1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu thực trạng thiếu vitamin d, kẽm, thiếu máu dinh dưỡng và mối liên quan với tình trạng dinh dưỡng của trẻ từ 6 60 tháng tuổi tại viện dinh dưỡng quốc gia

80 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 2,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN (12)
    • 1.1 Dinh dưỡng Vitamin D ở trẻ em (12)
    • 1.2 Vi chất kẽm và vai trò với cơ thể trẻ em (16)
    • 1.3 Thiếu máu (20)
    • 1.4 Suy dinh dưỡng ở trẻ em (24)
    • 1.5 Tình hình nghiên cứu (28)
  • CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (31)
    • 2.1 Đối tượng nghiên cứu (31)
    • 2.2 Hóa chất và thiết bị (31)
    • 2.3 Nội dung nghiên cứu (31)
    • 2.4 Phương pháp nghiên cứu (32)
    • 2.5 Phương pháp thu thập số liệu (35)
    • 2.6 Xử lí số liệu và khống chế sai số (42)
    • 2.7 Đạo đức trong nghiên cứu (43)
  • CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (44)
    • 3.1 Kết quả khảo sát thực trạng thiếu vitamin D, kẽm, thiếu máu dinh dưỡng và tình trạng dinh dưỡng của trẻ từ 6-60 tháng tuổi (44)
    • 3.2 Kết quả phân tích mối liên quan giữa tình trạng thiếu máu, hàm lượng (52)
  • CHƯƠNG 4. BÀN LUẬN (55)
    • 4.1 Về kết quả thực trạng thiếu vitamin D, kẽm, thiếu máu dinh dưỡng do thiếu sắt và tình trạng dinh dưỡng của trẻ 6-60 tháng tuổi (55)
    • 4.2 Về kết quả phân tích mối liên quan giữa thiếu vitamin D, kẽm, thiếu máu (61)
    • 4.3 Hạn chế của nghiên cứu (64)
  • PHỤ LỤC (78)

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘILÊ NGUYỄN ANH THƯ NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG THIẾU VITAMIN D, KẼM, THIẾU MÁU DINH DƯỠNG VÀ MỐI LIÊN QUAN VỚI TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG CỦA TRẺ TỪ 6-60 THÁNG TUỔI TẠI V

TỔNG QUAN

Dinh dưỡng Vitamin D ở trẻ em

Quá trình chuyển hóa và vai trò sinh lý của vitamin D

1.1.1.1 Quá trình chuyển hóa của vitamin D

Vitamin D có hai dạng chính là ergocalciferol (Vitamin D2) và cholecalciferol (Vitamin D3), và trong lâm sàng hai dạng này được xem là có hoạt tính sinh học tương đương, dù một số nghiên cứu cho thấy D2 ít hiệu quả hơn và có thời gian tác dụng ngắn hơn D3 Ở người, vitamin D được tổng hợp trên da dưới tác động của ánh sáng mặt trời từ 7-dehydrocholesterol trong lớp biểu bì thành tiền vitamin D, hoặc được hấp thu từ thức ăn ở ruột, sau đó được gắn với protein DBP để vào máu và vận chuyển về gan Tại gan, nhờ enzym 25-hydroxylase (CYP2R1) xúc tác hydroxyl hóa tạo thành 25-hydroxycholecalciferol (25(OH)D) Nồng độ 25(OH)D trong máu tăng lên tỷ lệ thuận với lượng vitamin D tiếp nhận được, vì vậy 25(OH)D huyết thanh là một marker sinh học phản ánh tình trạng vitamin D của cơ thể.

25(OH)D trong máu được vận chuyển đến thận và được chuyển hóa thành 1,25‑dihydroxycholecalciferol (1,25(OH)2D) nhờ enzyme 25‑hydroxyvitamin D‑1α‑hydroxylase (CYP27B1) Đây là dạng chuyển hóa cuối cùng của vitamin D, có hoạt tính sinh học rất mạnh và được coi như một hormone của hệ nội tiết vitamin D.

D Sự sản xuất 1,25(OH)2D ở thận được điều hòa bởi nồng độ hormon tuyến cận giáp (PTH), nồng độ calci và phospho trong máu, yếu tố tăng trưởng nguyên bào xơ 23 ở xương [58], [75],[96]

1,25(OH)2D sau khi được tổng hợp sẽ đi vào nhân tế bào đích bằng cách liên kết với thụ thể vitamin D (VDR) Tại đây, phức hợp VDR được hoạt hóa và liên kết với thụ thể liên kết retinoid (RXR) – thụ thể của vitamin A – tạo thành phức hợp điều hòa, sau đó gắn với các yếu tố đáp ứng với vitamin D trên gen đích để điều chỉnh phiên mã và thực hiện các chức năng sinh học của vitamin D.

