạn, viễn tưởng, giả tưởng, kì ảo, ẩn dụ, tượng trưng, ngụ ngôn, huyền thoại… Do quy mô của tiểu thuyết, nó có thể bộc lộ hàm lượng văn hoá nhiều hơn cả Nhưng chất lượng - biểu hiện của tài năng cũng giữ vai trò quyết định Một bài thơ tứ tuyệt còn giàu hàm lượng văn hóa hơn 1 cuốn tiểu thuyết trường giang là điều hoàn toàn

có thể xảy ra

   Cuối cùng, sáng tác phải mang hàm lượng văn hoá cao, chí ít là phải tiếp cận tác phẩm văn học từ văn hoá Một là, phải đặt tác phẩm văn học trong một bối cảnh vănhoá rộng rãi, đi sâu khám phá trạng thái văn hoá của một thời đại tác động đến sáng tác văn học như thế nào Hai là, phải phát hiện cho được những tố chất văn hoá ẩn chứa trong tác phẩm như sắc thái tình cảm, phương thức tư duy, hứng thú thẩm mĩ, phong tục tập quán, niềm tin giáo lí của nhân dân đất nước mình trong một giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử

  Trên đây chỉ là vài nét sơ lược về vị trí và nhiệm vụ của văn học trong nền văn hoádân tộc, làm tiền để cho việc luận bàn tính chất dân tộc của văn học trong những mục tiếp theo Nói văn học là gương mặt của văn hoá dân tộc, thì đôi mắt của

gương mặt ấy chính là tính chất dân tộc của văn học

II Tính chất dân tộc, từ thuộc tính đến phẩm chất dân tộc

  Văn học là “hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan”, cho nên tính dân tộc là thuộc tính tất yếu và thường tại của văn học.

    Tính dân tộc trong văn học muốn từ “thuộc tính” trở thành một “phẩm chất” thì phải có điều kiện Chỉ có biểu hiện nào của tính chất dân tộc gắn liền với tính chất

nhân dân, với tính chân thật và tính nghệ thuật thì mới thật sự có giá trị Một tác phẩm có phẩm chất dân tộc chân chính còn phải là “những tác phẩm sinh động mà nhân dân ta, dân tộc ta nhìn vào có thể tự soi gương thấy được hình ảnh chân thật của mình” như nhà thơ Huy Cận đã nói. 

Trang 26

III/ Tính dân tộc qua các yếu tố của tác phẩm văn học:( Phần này đã rút ngắn)

  - Trong số những thuộc tính và phẩm chất khác của văn học như tính hiện thực, tính chân thật, tính giai cấp, tính đảng, tính nghệ thuật… thì chủ yếu chỉ thể hiện trên một số yếu tố cơ bản, mà phần nhiều hoặc thiên về nội dung hoặc thiên về hình thức của tác phẩm mà thôi Tuy nhiên đối với tính dân tộc lại có phần khác, nó vừa

là nội dung, vừa là hình thức đã dành, hơn thế nữa, có thể nói có bao nhiêu yếu tố trong tác phẩm văn chương là có bấy nhiêu chỗ để tính dân tộc thể hiện

   -Tính dân tộc gồm :

● Đề tài,chủ đề, tư tưởng

● Tâm hồn, tính cách

● Ngôn ngữ và thể loại

1/ Đề tài, chủ đề, tư tưởng

  - Trước hết là về phương diện đề tài Có thể nói lịch sử, địa lý, văn hóa của mỗi dân tộc đều trở thành đối tượng phản ánh của tác phẩm.Nhà thơ Nga vĩ đại Puskin cho rằng, mỗi dân tộc có vô vàn phong, tục tập quán riêng và “khí hậu, chế độ xã hội, tín ngưỡng tạo cho mỗi dân tộc một diện mạo đặc biệt,diện mạo ấy ít hay nhiềuđều được phản ánh trong tấm gương của thơ ca”

     Đối với mặt lịch sử của mỗi dân tộc,tất nhiên có vấn đề cội nguồn huyết thống, nhưng dân tộc chủ yếu là một phạm trù xã hội dân tộc được hình thành và phát triểncủa lịch sử dựng nước và giữ nước của mình Những truyền thuyết về thời Hùng Vương dựng nước là những viên ngọc quý trong kho tàng văn chương dân tộc ta Đặc biệt lịch sử dân tộc Việt Nam ta chủ yếu là lịch sử chống ngoại xâm, giữ gìn đất nước.Do đó truyền thuyết về Thánh Gióng, thơ của Lý Thường Kiệt Trần QuangKhải, Phạm Ngũ Lão, văn của Trần Quốc Tuấn,thơ văn của Nguyễn Trãi,Phan Bội Châu tràn đầy tính dân tộc là vì thế

    Ở phương Tây quá trình phát triển từ chủ nghĩa cổ điển qua chủ nghĩa lãng mạn đến chủ nghĩa hiện thực là quá trình tăng cường dần tính dân tộc, và điều đó trước hết thể hiện ở phương diện đề tài Chống lại bệnh mô phỏng cổ đại của chủ nghĩa cổđiển, chủ nghĩa lãng mạn đã chú ý khai thác đề tài trong lịch sử dân tộc mình Lúc còn nhân dân là nhà văn lãng mạn Xtăngđan có viết như sau: “Những bi kịch của chúng ta sẽ cảm động hơn, chúng đề cập tới vô số những đề tài dân tộc mà Vônte vàRaxin bắt buộc phải khước từ…Tôi thú thật rằng tôi muốn được xem trên sân khấu

Pháp cái chết của quận công Đơ Ghiđơ ở Bloa, hay Gian Đác và người Anh

Những bức tranh vĩ đại và bi thảm ấy, rút từ biên niên sử của chúng ta sẽ làm rung động sợi dây nhuệ cảm của mọi trái tim người Pháp và theo những người lãng mạn chủ nghĩa, chúng làm họ quan tâm hơn là đối với những bất hạnh của Ơđipơ”

(Raxin và Sếchxpia) Quả vậy,những tiểu thuyết pháp như Nhà thờ Đức Bà Paris Của Víchto Huygô Những  tiểu thuyết Anh như Aivanhô của Oantơ Xcốt mặc dù rất lãng mạn, nhưng đều có gốc gác trong lịch sử dân tộc mình.Chủ nghĩa hiện thực phê phán lại càng tiếp thu và phát triển hơn cái truyền thống này

       Ý thức độc lập tự chủ không phải chỉ biểu hiện ở mục tiêu giành chủ quyền chođất nước, mà còn ở chiến thuật, chiến lược thậm chí ở cả phương pháp và biện phápđấu tranh độc đáo Trong hơn 20 năm, chúng ta đã từng phải vừa xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc vừa đấu tranh giải phóng miền Nam Quả thật không có nơi nào trên thế giới lại nêu ra chiến lược song trùng, thậm chí “mâu thuẫn” vừa bảo

Trang 27

vệ hòa bình ,vừa buộc phải chấp nhận tiến hành chiến tranh như vậy Nhưng không phải đợi đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, những tác phẩm phản ánh thực tiễn vừa chống Mỹ cứu nước, vừa xây dựng Chủ nghĩa xã hội, như Bão Biển của Chu Văn, Đất Vàng của Nguyễn Thị Ngọc Tú…

 2/ Tâm hồn, tính cách. 

