Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi là một nội dung quan trọng trong cơ chếphân cấp quản lý ngân sách nhà nước, nhằm quản lý thống nhất hệ thống NSNNbằn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TÀI CHÍNH
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
NGUYỄN VIẾT NHÃN
PHÂN CẤP NGUỒN THU, NHIỆM VỤ CHI NSNN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số : 60.34.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Trọng Thản
ĐÀ NẴNG – 2013
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn
NGUYỄN VIẾT NHÃN
Trang 3MỤC LỤC
Chương 1 : LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÂN SÁCH NHÀ
NƯỚC VÀ PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
4
1.1.4 Những nguyên tắc cơ bản trong quản lý ngân sách nhà nước 7
1.2.1 Khái niệm về phân cấp quản lý ngân sách nhà nước 10
1.2.3 Vai trò của phân cấp quản lý ngân sách nhà nước 111.2.4 Nguyên tắc cơ bản trong phân cấp quản lý NSNN 121.2.5 Nội dung phân cấp quản lý ngân sách nhà nước 151.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI
PHÂN CẤP QUẢN LÝ NSNN
20
1.3.1 Nhân tố ảnh hưởng đến cơ chế phân cấp quản lý NSNN 201.3.2 Sự cần thiết phải phân cấp quản lý NSNN 22
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÂN CẤP NGUỒN THU, NHIỆM
VỤ CHI NSNN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
TRONG THỜI GIAN QUA
2.2 THỰC TRẠNG PHÂN CẤP NGUỒN THU, NHIỆM VỤ CHI
NSNN TRÊN ĐỊA BÀN TP ĐÀ NẴNG THỜI GIAN QUA
32
Chương 3 : GIẢI PHÁP CƠ BẢN HOÀN THIỆN CƠ CHẾ
PHÂN CẤP NGUỒN THU, NHIỆM VỤ CHI NSNN TRÊN
Trang 43.1.1 Quan điểm phát triển 55
3.2 MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM HOÀN THIỆN CƠ CHẾ PHÂN CẤP
NGUỒN THU, NHIỆM VỤ CHI NSNN Ở TP ĐÀ NẴNG
56
3.3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ PHÂN CẤP NGUỒN THU
NHIỆM VỤ CHI NSNN TRÊN ĐỊA BÀN TP ĐÀ NẴNG
3.3.4 Các điều kiện thực hiện nhằm hoàn thiện cơ chế phân cấp nguồn
thu, nhiệm vụ chi NSNN trên địa bàn thành phố Đà Nẵng giai
Trang 5DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ATGT : An toàn giao thông
BHXH : Bảo hiểm xã hội
BHYT : Bảo hiểm y tế
BVHTT : Bộ Văn hóa – Thông tin
FDI : Vốn đầu trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment) GDP : Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Products) HĐND : Hội đồng nhân dân
KPCĐ : Kinh phí công đoàn
NSNN : Ngân sách Nhà nước
NSĐP : Ngân sách địa phương
NSTW : Ngân sách trung ương
UBND : Ủy ban nhân dân
UBTWMTTQ : Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
1 Bảng 2.1 Tổng hợp số thu ngân sách nhà nước theo từng cấp 27
2 Bảng 2.2 Tổng hợp số thu ngân sách nhà nước theo từng lĩnh vực 29
3 Bảng 2.3 Tỷ lệ huy động GDP vào NSNN trên địa bàn thành phố 31
4 Bảng 2.4 Cơ cấu nguồn thu NSNN ở thành phố Đà Nẵng 31
5 Bảng 2.5 Tổng hợp thu NSNN trên địa bàn TP Đà Nẵng 2004-2006 40
6 Bảng 2.6 Tỷ trọng thu ngân sách các cấp giai đoạn 2004-2006 40
7 Bảng 2.7 Tỷ trọng thu ngân sách các cấp giai đoạn 2004-2006 41
8 Bảng 2.8 Tỷ trọng chi ngân sách các cấp thời kỳ 2004-2006 42
9 Bảng 2.9 Tổng hợp thu NSNN trên địa bàn TP Đà Nẵng 2004-2006 46
10 Bảng 2.10 Tỷ trọng thu ngân sách các cấp giai đoạn 2009-2011 47
11 Bảng 2.11 Tỷ trọng chi ngân sách các cấp giai đoạn 2009-2011 48
12 Bảng 3.1 Định mức phân bổ Ngân sách cấp phường/xã 71
13 Bảng 3.2 Định mức phân bổ chi sự nghiệp đào tạo và dạy nghề 72
14 Bảng 3.3 Định mức phân bổ ngân sách cấp quận, huyện 75
15 Bảng 3.4 Định mức phân bổ ngân sách cấp phường, xã 75
16 Bảng 3.5 Định mức phân bổ ngân sách cấp quận, huyện 76
17 Bảng 3.6 Định mức phân bổ ngân sách cấp phường, xã 76
18 Bảng 3.7 Định mức phân bổ ngân sách cấp quận, huyện 77
19 Bảng 3.8 Định mức phân bổ ngân sách cấp phường, xã 77
20 Bảng 3.9 Định mức phân bổ ngân sách cấp quận, huyện 78
21 Bảng 3.10 Định mức phân bổ ngân sách cấp phường, xã 78
22 Bảng 3.11 Định mức phân bổ chi quản lý hành chính 79
23 Bảng 3.12 Định mức phân bổ ngân sách theo tiêu chí dân số cấp quận/huyện 83
24 Bảng 3.13 Định mức phân bổ ngân sách theo tiêu chí dân số cấp xã/phường 83
25 Bảng 3.14 Định mức phân bổ ngân sách theo tiêu chí dân số cấp quận/huyện 84
26 Bảng 3.15 Định mức phân bổ ngân sách theo tiêu chí dân số cấp xã/phường 85
27 Bảng 3.16 Định mức phân bổ chi sự nghiệp kinh tế cấp quận, huyện 86
28 Bảng 3.17 Định mức phân bổ chi sự nghiệp môi trường cấp quận, huyện 86
DANH MỤC CÁC HÌNH
1 Hình 1.1 Sơ đồ hệ thống Ngân sách Nhà nước 9
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi là một nội dung quan trọng trong cơ chếphân cấp quản lý ngân sách nhà nước, nhằm quản lý thống nhất hệ thống NSNNbằng việc phân công trách nhiệm gắn với quyền hạn, phân cấp quản lý giữa cácngành, các cấp trong việc thực hiện thu, chi NSNN phục vụ mục tiêu phát triển kinh
tế - xã hội của địa phương
Phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi là yêu cầu khách quan, bởi mỗi quốc giađều có những vùng lãnh thổ khác nhau, mỗi địa phương đều có từng vùng miềnkhác khau Việc phân chia dân cư theo đơn vị hành chính, lãnh thổ, vùng miền, hìnhthành các cấp hành chính là đặc trưng của Nhà nước Do đó, để góp phần thúc đẩykinh tế - xã hội địa phương phát triển, cần thiết phải phân cấp quản lý NSNN, phâncấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách ở địa phương, là giải pháp quantrọng vừa động viên được các nguồn thu tiềm tàng, vừa tạo cơ chế để các nguồn tàichính được sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu thực hiện chức năng nhiệm
vụ của Nhà nước, vừa tạo quyền tự chủ cho các cấp chính quyền địa phương.Nguồn thu ngân sách là có hạn, trong khi nhu cầu chi tiêu thì lớn, do vậy phân cấpquản lý ngân sách đòi hỏi phải thực hiện đúng theo các quy định của pháp luật vềNSNN
Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy cơ chế phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi ngânsách của thành phố Đà Nẵng hiện nay vẫn bộc lộ những mặt hạn chế cần được khắcphục Một số khoản thu phần lớn điều tiết cho cấp xã hưởng nhưng cấp xã chưaphát huy hết việc khai thác triệt để nguồn thu trên địa bàn, dẫn đến thất thu Một sốnhiệm vụ chi chưa được phân cấp đồng bộ….Mặt khác do chế độ chính sách thungân sách thay đổi, một số nguồn thu của cấp huyện, cấp xã giảm đã ảnh hưởng đếncân đối các khoản chi của cấp huyện, cấp xã Để góp phần giải quyết những hạn
chế, tồn tại nêu trên, tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài "Phân cấp nguồn thu, nhiệm
vụ chi NSNN trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, thực trạng và giải pháp" cho
Luận văn Thạc sỹ của mình, với mong muốn tìm những định hướng, giải pháp thíchhợp trong phân cấp quản lý NSNN, góp phần vào sự phát triển của nền tài chính
Trang 8quốc gia và thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương trong thời kỳ hộinhập kinh tế quốc tế.