Hiện nay đã phát hiện được hơn 200 gen tham gia vào chuyển hóa và tác dụng của vitamin D đối với nhiều mô và cơ quan trong cơ thể [70]

Kể từ khi phát hiện ra VDR, người ta nhận thấy chúng không chỉ có ở tế bào thận mà còn có ở các tế bào khác trong cơ thể, đặc biệt là các tế bào hệ miễn dịch Hơn thế nữa, các tế bào này cũng có khả năng biến đổi 25(OH)D thành 1,25(OH)2D như các tế bào thận Sự khác biệt ở các tế bào này là 1,25(OH)2D hoạt động như một autocrin (tự tác động) hoặc paracrin (cận tác động) Điều này có nghĩa là 1,25(OH)2D được tạo ra sẽ bị phá hủy ngay sau khi đã thực hiện chức năng, vì vậy không ảnh hưởng đến nồng độ 1,25(OH)2D trong huyết tương [14].

1.1.1.2 Vai trò sinh lý của vitamin D

Vitamin D có vai trò sinh lý đặc trưng nhất là thúc đẩy khoáng hóa xương và tối ưu hóa sự hấp thu canxi ở đường ruột, từ đó đảm bảo sự vôi hóa bình thường của xương Thiếu vitamin D dẫn tới còi xương ở trẻ em và loãng xương ở người lớn; ngoài ra, vitamin D còn tham gia khoáng hóa răng, tăng cường chức năng tế bào miễn dịch và tăng sinh collagen Nghiên cứu cho thấy mối quan hệ giữa thiếu vitamin D với nhiều bệnh cấp tính và mãn tính như rối loạn chuyển hóa calci, bệnh tự miễn, một số loại ung thư, đái tháo đường type 2, bệnh tim mạch và các bệnh truyền nhiễm.

Gần đây, nhiều người cho rằng vitamin D có thể làm giảm nguy cơ mắc COVID-19, đặc biệt ở trẻ em, thông qua các cơ chế như kích hoạt bài tiết cathelicidin và các chất bảo vệ có khả năng làm giảm tốc độ sao chép của virus và giảm sản xuất các cytokine gây viêm phổi; vitamin D cũng tăng tiết các cytokine chống viêm, từ đó làm giảm nguy cơ xuất hiện bão cytokine Vitamin D còn tác động lên các gen liên quan đến miễn dịch thông qua liên kết với VDR, cho thấy vai trò tiềm năng trong việc loại bỏ SARS-CoV-2 Mặc dù đến nay chưa có thử nghiệm lâm sàng có đối chứng ngẫu nhiên đánh giá hiệu quả bổ sung vitamin D đối với bệnh nhân COVID-19 và bằng chứng cho mối liên hệ này vẫn chưa đủ, song bổ sung vitamin D cho thấy lợi ích lâm sàng ở các bệnh nhân COVID-19 nặng và giúp duy trì mức 25(OH)D lưu hành ở mức tối ưu (75-125 nmol/l) trong đại dịch này Đánh giá tình trạng vitamin D ở trẻ em là rất cần thiết.

Hiện nay, phần lớn các tổ chức y tế đồng thuận rằng đánh giá tình trạng vitamin D của cơ thể nên dựa trên nồng độ 25(OH)D trong huyết tương hoặc huyết thanh Nồng độ này được xem là chỉ số hàng đầu phản ánh lượng vitamin D có sẵn và quá trình chuyển hóa của cơ thể, do đó được coi là tiêu chuẩn vàng để xác định tình trạng thiếu hụt hay đủ vitamin D Việc đo 25(OH)D giúp bác sĩ đánh giá nguy cơ thiếu hụt, từ đó đề xuất các biện pháp bổ sung và chăm sóc sức khỏe phù hợp cho từng cá nhân, đặc biệt ở nhóm có nguy cơ cao như người cao tuổi, người sống ở vùng có ít ánh sáng mặt trời, hoặc người mắc các bệnh liên quan đến chuyển hóa vitamin D.

Nhiều nghiên cứu đã chứng minh mối liên hệ giữa 25(OH)D và PTH, mật độ khoáng xương và nguy cơ gãy xương, cho thấy tầm quan trọng của vitamin D trong quản lý sức khỏe xương ở trẻ em Ở trẻ em, các chỉ số lâm sàng hiện tại chưa đủ nhạy để phản ánh đầy đủ tình trạng vitamin D và ngưỡng thiếu hụt vitamin D có thể thay đổi tùy theo độ tuổi, môi trường và yếu tố di truyền Trong luận văn này, chúng tôi chọn ngưỡng phân loại tình trạng vitamin D ở trẻ 6-60 tháng tuổi như sau [57].