  Tính dân tộc lại càng xuyên thấm trong việc thể hiện hình tượng và nhân vật, kể cảnhân vật trữ tình, với những tâm hồn và tính cách dân tộc độc đáo.Đồng chí Phạm Văn Đồng đã từng lưu ý các nhà văn: “Con người mới trong tác phẩm của chúng ta phải có quan điểm giai cấp công nhân rõ ràng nhưng đó là có người Việt Nam với tính tình cổ truyền đẹp đẽ” chị Sứ trong tiểu thuyết Hòn Đất của Anh Đức là con người anh hùng trong thời đại Hồ Chí Minh, nhưng cũng mang nhiều “tính tình cổ truyền đẹp đẽ” đó : tính diệu hiền, lòng nhường nhịn, tình yêu thương đối với cha

mẹ, chị em, con cái với quê hương làng xóm, đức thủy chung với người chồng đi xa Con người Việt Nam rất bất khuất, anh hùng nhưng hiền từ, trung hậu và có thể nói thêm là rất bình dị ,không anh hùng theo lối “hảo hán”, hò hét,lên gân Và nếu nói về người anh hùng mà bình dị là điểm nổi bật trong cá tính Việt Nam thì Bác Hồ là người tiêu biểu nhất Vĩnh biệt Bác Hồ, Nhà thơ Tố Hữu xúc động mạnh trước lối sống Việt Nam,Phong Cách Việt Nam ,cốt cách và đạo đức Việt Nam của người khi viết những dòng thơ này:

“Bác để tình thương cho chúng con   Một đời thanh bạch chẳng vàng son     Mong manh áo vải hồn muôn trượng    Hơn tượng đồng phơi những lối mòn”

    Nhà văn hiện thực Nga vĩ đại Gôgôn có ý kiến như sau:”Nhà thơ có thể là nhà thơ dân tộc ngay cả khi anh miêu tả một thế giới hoàn toàn xa lạ, nhưng nhìn nó bằng con mắt của sinh hoạt dân tộc, bằng con mắt của nhân dân mình, khi anh ta cảm xúc và phát biểu thì những đồng bào của anh ta tưởng như chính họ đang cảm xúc và phát biểu.” Có thể nói rộng ra ở các bộ môn nghệ thuật khác cũng vậy Biểuhiện những tư tưởng của cách mạng tư sản Pháp như nhạc phẩm của Beethoven vẫnđược coi như mang tính dân tộc Đức rất sâu sắc.Picatxô rời Bácxêlôna từ thời trẻ,

đã trở thành công dân Pháp, nhưng trong quan niệm và thực tiễn hội họa vẫn mang tính chất Tây Ban Nha Với đề tài chủ yếu ở Trung Quốc thậm chí ngôn ngữ và thể loại cũng vậy nhưng trong nhật ký trong tù vẫn đậm đà cái cốt cách và phong thái Việt Nam

3/ Ngôn ngữ, thể loại

    Ngôn ngữ có lẽ là lĩnh vực dễ thấy nhất về phương diện tính dân tộc của tác

phẩm văn chương.Do những nguyên nhân lịch sử phức tạp, trong nền văn chương trung cổ một số nước thường sử dụng ngôn ngữ nước ngoài- tiếng Hán ở phương Đông, tiếng Latinh ở phương tây Hịch Tướng Sĩ của Trần Hưng Đạo, Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi, Bản án chế độ thực dân Pháp và Nhật Ký Trong Tù của

Hồ Chí Minh Mặc dù viết bằng chữ tiếng Hán và tiếng Pháp vẫn là những viên ngọc quý của nền văn chương nước ta.Vì nội dung bao giờ cũng giữ vai trò quyết định, cần phải khảo sát cụ thể tác phẩm đã phản ánh được gì, về bản chất hoặc một vài khía cạnh bản chất của cuộc sống và con người của nhân dân, đất nước mình Ngay cả về phương diện hình thức, mà cụ thể ở đây là ngôn ngữ “ngoại lai”, cũng phải tính đến lí do “hợp lí lịch sử”, hoặc phải tính đến hoàn cảnh sáng tác, đối tượng

Trang 28

tiếp thu của nó, như trường hợp Bản án chế độ thực dân Pháp của Nguyễn Ái

Quốc-Hồ Chí Minh chẳng hạn

    Nhưng ngoại trừ những nguyên nhân lịch sử và khách quan nói trên, thì không thể quan niệm một tác phẩm văn chương có tính dân tộc toàn vẹn mà lại viết bằng tiếng nước ngoài Chỉ cần học  hỏi,hoặc lạm dụng những từ ngữ và cách thành Văn nước ngoài cũng đã làm suy yếu bản sắc dân tộc của tác phẩm Trong mười tám điều tự răn đe về công tác viết văn, đồng chí Trường Chinh đã lưu ý : “Dân tộc hóa:

1 Không được dùng một chữ nước ngoài nếu không cần thiết

2 Không viết một câu theo cách đặt câu nước ngoài…” 

    Dĩ nhiên tính dân tộc trong ngôn ngữ văn chương không phải chỉ những phương diện ngữ âm, từ vựng, cú pháp mà còn ở những tiềm năng và biện pháp tu từ Về tiếng mẹ đẻ chúng ta, đồng chí Phạm Văn Đồng đã nhận xét: “Tiếng Việt Nam ta hay lắm, đẹp lắm chúng ta hãy nhớ đến văn của Truyện Kiều, của nhiều áng văn khác, của ca dao Tiếng ta thật là hay và đẹp Dùng để diễn tả ý và tình màu sắc và hình ảnh lại có thể dùng ít Viết chữ để gửi lên nhiều ý.” Đây là một nhận định hết sức nghiêm túc khách quan rất có căn cứ khoa học Tiếng mẹ đẻ chúng ta rất giàu từlấp láy, nhiều sức gợi ảnh và giàu sắc thái tình cảm độc đáo rất khó dịch ra tiếng nước ngoài nhưng lại có thể dùng để dịch xuôi những từ nước ngoài một cách tình

tứ đậm đà hơn như nguyên văn câu

     Thực ra cách phân chia thể loại cũng khác nhau ở mỗi nước Nhìn chung một cách tổng quát, ở phương tây người ta chú ý nhiều đến phương thức phản ánh ,cho nên từ Arixtốt, rồi Hêghen đến Bêlinxki đều chia thành 3 loại chính :tự sự, trữ tình ,kịch Văn học cổ cận Phương Đông ,kể cả Việt Nam ,chú ý nhiều hơn đến mụcđích sáng tác, nội dung cụ thể ,kết cấu và hình thức biểu hiện,cho nên hệ thống loại thể vô cùng phong phú Tiểu thuyết chương hồi, truyện thơ, trường ca ,thơ lục bát, song thất lục bát, lục bát biến thể Đường luật (bác,cú, tỉ,tuyệt), tuồng, chèo ,cải lương,phú,văn tế,văn cổ xuôi (truyện, ký, di, luận)

    Tính dân tộc của thể loại không những thể hiện ở những loại thể riêng biệt của từng dân tộc mà còn biểu hiện ở những đặc điểm khác nhau của một số thể loại gần gũi tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc với kết cấu chương hồi với lối kết thúc có hậu khác xa với tiểu thuyết Phương Tây trong thơ ca Việt Nam thể thơ lục bát với cách gieo vần lưng nhịp chẵn là một thể thơ rất giàu tính dân tộc bắt nguồn từ ca dao tục ngữ thể thơ lục bát gắn liền với nhạc điệu của ngôn ngữ dân tộc với khiếu thẩm mỹ của dân nhân dân Việt Nam

   Tóm lại từ việc biểu hiện tính dân tộc trên bất cứ phương diện nào của tác phẩm chúng ta càng thấm thía thêm câu nói của đồng chí Phạm Văn Đồng Văn học Nghệ thuật là dân tộc diễn ra những đặc điểm dân tộc phân tích trên nhất là về phương diện hình thức trong văn học của không nhất thiết ngày nay phải kế thừa một cách trọn vẹn Đó là điều sẽ tiếp tục giải quyết trong các mối quan hệ giữa truyền thống