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Hệ thống hoá vấn đề lý luận về NSNN Thông qua việc phân tích đánh giáthực trạng phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi trên địa bàn thành phố Đà Nẵng để rút
ra những thành công, tồn tại và làm rõ nguyên nhân Mục đích nghiên cứu của đề tài
là đề xuất quan điểm, các giải pháp nhằm xây dựng khung lý luận cơ bản, cần thiết
về phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của địaphương, đáp ứng yêu cầu của quản lý NSNN trong quá trình hội nhập kinh tế quốc
tế, thúc đẩy cải cách hành chính công, tạo điều kiện thu hút đầu tư, nâng cao hiệuquả sử dụng vốn NSNN, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế -
xã hội theo Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Đà Nẵng lần thứ XVII,nhiệm kỳ 2010- 2015 đã đề ra
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và cơ chế, chínhsách, luật pháp cũng như thực tiễn có liên quan đến phân cấp nguồn thu, nhiệm vụchi NSNN của thành phố Đà Nẵng
Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung xem xét về phương thức, cơ chế, nộidung phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi cho các cấp ngân sách của thành phố ĐàNẵng từ khi tái lập thành phố năm 1997, đặc biệt là từ khi Luật NSNN sửa đổi (năm2002) có hiệu lực thi hành từ 2007 đến nay Các kiến nghị và giải pháp đề xuất hoànthiện cơ chế phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi thời kỳ ổn định ngân sách từ 2011đến năm 2015 và những năm tiếp theo
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Về ý nghĩa khoa học: Luận văn đã hệ thống hoá, phân tích và bổ sung nhận
thức, ý nghĩa, vai trò, nội dung của ngân sách nhà nước, bản chất của phân cấp quản
lý NSNN và những nhân tố ảnh hưởng Từ đó đề xuất các giải pháp, nguyên tắc cầnquán triệt trong quá trình hoạch định chính sách, phân cấp quản lý NSNN, đặc biệt
là các vấn đề liên quan đến phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa các cấp ngânsách ở địa phương
Trang 9Về ý nghĩa thực tiễn: Phân tích, đánh giá thực trạng cơ chế, chính sách hiện
hành trong phân cấp quản lý NSNN mà trọng tâm là cơ chế phân cấp nguồn thu,nhiệm vụ chi ở thành phố Đà Nẵng để làm sáng tỏ những ưu điểm, hạn chế, tồn tại,vướng mắc; nguyên nhân và rút ra bài học kinh nghiệm, từ đó đề xuất những giảipháp cụ thể với những bước đi thích hợp để hướng tới thực hiện cơ chế phân cấpnguồn thu, nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách ở địa phương trong thời kỳ đổimới, thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, phụ lục và tài liệu tham khảo, luậnvăn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về ngân sách nhà nước và phân cấp quản lý ngân
sách nhà nước
Chương 2: Thực trạng phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi NSNN trên địa bàn
thành phố Đà Nẵng trong thời gian qua
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện cơ chế phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi
NSNN trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Trang 10Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
VÀ PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1.1 Khái niệm về ngân sách nhà nước
Tài chính nhà nước là một phạm trù kinh tế- lịch sử, gắn liền với sự ra đờicủa nhà nước và nền kinh tế hàng hoá tiền tệ Nhà nước sử dụng quyền lực củamình tham gia vào quá trình phân phối sản phẩm xã hội dưới hình thức tiền tệ nhưthuế bằng tiền, vay nợ để phục vụ cho hoạt động của mình hình thành nên ngânsách nhà nước (NSNN), bộ phận quan trọng nhất của khu vực tài chính nhà nước.Tuy nhiên thuật ngữ "ngân sách nhà nước" chỉ thực sự xuất hiện khi nền sản xuất xãhội phát triển đến một giai đoạn nhất định Lúc này các khoản thu, chi của nhà nướcđược thể chế hoá bằng luật pháp, tách việc thực hiện quyền lập pháp về NSNNthuộc về Quốc hội và quyền hành pháp về NSNN giao cho Chính phủ điều hành
Khi nghiên cứu về NSNN cần được xem xét cả biểu hiện bên ngoài và thựcchất bên trong của nó:
Căn cứ vào biểu hiện bên ngoài thì NSNN là một bảng dự toán thu, chi bằngtiền của nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm hoặcmột số năm Hàng năm Chính phủ dự toán các khoản thu vào quỹ NSNN, đồng thời
dự toán các khoản chi cho sự nghiệp kinh tế, chính trị, an ninh, quốc phòng, quản lýhành chính từ quỹ NSNN và bảng dự toán này phải được Quốc hội phê chuẩn
Trong thực tiễn, hoạt động NSNN là hoạt động tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệcủa Nhà nước Trong quá trình phân phối tổng sản phẩm xã hội, nguồn tài chínhluôn vận động giữa một bên là Nhà nước một bên là các chủ thể kinh tế xã hội.Đằng sau các hoạt động đó chứa đựng các mối quan hệ giữa Nhà nước với các chủthể khác, thông qua việc tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước chuyểndịch của một bộ phận thu nhập bằng tiền của các chủ thể đó thành thu nhập của nhànước và Nhà nước chuyển dịch thu nhập đó đến các chủ thể được thụ hưởng để thựchiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước
Hoạt động NSNN là sự thể hiện các mặt hoạt động kinh tế - xã hội của Nhànước ở tầm vĩ mô Vai trò của NSNN trong hệ thống tài chính nói chung, cũng như
Trang 11trong khu vực tài chính nhà nước nói riêng, NSNN luôn giữ vị trí trọng yếu trongviệc đảm bảo cho sự tồn tại cũng như đối với các hoạt động của nhà nước
Tóm lại: Có thể hiểu một cách khái quát, NSNN xét ở thể tĩnh và hình thứcbiểu hiện bên ngoài là toàn bộ các khoản thu, chi bằng tiền của nhà nước đã được cơquan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một khoảng thờigian nhất định nào đó, phổ biến cho một năm hoặc một số năm để đảm bảo thựchiện các chức năng nhiệm vụ của nhà nước; Xét ở thể động và trong suốt một quátrình, NSNN là khâu cơ bản, chủ đạo của tài chính nhà nước, được nhà nước sửdụng để động viên phân phối một bộ phận nguồn lực xã hội dưới dạng tiền tệ về chonhà nước để đảm bảo điều kiện vật chất nhằm duy trì sự hoạt động bình thường của
bộ máy nhà nước và phục vụ thực hiện chức năng, nhiệm vụ kinh tế - xã hội mà nhànước phải gánh vác
Tại điều 1 Luật NSNN được Quốc hội khoá XI nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ hai, năm 2002 cũng khẳng định: “Ngân
sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”.
Với khái niệm trên, khi nói đến ngân sách nhà nước, người ta thường đề cập tới 3 đặc tính cơ bản:
+ Tính pháp lý: Được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thực hiện.+ Tính kinh tế: Phản ảnh các khoản thu và các khoản chi
+ Tính niên độ: Thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định
Xét về bên trong thì ngân sách nhà nước được đặc trưng bằng các mối quan
hệ kinh tế trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các nguồn tài chính quốcgia để phục vụ cho việc thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước
1.1.2 Đặc điểm của ngân sách nhà nước
Chúng ta có thể hiểu rõ hơn về NSNN thông qua các đặc điểm của nó, đó là:
- Các hoạt động tạo lập và sử dụng quỹ NSNN gắn chặt với quyền lực kinh
tế, chính trị của nhà nước và việc thực hiện các chức năng của nhà nước Nói mộtcách cụ thể hơn, quyền lực của nhà nước và các chức năng của nó là những nhân tốquyết định mức thu, mức chi, nội dung và cơ cấu thu chi của NSNN
Trang 12- Các hoạt động thu, chi NSNN đều được tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhấtđịnh Đó là các Luật thuế, các chế độ thu, chế độ, tiêu chuẩn định mức chi tiêu do Nhànước ban hành Việc dựa trên cơ sở pháp luật để tổ chức các hoạt động thu, chi củaNSNN là một yếu tố có tính khách quan, bắt nguồn từ phạm vi hoạt động của NSNNđược tiến hành trên mọi lĩnh vực và có tác động tới mọi chủ thể kinh tế, xã hội.
Nguồn tài chính chủ yếu hình thành nên NSNN, quỹ tiền tệ tập trung lớnnhất của nhà nước là từ giá trị sản phẩm thặng dư của xã hội và được hình thành chủyếu qua quá trình phân phối lại mà trong đó thuế là hình thức thu phổ biến
Sau các hoạt động thu, chi NSNN là việc xử lý các mối quan hệ kinh tế, quan hệlợi ích trong xã hội khi nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia
Xuất phát từ đặc điểm trên, ngân sách nhà nước nổi lên 2 đặc trưng cơ bản
đó là:
+ Một là, tính cưỡng chế, tức là các khoản thu có tính bắt buộc được quyđịnh bởi pháp luật (trừ các khoản thu ngoài thuế và phí), các khoản chi chịu sự giámsát của pháp luật
+ Hai là, tính không hoàn lại, tức là Nhà nước không mắc nợ khi thu vàkhông được hoàn trả khi chi (trừ các khoản ngân sách cho vay)
1.1.3 Chức năng của ngân sách nhà nước
Trong sự vận động và phát triển của đời sống kinh tế - xã hội, với những diễnbiến kinh tế, vai trò của nhà nước được thay đổi, thì chức năng của ngân sách nhànước cũng cần được nhìn nhận lại cho phù hợp với tình hình mới
Một là, cùng với các công cụ khác của Nhà nước, ngân sách nhà nước là một
công cụ ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chống lạm phát vàgiảm thất nghiệp
Hai là, chức năng phân bổ nguồn lực trong xã hội: Để tạo lập và sử dụng các
nguồn lực có hiệu quả, thông qua các biện pháp thu, chi và quản lý ngân sách nhànước, nhà nước thực hiện phân bổ nguồn lực vào những lĩnh vực địa bàn then chốt, cónhiều rủi ro, cần khuyến khích hoặc hạn chế phát triển; đồng thời có thể thu hút, lôi kéo
sự tham gia phân bổ nguồn lực của các thành phần kinh tế và khu vực tư nhân
Ba là, chức năng phân phối lại thu nhập trong xã hội: Nhà nước thực hiện
quá trình phân phối và phân phối lại thu nhập dưới hình thức tham gia trực tiếp hoặc
Trang 13gián tiếp nhằm hạn chế bớt sự phân hoá xã hội, sự bất bình đẳng về thu nhập đảmbảo sự công bằng hợp lý, làm cho nguồn thu nhập của xã hội được sử dụng mộtcách kịp thời hiệu quả Thông qua công cụ thuế và công cụ chi tiêu Nhà nước sẽthực hiện được các mục tiêu trên.
Bốn là, chức năng điều chỉnh kinh tế: Chính sách ngân sách nhà nước là một
bộ phận không thể tách rời của chính sách kinh tế - xã hội Khi nền kinh tế suy thoáingười ta thường khuyến cáo dùng chính sách tài khoá kích cầu bằng cách giảm thuếhoặc tăng chi tiêu công, từ đó làm tăng khối lượng sản xuất xã hội Khi nền kinh tếphát triển bình thường, trong điều kiện mở cửa thì chính sách tài khoá kích thích sẽtạo nên phản ứng dây chuyền: chính sách tài khoá kích thích nới lỏng với mục đíchtăng tổng cầu, mức lãi suất trong nước tăng, giá đồng nội tệ tăng, thuần xuất khẩugiảm, tổng cầu giảm Như vậy, trước mắt chính sách tài khoá có thể kích thích tổngcầu có tác động đến tăng trưởng kinh tế, nhưng về lâu dài lại kìm hãm chính quátrình tăng trưởng Đòi hỏi các nhà hoạch địch chính sách tài chính nói chung vàchính sách tài khoá nói riêng phải tính đến việc sử dụng công cụ ngân sách nhànước một cách thích hợp trong quá trình điều chỉnh nền kinh tế
Bốn chức năng nói trên có mối quan hệ rất gắn bó, phản ảnh được bản chất hoạtđộng của ngân sách nhà nước trong quá trình tạo lập, khai thác động viên, phân bổ, tổchức huy động các nguồn vốn cũng như tham gia kiểm soát, điều chỉnh kinh tế vĩ mô
1.1.4 Những nguyên tắc cơ bản trong quản lý ngân sách nhà nước
Để phát huy vai trò, chức năng của ngân sách nhà nước trong đời sống kinh
tế - xã hội, trên cơ sở nghiên cứu lý luận và các kinh nghiệm sử dụng công cụ ngânsách nhà nước ở nước ta, khái quát hoá kết quả nghiên cứu, khảo sát và đánh giáthực tiễn đã đưa ra một số nguyên tắc như sau:
Một là, Nguyên tắc thống nhất, tập trung dân chủ: Điều 6 Hiến pháp nước cộng
hoà XHCN Việt nam năm 1992 quy định: “Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các cơquan khác của Nhà nước đều tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ”
Hai là, Nguyên tắc công khai minh bạch: Công khai là để mọi người đều được
biết, Minh bạch là làm cho mọi việc trở nên rõ ràng, dễ hiểu Quản lý ngân sách phảicông khai minh bạch xuất phát từ đòi hỏi chính đáng của người dân với tư cách là ngườinộp thuế cho nhà nước Quy tắc chung về tính minh bạch gồm các nội dung chủ yếu là:
Trang 14- Ngân sách phải đảm bảo tính toàn diện Điều này có nghĩa là các hoạt độngtrong và ngoài ngân sách đều được phản ánh vào tài liệu trình cấp có thẩm quyềnxem xét quyết định.