- Nồng độ 25(OH)D > 75nmol/l: Đủ vitamin D

- Nồng độ 25(OH)D < 75nmol/l: Không đủ vitamin D

+ Nồng độ 25(OH)D từ 50-74nmol/l: Hàm lượng vitamin D thấp

+ Nồng độ 25(OH)D từ 25-49nmol/l: Thiếu vitamin D

+ Nồng độ 25(OH)D < 25nmol/l: Thiếu vitamin D nặng Đây là ngưỡng phân loại được sử dụng phần lớn ở châu Âu, Bắc Mỹ và khu vực châu Á- Thái Bình Dương [112]

Xét nghiệm chính để định lượng 25(OH)D trong huyết tương là các phương pháp dựa trên miễn dịch (thường được dùng trong thực hành lâm sàng) và dựa trên sắc ký, với các kỹ thuật phổ biến gồm sắc ký lỏng cao áp kết hợp phổ khối (HPLC/MS), miễn dịch phóng xạ (RIA), miễn dịch enzym (EIA), gắn protein cạnh tranh (CPBA), gắn protein hóa phát quang (CLPB) và miễn dịch hóa phát quang (CLIA) Tuy nồng độ 25(OH)D toàn phần trong huyết tương có thể chênh lệch từ 20 đến 40% tùy theo phương pháp, do khả năng định lượng 25(OH)D2 yếu hơn so với 25(OH)D3, đặc biệt ở những nước dùng vitamin D2 làm nguồn bổ sung chính Trong các phương pháp kể trên, sắc ký lỏng cao áp kết hợp phổ khối (HPLC/MS) được xem là tiêu chuẩn vàng để định lượng nồng độ 25(OH)D trong huyết tương.

Dịch tễ học về tình trạng thiếu vitamin D ở trẻ em

Trên toàn cầu, do sự khác biệt về địa lý, mùa trong năm, độ tuổi và chủng tộc, ngưỡng phân loại tình trạng vitamin D vẫn chưa có sự thống nhất Vì vậy, tình trạng vitamin D thường được so sánh trong cùng một khu vực có đặc điểm địa lý và khí hậu tương tự Các đánh giá gần đây về tình trạng vitamin D trên thế giới cho thấy ở Bắc Mỹ, Mỹ Latinh và Úc tình trạng vitamin D nhìn chung tốt hơn so với châu Âu; Đông Nam Á cũng được đánh giá có tình trạng vitamin D tốt hơn Ấn Độ và Bắc Á.

Vitamin D ở Trung Phi được cho là tốt hơn so với Bắc và Nam Phi, trong khi tình trạng thiếu hụt Vitamin D thường được quan sát nhiều nhất ở Trung Đông Ở trẻ em, dữ liệu về tình trạng Vitamin D vẫn còn khá hạn chế, đặc biệt ở nhóm 6-60 tháng tuổi trên toàn cầu.

Tỷ lệ thiếu vitamin D ở trẻ em châu Á được nhận định là khá cao và có thể gặp ở cả các nước thuộc khu vực xích đạo; cụ thể, tỷ lệ này dao động từ 2,8% đến 65,3% ở Đông Á, từ 5% đến 66,7% ở Nam Á, từ 4% đến 45,5% ở Tây Á, và từ 38,1% đến 78,7% ở các nước Trung Á.

Ở Việt Nam, nhiều nghiên cứu đánh giá tình trạng thiếu vitamin D ở trẻ dưới 5 tuổi cho thấy tỷ lệ thiếu vitamin D rất cao Theo kết quả điều tra vi chất ở 19 tỉnh thành năm 2010, tỷ lệ thiếu vitamin D là 62,1% ở trẻ em thành thị và 53,7% ở trẻ em nông thôn [125] Điều này cho thấy thiếu hụt vitamin D phổ biến ở cả hai khu vực, làm nổi bật nhu cầu tăng cường dinh dưỡng và bổ sung vitamin D cho trẻ nhỏ tại Việt Nam.