Trang 29

kế thừa và với phê phán, truyền thống với cách tân, tiếp thu với sáng tạo ,dân tộc với nhân loại…

  Các mối quan hệ biện chứng giữa kế thừa với so sánh, truyền thống với cách tân Chống các biểu hiện của chủ nghĩa hư vô và chủ nghĩa phục cổ

 Các các mối quan hệ biện chứng giữa tiếp thu với sáng tạo, dân tộc với quốc tế Chống các biểu hiện của chủ nghĩa sùng ngoại và chủ nghĩa bài ngoại 

CHƯƠNG V: VĂN HỌC - NGHỆ THUẬT NGÔN TỪ

1 Ngôn từ - chất liệu của văn học 

      Văn học không chỉ là một loại hình ý thức xã hội mà còn là một loại hìnhnghệ thuật Mỗi loại hình nghệ thuật có vai trò và vị trí riêng trong đời sống tìnhcảm của con người Xét đến cùng đặc trưng của mỗi loại hình nghệ thuật đều bắtnguồn từ chất liệu của nó Ví dụ chất liệu của hội họa là màu sắc, đường nét, của vũđạo là hình thể động tác, của âm nhạc là âm thanh, tiết tấu, v.v… Chất liệu của vănhọc là ngôn từ Tìm hiểu văn học như nghệ thuật ngôn từ là tìm hiểu đặc thù riêngcủa văn học trong mối tương quan với các loại hình nghệ thuật khác

1.1 Từ nghệ thuật nguyên hợp đến nghệ thuật ngôn từ 

      Văn học dùng ngôn từ làm chất liệu riêng khi nào? Từ thời nguyên thủy, vănhọc không tách rời với múa nhảy, âm nhạc, ma thuật Dần dần xuất hiện văn họcdân gian truyền miệng với các thể loại như ca dao, thần thoại, truyện cổ tích Khi cóchữ viết xuất hiện mới bắt đầu có văn học viết Văn học viết lúc đầu chủ yếu là ghichép các sự kiện lịch sử, các văn kiện nhà nước như thư từ, văn thư, sau đó dần dầncác tác phẩm nghệ thuật thuần túy mới xuất hiện Trải qua quá trình lịch sử, nhữngsáng tác nghệ thuật dùng ngôn từ làm chất liệu xây dựng hình tượng tách dần ra trởthành một loại hình độc lập: Văn học Khi văn học phát triển đầy đủ, thoát khỏi tìnhtrạng văn, sử, triết bất phân, người ta mới có nhu cầu dùng từ văn học để riêng loạivăn mang tính nghệ thuật Do văn học là sản phẩm của lịch sử như thế cho nên khinói tới đặc trưng, bản chất của văn học là ta nói tới trạng thái của văn học trong giaiđoạn hoàn thiện nhất của nó

1.2 Ngôn từ - chất liệu xây dựng hình tượng văn học

      Bất cứ hình tượng nghệ thuật nào cũng gắn liền với một chất liệu cụ thể.Khác với hội họa, âm nhạc, điêu khắc xây dựng hình tượng bằng màu sắc, hìnhkhối, âm thanh…, văn học xây dựng hình tượng bằng chất liệu ngôn từ

      Vậy các khả năng nghệ thuật của ngôn từ như thế nào? Trước hết cần hiểukhái niệm ngôn từ, Khoa học hiện đại phân biệt ngôn ngữ (tiếng) và lời nói (phátngôn nói và viết) Nếu ngôn từ là tổng thể tất cả các đơn vị, phương tiện, kết hợp

mà lời nói sử dụng (ngữ âm, từ ngữ, ngữ pháp, các phương thức tu từ), thì lời nói làhình thức tồn tại cụ thể, sinh động, đa dạng, muôn màu muôn vẻ của ngôn ngữ

Trang 30

Ngôn từ ở đây được dùng với nghĩa là lời văn, lời nói mang tính nghệ thuật Chấtliệu ngôn từ có đặc điểm trước hết là tính hình tượng Văn học có khả năng gợi lênmột thế giới sinh động với mọi màu sắc, hương vị, âm thanh, nhịp điệu và sự vậnđộng của nó Khi đọc một bài thơ, một thiên truyện, ta bắt gặp những cảm xúc,những con người và cảnh vật hiện lên một cách cụ thể, sinh động Chẳng hạn, đọc

“Tre Việt Nam” của Nguyễn Duy, “Dế mèn phiêu lưu kí” của Tô Hoài, ta bắt gặpnhững hình ảnh thiên nhiên và con vật như ta đã thường gặp ở ngoài đời, nhưng lạimang đậm những ý nghĩa vị nhân sinh

      Hơn nữa, bằng ngôn từ, chúng ta tiếp xúc trực tiếp với một thế giới cảm xúc,

ấn tượng, tưởng tượng vốn rất khó nắm bắt Để tả nỗi sầu, có người dùng núi: “Nỗibuồn sầu chất như núi, mờ mịt không thể dời đi” (Đỗ Thiếu Lăng); có người dùngdòng nước “Hỏi anh có bao nhiêu nỗi buồn, cuồn cuộn như sông xuân chảy vềđông” (Lí Hậu Chủ); có người dùng biển sâu “Hãy đo lượng nước biển đông, đềxem nỗi buồn nông sâu thế nào” (Lí Kỳ) Sự sâu sắc và tinh tế của cảm xúc đã đượcchuyển tải trong những hình ảnh ngôn từ sinh động, mới mẻ Tính hình tượng củangôn từ còn xuất phát từ chỗ lời văn trong tác phẩm là lời của các hình tượng Đó làngười kể chuyện, nhân vật trong tác phẩm trữ tình… Với mỗi nhân vật như vậy thìlời ăn tiếng nói của họ đã góp phần tái hiện chân dung một con người cụ thể vớimọi đặc điểm về giới tính, lứa tuổi, học vấn, cá tính… Đây là khả năng cá thể hóachủ thể phát ngôn Ví dụ, đọc các sáng tác của nhà văn Nguyễn Tuân ta nhận rahình tượng người kể chuyện – một nhà văn văn đa phong cách có ngôn ngữ dồi dào,nhờ đó mà bao giờ cũng mô tả cảnh vật và con người một cách tỉ mỉ, tường tận Đọcthơ Xuân Diệu, ta nhận biết hình tượng nhân vật trữ tình với sự đam mê, say đắm,hòa nhập để tận hưởng vẻ đẹp của cuộc sống bằng tất cả giác quan qua những từngữ tha thiết, rạo rực Qua những lời nói của Bá Kiến khi Chí Phèo vừa ở tù về đến

ăn vạ ta thấy Bá Kiến quả là một tên địa chủ cáo già biết “mềm nắn, rắn buông”.Mối quan hệ giữa hình tượng và chất liệu ngôn từ không phải là sự kết hợp bề ngoài

mà là sự thâm nhập xuyên thấm vào nhau, là phương thức tồn tại của hình tượng.      Tính hình tượng còn thể hiện trực tiếp qua khả năng tạo hình và biểu cảm củangôn từ miêu tả trực tiếp đời sống  như các từ tượng thanh, tượng hình (ào ào, longlanh, chúm chím, vi vu, xào xạc,…), các từ diễn tả sự vận động của thế giới (cườitủm tỉm, mắt lóng lánh, gió lướt thướt các từ miêu tả trực tiếp hoặc gián tiếp qua cácbiện pháp tu từ

      Ngôn từ nghệ thuật còn được tổ chức một cách đặc biệt để xây dựng một hìnhtượng thế giới trọn vẹn, hoàn chỉnh, giàu ý nghĩa khái quát Ta bắt gặp trong tácphẩm rất nhiều các biện pháp tu từ : so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, lặp lại, đối lập… Ví dụtrong mối tương quan: bền vững – dổi thay, cũ – mới, bến – đò, xưa – nay… mà câu

ca dao: 

       “ Cây đa bậc cũ lở rồi

       Đò đưa bến khác bạn ngồi chờ ai”  

không chỉ nói chuyện cây đa, chuyện đò, chuyện bến mà còn mang ý nghĩa diễn tảniềm đau đớn, xót xa của con người trước sự bội bạc trong tình yêu

Trang 31

      Như vậy, mọi sự mô tả thế giới và biểu đạt tư tưởng tình cảm của con ngườiđều có thể thể hiện qua chất liệu ngôn từ Với khả năng đó, văn học có khả năngvạn năng trong việc nhận thức và phản ánh thế giới.