- Đảm bảo tính khách quan độc lập Các cấp, các đơn vị dự toán, các tổ chức
cá nhân được NSNN hỗ trợ phải công khai dự toán và quyết toán ngân sách, Nộidung công khai theo các biểu mẫu quy định, thời gian công khai được quy định rõđối với từng cấp ngân sách
Ba là, Nguyên tắc đảm bảo trách nhiệm: Nhà nước phải đảm bảo trách nhiệm
trước nhân dân về toàn bộ quá trình quản lý ngân sách Chịu trách nhiệm hữu hiệubao gồm khả năng điều trần và gánh chịu hậu quả
Bốn là, Nguyên tắc đảm bảo cân đối NSNN: Cân đối NSNN ngoài sự cân bằng
về thu, chi còn là sự hài hoà hợp lý trong cơ cấu thu, chi giữa các khoản thu, chi; cáclĩnh vực, các ngành; các cấp chính quyền thậm chí ngay cả giữa các thế hệ (ví dụ: vaynợ) Đảm bảo cân đối ngân sách là một đòi hỏi khách quan xuất phát từ vai trò nhànước trong can thiệp vào nền kinh tế thị trường với mục tiêu ổn định, hiệu quả và côngbằng Vì vậy tính toán nhu cầu chi sát với khả năng thu trong khi lập ngân sách là rấtquan trọng Các khoản chi chỉ được phép thực hiện khi đã có đủ các nguồn bù đắp
1.1.5 Vai trò của ngân sách nhà nước
Thứ nhất, NSNN là kế hoạch tài chính vĩ mô trong các kế hoạch tài chính
của Nhà nước để quản lý các hoạt động kinh tế - xã hội, nó có vị trí quan trọng gópphần định hướng phát triển sản xuất, hình thành cơ cấu kinh tế mới, thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế ổn định và bền vững
Thứ hai, xét về mặt thực thể, NSNN là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của nhà
nước Nguồn hình thành của quỹ ngân sách là từ tổng sản phẩm quốc nội và từ cácnguồn tài chính khác Mục đích sử dụng của quỹ ngân sách là duy trì sự tồn tại, đảmbảo hoạt động, thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước
Thứ ba, NSNN là khâu chủ đạo trong hệ thống các khâu tài chính, vì NSNN
do Nhà nước nắm giữ, chi phối và là công cụ để Nhà nước kiểm soát vĩ mô và cânđối vĩ mô Việc sử dụng ngân sách có ý nghĩa quốc gia, với phạm vi tác động rộnglớn và được sử dụng chủ yếu cho các nhu cầu có tính chất toàn xã hội
+ NSNN góp phần điều tiết thị trường, bình ổn giá cả và kiềm chế lạm phát
Trang 15+ NSNN là công cụ để điều tiết thu nhập, góp phần giải quyết các vấn đề xãhội và bảo vệ môi trường.
Chính vì vậy thông qua sự vận động của vốn NSNN, Nhà nước thực hiệnhướng dẫn, chi phối, kiểm soát các nguồn lực tài chính khác của quốc gia
1.1.6 Hệ thống ngân sách nhà nước
Hệ thống ngân sách nhà nước được hiểu là tổng thể các cấp ngân sách có mối quan
hệ hữu cơ với nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thu, chi của mỗi cấp ngân sách
Ở nước ta, tổ chức hệ thống ngân sách nhà nước gắn bó chặt chẽ với việc tổchức bộ máy nhà nước và vai trò, vị trí của bộ máy đó trong quá trình phát triểnkinh tế - xã hội của đất nước Hệ thống ngân sách nhà nước gồm: ngân sách trungương và ngân sách địa phương
Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp cóHội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân Phù hợp với mô hình tổ chức chính quyềnNhà nước ta hiện nay Ngân sách địa phương bao gồm:
- Ngân sách cấp thành phố, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung làngân sách cấp thành phố)
- Ngân sách cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc thành phố (gọi chung làngân sách cấp huyện)
- Ngân sách cấp xã, phường, (gọi chung là ngân sách cấp xã)
Hình 1.1: Sơ đồ hệ thống ngân sách nhà nước
NGÂN SÁCH CẤP HUYỆN
NGÂN SÁCH CẤP XÃNGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
Trang 161.2 PHÂN CẤP QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.2.1 Khái niệm về phân cấp quản lý ngân sách nhà nước
Hệ thống chính quyền nhà nước được tổ chức thành nhiều cấp và mỗi cấpđều được phân giao những nhiệm vụ nhất định Để thực hiện những nhiệm vụ đó,mỗi cấp lại được phân giao những quyền hạn cụ thể về nhân sự, kinh tế, hành chính
và ngân sách Việc hình thành hệ thống ngân sách nhà nước gồm nhiều cấp thì việcphân cấp ngân sách nhà nước là một tất yếu khách quan Bởi vì mỗi cấp ngân sáchnhà nước đều có nhiệm vụ thu, chi mang tính độc lập Trong việc tổ chức quản lýtài chính nhà nước nếu cơ chế phân cấp quản lý ngân sách nhà nước được thiết lậpphù hợp thì tình hình quản lý tài chính và ngân sách nhà nước sẽ được cải thiện gópphần thúc đẩy sự phát triển ổn định của nền kinh tế - xã hội
Sự phân giao về ngân sách cho các cấp chính quyền làm nảy sinh khái niệm vềphân cấp quản lý ngân sách Có thể hiểu về phân cấp quản lý ngân sách nhà nước như sau:
Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước là việc phân định phạm vi trách nhiệm,quyền hạn của các cấp chính quyền nhà nước từ trung ương tới địa phương trongquá trình tổ chức tạo lập và sử dụng ngân sách nhà nước phục vụ cho việc thực thichức năng nhiệm vụ của nhà nước
Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước chỉ xảy ra khi ở đó có nhiều cấp ngân sách,phân cấp ngân sách thể hiện mối quan hệ giữa các cấp chính quyền địa phương
1.2.2 Mục tiêu của phân cấp quản lý NSNN
Một là, Phát huy tính năng động sáng tạo, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm
của chính quyền các cấp, nhằm phục vụ tốt nhất nhiệm vụ phát triển kinh tế, đảmbảo an ninh quốc phòng, xoá đói giảm nghèo, thúc đẩy nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa phát triển, thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực,đẩy mạnh tiến trình cải cách hành chính
Hai là, Tạo ra sự đồng bộ thống nhất trong hệ thống thể chế, văn bản quy
phạm pháp luật gắn với đổi mới cơ chế và đảm bảo quyền tự chủ tự chịu tráchnhiệm của các đơn vị cơ sở Đảm bảo sự quản lý tập trung, thống nhất về nguồn lực
để đảm bảo khả năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản
lý nhà nước, thúc đẩy phát triển kinh tế ở từng địa phương
Trang 17Ba là, Làm rõ quyền hạn và trách nhiệm, nguồn lực và nhiệm vụ của các cấp
chính quyền trong quản lý sử dụng NSNN, giải quyết tốt mối quan hệ tài chính giữacác ngành và địa bàn lãnh thổ Khắc phục những chồng chéo hoặc thiếu sót trongtừng nội dung quản lý
Bốn là, Tạo ra mối liên kết đồng thuận giữa các cơ quan Tài chính, cơ quan
Kế hoạch đầu tư và các ngành chức năng liên quan với chính quyền các cấp trongquản lý NSNN
1.2.3 Vai trò của phân cấp quản lý ngân sách nhà nước
Một là, Đối với quản lý hành chính nhà nước: Việc phân cấp quản lý ngân
sách nhà nước là công cụ cần thiết khách quan để phục vụ cho việc phân cấp quản
lý hành chính và có tác động quan trọng đến hiệu quả của quản lý hành chính từtrung ương đến địa phương
Ngân sách nhà nước cung cấp phương tiện tài chính cho các cấp chính quyềnnhà nước từ trung ương đến địa phương hoạt động Tuy nhiên phân cấp quản lýngân sách nhà nước không phụ thuộc hoàn toàn vào phân cấp hành chính mà nó cótính độc lập tương đối trong việc thực hiện mục tiêu phân phối hợp lý nguồn lựcquốc gia Một cơ chế phân cấp quản lý ngân sách hợp lý sẽ tạo điều kiện giúp chínhquyền nhà nước thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ của mình Ngược lại phâncấp không hợp lý sẽ gây cản trở, khó khăn đối với quá trình quản lý của các cấphành chính nhà nước
Hai là, Đối với điều hành vĩ mô nền kinh tế: Phân cấp quản lý ngân sách nhà
nước hợp lý không chỉ đảm bảo phương tiện tài chính cho việc duy trì phát triểnhoạt động của các cấp chính quyền nhà nước từ trung ương đến các địa phương màcòn tạo điều kiện phát huy được các lợi thế nhiều mặt của từng vùng địa phươngtrong cả nước Nó cho phép quản lý và kế hoạch hoá ngân sách nhà nước tốt hơn,điều chỉnh mối quan hệ giữa các cấp chính quyền cũng như mối quan hệ giữa cáccấp ngân sách để phát huy vai trò là công cụ điều chỉnh vĩ mô ngân sách nhà nước
Cơ chế phân cấp quản lý ngân sách nhà nước có tác động quan trọng đếnhoạt động điều hành vĩ mô nền kinh tế của nhà nước thông qua chính sách tài khoá,
vì mức độ phân cấp giữa trung ương và địa phương có tác động lớn đối với mục tiêuđiều chỉnh kinh tế bằng chính sách tài khoá của nhà nước Chính sách tài khoá là
Trang 18công cụ quan trọng nhất trong tay nhà nước để điều hành kinh tế vĩ mô Chủ trương
và định hướng thu, chi ngân sách nhà nước theo hướng “nới lỏng” hay “thắt chặt” lànhững biện pháp cốt yếu của Chính phủ để ứng phó với những diễn biến của nềnkinh tế nhằm đạt được mục tiêu tăng trưởng, ổn định và phát triển bền vững Nếumức độ phân cấp tập trung về phía trung ương lớn thì quá trình điều chỉnh đượcthực thi nhanh hơn và ngược lại nếu mức độ phân cấp tập trung về phía địa phươngnhiều hơn sẽ dẫn đến thời gian điều chỉnh chậm hơn bởi vì khi địa phương đượcphân cấp mạnh thì quyền hạn trong thu, chi ngân sách địa phương được mở rộng vàlinh hoạt hơn Chính vì vậy cần xây dựng một phương án phân cấp hợp lý để vừađảm bảo thực hiện được mục tiêu của chính sách tài khoá vừa tránh được việc tậptrung quá cao
1.2.4 Nguyên tắc cơ bản trong phân cấp quản lý NSNN
Để đảm bảo phân cấp quản lý ngân sách nhà nước đem lại kết quả tốt cầnquán triệt đầy đủ các nguyên tắc cơ bản sau:
Một là, Phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh
của nhà nước và năng lực quản lý của mỗi cấp trên địa bàn
- Phân cấp quản lý ngân sách của các cấp chính quyền không tách rời phâncấp quản lý kinh tế - xã hội Mỗi đơn vị hành chính có chức năng và nhiệm vụ quản
lý kinh tế - xã hội theo phân cấp phù hợp với đặc điểm của mỗi cấp chính quyền
Do đó cần phải xem xét về chức năng thực tế và quy mô nhiệm vụ từng cấp hànhchính để có quy định phân thành một cấp ngân sách hay chỉ là một đơn vị dự toán.Phân cấp quản lý ngân sách phải gắn với mô hình tổ chức bộ máy nhà nước, phảiphù hợp và tương ứng với mô hình tổ chức các cơ quan công quyền, gắn với thựctrạng nền kinh tế và phải được đánh giá trên các khía cạnh chủ yếu như cơ cấu kinh
tế, cơ cấu ngành nghề, tốc độ tăng trưởng, năng suất, hiệu quả thu nhập và phânphối thu nhập Thực trạng kinh tế mỗi địa phương sẽ quyết định đến nguồn lực tàichính ở địa phương đó Phân cấp nguồn lực tài chính ở mỗi địa phương phải quan
hệ chặt chẽ với phân cấp quản lý kinh tế - xã hội trên địa bàn Vì vậy phân cấp quản
lý ngân sách phải phù hợp, nhằm đảm bảo điều kiện vật chất để thực thi nhiệm vụmột cách hiệu quả
Trang 19Khi phân cấp nguồn thu chú trọng khả năng đáp ứng nhu cầu chi tại chỗ,khuyến khích khai thác thu và phải phù hợp với điều kiện, đặc điểm của từng vùng.Nguồn thu gắn liền với vai trò quản lý của cấp chính quyền nào thì phân cấp chongân sách cấp Chính quyền đó.