2012, tỷ lệ thiếu vitamin D và hàm lượng vitamin D thấp ở trẻ em dưới 6 tháng tuổi được ghi nhận ở khu vực nội thành của Thủ đô Hà Nội là 23,6% và 40,7%

[27] Tiếp theo, nghiên cứu của Arnaud Laillou và cộng sự cho thấy tỷ lệ thiếu vitamin D tương ứng có nồng độ dưới 30nmol/l là 21% và nồng độ vitamin D từ

Ở mức 30–49,9 nmol/L, tỉ lệ thiếu hụt vitamin D là 37% Khoảng 90% phụ nữ và trẻ em có mức vitamin D huyết thanh dưới 75 nmol/L, cho thấy thiếu hụt phổ biến ở cộng đồng [79] Sau 4 năm, một nghiên cứu tại Hải Phòng năm 2017 cho thấy tỉ lệ thiếu hụt vitamin D ở trẻ dưới 5 tuổi lên tới 93,86% [12] Như vậy, tỉ lệ trẻ có hàm lượng vitamin D thấp và thiếu vitamin D ở cả nông thôn lẫn thành thị – đặc biệt ở các thành phố lớn như Hà Nội và Hải Phòng – vẫn còn ở mức cao.

Mối liên quan giữa tình trạng vitamin D và suy dinh dưỡng

Vi chất kẽm và vai trò với cơ thể trẻ em

Sinh hóa kẽm trong cơ thể

1.2.1.1 Phân bố kẽm trong cơ thể

Kẽm tham gia vào chức năng hoạt động của hơn 300 enzym và phân bố ở hầu hết các mô trong cơ thể như não, gan, thận, cơ, xương, da và tuyến tụy Kẽm huyết thanh chiếm khoảng 0,1% lượng kẽm cơ thể, trong đó khoảng 80% liên kết lỏng lẻo với albumin và khoảng 20% liên kết bền với α2-macroglobulin Trong tế bào, kẽm được phân bố chủ yếu trong tế bào chất (50%), nhân (30–40%) và màng (10%) [71].

Hình 1.1 Phân bố kẽm trong cơ thể

1.2.1.2 Hấp thụ và thải trừ kẽm qua đường ruột

Cân bằng nội môi kẽm trong và ngoài tế bào đạt được thông qua hoạt động của các chất vận chuyển ZnT và ZIP, đặc biệt ZIP4 và ZnT1 ZIP4 được biểu hiện ở bề mặt lòng ruột của tế bào đường ruột, giúp hấp thu kẽm từ lòng ruột; ZnT1 nằm ở bề mặt đáy bên của tế bào, liên quan đến vận chuyển kẽm vào cơ thể Sự hấp thu kẽm phụ thuộc vào nhu cầu và cân bằng nội môi kẽm của từng cá thể Khi nồng độ kẽm trong lòng ruột tăng đến khoảng 2 mM, tương ứng với lượng kẽm ăn vào khoảng 10 mg một ngày, kẽm được hấp thu theo cơ chế khuếch tán thụ động.

Trong tế bào, lượng kẽm dư thừa được tập trung bởi metallothionein (MT), một protein nội bào gắn kẽm, có chức năng sinh lý là điều chỉnh nồng độ của một số kim loại hóa trị hai ở động vật có vú MT giúp duy trì cân bằng kim loại trong tế bào và bảo vệ tế bào khỏi độc tính của kẽm dư thừa Lượng kẽm dư có thể mất đi trong phân khi các tế bào đường ruột bong tróc trong quá trình luân chuyển tế bào tự nhiên.

Vai trò của kẽm ở trẻ em

Kẽm tác động đến tăng trưởng thông qua hormon IGF-I [90] [89] Tác động được biết rõ nhất của IGF-I là kích thích tổng hợp và giảm thoái hóa protein IGF-

IGF-I có vai trò quan trọng trong tăng cường chuyển hóa, cải thiện tình trạng chán ăn, tăng sinh hồng cầu và giúp làm lành các vết thương Đặc biệt ở trẻ bị suy dinh dưỡng, hàm lượng IGF-I trong máu thường thấp, cho thấy mối liên hệ giữa mức IGF-I và sức khỏe dinh dưỡng cũng như khả năng phục hồi của trẻ.

Thiếu kẽm gây suy giảm miễn dịch Ở động vật thí nghiệm và cả ở trẻ em thiếu kẽm, hiện tượng hoạt hóa đại thực bào và quá trình thực bào bị suy giảm được ghi nhận Bên cạnh đó, kẽm là đồng yếu tố tham gia sản xuất thymulin, một hormone tuyến ức quan trọng cho sự trưởng thành của tế bào T trong hệ miễn dịch.