2 Những đặc điểm của văn học với tư cách nghệ thuật ngôn từ

- Dùng chất liệu là ngôn từ, văn học có ý nghĩa quan trọng trong việc phát huy thế mạnh của mình trong việc phản ánh hiện thực và tư tưởng tình cảm của con người Việc tìm hiểu những đặc điểm nghệ thuật của văn học so với các loại hình nghệ thuật khác

2.1 Tính chất phi vật thể của hình tượng văn học

- Nếu đứng trước một phòng tranh, nhìn từng bức ảnh, mắt ta thấy mỗi bức tranh ấy

vẽ cảnh gì, vẽ ai với những đường nét, màu sắc sinh động Nếu đứng trước một tượng đài, ta những thấy tượng đài thể hiện vị anh hùng nào, nhân vật lịch sử ở thời đài nào Những điều ấy tác động trực tiếp và gây ấn tượng xác thực mạnh mẽ với người xem Được xây dựng bằng chất liệu ngôn từ, hình tượng văn học là một loại hình tượng gián tiếp chỉ có thể hiện lên qua hình dung, tái tạo, qua trí tưởng tượng của người đọc Hình tượng văn học tác động vào trí tuệ và sự liên tưởng của người đọc Không ai nhìn thấy hình tượng văn học bằng mắt thường Nó chỉ bộc lộ qua cái

“nhìn” bên trong thầm kín Đó là tính chất tinh thần hay tính chất phi vật thể của hình tượng văn học

- Tuy nhiên không thể nghĩ rằng hình tượng văn học thiếu khả năng gây ấn tượng mạnh mẽ Chính vì mang tính gián tiếp như vậy nên hình tượng văn học lại mở ra những khả năng mà các loại hình nghệ thuật khác khó diễn tả được

- Vì chất liệu ngôn từ là “kho vô tận về âm thanh, bức tranh, khái niệm” (Belinsky), cho nên văn học có khả năng hình dung bất cứ sự vật nào trong thế giới vô hình và hữu hình, trừu tượng và cụ thể Hình tượng văn học chẳng những có thể tái hiện những điều mắt thấy mà nhận biết bằng cái nhìn thị giác như hội họa, điêu khắc, điện ảnh mà còn tái hiện những điều cảm thấy bằng khứu giác, thính giác, xúc giác Nếu các nghệ thuật tạo hình khác chỉ biểu hiện về những hình tượng đó một cách gián tiếp, thì văn học lại có thể diễn tả rất cụ thể: “Nắng thơm rơm mới đường quê gặt mùa” (Tố Hữu), “Đã nghe rét mướt luồn trong gió” (Xuân Diệu)

- Với chất liệu là ngôn từ, hình tượng văn học có thể diễn tả được mọi sắc thái tình cảm vốn trừu tượng, mơ hồ của con người Chẳng hạn như những câu thơ của XuânDiệu nói về niềm khát khao giao cảm với đời – một khát khao vô hình nhưng qua lời thơ người đọc tưởng như nhìn thấy tình cảm ấy một cách cụ thể: “Không gian như có dây tơ,/ Bước đi sẽ đứt, động hờ sẽ tiêu” hoặc là “Con đường nhỏ nhỏ gió xiêu xiêu,/ Lả lả cành hoang nắng trở chiều”… Một nỗi nhớ vô hình được hiện hình

rõ nét: Vầng trăng ai xẻ làm đôi, Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường (Nguyễn Du)

- Ngôn từ có thể đưa con người thâm nhập vào bể sâu của thế giới bằng cách sử dụng những chuyển đổi, tương thông cảm giác Lí Thương Ẩn viết Tiếng hát như

châu ngọc, ý nói âm thanh đẹp đẽ, trong vắt, tròn trịa, sáng láng, tạo thành những ấntượng thính giác kèm thị giác Thanh Thảo, trong trường ca “ Những người đi tới

Trang 32

biển”, đã sử dụng ngôn từ chuyển đổi cảm giác rất nhiều như để diễn tả trạng thái choáng ngợp về những vẽ đẹp phong phú, tinh vi của cuộc đời: “Gió chướng xanh đến nỗi mình ngộp thở’, “Hoa phượng vĩ chói lọi tiếng kèn đồng mùa hạ”, “Một tiếng chim bên đường trong veo giọt nước” Bằng ngôn từ, cái hư, cái vô hình giúp diễn tả cái thật một cách hữu hiệu Hình tượng văn học có khi không hiện lên một cách trực tiếp mà gián tiếp thông qua những liên tưởng, ví von, ẩn dụ, tượng

trưng… Trong các kết cấu ẩn dụ: “Gìn vàng giữ ngọc cho hay,/ Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời” (Nguyễn Du), “Thuyền về có nhớ bến chăng,/ Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền” ( ca dao), ý nghĩa của hình tượng được tạo nên bởi các quan hệ trong các sự vật được miêu tả Thậm chí, nhiều khi chỉ thông qua miêu tả những động tác gián tiếp, điều cần miêu tả cũng hiện lên rõ rệt Bức chân dung Thúy Kiều, theo nhiều nhận định, đó là một bức chân dung rất đổi hư ảo, thiếu tính trực tiếp: “Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh” Các đoạn tả phong cảnh, chân dung, sắc đẹp, tiếng hát, tiếng đàn… trong văn học thường được miêu tả theo kiểu đó

2.2 Thời gian và không gian trong văn học

- Không gian và thời gian là phương thức tồn tại của bản thân hình tượng Đặc thù gián tiếp của hình tượng văn học đã đưa đến chỗ mạnh của việc sử dụng hai phươngthức này

- So với các loại hình nghệ thuật khác, văn học thuộc loại hình nghệ thuật thời gian Trong tác phẩm văn học, hình tượng cứ hiện lên dần theo thời gian Việt Bắc, quê hương của cách mạng hiện dần lên qua hình ảnh thiên nhiên bốn mùa, con người miền núi, sinh hoạt chiến khu Bên cạnh đó, cảm xúc của con người sắp xa Việt Bắccũng trải dài với nhiều cung bậc: bâng khuâng, bồn chồn, nhớ nhung, yêu thương,

tự hào, tin tưởng, thề thốt, hẹn hò (Việt Bắc - Tố Hữu) Cũng chính vì thế, văn học

có khả năng thể hiện các quá trình đời sống một cách linh hoạt

- Thời gian trong văn học có những nhịp điệu, sắc độ riêng để phản ánh hiện thực Văn học có thể kéo dài thời gian bằng cách miêu tả rất tỉ mỉ mọi diễn biến tâm trạng, mọi diễn biến hành động của nhân vật của các sự kiện Trong một ngày trên con đường đưa bạn mình về nơi yên nghỉ cuối cùng, nhân vật Eđigây đã nghĩ về cả cuộc đời mình và bạn trong cơn bão táp của lịch sử nước Nga Cái ngày đó Eđigây cảm thấy dài bằng cả trăm năm (Aimatốp - Và một ngày dài hơn thế kỉ). 