+ Phân cấp tối đa nguồn thu trên địa bàn để bảo đảm nhiệm vụ chi đượcgiao; hạn chế bổ sung từ ngân sách cấp trên
+ Hạn chế phân cấp cho nhiều cấp ngân sách đối với các nguồn thu có quy
mô nhỏ
+ Bảo đảm tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu cho ngân sách cấpmình và ngân sách các cấp dưới không được vượt quá tỷ lệ phần trăm (%) phân chiaquy định của cấp trên về từng khoản thu được phân chia
Trên cơ sở nguồn thu ngân sách các cấp được hưởng (các khoản thu đượchưởng 100%; các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm %) ngân sách các cấplập dự toán thu NSNN trên địa bàn, và dự toán chi ngân sách địa phương Vềnguyên tắc ngân sách địa phương không được bội chi nên khi cân đối ngân sách địaphương, nguồn thu ngân sách địa phương được hưởng không đáp ứng được yêu cầuchi của địa phương thì sẽ áp dụng phương pháp bổ sung cân đối
Phân cấp nhiệm vụ chi phải gắn với thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế
-xã hội của mỗi cấp chính quyền địa phương, đặc biệt là những vấn đề liên quan mậtthiết đến đời sống dân cư trên địa bàn
- Nhiệm vụ chi của ngân sách cấp nào ngân sách cấp đó đảm bảo; việc banhành và thực hiện chính sách, chế độ làm tăng chi ngân sách phải có giải pháp đảmbảo nguồn tài chính phù hợp với khả năng cân đối của ngân sách từng cấp
- Trường hợp cơ quan quản lý nhà nước cấp trên uỷ quyền cho cơ quan quản lýnhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi của mình, thì phải chuyển kinh phí từngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới để thực hiện nhiệm vụ
- Việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa ngân sách các cấp chính quyềnđịa phương do Hội đồng nhân dân cấp thành phố quyết định, thời gian thực hiệnphân cấp này phải phù hợp với thời kỳ ổn định ngân sách ở địa phương; cấp xãđược tăng cường nguồn thu, phương tiện và cán bộ quản lý tài chính - ngân sách đểquản lý tốt, có hiệu quả các nguồn lực tài chính trên địa bàn được phân cấp
Trang 20Hai là, Đảm bảo vai trò chủ đạo của Trung ương và vị trí độc lập của ngân
sách địa phương trong hệ thống NSNN thống nhất Trong nền kinh tế thị trường,ngân sách trung ương ngoài việc thực hiện các nhiệm vụ lớn, quan trọng như quốcphòng, an ninh, ngoại giao, đầu tư phát triển còn phải tổ chức quản lý và điều tiếtmọi hoạt động kinh tế, thực hiện ổn định kinh tế vĩ mô Chính quyền cấp trên cũng
có nhiệm vụ quan trọng lớn hơn chính quyền cấp dưới Để thực hiện nhiệm vụ, mỗicấp chính quyền cần có trong tay nguồn lực tài chính nhất định, chính quyền cấptrên cần có nguồn lực tài chính lớn hơn cấp dưới nhưng phải đảm nhận cấp kinh phíđáp ứng cho các nhiệm vụ, yêu cầu to lớn và trọng đại có liên quan đến quốc giahoặc phạm vi lãnh thổ rộng lớn hơn Ngân sách các cấp chính quyền địa phươngphải nâng cao tính chủ động sáng tạo trong việc phân bổ, khai thác tiềm năng thếmạnh của địa phương, làm cho nguồn lực tài chính quốc gia thêm dồi dào Muốnvậy ngân sách các cấp chính quyền ở địa phương phải có vị trí độc lập trong hệthống NSNN thống nhất
Ba là, Đảm bảo nguyên tắc công bằng trong phân cấp quản lý NSNN Đảm
bảo tính cân đối giữa thu nhập quốc dân sản xuất và thu nhập quốc dân sử dụng trêntừng vùng, từng địa phương Để giảm bớt khoảng cách giàu, nghèo giữa các vùng,các địa phương, trong quá trình phân cấp cần được sử dụng phương pháp điều hoàngân sách, tức là quá trình phân phối lại các nguồn tài chính trong phạm vi hệ thốngngân sách, chuyển một phần số thu của ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới.Thông qua phương pháp bổ sung cân đối và bổ sung có mục tiêu, đây là hai phươngpháp tài trợ mà chính quyền cấp trên thường sử dụng đối với chính quyền cấp dưới
- Bổ sung cân đối: Bổ sung cân đối thu, chi ngân sách nhằm bảo đảm chochính quyền cấp dưới cân đối nguồn ngân sách để thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xãhội, quốc phòng, an ninh được giao Số bổ sung cân đối từ ngân sách cấp trên chongân sách cấp dưới ở địa phương được xác định theo nguyên tắc xác định số chênhlệch giữa số chi và nguồn thu ngân sách cấp dưới (các khoản thu được hưởng 100%
và phần được hưởng theo tỷ lệ phần trăm (%) từ các khoản thu phân chia giữa cáccấp ngân sách chính quyền địa phương)
- Bổ sung có mục tiêu: Bổ sung có mục tiêu nhằm hỗ trợ ngân sách cấp dướithực hiện các nhiệm vụ:
Trang 21+ Hỗ trợ thực hiện các chính sách, chế độ mới do cấp trên ban hành chưađược bố trí trong dự toán ngân sách của năm đầu thời kỳ ổn định ngân sách, mức hỗtrợ cụ thể được xác định trên cơ sở khả năng cân đối của ngân sách các cấp có liênquan;
+ Hỗ trợ thực hiện các chương trình, dự án quốc gia giao các cơ quan địaphương thực hiện, mức hỗ trợ cụ thể thực hiện theo dự toán chi được cấp có thẩmquyền giao;
+ Hỗ trợ thực hiện các mục tiêu, công trình, dự án có ý nghĩa lớn đối với yêucầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, nằm trong quy hoạch và đã được cấp
có thẩm quyền phê duyệt theo đúng quy định của pháp luật về quản lý đầu tư và xâydựng, ngân sách cấp dưới đã bố trí chi nhưng chưa đủ nguồn, mức hỗ trợ theophương án được cấp thẩm quyền phê duyệt
+ Hỗ trợ một phần để xử lý khó khăn đột xuất: khắc phục thiên tai, hoả hoạn,tai nạn trên diện rộng với mức độ nghiêm trọng, sau khi ngân sách cấp dưới đã sửdụng dự phòng, một phần quỹ dự trữ tài chính của địa phương nhưng chưa đáp ứngđược nhu cầu
+ Hỗ trợ thực hiện một số nhiệm vụ cần thiết, cấp bách khác, mức bổ sungtheo quyết định của cấp có thẩm quyền
+ Số bổ sung theo mục tiêu từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dướiđược xác định hàng năm Mức bổ sung cụ thể được căn cứ khả năng cân đối ngânsách cấp trên và yêu cầu về mục tiêu cụ thể của cấp dưới Việc sử dụng vốn, kinhphí bổ sung theo mục tiêu phải theo đúng mục tiêu quy định
Ngoài ra, việc thúc đẩy sự phát triển đồng đều giữa các vùng, miền qua chingân sách cấp trên vào đầu tư cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội cũng được sử dụng nhưbiện pháp bổ trợ cho hai phương thức trên
1.2.5 Nội dung phân cấp quản lý ngân sách nhà nước
Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước là việc xử lý các mối quan hệ giữa cáccấp chính quyền nhà nước từ trung ương đến địa phương trong hoạt động của ngânsách nhà nước, từ đó cho phép hình thành một cơ chế phân chia ranh giới quyền lực
về quản lý ngân sách nhà nước giữa các cấp chính quyền Vì vậy nội dung phân cấpquản lý ngân sách nhà nước về cơ bản bao gồm 3 nội dung chủ yếu sau:
Trang 22Một là, Về quyền lực: Phân cấp ban hành chế độ, chính sách, tiêu chuẩn,
định mức:
Trong quản lý ngân sách nhà nước, chế độ, chính sách, tiêu chuẩn, định mức có vaitrò và vị trí hết sức quan trọng Đó không chỉ là một trong những căn cứ quan trọng để xâydựng dự toán, phân bổ ngân sách và kiểm soát chi tiêu, mà còn là một trong những tiêuchuẩn đánh giá chất lượng quản lý và điều hành ngân sách của các cấp chính quyền
Thông qua việc phân cấp nhằm làm rõ vấn đề cơ quan nhà nước nào có thẩmquyền ban hành ra các chế độ, chính sách, định mức, tiêu chuẩn, phạm vi, mức độcủa mỗi cấp chính quyền Cơ sở pháp lý này được xây dựng dựa trên hiến pháphoặc các đạo luật tổ chức hành chính, từ đó định ra hành lang pháp lý cho việcchuyển giao các thẩm quyền gắn với các trách nhiệm tương ứng với quyền lực đãđược phân cấp, đảm bảo tính ổn định, tính pháp lý, không gây sự rối loạn trongquản lý ngân sách nhà nước
Hội đồng nhân dân cấp thành phố quyết định một số chế độ thu phí gắn vớiquản lý đất đai, tài nguyên thiên nhiên, gắn với chức năng quản lý hành chính nhà nướccủa chính quyền địa phương và các khoản đóng góp của nhân dân theo quy định củapháp luật; việc huy động vốn để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng thuộc phạm vi ngânsách cấp thành phố Được quyết định chế độ chi ngân sách phù hợp với đặc điểm thực
tế ở địa phương Riêng chế độ chi có tính chất tiền lương, tiền công, phụ cấp, trước khiquyết định phải có ý kiến của các Bộ quản lý ngành, lĩnh vực
Hai là, Phân cấp về mặt vật chất, tức là phân cấp về nguồn thu và nhiệm vụ chi:
Có thể nói đây luôn là vấn đề phức tạp nhất, khó khăn nhất, gây nhiều bất đồngnhất trong quá trình xây dựng và triển khai các đề án phân cấp quản lý ngân sách Sựkhó khăn này bắt nguồn từ sự phát triển không đồng đều giữa các địa phương, sự khácbiệt về các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội giữa các vùng miền trong cả nước
Ngân sách trung ương hưởng các khoản thu tập trung quan trọng không gắntrực tiếp với công tác quản lý của địa phương như: Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu,thu từ dầu thô hoặc không đủ căn cứ chính xác để phân chia như: thuế thu nhậpdoanh nghiệp của các đơn vị hạch toán toàn ngành, đồng thời đảm bảo nhiệm vụ chicho các hoạt động có tính chất đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ chiến lược, quantrọng của quốc gia như: Chi đầu tư cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, chi quốc phòng,