Thiếu kẽm ở mức trung bình đến nặng thường đi kèm với tiêu chảy, làm giảm khả năng hấp thu nước và điện giải, tăng bài tiết clorua và giảm hấp thu chất dinh dưỡng, từ đó kéo dài thời gian tiêu chảy và làm chậm quá trình hồi phục Trẻ em bị tiêu chảy nhiều lần dễ bị thiếu kẽm hơn và hậu quả của tình trạng này có thể tạo thành vòng xoắn bệnh lý giữa tiêu chảy, thiếu kẽm và suy dinh dưỡng (Hình 1.2) [113].

Hình 1.2 Sơ đồ vòng xoắn bệnh lý của tiêu chảy-thiếu kẽm-SDD Đánh giá tình trạng thiếu kẽm

Như đã trình bày ở trên, kẽm tham gia vào trên 300 enzym và phân bố rộng khắp các mô và cơ quan trong cơ thể, nên việc tìm ra chỉ số đặc hiệu để đánh giá tình trạng thiếu kẽm khá khó khăn Đến nay, đánh giá tình trạng thiếu kẽm ở bất kỳ dân số nào vẫn là một thách thức y khoa Tuy nhiên, trên lâm sàng có hai phương pháp chính được sử dụng để đánh giá mức độ thiếu kẽm: phân tích kẽm trên tóc bằng ICP-MS (phổ khối plasma cảm ứng) và xác định hàm lượng kẽm trong huyết thanh/huyết tương bằng phương pháp quang phổ hấp phụ nguyên tử (AAS).

Hàm lượng kẽm trên tóc (gọi tắt là kẽm tóc) là một chỉ số cho biết tình trạng dinh dưỡng kẽm và phản ánh sự tích lũy cũng như chuyển hóa kẽm Kẽm được hấp thu vào tóc thông qua các nang tóc đang phát triển nhờ hệ thống mao mạch trên da đầu Tế bào mầm tóc, phần tóc gần da đầu nhất, có thể phản ánh mức kẽm của cơ thể trong khoảng thời gian từ 4-8 tuần Tóc là một mô trơ và là nguyên liệu dễ sử dụng trong phân tích nguyên tố vi lượng của cơ thể, đặc biệt khi các nguyên tố này được tìm thấy trong tóc với hàm lượng cao hơn khoảng 10 lần so với hàm lượng trong nước tiểu, máu hoặc huyết tương [54] [109].

Mặc dù kẽm huyết tương không phải là chỉ số đáng tin cậy để đánh giá tình trạng dự trữ kẽm và chỉ giảm khi lượng kẽm tích lũy trong các mô bị suy kiệt, hàm lượng kẽm huyết tương còn phụ thuộc vào thời gian sau bữa ăn, khiến ngưỡng đánh giá thiếu kẽm có sự biến thiên Theo Hướng dẫn của Tổ chức Tư vấn quốc tế về thiếu kẽm dinh dưỡng (IZiNCG, 2004), các ngưỡng này được hiệu chỉnh theo thời gian sau ăn để phân loại thiếu kẽm một cách phù hợp.

10 huyết tương/huyết thanh vẫn là chỉ số được nhiều tác giả sử dụng để đánh giá tình trạng kẽm của cơ thể [85]

Trong cộng đồng, WHO đề xuất ba chỉ số để đánh giá nguy cơ thiếu kẽm: lượng kẽm trong khẩu phần ăn, tỉ lệ SDD thấp còi và nồng độ kẽm huyết thanh/huyết tương thấp; các chỉ số này được dùng để xác định mức độ thiếu kẽm ở cộng đồng và hỗ trợ thiết kế các biện pháp can thiệp dinh dưỡng, tham khảo [49].

- Tỉ lệ kẽm khẩu phần không đủ trên 20% được coi là có nguy cơ thiếu kẽm

- Tỉ lệ SDD thấp còi ở trẻ dưới 5 tuổi ≥ 20% được coi là thiếu kẽm có YNSKCĐ

- Phần trăm nồng độ kẽm huyết thanh/huyết tương thấp dưới ngưỡng giới hạn được sử dụng

Dịch tễ học về tình trạng thiếu kẽm ở trẻ em

Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), thiếu kẽm ảnh hưởng tới 31% dân số toàn cầu, với tỷ lệ lưu hành dao động từ 4% đến 73%; đặc biệt ở các nước đang phát triển, thiếu kẽm là một trong 10 yếu tố chính góp phần gây gánh nặng bệnh tật cho quốc gia Trên toàn cầu có hơn 2 tỷ người thiếu kẽm, trong đó hơn 500.000 trẻ dưới 5 tuổi tử vong mỗi năm Tại ba khu vực Mỹ Latin, châu Phi và châu Á, thiếu kẽm được báo cáo là yếu tố dẫn đến 4,4% tỷ lệ tử vong ở trẻ em và 3,8% gánh nặng bệnh tật ở trẻ từ 6-60 tháng tuổi Ở Ấn Độ, nghiên cứu trên trẻ 6-60 tháng tuổi cho thấy tỷ lệ thiếu kẽm là 43,8%, còn ở Trung Quốc là 38,2%.