- Ngược lại, nhà văn có thể làm cho thời gian trôi nhanh đi một cách dồn nén làm cho khoảng một thời gian dài chỉ qua một dòng trần thuật ngắn Ví dụ trong Truyện Kiều khi tả cảnh mùa hè đã qua mùa thu đã tới Nguyễn Du chỉ mô tả bằng câu thơ

có sáu chữ: “Sen tàn, cúc lại nở hoa” Trong bài thơ Mẹ Tơm, nhà thơ Tố Hữu thể hiện tâm trạng của mình trước sự thay đổi lớn lao đến ngỡ ngàng sau 19 năm xa cách quê người mẹ anh hùng bằng những dòng thơ ngắn gọn:  Nhà ai ngói mới tường vôi trắng, Thơm phức mùi tôm nặng mấy nong, Ngồn ngộn sân phơi khoai dát nắng, Giếng vườn ai vậy nước khơi trong

2.2 Những đặc điểm của văn học với tư cách nghệ thuật ngôn từ 

Trang 33

- Thời gian trong văn học có thể trôi nhanh hay chậm, yên ả, đều đều hay thay đổi một cách đột ngột, gấp gáp, đầy biến động, có thể có những liên hệ giữa quá khứ, hiện tại, tương lai Thời gian có thể được trần thuật cùng chiều với thời gian tự nhiên, nhưng cũng có thể đi ngược từ hiện tại trở về quá khứ, như thời gian hồi tưởng trong “Đi tìm thời gian đã mất” (M Proust), “Người tình” (M Duras), “Nỗi buồn chiến tranh” (Bảo Ninh) Các lớp thời gian có khi đan bện, xoắn xít với nhau Cũng có lúc giữa quá khứ và hiện tại, tương lai có mối liên hệ thời gian, cùng đồng hiện trong một thời điểm Trong đoạn Thúy Kiều trao duyên, giữa thời điểm hiện tại, Thúy Kiều tự nhìn thấy mình trong tương lai một tương lai không còn là người sống nữa, mà chỉ là hồn ma đang ở chín suối, đang theo gió đi về Đấy là sự đồng hiện thời gian.

- Thời gian vật lý trôi qua tuần tự theo các mùa, thời tiết: Sen tàn cúc lại nở hoa Thời gian tâm lý lúc nhanh lúc chậm tùy thuộc vào trạng thái tâm hồn và cuộc sống đặc thù của nhân vật: Sầu đong càng lắc càng đầy Ba thu dồn lại một ngày dài ghê Điều đó tạo nên sự vận động và tính quá trình đa dạng của hình tượng văn học mà các loại hình nghệ thuật khác khó đạt đến được

- Chính nhờ ngôn từ mà hình tượng văn học có những hình thức thời gian đặc biệt

để văn học có thể chiếm lĩnh đời sống trên một tầng sâu rộng mà hội họa và điêu khắc khó bề đạt được Không gian trong văn học cũng có những nét đặc thù Khônggian chính là môi trường tồn tại của con người: dòng sông, cánh đồng, ngọn núi, đèo xa, biển cả… Với mỗi không gian tồn tại, con người có một phong thái sống riêng biệt Sự đối lập không gian biển cả và con người đã khẳng định nhận khát vọng chinh phục tự nhiên bền bỉ, mãnh liệt của con người (Ông già và biển cả - Hemingway) Bên cạnh đó, không gian còn là nơi xác định chiều kích tâm hồn người Với những con người có cuộc sống mòn đi, mục ra, gỉ đi, không có lối thoát thì không gian sống chỉ là những căn nhà không có cửa sổ (Sống mòn - Nam Cao) Còn đối với con người có một tầm vóc tinh thần lớn lao thì không gian diễn đạt thế giới tinh thần cũng phù hợp Khi nhà thơ Tố Hữu so sánh bác Hồ với một loạt các hình ảnh: đỉnh non cao, dòng sông chảy nặng phù sa, trời xanh, biển rộng, ruộng đồng, nước non, hồn muôn trượng… ta có thể thấy chiều cao, chiều rộng của thế giới tinh thần lãnh tụ Đó chính là những giới hạn khác của không gian, như không gian lịch sử, không gian tâm tưởng, không gian tinh thần…

- Trong điêu khắc cũng như hội họa, không gian được người nghệ sĩ miêu tả là không gian tĩnh, còn không gian trong văn học là một không gian có sự vận động, biến đổi Trong bài thơ “Mẹ Tơm” của Tố Hữu ta được chứng kiến một không gian sống động: “Tôi lại về quê mẹ nuôi xưa,/ Một buổi trưa nắng dài bãi cát,/ Gió lộng xôn xao sóng biển đu đưa,/ Mát rượi lòng ta ngân nga tiếng hát” Hoặc con mắt của nhà văn có thể dễ dàng đưa người đọc di chuyển từ không gian này sang không giankhác Đọc câu thơ: “Khi sao phong gấm rủ là,/ Giờ sao tan tác như hoa giữa đường”trong “Truyện Kiều” - tác giả đã cho thấy hai đoạn đời khác biệt giữa dội của Thúy Kiều Trong “Dế mèn phiêu lưu kí” của Tô Hoài, không gian di chuyển của dế mèn thật linh hoạt Không gian trong văn học không hề bị một giới hạn nào Trong loại văn học kỳ ảo, con người có thể đi từ thế giới này sang thế giới khác một cách dễ

Trang 34

dàng Đặc sắc này làm cho văn học phản ánh đời sống trong sự toàn vẹn, đầy đặn của nó.

- Một đặc điểm nổi bật của thời gian và không gian văn học là tính quan niệm của chúng Bởi lẽ, không gian thời gian không chỉ là môi trường, là quá trình tồn tại củanhân vật mà còn là sự cảm nhận của chính chủ thể hoạt động ấy về thế giới thời gian trong truyện cổ tích luôn mang tính khép kín: tính cách con người bất biến, người ta có thể chỉ mãi không già, thời gian không làm ảnh hưởng tới hạnh phúc màcon người đạt được Với thơ cổ điển, thời gian mang tính tuần hoàn, vĩnh viễn Trong “Vợ Chồng A Phủ” nhà văn Tô Hoài đã miêu tả cuộc sống của Mị từ khi bắt

về nhà thống Lý Bá Trạc là cuộc sống của một kẻ nô lệ cuộc sống ấy gắn liền với căn buồng tăm tối chật hẹp, tù túng Còn để diễn tả cảnh mùa thu mới - mùa thu đất nước đã giành được độc lập dân, tộc ta đã được sống cuộc sống tự do, nhà thơ Nguyễn Đình Thi dựng lên một không gian rộng lớn, khoáng đạt, đa chiều:

“Mùa thu này khác rồiTôi đứng vui nghe giữa núi đồiGió thổi rừng tre phấp phớiMùa thu thay áo mớiTrong biếc nói cười thiết thaTrời xanh đây là của chúng taNúi rừng Đây là của chúng taNhững cánh đồng thơm ngátNhững ngả đường bát ngátNhững dòng sông đỏ rực phù sa…”

- Tóm lại, không gian và thời gian trong văn học rất tiêu biểu cho khả năng chiếm lĩnh đời sống vừa rộng, vừa sâu về nhiều mặt của nghệ thuật ngôn từ

2.3 Khả năng phản ánh ngôn ngữ và tư tưởng của hình tượng văn học

      Điểm độc đáo nhất của văn học, khắc hẳn các ngành nghệ thuật khác, là ở chỗ

nó phản ánh được mọi hoạt động ngôn từ của con người Con người trong văn học

là người biết nói năng, suy nghĩ bằng ngôn từ Người ta cho rằng: ngôn từ chẳngnhững là phương tiện miêu tả, mà còn là đối tượng miêu tả của văn học Hoạt độnglời nói, suy nghĩ một mặt cơ bản của đời sống xã hội con người Qua văn học ta cóthể nghe tiếng nói của mọi tầng lớp người ở các thời đại khác nhau