Trang 23an ninh, chi giáo dục, y tế, chi đảm bảo xã hội do Trung ương quản lý và hỗ trợcác địa phương chưa cân đối được thu, chi ngân sách
Ngân sách địa phương được phân cấp nguồn thu để đảm bảo chủ động thựchiện những nhiệm vụ được giao, gắn trực tiếp với công tác quản lý tại địa phươngnhư: Thuế nhà đất, thuế môn bài, thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế thu nhập đốivới người có thu nhập cao
Nhiệm vụ chi ngân sách địa phương gắn liền với nhiệm vụ quản lý kinh tế
-xã hội, quốc phòng, an ninh do địa phương trực tiếp quản lý Việc đẩy mạnh phâncấp quản lý ngân sách trong điều kiện tự nhiên, xã hội và trình độ quản lý ở cácvùng, miền khác nhau là động lực quan trọng để khơi dậy các khả năng của địaphương, xử lý kịp thời các nhiệm vụ của Nhà nước trên phạm vi từng địa phương
Ngân sách cấp trên thực hiện nhiệm vụ bổ sung ngân sách cho ngân sách cấpdưới dưới hai hình thức: Bổ sung cân đối và bổ sung có mục tiêu
Nội dung phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi của ngân sách các cấp được quyđịnh cụ thể tại các điều 30, 31, 32, 33, 34 Luật NSNN năm 2002 Trong đó quy địnhnguồn thu, nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương như sau:
1.2.5.1 Nguồn thu của ngân sách địa phương
- Các khoản thu ngân sách địa phương hưởng 100%: Theo cơ chế phân cấphiện tại, các khoản thu mà NSĐP được hưởng 100% gồm các khoản thu như: thuế,phí, lệ phí và các khoản thu nộp ngân sách khác, Cụ thể
+ Thu từ thuế: Thuế nhà đất, thuế tài nguyên (không kể thuế tài nguyên hoạt độngdầu khí); Thuế môn bài; Thuế chuyển quyền sử dụng đất; thuế sử dụng đất nông nghiệp;
+ Thu từ phí và lệ phí: Lệ phí trước bạ; phần nộp ngân sách theo quy địnhcủa pháp luật từ các khoản phí, lệ phí do các cơ quan đơn vị thuộc địa phương tổchức thu, không kể phí xăng dầu;
+ Các khoản thu ngoài thuế: Tiền sử dụng đất; tiền cho thuê đất, thuê mặtnước, không kể tiền thu thuê mặt nước thu từ hoạt động dầu khí; Tiền đền bù thiệthại khi nhà nước thu hồi đất; tiền cho thuê và bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước;Thu nhập từ vốn góp của NSĐP; Tiền thu hồi vốn của NSĐP tại các cơ sở kinh tế,thu từ quỹ dự trữ của cấp thành phố; Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức cánhân ở nước ngoài trực tiếp cho địa phương theo quy định của pháp luật; thu từ quỹ
Trang 24đất công ích và hoa lợi công sản khác; phần nộp ngân sách theo quy định của phápluật từ các khoản thu sự nghiệp của các đơn vị do địa phương quản lý;
+ Các khoản thu khác: Huy động từ các tổ chức cá nhân theo quy định củapháp luật; Đóng góp tự nguyện của các tổ chức cá nhân trong nước và ngoài nước;Thu từ huy động đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng; Thu kết dư NSĐP;các khoản thu phạt, tịch thu và thu khác ngân sách; Thu bổ sung từ ngân sách cấptrên; Thu chuyển nguồn từ năm trước chuyển sang
- Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa ngân sách trung ương
và ngân sách địa phương: Các khoản thu chung, cả NSTW và NSĐP cùng hưởng theo
tỷ lệ phần trăm (%) gồm 5 loại chủ yếu Đây là những khoản có số thu lớn, có tính đànhồi cao, nhạy cảm với hoạt động kinh tế, có tính điều tiết cao, Cụ thể là:
+ Thuế giá trị gia tăng, không kể thuế giá trị gia tăng hàng hoá nhập khẩu;+ Thuế thu nhập doanh nghiệp, không kể thuế thu nhập doanh nghiệp của cácđơn vị hạch toán toàn ngành;
+ Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao;
+ Thuế tiêu thụ đặc biệt thu từ hàng hoá, dịch vụ trong nước;
+ Phí xăng, dầu
- Thu bổ sung từ ngân sách trung ương;
- Thu từ huy động đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng theo quyđịnh (tại khoản 3 Điều 8 của Luật NSNN)
1.2.5.2 Nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương
- Chi đầu tư phát triển:
+ Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội do địaphương quản lý;
+ Đầu tư và hỗ trợ cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, các tổ chức tàichính của Nhà nước theo quy định của pháp luật;
+ Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật;
- Chi thường xuyên:
+ Các hoạt động sự nghiệp kinh tế, giáo dục và đào tạo, y tế, xã hội, văn hoáthông tin, văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, môi trường,các hoạt động sự nghiệp khác do địa phương quản lý;
Trang 25+ Quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội (phần giao cho địa phương);+ Hoạt động của các cơ quan nhà nước, cơ quan Đảng cộng sản Việt Nam vàcác tổ chức chính trị - xã hội ở địa phương;
+ Hỗ trợ cho các tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổchức xã hội - nghề nghiệp ở địa phương theo quy định của pháp luật;
+ Thực hiện các chính sách xã hội đối với đối tượng do địa phương quản lý;+ Chương trình quốc gia do Chính phủ giao cho địa phương quản lý;
+ Trợ giá theo chính sách của Nhà nước;
+ Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật;
- Chi trả nợ gốc và lãi các khoản tiền huy động cho đầu tư;
- Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính của cấp thành phố;
- Chi bổ sung cho ngân sách cấp dưới
Ngân sách địa phương được sử dụng nguồn thu hưởng 100%, số thu đượcphân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) đối với các khoản thu phân chia và số bổ sungcân đối từ ngân sách cấp trên để cân đối thu, chi ngân sách cấp mình, bảo đảm cácnhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh được giao
- Tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu giữa ngân sách các cấp chínhquyền địa phương do Hội đồng nhân dân cấp thành phố quyết định Các khoản thuphân chia giữa ngân sách các cấp chính quyền địa phương gồm:
+ Các khoản thu về thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác ngân sách địaphương hưởng 100% theo quy định tại Điểm 1.3.1 phần II của Thông tư59/2003/TT-BTC ngày 23/6/2003;
+ Các khoản thu phân chia giữa ngân sách trung ương và ngân sách địaphương phần ngân sách địa phương được hưởng theo quy định tại Điểm 1.1.2 phần
II của Thông tư 59/2003/TT-BTC ngày 23/6/2003;
- Số bổ sung cân đối từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới ở địaphương được xác định theo nguyên tắc xác định số chênh lệch giữa số chi và nguồnthu ngân sách các cấp dưới (thu 100% và phần được hưởng theo tỷ lệ phần trăm (%)
từ các khoản thu phân chia giữa các cấp ngân sách chính quyền địa phương)
Ba là, phân cấp về quản lý chu trình ngân sách, tức là phân công, phân định
trách nhiệm, quyền hạn trong lập, chấp hành và quyết toán NSNN:
Trang 26Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước thể hiện mối quan hệ giữa các cấpchính quyền nhà nước trong một chu trình ngân sách nhà nước gồm tất cả các khâu:lập ngân sách, duyệt, thông qua tới chấp hành, quyết toán, thanh tra, kiểm tra ngânsách Yêu cầu của nội dung này đặt ra là giải quyết mối quan hệ về mức độ thamgia, điều hành và kiểm soát của các cơ quan quyền lực, cơ quan quản lý nhà nước
và các cơ quan chuyên môn trong từng khâu quản lý chu trình ngân sách
Hội đồng nhân dân các cấp có quyền hạn, trách nhiệm trong việc quyết định
dự toán ngân sách địa phương; phân bổ ngân sách địa phương; phân bổ dự toán chicho các sở, ban, ngành theo từng lĩnh vực cụ thể, quyết định số bổ sung từ ngânsách cấp mình cho ngân sách cấp dưới, phê chuẩn quyết toán ngân sách Ngoài raHội đồng nhân dân cấp thành phố còn có nhiệm vụ:
+ Quyết định việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi cho từng cấp ngân sách
ở địa phương
+ Quyết định tỷ lệ phần trăm (%) phân chia giữa ngân sách các cấp chínhquyền địa phương đối với phân ngân sách địa phương được hưởng từ các khoản thuphân chia giữa ngân sách trung ương với ngân sách địa phương và các khoản thu cóphân chia giữa các cấp ngân sách ở địa phương
Ngoài ra, việc tổ chức lập ngân sách ở các địa phương được phân cấp choUBND các thành phố, thành phố trực thuộc trung ương quy định cụ thể cho từng cấp ởđịa phương Thảo luận về dự toán với cơ quan tài chính chỉ thực hiện vào năm đầu thời
kỳ ổn định ngân sách, các năm tiếp theo chỉ tiến hành khi địa phương có đề nghị
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI PHÂN CẤP QUẢN LÝ NSNN
1.3.1 Nhân tố ảnh hưởng đến cơ chế phân cấp quản lý NSNN
1.3.1.1 Bổi cảnh và xu thế phát triển kinh tế xã hội ở địa phương
Trong điều kiện tình hình kinh tế, chính trị, xã hội ở địa phương không có sựbiến động lớn thì nguồn thu, nhiệm vụ chi NSNN ổn định Khi nền kinh tế, chính trị
xã hội bất ổn định thì nguồn thu NSNN trên địa bàn bị ảnh hưởng, nhiệm vụ chi chophát triển kinh tế, chi cho đảm bảo an ninh quốc phòng và giải quyết các vấn đề xãhội phải thay đổi theo chiều hướng khác Khi nền kinh tế càng phát triển khả năng
Trang 27tích luỹ của nền kinh tế càng lớn, khả năng chi cho đầu tư phát triển càng cao Nhưvậy cơ chế phân cấp quản lý NSNN cũng vì thế mà phải thay đổi cho phù hợp.