Ở Việt Nam, số liệu trên toàn quốc về tình hình thiếu kẽm ở nhóm đối tượng nguy cơ cao như trẻ nhỏ vẫn còn hạn chế, gây khó khăn cho việc đánh giá mức độ nghiêm trọng và thiết kế các biện pháp can thiệp phù hợp Các nhà khoa học dinh dưỡng, điển hình là tác giả Nguyễn Xuân Ninh và cộng sự (2004) và Bùi Đại Thụ và cộng sự, đã tiến hành các nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ thực trạng thiếu kẽm ở trẻ em và ảnh hưởng của nó tới tăng trưởng cũng như miễn dịch Việc cập nhật và mở rộng dữ liệu hiện tại là cần thiết để định lượng mức thiếu kẽm, đánh giá tác động sức khỏe và xây dựng chiến lược dinh dưỡng quốc gia nhằm cải thiện tình trạng thiếu kẽm ở Việt Nam.

Các đánh giá trước đây cho thấy thiếu kẽm ở trẻ em có sự dao động lớn tùy khu vực và thời điểm Năm 1999, dựa trên nồng độ kẽm huyết thanh thấp (

Ngày đăng: 14/08/2022, 13:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chung Hữu Nghị Nguyễn Ngọc Vy Thư (2018), "Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và các yếu tố liên quan của bệnh thiếu máu thiếu sắt ở trẻ 2-59 tháng tuổi nhập viện tại Bệnh viện Nhi Đồng Cần Thơ", Tạp chí Y Dược học Cần Thơ, 11-12, pp. 437-443 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và các yếu tố liên quan của bệnh thiếu máu thiếu sắt ở trẻ 2-59 tháng tuổi nhập viện tại Bệnh viện Nhi Đồng Cần Thơ
Tác giả: Chung Hữu Nghị Nguyễn Ngọc Vy Thư
Năm: 2018
2. Hoàng Đức Phúc và cộng sự (2020), "Thực trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi tại một số quận huyện ở Hà Nội năm 2019", Tạp chí Y học Dự Phòng, 30(6), pp. 53-60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi tại một số quận huyện ở Hà Nội năm 2019
Tác giả: Hoàng Đức Phúc và cộng sự
Năm: 2020
3. Hoàng Văn Phương, Lê Danh Tuyên, Nguyễn Thị Kim Tiến, Trần Thúy Nga, Phạm Thị Thanh Bình, Nguyễn Song Tú (2017), "Tình trạng thiếu máu và yếu tố liên quan ở trẻ 36-59 tháng tuổi suy dinh dưỡng và nguy cơ suy dinh dưỡng thấp còi tại huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam năm 2015", Tạp chí Y học Dự Phòng, 27(6), pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình trạng thiếu máu và yếu tố liên quan ở trẻ 36-59 tháng tuổi suy dinh dưỡng và nguy cơ suy dinh dưỡng thấp còi tại huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam năm 2015
Tác giả: Hoàng Văn Phương, Lê Danh Tuyên, Nguyễn Thị Kim Tiến, Trần Thúy Nga, Phạm Thị Thanh Bình, Nguyễn Song Tú
Năm: 2017
4. Kathryn G. Dewey Khadija Begum (2011), "Tương tác giữa dinh dưỡng và nhiễm khuẩn: ảnh hưởng đến sự tăng trưởng trong những năm đầu đời của trẻ", Insight. Alive &amp; thrive, 3, pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tương tác giữa dinh dưỡng và nhiễm khuẩn: ảnh hưởng đến sự tăng trưởng trong những năm đầu đời của trẻ
Tác giả: Kathryn G. Dewey Khadija Begum
Năm: 2011
7. Lưu Thị Mỹ Thục (2012), "Thực trạng về thiếu vi chất dinh dưỡng ở nhóm trẻ suy dinh dưỡng vừa và nhẹ tại Viện Nhi Trung Ương", Tạp chí Y học Thực hành, 804(1), pp. 88-92 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng về thiếu vi chất dinh dưỡng ở nhóm trẻ suy dinh dưỡng vừa và nhẹ tại Viện Nhi Trung Ương
Tác giả: Lưu Thị Mỹ Thục
Năm: 2012
8. Lưu Thị Mỹ Thục Nguyễn Thái Hà và cs (2019), "Thiếu hụt vitamin D ở trẻ 6-11 tuổi tại Bệnh viện Nhi Trung Ương và một số yếu tố liên quan", Tạp chí Nhi khoa 12(3), pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiếu hụt vitamin D ở trẻ 6-11 tuổi tại Bệnh viện Nhi Trung Ương và một số yếu tố liên quan