      Văn bản trong tác phẩm văn học gồm nhiều lời nói: ngôn từ trần thuật, người

kể chuyện, nhân vật tự sự, nhân vật trữ tình Mỗi lời nói đề mang dấu ấn của mộtcon người với những tính cách riêng Đọc “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân, tabắt gặp lời của Huấn Cao nói với viên quản ngục khi ông ta đến thăm mình: “Ngườihỏi ta muốn gì? Ta chỉ muốn có một điều là nhà ngươi đừng đặt chân vào đây” Lờinói của nhân vật Huấn Cao đã góp phần thể hiện tính cách của một con người rấthiên ngang, bất khuất Trong “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng, khi nhân vật cố Hồng

Trang 35

mở miệng ra là “Khổ lắm, biết rồi, nói mãi!” người đọc hiểu được nét độc đáo trongtính cách của ông ta Khi văn học bắt đầu phân biệt ngôn từ của người kể chuyện vànhân vật, đó là dấu hiệu của sự phát triển về tư duy nghệ thuật Gắn liền với hoạtđộng lời nói là hoạt động tư duy Tư duy là gương mặt đích thực của con người.Các nghệ thuật không sử dụng ngôn từ, có thể tư duy về con người, nhưng khôngthể dựng lại con người đang tư duy Ví dụ Sở Khanh nói với Thúy Kiều: 

       “ Nàng đà biết đến ta chăng,

       Bể trầm luân lấp cho bằng mới thôi”

chính là lúc hắn khoác lác, lừa gạt sự nhẹ dạ của Thúy Kiều Dĩ nhiên văn học xưanay không chỉ tập trung miêu tả tư duy, nhưng phương diện này lại là một thế mạnhhiển nhiên của văn học Chỉ một bài “Tùng” cũng cho ta biết bao điều thầm kín củaNguyễn Trãi gửi gắm vào cây tùng Trong bài thơ “Kính gửi cụ Nguyễn Du”, khiđánh giá số phận của Thúy Kiều và cũng là cuộc đời của Nguyễn Du, nhà thơ TốHữu bày tỏ sự suy ngẫm của mình qua những lời thơ:

      “ Hỡi lòng tê tái thương yêu,

       Giữa dòng trong đục cánh bèo lênh đênh,

      Ngổn ngang bên nghĩa, bên tình

       Trời đêm đâu biết gửi mình nơi nao?

       Ngẩn ngơ trông ngọn cờ đào,

      Đành như thân gái sóng xao Tiền Đường”

Như vậy bằng hình tượng ngôn từ, các tác giả có thể khắc họa chân dung tư tưởngcủa mỗi con người

      Khác với các loại hình nghệ thuật khác, văn học có khả năng miêu tả tư tưởng

và các xung đột tư tưởng, nên tính tư tưởng của tác phẩm văn học sắc bén hơn.Không những văn học mang tính khuynh hướng tư tưởng rõ rệt mà còn có khả năngthâm nhập sâu xa vào dòng ý thức, dòng tình cảm của con người Nghệ thuật miêu

tả tâm lí của Tolstoy đạt đến trình độ pháp biện chứng tâm hồn chính vì đã miêu tảđược sự vận động tất yếu của dòng cảm xúc và ý nghĩa của nhân vật

      Nói về khả năng của văn học trong việc phản ánh một cuộc sống, Hegel cho rằng văn học là: Nghệ thuật có khả năng diễn đạt và phát biểu bất cứ nội dung nào dưới bất cứ hình thức nào Điểm mạnh của văn học so với các loại hình nghệ thuật khác là ở chỗ, văn học có thể phản ánh được mọi phương diện của đời sống, vừa quy mô, rộng lớn, vừa cụ thể, cá biệt Chính vì vậy, Gogol đã từng nói: “Dân ca Nga – đó là lịch sử tâm hồn Nga” Còn theo Belinsky, Eugene Onegin (Puskin) là

bộ Bách khoa toàn thư của cuộc sống Nga Như vậy có thể khẳng khẳng định rằng, văn học là loại hình nghệ thuật hữu hiệu và mang tính vạn năng nhất trong việc thể hiện đời sống.     

Chức năng văn học:

Trang 36

     Văn nghệ là nhu cầu đã có từ lâu của đời sống nhân loại Chính từ nhu cầu đờisống tinh thần mang ý nghĩa xã hội của mình mà con người sáng tạo và thưởng thứcvăn học Nó mang lại những chức năng có ý nghĩa xã hội rộng lớn bởi “chức năng

là sự biểu hiện ra bên ngoài đặc tính của một khách thể nào đó trong một hệ thốngcác quan hệ nhất định”

I Đa dạng và thống nhất trong chức năng văn học:

     Văn học là một hình thái ý thức xã hội.  Tác phẩm văn học là sản phẩm của cátính sáng tạo (biểu hiện về năng lực, trình độ, phẩm chất tinh thần của chủ thể,…).Viết văn, làm thơ là hành động của nhu cầu nhận thức, giao tiếp ứng xử đời sống vàsáng tạo tinh thần Văn học là biểu hiện cái quan hệ mang tính người của con ngườitrong quá trình chiếm lĩnh, đồng hoá hiện thực bên ngoài và bên trong nó dưới hìnhthức nghệ thuật ngôn từ Hệ thống quan hệ người ấy của cuộc sống nhân loại vôcùng phong phú, nhiều cung bậc, hình thái khó đo đếm hết bởi sự vận động khôngngừng, bất tận Chỉ riêng các mối quan hệ xã hội ấy và hệ quả của nó khi thành đốitượng nhận thức, phản ánh của văn học cũng đã tạo ra một hệ thống mà ở đó bộc lộnhững đặc tính thuộc”quy luật của tình cảm” xúc động lòng người

     Việc phân chia văn học thành nhiều chức năng riêng biệt chỉ có ý nghĩa tươngđối và mang tính lí thuyết của tư duy phân tích. 

      Tính đa chức năng của văn học là rõ ràng nhưng việc thống kê các chức năng cóthể có chưa làm rõ chức năng đặc thù của văn học, các chức năng ấy còn xuất hiện

ở các hình thái ý thức xã hội khác và có khi còn rõ nét hơn

       Không phủ định tính đa chức năng của văn học nhưng gần đây đang có xuhướng tìm một chức năng cơ bản cho văn học Xuất phát từ ý nghĩa khái quát sâu xanhất của nghệ thuật ngôn từ đối với đời sống con người( cả người sáng tạo và tiếpnhận)

      Văn học là hoạt động nhận thức và sáng tạo thẩm mĩ Nhận thức và sáng tạonghệ thuật trong đó có văn học là nhận thức, sáng tạo dưới ánh sáng của lí tưởngthẩm mĩ Cái thẩm mĩ tồn tại ở nhiều dạng cụ thể như cái đẹp, cái bi, cái hài, cái cao

cả, cái thấp hèn Vậy nên văn học là tiếng nói của tình cảm thẩm mĩ

      Vậy mối quan hệ của nó với các chức năng khác của văn học như thế nào?

Ở đây cần xem xét vấn đề từ quan điểm của hệ thống cấu trúc Hệ thống là một tậphợp, một tổng thể nhiều yếu tố có quan hệ biện chứng với nhau cấu thành một khốithống nhất, hoàn chỉnh nhất định Các yếu tố trong hệ thống có những liên hệ bêntrong, bên ngoài muôn hình muôn vẻ, có khả năng chuyển hoá lẫn nhau, và đều phảithể hiện đặc trưng chung của cả hệ thống

  II Văn học nghệ thuật là nơi nuôi dưỡng tình cảm của thẩm mĩ, gìn giữ và phát triển chất nghệ sĩ nơi tâm hồn, làm cho con người biết yêu quý, trân trọng cái tốt, cái đẹp, biết căm ghét cái xấu, cái ác Chính chỗ này văn học giúp con

Trang 37

người vươn đến cái đẹp, cái hoàn thiện, nhân đạo hoá con người, làm con người trở nên Người hơn.

Có rất nhiều tiêu chí phân biệt sự khác nhau giữa văn học và các môn khoa họckhác Nhưng có lẽ M Gorki đã từng nói rất đứng đặc thù của bộ môn: “Văn học lànhân học” Văn học là khoa học, khám phá thế giới tâm hồn, tính cách con người,văn học có chức năng riêng, biểu hiện trên ba mặt chính: nhận thức - giáo dục -thẩm mỹ. 

1 Chức năng nhận thức. 

 Văn học có chức năng khám phá những quy luật khách quan của đời sống xã hội vàđời sống tâm hồn của con người Nó có khả năng đáp ứng nhu cầu của con ngườimuốn hiểu biết về thế giới xung quanh và chính bản thân mình Không phải ngẫunhiên đã có người cho rằng: “Văn học là cuốn sách giáo khoa của đời sống” Chínhcuốn sách ấy đã thể hiện một cách tinh tế và sắc sảo từng đổi thay, từng bước vậnđộng của xã hội Nó tựa như “chiếc chìa khoá vàng mở ra muôn cánh cửa bí ẩn, đưacon người tới ngưỡng cửa mới của sự hiểu biết thế giới xung quanh” 

Nội dung nhận thức cơ bản nhất vẫn là đời sống tâm tư tình cảm và số phận conngười thông qua những bức tranh thiên nhiên, phong tục và lịch sử đó Gắn với đờisống con người là các vấn đề của đời sống vật chất và tinh thần con người: vấn đề

tự do, độc lập, khát vọng hạnh phúc, khẳng định cá tính, quyền lực, rồi chuyệnmiếng ăn, cái đói

Về ý nghĩa xã hội, văn học có khả năng dự cảm về tương lai xã hội, phát triển năng lực nhận thức thế giới của con người về chiều rộng, chiều sâu của những vấn đề đời sống, có khả năng trình bày tính tư tưởng của xã hội Lênin từng đánh

giá cao các tác phẩm của L Tônxtôi ở chỗ, ông đã vạch nên sự bất bình của hàngtriệu con người Nga đối với chế độ Sa hoàng, tiến tới nhu cầu cần phải xây dựngmột xã hội mới, nhân đạo hơn, có khả năng mưu cầu hạnh phúc cho mọi người Chonên có người cho rằng, văn học có chức năng dự báo, đặc biệt vào thời kì có nhữngbiến động lịch sử lớn, vì lí do đó

+Nhận thức cái khái quát qua cái cụ thể, cái mới lạ trong cái quen thuộc, làm chocon người có khả năng tự nhận thức

Mục đích cuối cùng của nhận thức là hướng tới những khái quát lớn, khám phá bảnchất, quy luật của các hiện tượng Tác phẩm chân chính mỗi thời đại phải đặt ranhững vấn đề cơ bản của thời đại mình Lênin nói, nếu trước chúng ta là một nghệ

sĩ thực sự vĩ đại, thì chí ít anh ta phải phản ánh trong tác phẩm của mình, ít ra là vài

ba khía cạnh chủ yếu của cách mạng (nghĩa là, nghệ sĩ đó phải đề cập đến được ítnhiều những vấn đề lớn của xã hội, của dân tộc) Do phản ánh được bản chất và quyluật của đời sống hiện thực

Những câu thơ của Thanh Thảo đã khái quát được niềm tin và lí lẽ giản dị mà cao

cả của người lính thời chống Mĩ: Chúng tôi đã đi không tiếc đời mình, (Nhưng tuổihai mươi làm sao không tiếc), Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi Tổquốc! Nhận thức khái quát chính là tri thức cơ bản con người cần đạt tới trong tiếntrình tiếp nhận văn học

Trang 38

2 Chức năng giáo dục. 

Nghệ thuật là hình thái đặc trưng, hình thành từ những tìm tòi, khám phá của người

nghệ sĩ về hiện thực đời sống Nghệ thuật mang đến cái nhìn toàn diện và đầy đủ hơn về xã hội, thể hiện những quan điểm của người nghệ sĩ, từ đó tác động mạnh mẽ đến nhận thức, tình cảm, cảm xúc của người tiếp nhận Chính vì vậy,

nghệ thuật luôn ẩn chứa sứ mệnh cao cả và thiêng liêng, góp phần làm đẹp cho cuộcđời Tố Hữu đã từng phát biểu: “Nghệ thuật là câu trả lời đầy thẩm mĩ cho conngười; thay đổi, cải thiện thế giới tinh thần của con người, nâng con người lên”.Còn Nguyên Ngọc thì khẳng định: “Nghệ thuật là sự vươn tới, sự hướng về, sự níugiữ mãi mãi tính người cho con người” 

+ Khêu gợi tư tưởng tình cảm, nuôi dưỡng tâm hồn

Chức năng giáo dục là chức năng giúp xây dựng một thái độ, một tình cảm nhấtđịnh đối với cuộc sống

Tác phẩm văn học bao giờ cũng phản ánh hiện thực trong tính khuynh hướng

tư tưởng và tình cảm, bao giờ cũng toát lên nhiệt tình khẳng định hay phủ định, khát khao nhìn thấy lẽ phải, chân lí ở đời được thực hiện, cho nên văn học còn thức tỉnh con người lương tri, dạy biết yêu, biết căm giận, biết chia sẻ, xót thương Nghĩa là văn học có tác động tích cực tới đời sống tư tưởng, tình cảm con người. 

Văn học giúp hình thành thế giới quan và các quan điểm chính trị, xã hội Đã từng

có cả một thế hệ thanh niên Việt Nam thời Pháp thuộc và cả thời Mĩ ngụy sau nàysay sưa truyền tay, chép bí mật những bài thơ của Tố Hữu, coi đó là sự hướng tới lítưởng giải phóng dân tộc Nhiều chiến sĩ thời kì chống Mĩ ra trận mang trong ba lônhững cuốn sách như Ruồi Trâu, Thép đã tôi thế đấy, Chiến tranh và hòa bình, bởinhững lí tưởng cao cả của các nhân vật trong đó sẽ giúp những người chiến sĩ đósống kiên cường hơn trong những thử thách khốc liệt của chiến tranh

 Văn học còn góp phần hình thành những quan điểm đạo đức Mọi vẻ đẹp rực rỡnhất của văn học nhân loại đều tập trung vào những phẩm chất cao quý của cácnhân vật Từ các hình tượng như con cò trong ca dao, chàng Thạch Sanh, cô Tấmtrong truyện cổ tích, Thúy Kiều, Kiều Nguyệt Nga đến hình tượng chị Sứ, mẹ Suốt,

mẹ Tơm, anh giải phóng quân trong thơ văn hiện đại, những hình tượng đó ảnhhưởng mạnh mẽ tới quan niệm đạo đức của các thế hệ người Việt Nam

Khả năng hướng thiện của văn học chủ yếu thể hiện ở sức mạnh tác động tới tìnhcảm, tâm hồn của con người, ở khả năng khơi gợi những tình cảm đạo đức Tônxtôi

đã nói, nghệ thuật có khả năng làm lây lan tình cảm và cùng thể nghiệm chúng.Luận điểm của Tônxtôi nhấn mạnh văn học không chỉ kể và tả lại sự việc mà cònlôi cuốn con người vào mạch tình cảm đó, làm cho họ không thể dửng dưng Nhữnggiọt nước mắt xúc động, thương cảm, đau đớn cùng với nhân vật, với những câuchuyện cổ tích của Anđécxen như Bầy chim thiên nga, Cô bé bán diêm chính ở chỗnày là cơ sở để nuôi dưỡng lòng nhân ái. 

Trang 39

Những tác phẩm văn học ưu tú luôn khơi dậy khả năng đồng cảm, làm cho conngười biết vui buồn trước những nỗi buồn vui của đời người Văn học dạy ta biếtyêu biết ghét, biết khinh bỉ sự phản trắc, cái tẹp nhẹp, tầm thường, cái lười biếng,độc ác gian tham Văn học khơi dậy niềm tin vào sự tất thắng của cái thiện, niềm tinvào cuộc sống, vào tương lai, dạy cho người ta biết xả thân vì nghĩa lớn, khát khaođóng góp cho cuộc sống ngày càng đẹp hơn

+Giúp con người tự hoàn thiện nhân cách

Văn học giúp tác động, cải tạo phẩm chất người (đạo đức, cách ứng xử, suy nghĩphù hợp với lẽ phải, với tình thương, lòng nhân ái, làm cho con người hiểu nhau,sống tốt hơn, có ý nghĩa hơn, hướng tới sự hoàn thiện Văn học giúp con ngườithanh lọc tình cảm, biết thế nào là đẹp đẽ, cao thượng  

3 Chức năng thẩm mĩ.

 Là những giá trị hướng tới cái đẹp Sáng tạo cái đẹp là một mục đích và nhu cầucủa con người trong nhiều lĩnh vực Nhưng đối với nghệ thuật và văn học, đây làyêu cầu tiên quyết, là chức năng quan trọng nhất Trong nghệ thuật, cái đẹp khôngchỉ nằm trong yếu tố hình thức mà còn trong các yếu tố nội dung.Văn học đem đếncho con người những cảm nhận chân thực, sâu sắc và tinh tế nhất

 Nghệ thuật sáng tạo trên nguyên tắc cái đẹp, vì thế không thể thoát khỏi quy luậtcủa cái đẹp.  Văn học luôn khai thác cái đẹp ở nhiều góc độ: thiên nhiên, đất nước,con người, con người, dân tộc Giá trị thẩm mĩ của tác phẩm ẩn chứa cả nội dung vàhình thức nghệ thuật Nó đem đến cho người đọc cảm nhận, rung cảm về những nétđẹp giản dị, gần gũi ở cả cuộc đời thường lẫn những nét đẹp tượng trưng, mới lạ.Cách thức xây dựng ngôn từ của mỗi nhà văn, nhà thơ cũng đem lại nét đẹp cho tácphẩm Ta vẫn yêu biết bao cái sắc Huế trong những vần thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” củaHàn Mặc Tử:  

“Sao anh không về chơi thôn VĩNhìn nắng hàng cau nắng mới lênVườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền”

 Câu thơ mở đầu hầu hết là thanh bằng, gợi âm điệu ngọt ngào của giọng người xứHuế Phải chăng đó là lời thăm hỏi, lời mời trách dịu dàng, tha thiết của người xưađang vang trong trí tưởng tượng của thi nhân? Hay đây là lời thi nhân đang tự nhủ,

tự nói với chính mình trong giây phút nhớ thương về quá khứ, về miền đất đẹp đẽbình yên có người xưa? Chẳng biết Chỉ biết rằng sau lời mời trách ấy, tâm hồn đauthương và cô đơn của thi sĩ hồi sinh, thi sĩ đã sống trong một trời cảm xúc với baonhiêu kỉ niệm về thôn Vĩ Cảnh đất trời xứ Huế đã hiện ra thật đẹp, rất thơ, rất thực,tràn đầy sức sống với khu vườn xanh mát đang tắm mình trong khoảnh khắc củahừng đông Ánh nắng ban mai tinh khôi, trong trẻo như đang tỏa hương chan hòakhắp thôn Vĩ Cảnh vật gần gũi, giản dị, mộc mạc đơn sơ như chính gương mặtngười xứ Huế “lá trúc che ngang mặt chữ điền” Vẻ đẹp của con người và thiên

Trang 40

nhiên với bao đường nét kỳ thú như vậy đã trở thành một đặc trưng cho những cảmhứng của thơ ca lãng mạn đầu thế kỷ XX.  

Ngoài ba chức năng chính như trên, trong văn học còn nói đến các chức năng sau:chức năng giải trí, chức năng dự báo( khả năng dự báo các vấn đề của hiện thực đờisống được nhà văn nhìn thấy trước và đặt vào trong tác phẩm), chức năng giao tiếp(đối thoại, trò chuyện với bạn đọc),

→ Đây là chức năng quan trọng nhất

III Đối sánh với các loại hình nghệ thuật nghe nhìn về mặt chức năng:  

Chức năng của văn học được xét trong sự thống nhất chung nghệ thuật với tư cách

là một loại hình thái ý thức xã hội Nhưng với tư cách riêng nghệ thuật ngôn từ, chức năng của văn học có đặc điểm gì so với các loại hình nghệ thuật khác? Phải thừa nhận trong thời đại công nghiệp và hậu công nghiệp với nhịp sống siêu tốc, văn học có khía cạnh tỏ ra không đáp ứng trọn vẹn Là nghệ thuật của ngôn từ, văn học là loại hình nghệ thuật duy nhất mà chất liệu chỉ là kí hiệu của vật chất chứ không phải bản thân vật chất Hình tượng mà nó xây dựng nên không thể trực quan,nghe nhìn ngay được, tất nhiên cuối cùng vẫn nghe nhìn được, nhưng phải qua đầu

óc tưởng tượng và tác dụng truyền cảm trực tiếp bị hạn chế là vì thế Trái lại, các nghệ thuật khác đều là nghe nhìn( hoặc nghe, hoặc nhìn, đồng thời nghe nhìn) Nói chung chất liệu của các ngành này đều là vật chất với những trạng thái của nó, cho nên sản phẩm có thể nghe nhìn tức thì, chưa qua óc tưởng tượng Đọc tác phẩm văn học phải thật tập trung, còn thưởng thức nghệ thuật nghe nhìn có thể kết hợp với việc khác ở một mức độ nào đó Nhưng vì thế mà cho rằng văn học lép vế thì qua nông nổi Chỗ yếu trên lại được đổi bằng rất nhiều chỗ “mạnh” mà chất liệu của cácngành nghệ thuật khác không có hoặc khó có thể trọn vẹn Chính vì ngôn ngữ hay ngôn từ chỉ kí hiệu, cho nên nó mới trở thành “cái vỏ vật chất của tư duy”(Mác), vì thế nên văn học thì mang tính tư duy-trực tiếp còn các nghệ thuật khác thì tư duy -gián tiếp Văn học có ưu thế hơn trong việc bộc lộ tình cảm, tư tưởng, suy tư, chiêmnghiệm Nói một cách khác và trên một và trên một ý nghĩa nhất định, tác dụng của giáo dục là và nhận thức của văn học tỏ ra khả năng mạnh mẽ và sâu sắc hơn Văn học có vai trò mãi mãi không thể thay thế trong gia đình nghệ thuật Tóm lại trong thời đại khoa học phát triển mạnh mẽ, văn học vẫn tiếp tục phát huy những mặt mạnh, song song với việc hấp thụ theo cách của mình đối với những chỗ mạnh của nghệ thuật nghe nhìn

NHÓM 2:

* LƯU Ý:

- Phần chữ đen: Phần nội dung chính.

- Phần chữ đỏ: Phần thuyết trình bổ sung.

Ngày đăng: 14/08/2022, 15:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w