Trong điều kiện hiện nay, xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hoánền kinh tế thế giới đang là nhân tố ảnh hưởng lớn đến phân cấp quản lý NSNN ởmỗi quốc gia, mỗi địa phương Bởi lẽ, sự tác động của toàn cầu hoá và hội nhậpkinh tế quốc tế đã làm thay đổi chức năng nhiệm vụ của nhà nước trong thời kỳmới Trong thời kỳ hội nhập, Nhà nước không can thiệp sâu sắc và trực tiếp vào nềnkinh tế mà chỉ đóng vai trò là người cầm cân nảy mực, tạo môi trường hành langpháp lý cho nền kinh tế ở tầm vĩ mô, việc đầu tư trực tiếp vào nền kinh tế bằngnguồn vốn NSNN chỉ tập trung ở những khâu trọng yếu không có khả năng thu hồivốn và đáp ứng các nhu cầu phúc lợi xã hội Vì vậy đây là nhân tố quan trọng ảnhhưởng tới phân cấp quản lý NSNN
1.3.1.2 Tính chất cung cấp hàng hoá công cộng
Hàng hoá công cộng được hiểu là các hàng hoá, dịch vụ mà việc sử dụng nócủa các chủ thể này không làm cản trở tới việc sử dụng của các chủ thể khác Có thểnói đó là các hàng hoá mà tất cả mọi người đều có thể sử dụng và lợi ích từ việc sửdụng đó đối với bất kỳ chủ thể nào cũng hoàn toàn độc lập với các chủ thể kháccùng sử dụng
Trong quản lý hành chính nhà nước, chính quyền nhà nước các cấp vừa phảiđảm bảo chức năng quản lý vừa phải đảm bảo chức năng cung cấp các dịch vụ côngcộng cho xã hội Phần lớn các hàng hoá công cộng đều được cung cấp bởi khu vựccông (chính quyền nhà nước ở trung ương và địa phương)
Đây là yếu tố căn bản khi phân giao quyền hạn và trách nhiệm giữa các cấptrong bộ máy chính quyền trung ương và địa phương trong việc cung cấp hàng hoácông cộng Điều kiện vật chất để thực thi nhiệm vụ đòi hỏi phải được phân chianguồn lực từ ngân sách nhà nước Đây chính là tiền đề để phân cấp nguồn thu,nhiệm vụ chi cho từng cấp chính quyền địa phương
1.3.1.3 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của các cấp chính quyền ở địa phương
Đây là một nhân tố có tính đặc thù mà cần được quan tâm Tính đặc thù đóthường được biểu hiện ở những đặc điểm tự nhiên về địa hình (như miền núi, vùngđồng bằng, đô thị), vùng có tài nguyên, có địa thế đặc biệt hay có điệu kiện xã hội
Trang 28đặc biệt (như lợi thế trong phát triển du lịch dịch vụ, phát triển khu cụm côngnghiệp, dầu mỏ, khoảng sản ) hoặc có điều kiện xã hội đặc biệt (như dân tộc, tôngiáo, trình độ dân trí, điểm nóng về chính trị ) ở những vùng, những địa phươngnày có thể coi là một đối tượng đặc biệt của cơ chế phân cấp dẫn tới những nội dungphân cấp đặc thù cho phù hợp
Sự đa dạng về mặt xã hội tạo ra sự khác biệt về nhu cầu, sở thích đối vớihàng hoá dịch vụ công do mức thu nhập tạo ra, sự đa dạng về về văn hoá, xã hội,chủng tộc cũng là những nguyên nhân đứng sau sự khác biệt này Khi sự khác biệtnảy sinh thì đòi hỏi cơ chế phân cấp phù hợp sẽ mang lại hiệu quả hơn
1.3.1.4 Mức độ phân cấp về quản lý hành chính - kinh tế - xã hội giữa các cấp chính quyền
Việc tổ chức bộ máy nhà nước theo các đơn vị hành chính lãnh thổ nảy sinhyêu cầu hình thành những cấp ngân sách nhà nước tương ứng với từng cấp hànhchính đó Tuy nhiên đây mới chỉ là điều kiện cần, bởi vì có nhiều cách khác nhautrong việc chuyển giao một bộ phận trong tổng thể các nguồn tài chính cho việcthực hiện các nhiệm vụ của mỗi đơn vị hành chính Chẳng hạn, có thể giao một sốquyền lực huy động nguồn thu trên địa bàn, hoặc cho phép toàn quyền quyết địnhmọi vấn đề thu, chi hay thực hiện việc chuyển giao kinh phí đảm bảo theo nhu cầuthực tế phát sinh
Những cách thức chuyển giao đó không thể diễn ra một cách tuỳ tiện mà nóphụ thuộc vào mức độ phân cấp về quản lý hành chính - kinh tế - xã hội giữa cáccấp chính quyền nhà nước
1.3.2 Sự cần thiết phải phân cấp quản lý NSNN
Về lý thuyết, quản lý và điều hành ngân sách có thể tập trung cao độ mọiquyền lực vào chính quyền trung ương Nhà nước chỉ có một ngân sách duy nhất,ngân sách này do chính quyền trung ương toàn quyền quản lý và quyết định sửdụng, phủ nhận sự tồn tại độc lập của ngân sách địa phương
Lợi thế của cách quản lý này là cho phép tập trung toàn bộ nguồn thu vào taynhà nước trung ương để bố trí chi tiêu cho hợp lý, công bằng, đồng đều giữa cácvùng, miền, ngành nghề chống biểu hiện cục bộ địa phương
Trang 29Tuy nhiên, phương án này tạo ra tư tưởng ỷ nại, thụ động trông chờ vàotrung ương và đặc biệt là nguồn lực có hạn của xã hội của xã hội có thể bị sử dụnglãng phí, không đáp ứng đúng đắn và kịp thời nhu cầu của người dân Do đó trênthực tế các nhà nước đều thực hiện phân cấp quản lý ngân sách ở mức độ nhất địnhcho chính quyền địa phương Phân cấp được xem như một phương thức để tăng tínhdân chủ linh hoạt, hiệu quả và trách nhiệm của các cấp chính quyền trong việc cungcấp các hàng hoá và dịch vụ công cộng
Tóm lại, qua nghiên cứu chương này, luận văn rút ra một số vấn đề chủ yếu
sau đây:
Phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi NSNN là một nội dung quan trọng trong
cơ chế phân cấp quản lý ngân sách của các cấp chính quyền địa phương, nhằm quản
lý ngân sách có hiệu lực và hiệu quả hơn, phát huy vai trò và chức năng của ngânsách nhà nước với tư cách là phương tiện vật chất duy trì sự tồn tại của bộ máy nhànước và công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế - xã hội
Phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi NSNN là yêu cầu khách quan, bởi mỗi quốcgia đều có những vùng lãnh thổ khác nhau, mỗi địa phương đều có từng vùng miền kháckhau Việc phân chia dân cư theo đơn vị hành chính lãnh thổ, vùng miền, hình thành cáccấp hành chính là đặc trưng của Nhà nước Do đó, để góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hộiđịa phương phát triển, cần thiết phải phân cấp quản lý NSNN, mà yếu tố quan trọng đó là
cơ chế phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi NSNN giữa ngân sách các cấp
Căn cứ phân cấp quản lý ngân sách ở địa phương phải dựa vào mô hình tổchức bộ máy hành chính, phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế - xã hội và năng lựctrình độ quản lý của mỗi cấp cấp chính quyền
Các nguyên tắc phân cấp quản lý ngân sách nhà nước là phải bảo đảm sựtương ứng giữa hệ thống ngân sách với hệ thống hành chính; bảo đảm vai trò chủđạo của ngân sách cấp trên, phát huy tính năng động sáng tạo của ngân sách cấpdưới; đảm bảo tính thống nhất của nền tài chính quốc gia; đảm bảo tính công bằng,hiệu lực, hiệu quả, khách quan trong toàn hệ thống
Từ nhận thức trên giúp cho việc đánh giá thực trạng phân cấp nguồn thu nhiệm
vụ chi NSNN trên địa bàn thành phố Đà Nẵng một cách khách quan Qua đó đưa ranhững giải pháp phù hợp nhằm đổi mới và hoàn thiện cơ chế phân cấp hiện hành
Trang 30Chương 2 THỰC TRẠNG PHÂN CẤP NGUỒN THU, NHIỆM VỤ CHI NSNN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG TRONG THỜI GIAN QUA 2.1 MỘT VÀI NÉT VỀ ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên
Thành phố Đà Nẵng nằm ở 15o55' đến 16o14' vĩ Bắc, 107o18' đến 108o20' kinhĐông, Bắc giáp thành phố Thừa Thiên - Huế, Tây và Nam giáp thành phố QuảngNam, Đông giáp Biển Đông
Nằm ở vào trung độ của đất nước, trên trục giao thông Bắc - Nam về đường bộ,đường sắt, đường biển và đường hàng không, cách Thủ đô Hà Nội 764km về phíaBắc, cách thành phố Hồ Chí Minh 964 km về phía Nam Ngoài ra, Đà Nẵng còn làtrung điểm của 4 di sản văn hoá thế giới nổi tiếng là cố đô Huế, Phố cổ Hội An,Thánh địa Mỹ Sơn và Rừng quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng
Thành phố Đà Nẵng có diện tích tự nhiên là 1.255,53 km2; trong đó, các quậnnội thành chiếm diện tích 213,05 km2, các huyện ngoại thành chiếm diện tích1.042,48km2
Năm 2011 là năm thành công của du lịch Đà Nẵng với tổng số lượt kháchtham quan, nghỉ dưỡng đạt 2,35 triệu triệu lượt khách, tăng 11,9% so với cùng kỳnăm 2010, đạt 122% kế hoạch năm
Sự khởi sắc về số lượng khách khiến tổng doanh thu chuyên ngành Du lịchnăm 2011 của Đà Nẵng đạt 2,35 triệu lượt khách, đạt 111,9% kế hoạch, tăng 32,8%
so với năm 2010, trong đó khách quốc tế đạt 500 ngàn lượt, đạt 111,1% kế hoạch,tăng 35%, doanh thu du lịch đạt 1.800 tỷ động, đạt 119% kế hoạch, tăng 45%
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Đối với thành phố Đà Nẵng, sau khi chia tách từ thành phố Quảng Nam - ĐàNẵng và chính thức trở thành thành phố trực thuộc Trung ương ngày 1-1-1997, tăngtrưởng kinh tế có tầm quan trọng hàng đầu, không chỉ do xuất phát điểm của Thànhphố còn thấp so với các thành phố trực thuộc Trung ương khác, phải tăng trưởngnhanh để sớm trở thành một đô thị hiện đại của khu vực miền Trung - Tây Nguyên
mà còn làm tiền đề để thực hiện nhiều mục tiêu kinh tế - xã hội như phát triển kết
Trang 31cấu hạ tầng đi trước một bước, tạo việc làm mới và giảm thất nghiệp, phát triển y tế,giáo dục, thực hiện các chính sách an sinh xã hội…