Tác giả: Lưu Thị Mỹ Thục, Nguyễn Thái Hà
Nhà XB: Tạp chí Nhi khoa
Năm: 2019
9. Nguyễn Lân và cộng sự (2015), "Hiệu quả bổ sung sản phẩm dinh dưỡng công thức Dutch Lady khám phá lên tình trạng vi chất dinh dưỡng và nhân trắc của trẻ 2-4 tuổi tại một số nhà trẻ ngoại thành Hà Nội", pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả bổ sung sản phẩm dinh dưỡng công thức Dutch Lady khám phá lên tình trạng vi chất dinh dưỡng và nhân trắc của trẻ 2-4 tuổi tại một số nhà trẻ ngoại thành Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Lân và cộng sự
Năm: 2015
10. Nguyễn Song Tú Trần Thúy Nga, Phạm Vĩnh An (2020), "Thực trạng thiếu vitamin D và một số yếu tố liên quan ở trẻ suy dinh dưỡng ở các trường mầm non, tiểu học tại hai huyện Lục Yên và Yên Bình, tỉnh Yên Bái năm 2017", Tạp chí Y học Dự Phòng, 30(5), pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng thiếu vitamin D và một số yếu tố liên quan ở trẻ suy dinh dưỡng ở các trường mầm non, tiểu học tại hai huyện Lục Yên và Yên Bình, tỉnh Yên Bái năm 2017
Tác giả: Nguyễn Song Tú Trần Thúy Nga, Phạm Vĩnh An
Năm: 2020
11. Nguyễn Thị Khánh Huyền, Nguyễn Trọng Hưng, Nguyễn Thị Hương Lan (2020), "Tình trạng dinh dưỡng của trẻ 6-36 tháng tuổi khám tư vấn dinh dưỡng tại Viện Dinh Dưỡng năm 2018", Tạp chí Nghiên cứu Y học, 129(5), pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình trạng dinh dưỡng của trẻ 6-36 tháng tuổi khám tư vấn dinh dưỡng tại Viện Dinh Dưỡng năm 2018
Tác giả: Nguyễn Thị Khánh Huyền, Nguyễn Trọng Hưng, Nguyễn Thị Hương Lan
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu Y học
Năm: 2020
12. Nguyễn Thị Ngọc Yến và cs (2021), "Đặc điểm dịch tễ, lâm sàng của bệnh thiếu vitamin D ở trẻ em dưới 5 tuổi tại Trường Thọ, An Lão, Hải Phòng năm 2017", Tạp chí Y học Việt Nam, 505(2), pp. 184-188 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm dịch tễ, lâm sàng của bệnh thiếu vitamin D ở trẻ em dưới 5 tuổi tại Trường Thọ, An Lão, Hải Phòng năm 2017
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Yến và cs
Năm: 2021
13. Nguyễn Thị Trang và cs (2021), "Đặc điểm dịch tễ học lâm sàng và một số yếu tố liên quan đến thiếu máu thiếu sắt ở trẻ từ 6 tháng đến 5 tuổi", Tạp chí Y học Việt Nam, 503(6), pp. 194-199 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm dịch tễ học lâm sàng và một số yếu tố liên quan đến thiếu máu thiếu sắt ở trẻ từ 6 tháng đến 5 tuổi
Tác giả: Nguyễn Thị Trang
Nhà XB: Tạp chí Y học Việt Nam
Năm: 2021
14. Nguyễn Văn Tuấn Nguyễn Đình Nguyên (2007), "Loãng xương: nguyên nhân, chẩn đoán, điều trị và phòng ngừa", pp. Hội loãng xương TP. Hồ Chí Minh. Nhà xuất bản Y Học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Loãng xương: nguyên nhân, chẩn đoán, điều trị và phòng ngừa
Tác giả: Nguyễn Văn Tuấn Nguyễn Đình Nguyên
Nhà XB: Nhà xuất bản Y Học
Năm: 2007
15. Nguyễn Xuân Hùng (2020), Thực trạng suy dinh dưỡng thấp còi và hiệu quả can thiệp ở trẻ 12 đến 36 tháng tuổi tại huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên năm 2017, Luận án, Trường Đại học Y Dược Hải Phòng, Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng suy dinh dưỡng thấp còi và hiệu quả can thiệp ở trẻ 12 đến 36 tháng tuổi tại huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên năm 2017