Về quy mô, tổng sản phẩm trong nước (GDP) của thành phố năm 2009 theogiá so sánh là 2.589,8 tỷ đồng, đến năm 2009 đã tăng lên 9.236 tỷ đồng, tăng 3,5lần, bình quân đạt 11,1%/năm (bình quân cả nước là 7,2%/năm) Do vậy, nhữngthành tựu về tăng trưởng kinh tế của Đà Nẵng trong giai đoạn 2009-2011 là rất ấntượng và đáng tự hào
Tăng trưởng của nền kinh tế thành phố trong giai đoạn 2009 -2011 thể hiện
rõ nét qua việc tăng trưởng của cả ba nhóm ngành: Tốc độ tăng giá trị sản xuất côngnghiệp hầu như liên tục đạt 2 chữ số; quy mô giá trị sản xuất công nghiệp năm 2009gấp 5,77 lần năm 2009, bình quân tăng 15,72%/năm Tăng trưởng của ngành dịch
vụ khá cao, đạt 10,3%/năm Riêng các năm 2010, 2011, tăng trưởng GDP củangành dịch vụ rất cao, đạt 2 con số và cao hơn nhiều so với tăng trưởng GDP củathành phố Giá trị sản xuất nông, lâm, thuỷ sản tăng bình quân 3,48%/năm
2.1.2.1 Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực
Tổng sản phẩm xã hội trên địa bàn (GDP, giá so sánh 1994) giữ được đà tăngtrưởng (ước tăng 13%) song vẫn thấp so với kế hoạch đề ra (13,5 – 14,5%) Giá trịsản xuất công nghiệp (giá cố định 94) năm 2011 ước đạt 14.855 tỷ động, đạt 100%
kế hoạch, tăng 14% so với năm 2010; trong đó công nghiệp trung ương tăng 9,9%,công nghiệp địa phương tăng 17,2%, công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng17,1% Một số sản phẩm tăng trưởng khá về sản lượng so với năm 2010 như: thépxây dựng (73,3%) Gạch ceramic (26,5%), quần áo may sẵn (18,9%), bia các l;oại(17,5%), cao su thành phẩm (16,4%), động cơ siêu nhỏ (15,2%), đồ chơi trẻ em(14,1%), xi măng (13,6%)…
Giá trị sản xuất thủy sản – nông – lâm ước đạt 639 tỷ đồng, đạt 100,3% kếhoạch, tăng 4,5% so với năm 2010, trong đó: thủy sản tăng 7,9%, nông nghiệp giảm3% và lâm nghiệp tăng 10,7%
Sản lượng khai thác thủy sản ước đạt 35.620 tấn, đạt 101,5%, giảm 1,3% sovới năm 2010, trong đó: hải sản ước đạt 34.500 tấn, đạt 101,5% kế hoạch, giảm1,4% song do tăng tỷ trọng các sản phẩm có giá trị xuất khẩu cao nên vẫn đảm bảođược tốc độ tăng giá trị sản xuất
Trang 32Chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần của thành phố thông qua việcđẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính về đăng ký kinh doanh, tiếp cận đất đai; banhành các chính sách ưu đãi đầu tư; triển khai các chưong trình hỗ trợ doanh nghiệp,đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh… đã huy động được các nguồnvốn nhàn rỗi trong dân cư, khuyến khích người dân và các thành phần kinh tế thamgia đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh
Đến cuối năm 2009, thành phố có trên 11.800 doanh nghiệp dân doanh, tổngvốn đăng ký đạt 28,5 ngàn tỷ đồng và 164 dự án FDI, tổng vốn đầu tư 2,62 tỷ USD,trong đó vốn thực hiện ước đạt 1,29 tỷ USD, chiếm 49,2% tổng vốn đầu tư với 96
dự án đã đi vào hoạt động, từ đó tạo nên những giá trị gia tăng mới cho nền kinh tếthành phố phát triển lâu dài và bền vững
Việc chuyển đổi cơ cấu lao động là một bước tiến bộ trong phân bổ nguồnlực lao động xã hội nhằm chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá,hiện đại hoá Kết quả của việc chuyển dịch hoạt động nông nghiệp sang các ngànhkhác đã làm cho lao động trong nông nghiệp giảm xuống còn 9,63% trong tổng sốlao động có việc làm trong năm 2008 so với mức 33% năm 2009, lao động trongnhóm ngành công nghiệp tăng từ 29,8% lên 33,52%, lao động trong nhóm ngànhdịch vụ tăng từ 37,2% lên 57,01% năm 2008
2.1.2.2 Đầu tư phát triển xã hội tăng nhanh
Nếu năm 2009, tổng vốn đầu tư phát triển xã hội là 1.088,26 tỷ, thì đến năm
2011, tổng vốn đầu tư phát triển xã hội là 15.300 tỷ, gấp hơn 14 lần, bình quân tăng24,64%/năm trong giai đoạn 2009-2011, cao hơn nhiều so với tốc độ tăng GDP thực
tế của thành phố trong cùng giai đoạn là 18,64%/năm; đồng thời tỷ lệ vốn đầu tư sovới GDP cũng tăng mạnh qua các năm, từ mức 33,91% năm 2009 lên 61,29% năm
2011 Do vậy, vốn đầu tư xã hội đã trở thành yếu tố vật chất trực tiếp quyết địnhtăng trưởng của nền kinh tế trong nhiều năm Điều này chứng tỏ tiềm lực kinh tếcủa thành phố đã tăng lên, đồng thời đây là động lực chủ yếu thúc đẩy tăng trưởng
và phát triển nền kinh tế thành phố
Cơ cấu đầu tư cũng thể hiện sự chuyển dịch cơ cấu ngành theo hướng dịch
vụ, công nghiệp và nông, lâm, thuỷ sản Tính đến cuối năm 2011, vốn đầu tư chongành nông, lâm, thuỷ sản chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ, khoảng 2%; vốn đầu tư cho
Trang 33ngành công nghiệp và xây dựng chiếm tỷ trọng đáng kể, đạt 36,08%; vốn đầu tư chongành dịch vụ tăng mạnh nhất và cũng chiếm tỷ trọng cao nhất là 61,91% Đầu tưtập trung vào các dự án trọng điểm nhằm xây dựng kết cấu hạ tầng; bổ sung thiết bị
và hiện đại hóa một số ngành công nghiệp; phát triển các ngành dịch vụ chất lượngcao; đào tạo nguồn nhân lực…
Xét về cơ cấu nguồn vốn thì nguồn vốn ngân sách Nhà nước vẫn chiếm tỷtrọng đáng kể là 30,7% năm 2011, tăng bình quân 29,4%/năm; nguồn vốn dân cư
và doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng bình quân 22,7%/năm, có tỷ trọng cao nhất là44,8% năm 2011; nguồn vốn đầu tư nước ngoài tăng khá, bình quân là 20,4%/năm,chiếm tỷ trọng 24,4% năm 2011
Trong giai đoạn đầu của tiến trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa, thành phố
đã huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài nước tham gia đầu
tư phát triển Chủ trương khai thác quỹ đất, tạo vốn để phát triển cơ sở hạ tầng vàphương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm” được thực hiện có hiệu quả, tạo ranguồn lực lớn cho đầu tư phát triển
Cùng với sự tăng trưởng kinh tế, thu NSNN trên địa bàn thành phố Đà Nẵng từnăm 2009 đến nay tăng nhanh, kết quả thu ngân sách được thể hiện qua các biểu 2.1, 2.2
Năm 2009 thu NSNN thực hiện 13.430 tỷ bằng 208,8% dự toán trung ươnggiao Năm 2010 thực hiện 16.580 tỷ bằng 264,2% dự toán TW giao và bằng123,45% so với năm 2009 Đến năm 2011 thực hiện 19.826 tỷ bằng 208,7% dự toán
TW giao và bằng 119,57% so với năm 2010
Trang 34với người có thu nhập
Theo biểu trên ta thấy:
-Thu xí nghiệp quốc doanh TW năm 2009 thực hiện 736,51 tỷ Đến năm
2011 đạt 859,23 tỷ
-Thu xí nghiệp quốc doanh địa phương: Năm 2009 thực hiện 102,8 tỷ, năm
2010 thực hiện 147,94 tỷ, đến năm 2011 thực hiện 138,58 tỷ Số thu từ các xínghiệp quốc doanh địa phương ở mức thấp, chủ yếu là số thu từ một số đơn vị kinhdoanh có hiệu quả như Công ty Xây dựng Công trình GTGT5, Công ty CP Cosevco
và số thu tồn đọng từ năm trước chuyển sang Còn một số đơn vị làm ăn thua lỗkhông có hoặc thu nộp ngân sách rất thấp như CN Công ty CP Vintatex Đà Nẵng,Công ty Dệt May 29/3 Năm 2011 mức thu ngân sách có giảm do ảnh hưởng của
sự khủng hoảng kinh tế trong nước và trên thế giới
-Thu từ xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: Thực hiện năm 2009 là 509.57
tỷ, chủ yếu do sản lượng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm vượt kế hoạch, giá bán sảnphẩm tăng Vinacapital giá bán căn hộ thực tế là 26.000USD/giá kế hoạch là24.000USD Ngoài ra còn thu tồn đọng của năm trước và thu thuế của các nhà thầuphụ Mặt khác Vinacapital thoả thuận nộp 100% thuế doanh thu cho NSĐP chưathực hiện miễn giảm 50% theo luật đầu tư nước ngoài Đến năm 2011 thực hiện là
904,48 tỷ, số thu này tăng mạnh do đã thu được nợ đọng thuế doanh thu, thuế lợi tứcchuyển sang và thuế giá trị gia tăng thu được phần lớn không phải khấu trừ hoặckhấu trừ ít do giá trị hàng hoá sản xuất và tiêu thụ những tháng đầu năm chủ yếubằng nguyên vật liệu, hàng hoá tồn kho
Trang 35-Thu ngoài quốc doanh: Năm 2009 thực hiện 676.56 tỷ, ở mức hơi khiêm tốn, dogiá trị sản xuất kinh doanh dịch vụ ngoài quốc doanh tăng chậm, thậm chí có ngành còngiảm mạnh như sản xuất gạch ngói ngoài quốc doanh thực hiện 0,2 tỷ/dự toán 1 tỷ giảm0,8 tỷ Đến năm 2011 thực hiện 1,724.37 tỷ - Số thu này đạt khá cao chủ yếu từ thu thuếmôn bài và thu tồn đọng thuế doanh thu, thuế lợi tức năm 2010 chuyển sang.
-Thu cấp quyền sử dụng đất (tiền sử dụng đất): Là một khoản thu không nhỏnếu việc quản lý và tổ chức thu tốt, đảm bảo đúng chính sách chế độ với một khunggiá hợp lý Trong thực tế khoản thu này còn gặp nhiều khó khăn mặc dù nhà nước
đã có những quy định về chế độ thu nộp, quy định khung giá đất
Năm 2009 thực hiện 2.663,54 tỷ nhưng chưa đảm bảo chỉ tiêu giao củaHĐND thành phố do công tác giao đất cho cán bộ công chức ở khu vực quận HảiChâu chưa thực hiện được như dự kiến Mặt khác, việc chấp hành thu nộp NSNN ởcấp cơ sở chưa tốt, một số xã đã giao đất nhưng số tiền thu được toạ chi cho xâydựng cơ bản của phường Đến năm 2011 thực hiện 5.763,93 tỷ
-Thu khác ngân sách: Năm 2009 thực hiện 61,06 tỷ; năm 2010 thực hiện70,54 tỷ (trong đó thu khác ngân sách xã phường là 10,79 tỷ); đến năm 2011 thựchiện 184,16 tỷ (trong đó thu khác ngân sách xã 18.74 tỷ) Khoản thu nàynếu loại trừ thu khác ngân sách xã phường thì chỉ đạt ở mức thấp.
Bảng 2.2 Tổng hợp số thu ngân sách nhà nước theo từng lĩnh vực
(Phân mục theo mục lục NSNN)
Thựchiện
Tỷ trọng Thực
hiện
Tỷtrọng
Thực hiện Tỷ
trọng
Tổng số thu ngân sách Nhà nước 13.430 100 16.580 100 19.826 100
Trong đó
Thuế sử dụng đất nông nghiệp 22.981 20,1 27.018 13,9 25.000 7,4
Thuế giá trị gia tăng 47.713 41,8 86.045 44,4 160.000 47,4
Trang 36Phân tích một số mục thu cho thấy:
-Thuế thu nhập doanh nghiệp: Đây là sắc thuế mới được thực hiện từ năm
2011 Là khoản thuế động viên một phần thu nhập vào NSNN; bảo đảm sự đónggóp công bằng, hợp lý giữa các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh, dịch vụ có thunhập Năm 2009 thực hiện 7,3 tỷ đến năm 2011 ước thực hiện 9 tỷ
-Thuế giá trị gia tăng: là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá,dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng Năm 2009thuế giá trị gia tăng thực hiện được 47,7 tỷ, đến năm 2010 thực hiện 86 tỷ và ướcthực hiện 2011 được 160 tỷ, khoản thuế này tăng một phần do sản xuất phát triển và
do thay đổi cơ chế chính sách thu (trước kia thuế doanh thu thuế suất bình quân 2%,
từ năm 2011 thực hiện thuế giá trị gia tăng thuế suất bình quân 10%)
-Học phí, viện phí là khoản thu NSNN được thực hiện thông qua việc ghithu, ghi chi NS hàng năm nhưng thực tế chưa phản ánh vào thu NSNN được, do đóchưa tính toán đầy đủ chính xác kinh phí đầu tư cho sự nghiệp giáo dục và y tế
-Các khoản huy động theo quy định của nhà nước: Năm 2009 thực hiện được2,3 tỷ, năm 2010 thực hiện được 2,5 tỷ, ước thực hiện năm 2011 đạt 1,8tỷ Đây làkhoản thu có tính chất bắt buộc nhưng kết quả thực hiện còn thấp, do đó chiếm tỷtrọng rất nhỏ trong tổng thu NSNN
-Các khoản đóng góp: Khoản thu này hầu hết phát sinh ở cấp xã, mục đích huyđộng để xây dựng kết cấu hạ tầng tại địa phương theo chủ trương nhà nước và nhândân cùng làm, xây dựng nhà tình nghĩa, ủng hộ đồng bào bị thiên tai, bão lụt theo đạo
lý uống nước nhớ nguồn, lá lành đùm lá rách đóng góp vào các quỹ như quỹ an ninh
Trang 37quốc phòng, quỹ phòng chống thiên tai Trong thực tế việc huy động khoản thu này đạtthấp Năm 2009 là 1 tỷ, năm 2010 đạt 1,5 tỷ, ước thực hiện năm 2011 đạt 1,2tỷ
-Các khoản thu phí, lệ phí khác: là khoản thu nhằm phục vụ các hoạt động ởnơi công cộng như lệ phí an ninh, lệ phí bến bãi, lệ phí chợ, lệ phí giữ xe khoảnthu này chiếm tỷ trọng không lớn trong tổng số thu NSNN và phát sinh ở cấp xãphường là chủ yếu, nó có ý nghĩa góp phần giáo dục ý thức trách nhiệm cho ngườidân trong việc hưởng thụ các công trình, sự nghiệp công ích của toàn xã hội
Bảng 2.3 Tỷ lệ huy động GDP vào NSNN trên địa bàn thành phố
1.Tổng SP quốc nội(GDP) Trđ 2.175.635 2.846.739 3.046.0002.Tổng thu NSNN trên địa bàn Trđ 13.430 16.580 19.826
Nguồn [Sở Tài chính thành phố Đà Nẵng 2009 – 2011)
*Về cơ cấu nguồn thu: Cùng với sự tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, tỷ lệ huy động cũng như số thu nộp ngân sách đều tăng Riêng thu trong lĩnh vựcsản xuất kinh doanh tăng cả số tuyệt đối lẫn số tương đối, các nguồn thu ngoài lĩnhvực sản xuất kinh doanh tương đối ổn định và có chiều hướng tăng, kết quả cụ thể:
Biểu 2.4: Cơ cấu nguồn thu NSNN ở thành phố Đà Nẵng
Cơ cấu nguồn thu TH
2009
Tỷ trọng (%)
TH 2010
Tỷ trọng (%)
TH 2011
Tỷ trọng (%)
Thứ nhất, là cơ chế thu nộp: Các khoản thu lệ phí giao thông từ năm 2009 trở
về trước phát sinh trên địa bàn nào nộp trên địa bàn đó, từ năm 2009 trở lại đây tậptrung thu nộp về TW do đó không có số thu nộp vào NSĐP
Trang 38Thứ hai, là chính sách thu thay đổi: Từ năm 2010 trở về trước thực hiện Luật
thuế doanh thu, thuế lợi tức nay được thay đổi và bắt đầu áp dụng từ năm 2011 làLuật thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp
2.2 THỰC TRẠNG PHÂN CẤP NGUỒN THU, NHIỆM VỤ CHI NSNN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG THỜI GIAN QUA
2.2.1 Thời kỳ ổn định ngân sách 2004-2006.
2.2.1.1 Hệ thống văn bản về chế độ, chính sách của địa phương:
Thực hiện Luật NSNN ngày 16/12/2002; Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày6/6/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật NSNN; Thông tư hướng số59/2003/TT-BTC ngày 23/6/2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định60/2003/NĐ-CP Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân thành phố Đà Nẵng đã banhành những cơ chế chính sách trong phân cấp quản lý NSNN ở địa phương, cụ thểnhư sau:
- Căn cứ Quyết định số 191/2003/QĐ-BTC ngày 17/11/2003 của Bộ trưởng
Bộ Tài chính về giao dự toán thu, chi ngân sách nhà nước 2004;
- Căn cứ Nghị quyết số 34/2003/HĐND ngày 23/7/2003 và Nghị quyết số38/2003/NQ-HĐND ngày 12/12/2003 của HĐND thành phố về phân cấp nguồn thu,nhiệm vụ chi, thời kỳ ổn định ngân sách, tỷ lệ phần trăm (%) các khoản thu phânchia và định mức phân bổ dự toán chi ngân sách địa phương;
- Quyết định số 163/2003/QĐ-UB ngày 15/12/2003 của Uỷ ban nhân dânthành phố Đà Nẵng về việc Ban hành quy định một số vấn đề về phân cấp nguồnthu, nhiệm vụ chi, tỷ lệ phần trăm (%) các khoản thu phân chia và định mức phân
bổ dự toán chi ngân sách địa phương trong thời kỳ ổn định ngân sách 2004-2006
- Các văn bản quy định chế độ chi tiêu và định mức phân bổ dự toán chithường xuyên cho ngân sách các cấp, đơn vị dự toán
2.2.1.2 Nội dung cơ bản trong phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi NSNN ở địa phương.
* Phân cấp nguồn thu NSNN:
- Ngân sách cấp thành phố trực thuộc Trung ương: Các khoản thu ngân
sách cấp thành phố hưởng 100% bao gồm: Thuế giá trị gia lăng, thuế thu nhậpdoanh nghiệp của các doanh nghiệp nhà nước, kể cả các doanh nghiệp nhà nước
Trang 39chuyển đổi hình thức sở hữu và doanh nghiệp có vốn dầu tư nước ngoài (Trừ thuếgiá trị gia tăng hàng hóa nhập khẩu, thuế thu nhập của các đơn vị hạch toán toànngành); Tiền cho thuê đất, thuê mặt nước; Tiền cho thuê và tiền bán nhà thuộc sởhữu nhà nước; Các khoản thu từ hoạt động xổ số kiến thiết; Thuế tài nguyên của cácdoanh nghiệp nhà nước, kể cả các doanh nghiệp nhà nước chuyển đổi hình thức sởhữu và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; Thuế môn bài của các doanhnghiệp nhà nước, kể cả các doanh nghiệp nhà nước chuyển đổi hình thức sở hữu vàdoanh nghiệp có vốn dầu tư nước ngoài; Thuế sử dụng đất nông nghiệp của cácdoanh nghiệp nhà nước, kể cả doanh nghiệp nhà nước chuyển đổi hình thức sở hữu;Thuế tiêu thụ đặc biệt từ hàng hóa, dịch vụ trong nước (trừ thuế tiêu thụ đặc biệt thuvào mặt hàng bài lá, vàng mã, kinh doanh vũ trường, mát-xa, karaokê); Phí xăng,dầu; Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao; Thuế chuyển thu nhập ra nướcngoài của các tổ chức, cá nhân nước ngoài có vốn đầu tư tại Việt Nam; Các khoảnphí, lệ phí phần nộp ngân sách theo quy định của pháp luật do các cơ quan đơn vịthuộc thành phố quản lý; Viện trợ không hoàn lại bằng tiền, bằng hiền vật của các tổchức, cá nhân ở nước ngoài trực tiếp cho cấp thành phố theo quy định của pháp luật;Thu phạt xử lý vi phạm hành chính trong các lĩnh vực, kể cả thu phạt an toàn giaothông và thu của các trạm cân xe, thu chống lậu ở các cơ quan, đơn vị thuộc thànhphố (trừ các khoản thu từ hoạt động chống lậu của hạt kiểm lâm và đội quản lý thịtrường ở trên địa bàn quận, huyện, phường); Thu huy động các tổ chức, cá nhân để
đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng theo quy định của pháp luật; Thu
đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cho ngân sáchcấp thành phố; Thu từ quỹ dự trữ tài chính trong trường hợp đặc biệt; Tiền đền bùthiệt hại đất; Thu nhập từ vốn góp của ngân sách cấp thành phố, tiền thu hồi vốn củangân sách cấp thành phố tại các cơ sở kinh tế, thu thanh lý tài sản và các khoản thukhác của doanh nghiệp nhà nước do địa phương quản lý phần nộp ngân sách theoquy định của pháp luật; Thu sự nghiệp của các đơn vị do cơ quan cấp thành phốquản lý; Thu vay đầu tư theo quy định khoản 3 diều 8 của Luật Ngân sách Nhànước; Thu kết dư ngân sách cấp thành phố; Các khoản thu khác theo quy định củapháp luật; Thu chuyển nguồn ngân sách từ ngân sách cấp thành phố năm trước sangngân sách cấp thành phố năm sau; Thu bổ sung từ ngân sách Trung ương;
Trang 40- Ngân sách cấp quận, huyện:
Các khoản thu 100% bao gồm: Thuế môn bài từ các doanh nghiệp, công ty,hợp tác xã, phường ngoài quốc doanh; Các khoản thu phí và lệ phí phần nộp ngânsách do các cơ quan đơn vị thuộc cấp quận, huyện quản lý; Thu từ hoạt động sựnghiệp phần nộp ngân sách theo quy định của pháp luật của các đơn vị do cấp quận,huyện quản lý; Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức, cá nhân nước ngoài trựctiếp cho cấp quận, huyện theo quy định của pháp luật; Đóng góp của các tổ chức, cánhân để đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng theo quy định của Chínhphủ; Đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cho ngânsách cấp quận, huyện; Thu phạt xử lý vi phạm hành chính trong các lĩnh vực (kể cảthu phạt an toàn giao thông); Thu từ hoạt động chống buôn lậu (kể cả thu từ hoạtđộng chống buôn lậu của đội quản lý thị trường và hạt kiểm lâm, chi cục thuế);Thuế tài nguyên do các đơn vị thuộc cấp quận, huyện nộp; Thu nhập từ vốn góp củangân sách cấp quận, huyện, tiền thu hồi vốn của ngân sách cấp quận, huyện tại các
cơ sở kinh tế; Thuế tiêu thụ đặc biệt thu vào mặt hàng bài lá, vàng mã, kinh doanh
vũ trường, mát xa, karaokê; Các khoản thu khác của ngân sách cấp quận, huyệntheo quy định của pháp luật; Thu chuyển nguồn ngân sách từ ngân sách cấp quận,huyện năm trước sang ngân sách cấp quận, huyện năm sau; Thu kết dư ngân sáchcấp quận, huyện; Thu bồ sung từ ngân sách cấp thành phố
- Ngân sách cấp xã, phường: Các khoản thu 100% bao gồm: Các khoản phí,
lệ phí thu vào ngân sách xã, phường theo quy định; Các khoản huy động đóng gópcủa các tổ chức, cá nhân gồm: các khoản huy động dòng góp theo pháp luật quyđịnh, các khoản đóng góp theo nguyên tắc tự nguyện để đầu tư xây dựng cơ sở hạtầng do HDND xã, phường quyết định đưa vào ngân sách xã, phường quản lý và cáckhoản dòng góp tự nguyện khác; Thu đấu thầu, thu khoán theo mùa vụ từ quỹ đấtcông ích và hoa lợi công sản khác theo quy định của pháp luật do xã, phường quảnlý; Thu tiền từ các hoạt động sự nghiệp của xã, phường, phần nộp vào ngân sáchnhà nước theo chế độ quy định; Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức, cá nhân ởnước ngoài trực tiếp cho ngân sách xã, phường theo quy định của pháp luật; Cáckhoản thu khác của ngân sách xã, phường theo quy định của pháp luật; Thu kết dưngân sách năm trước; Thu bổ sung từ ngân sách cấp trên