Tác giả: Nguyễn Xuân Hùng
Nhà XB: Trường Đại học Y Dược Hải Phòng
Năm: 2020
16. Nguyễn Xuân Ninh, Hoàn Khải Lập, Cao Thị Thu Hương (2004), "Tình trạng vi chất dinh dưỡng (vitamin A, sắt, kẽm) của trẻ 5-8 tháng tuổi, tại một huyện miền núi phía Bắc", Đề tài cấp nhà nước KC-10.05 giai đoạn 2002-2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình trạng vi chất dinh dưỡng (vitamin A, sắt, kẽm) của trẻ 5-8 tháng tuổi, tại một huyện miền núi phía Bắc
Tác giả: Nguyễn Xuân Ninh, Hoàn Khải Lập, Cao Thị Thu Hương
Năm: 2004
17. Nguyễn Xuân Ninh và cộng sự (2014), "Hiệu quả của bánh bích quy có bổ sung Ergosterol giàu vitamin D2 đến tình trạng dinh dưỡng và một số chỉ tiêu sinh hóa trên học sinh tiểu học", Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm, 10(4), pp. 132-140 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả của bánh bích quy có bổ sung Ergosterol giàu vitamin D2 đến tình trạng dinh dưỡng và một số chỉ tiêu sinh hóa trên học sinh tiểu học
Tác giả: Nguyễn Xuân Ninh và cộng sự
Năm: 2014
18. Nguyễn Xuân Ninh và Nguyễn Công Khẩn (2006), " Khuynh hướng thay đổi bệnh thiếu Vitamin A, thiếu máu ở Việt Nam trong những năm gần đây, một số khuyến nghị mới về biện pháp phòng chống", Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm, 3, pp. 1-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khuynh hướng thay đổi bệnh thiếu Vitamin A, thiếu máu ở Việt Nam trong những năm gần đây, một số khuyến nghị mới về biện pháp phòng chống
Tác giả: Nguyễn Xuân Ninh và Nguyễn Công Khẩn
Năm: 2006
19. Phạm Thị Diệp, Nguyễn Thị Thanh Luyến (2020), "Tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan ở trẻ từ 6-24 tháng tuổi tại bệnh viện Bắc Thăng Long năm 2019", Tạp chí Y học Dự Phòng, 30(8), pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan ở trẻ từ 6-24 tháng tuổi tại bệnh viện Bắc Thăng Long năm 2019
Tác giả: Phạm Thị Diệp, Nguyễn Thị Thanh Luyến
Nhà XB: Tạp chí Y học Dự Phòng
Năm: 2020
21. Phạm Vân Thúy (2014), "Tỷ lệ thiếu máu, thiếu kẽm và thiếu vitamin A ở trẻ 12-72 tháng tuổi năm 2010", Tạp chí Y học Thực hành, 914(4), pp. 155- 158 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỷ lệ thiếu máu, thiếu kẽm và thiếu vitamin A ở trẻ 12-72 tháng tuổi năm 2010
Tác giả: Phạm Vân Thúy
Nhà XB: Tạp chí Y học Thực hành
Năm: 2014
23. Trần Thúy Nga, Phạm Vân Thúy (2014), "Tỉ lệ thiếu máu, thiếu kẽm và một số yếu tố liên quan ở trẻ em dưới 5 tuổi tại một số xã miền núi phía Bắc", Tạp chí Y học Việt Nam, 1, pp. 90-93 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỉ lệ thiếu máu, thiếu kẽm và một số yếu tố liên quan ở trẻ em dưới 5 tuổi tại một số xã miền núi phía Bắc
Tác giả: Trần Thúy Nga, Phạm Vân Thúy
Nhà XB: Tạp chí Y học Việt Nam
Năm: 2014
25. Vũ Sỹ Khảng và cộng sự (2021), "Một số yếu tố liên quan đến suy dinh dưỡng nhẹ cân và thấp còi ở trẻ 2 tháng đến dưới 5 tuổi mắc viêm phổi tại Bệnh viện trẻ em Hải Phòng năm 2019", Tạp chí Y học Việt Nam, 503(Số đặc biệt), pp. 52-59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số yếu tố liên quan đến suy dinh dưỡng nhẹ cân và thấp còi ở trẻ 2 tháng đến dưới 5 tuổi mắc viêm phổi tại Bệnh viện trẻ em Hải Phòng năm 2019
Tác giả: Vũ Sỹ Khảng và cộng sự
Năm: 2021

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm