Tranh chấp trong ngoại thương cũng có ít nhất là hai bên tranh chấp, có đối tượng tranh chấp, có nội dung tranh chấp, tranh chấp có thể được giải quyết giữa các bên với nhau hoặc do một
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG………
Luận văn Giải quyết các tranh chấp trong ngoại thương và thực tiễn giải quyết tranh chấp tại Công ty dệt may Hà Nội
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ xa xưa việc giao lưu buôn bán giữa các quốc gia, mà sau này được gọi là hoạt động ngoại thương, đã gắn liền với sự tồn tại và phát triển của loài người Hoạt động ngoại thương mở rộng khả năng tiêu dùng của một nước Nó cho phép một nước tiêu dùng tất cả các mặt hàng với số lượng nhiều hơn mức có thể tiêu dùng với ranh giới của khả năng sản xuất trong nước đó nếu thực hiện chế độ tự cung tự cấp không buôn bán Hơn thế nữa, thông qua ngoại thương một quốc gia có thể tiêu dùng tất cả các mặt hàng mình mong muốn mà không cần phải sản xuất mặt hàng đó Chính vì vậy, ngoại thương giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế Nó thúc đẩy
sự phát triển nền kinh tế của các quốc gia nói riêng và nền kinh tế thế giới nói chung
Cùng với quá trình khu vực hoá, toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ trên khắp thế giới, Việt nam cũng đang trên đà hội nhập kinh tế theo hướng
đa dạng hoá, đa phương hoá theo nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi Hoạt động ngoại thương của nước ta cũng vì thế mà ngày càng phát triển, đem lại những lợi ích to lớn cho nền kinh tế nước nhà Hoạt động buôn bán quốc tế được tiến hành thông qua việc ký kết và thực hiện các hợp đồng trong ngoại thương Khi đàm phán ký kết hợp đồng các bên đều muốn tốt đẹp nhưng do những khác biệt về ngôn ngữ, văn hoá, luật pháp…nên tranh chấp là khó tránh khỏi Việc giải quyết có hiệu quả các tranh chấp phát sinh luôn là vấn
đề được các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu quan tâm
Trang 3Với mong muốn giúp cho các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu và bạn đọc quan tâm có thêm tài liệu tham khảo về các phương pháp giải quyết tranh chấp trong ngoại thương cả trên lý thuyết và thực tế, tìm hiểu một số biện pháp nhằm giúp cho việc giải quyết tranh chấp trong ngoại thương đạt hiệu quả cao để từ đó rút ra kinh nghiệm cho riêng mình, tôi chọn đề tài:
“Giải quyết các tranh chấp trong ngoại thương và thực tiễn giải quyết tranh chấp tại Công ty dệt may Hà nội” làm đề tài nghiên cứu cho khoá luận tốt nghiệp đại học của mình
2 Mục đích nghiên cứu
- Khoá luận trước tiên nhằm nghiên cứu một cách tương đối bao quát các tranh chấp trong ngoại thương và các phương pháp giải quyết tranh chấp
- Tiếp đó, khoá luận tìm hiểu thực tiễn giải quyết tranh chấp trong ngoại thương tại một doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu, cụ thể là Công ty dệt may Hà nội
- Sau khi nghiên cứu lý thuyết và tìm hiểu thực tiễn, khoá luận đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp trong ngoại thương nói chung và ở Công ty dệt may Hà nội nói
riêng
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khoá luận là các phương pháp giải quyết tranh chấp trong ngoại thương và thực tiễn ứng dụng các phương pháp này tại một doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu Cụ thể, khoá luận nghiên cứu cách thức áp dụng các phương pháp giải quyết tranh chấp trong ngoại
Trang 4thương và việc áp dụng như thế nào để đem lại hiệu quả cao, từ đó rút ra phương pháp giải quyết phù hợp cho mỗi một tranh chấp thực tế xảy ra Phạm vi khoá luận giới hạn chỉ ở việc nghiên cứu và phân tích các tranh chấp trong ngoại thương phát sinh từ hợp đồng mua bán hàng hoá
quốc tế của Công ty dệt may Hà nội trong thời gian vừa qua
4 Bố cục khoá luận
Khoá luận được kết cấu thành ba chương như sau:
Chương I : Một số vấn đề chung về giải quyết tranh chấp trong ngoại thương
Chương II : Thực trạng giải quyết tranh chấp trong ngoại thương tại Công ty dệt may Hà nội
Chương III : Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp trong ngoại thương ở Công ty dệt may Hà nội trong thời gian tới
Mặc dù đã được các thầy cô nhiệt tình hướng dẫn trong quá trình làm khoá luận, cùng với sự cố gắng, nỗ lực của bản thân và kiến thức đã được học, nhưng do hạn chế về thời gian, tài liệu và kinh nghiệm nên khoá luận khó tránh khỏi những khiếm khuyết Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp từ các độc giả có quan tâm để giúp cho việc tiếp tục nghiên cứu sau này được tốt hơn
Trang 5CHƯƠNG I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP TRONG NGOẠI THƯƠNG
I/ TRANH CHẤP TRONG NGOẠI THƯƠNG VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA NÓ
1 Nhận xét chung về tranh chấp và tranh chấp trong ngoại thương
Tranh chấp là những xung đột phát sinh từ những mâu thuẫn xảy ra
trong đời sống xã hội
Trong cuộc sống hàng ngày tranh chấp thường xuyên xảy ra, từ những mâu thuẫn nhỏ mà các bên có thể tự giải quyết được với nhau đến những mâu thuẫn lớn phải nhờ đến sự giải quyết của cơ quan có thẩm quyền Tranh chấp có thể nảy sinh từ mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó lĩnh vực thương mại nói chung hay lĩnh vực ngoại thương nói riêng là một trong những lĩnh vực hay xảy ra tranh chấp nhất và việc giải quyết các tranh chấp này thường là khó khăn, phức tạp hơn so với các lĩnh vực khác
Tranh chấp trong ngoại thương là mọi tranh chấp, xung đột phát sinh
giữa các bên trong quá trình ký kết, thực hiện hợp đồng trong ngoại thương Tranh chấp trong ngoại thương trước hết phát sinh trong quá trình đàm phán, ký kết hợp đồng ngoại thương Trong quá trình này các tranh chấp
Trang 6phát sinh chủ yếu là do các bên có cách hiểu, cách quan niệm khác nhau về khía cạnh pháp lý của việc hình thành một hợp đồng Hợp đồng trong ngoại thương mang “tính chất quốc tế” nên nó chịu sự điều chỉnh và chi phối của rất nhiều nguồn luật: điều ước quốc tế, luật quốc gia, tập quán quốc tế, Các nguồn luật khác nhau thường có các qui định không giống nhau về chủ thể
ký kết hợp đồng, hình thức của hợp đồng, trình tự ký kết hợp đồng, nội dung hợp đồng,…dẫn đến sự hiểu lầm, bất đồng và tranh chấp, làm phát sinh những xung đột về mặt pháp lý Ví dụ, Luật Thương mại Việt nam 1997 Điều 49 qui định hình thức của hợp đồng mua bán hàng hoá mà pháp luật qui định phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo qui định đó, trong khi đó luật của Pháp cho phép ký kết hợp đồng bằng miệng Hay như về nội dung của hợp đồng thì Luật Thương mại Việt nam 1997 qui định các điều khoản về tên hàng, số lượng, qui cách chất lượng, giá cả, phương thức thanh toán, địa điểm và thời hạn giao nhận hàng là các điều khoản chủ yếu của hợp đồng mua bán hàng hoá Theo luật Pháp thì điều khoản chủ yếu chỉ bao gồm tên hàng, số lượng, qui cách chất lượng, giá cả và phương thức thanh toán.v.v…
Bên cạnh đó, tranh chấp trong ngoại thương còn phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng ngoại thương Hợp đồng sau khi được ký kết là cơ
sở pháp lý qui định quyền và nghĩa vụ của các bên Bản chất của hợp đồng
là đem lại lợi ích cho tất cả các chủ thể tham gia Song quyền lợi của các bên chỉ được đảm bảo trong chừng mực mà nghĩa vụ của các bên qui định trong hợp đồng phải được thực hiện đầy đủ và chính xác Tuy quan hệ hợp đồng là quan hệ “hai bên cùng có lợi” nhưng do quyền lợi của các bên lại khác nhau nên việc một trong các bên không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ của mình tất yếu làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bên kia Khi quyền lợi của các bên không được đảm bảo thì tranh chấp phát sinh là điều
Trang 7không thể tránh khỏi Ví dụ, trong quá trình thực hiện hợp đồng mua bán ngoại thương, khi người bán vi phạm nghĩa vụ giao hàng hay người mua vi phạm nghĩa vụ trả tiền hàng thì đều ảnh hưởng đến quyền lợi của bên kia và dẫn đến tranh chấp xảy ra Như vậy, sự khác nhau về quyền lợi của các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tranh chấp
2 Đặc điểm của tranh chấp trong ngoại thương
Vì tranh chấp trong ngoại thương cũng là một tranh chấp nên tranh chấp trong ngoại thương có những đặc điểm của một tranh chấp thông thường Tranh chấp trong ngoại thương cũng có ít nhất là hai bên tranh chấp,
có đối tượng tranh chấp, có nội dung tranh chấp, tranh chấp có thể được giải quyết giữa các bên với nhau hoặc do một cơ quan có thẩm quyền giải quyết…
Bên cạnh đó, tranh chấp trong ngoại thương còn mang một số đặc điểm của hợp đồng mua bán ngoại thương do chúng cùng liên quan và có ảnh hưởng quan trọng đến hoạt động ngoại thương Các đặc điểm đó như sau:
Thứ nhất, tranh chấp trong ngoại thương có yếu tố quốc tế Yếu tố quốc
tế của tranh chấp trong ngoại thương thể hiện ở chỗ các bên tranh chấp có trụ sở thương mại đặt ở các nước khác nhau
Thứ hai, tranh chấp trong ngoại thương mang tính thương mại Tất cả
các tranh chấp trong ngoại thương đều có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động buôn bán, cụ thể là hoạt động buôn bán với nước ngoài
Thứ ba, cơ quan giải quyết tranh chấp trong ngoại thương là toà án hay
trọng tài của một nước nào đó được coi là toà án hay trọng tài nước ngoài
Thứ tư, luật áp dụng để giải quyết tranh chấp trong ngoại thương là luật
nước ngoài đối với ít nhất là một trong các bên hoặc với tất cả các bên
Trang 8Thứ năm, luật áp dụng để giải quyết tranh chấp trong ngoại thương rất
đa dạng và phức tạp: luật quốc gia, luật quốc tế, tập quán quốc tế và các án
lệ Các bên có thể thoả thuận lựa chọn nguồn luật thích hợp để áp dụng trong việc giải quyết tranh chấp trong hợp đồng ngoại thương hoặc thoả thuận sau khi ký kết hợp đồng Việc áp dụng nguồn luật nào cũng có thể do pháp luật qui định
II/ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG NGOẠI THƯƠNG
1 Nhận xét chung
Bất kỳ một hợp đồng nào trong lĩnh vực ngoại thương nếu được các bên đương sự thực hiện đúng thì không xảy ra tranh chấp và do đó cũng không cần việc giải quyết tranh chấp Nhưng trong thực tế sự tranh chấp gần như là một người bạn đồng hành với hoạt động ngoại thương Khi tham gia vào hợp đồng mua bán ngoại thương các bên đều không muốn tranh chấp phát sinh, nhưng do nhiều nguyên nhân khách quan cũng như chủ quan mà tiêu biểu nhất là sự đối lập quyền lợi giữa các bên, tranh chấp vẫn thường xảy ra Có tranh chấp phát sinh cũng có nghĩa là tranh chấp đó phải được giải quyết thoả đáng Như vậy, giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng là khâu cuối cùng không thể thiếu được của cả một quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng trong ngoại thương
Về mặt lý luận cũng như thực tiễn, việc giải quyết các tranh chấp phát sinh trong ngoại thương thường được tiến hành theo hai phương pháp và cũng là hai giai đoạn, đó là khiếu nại và đi kiện
Khiếu nại là biện pháp thường được sử dụng trước tiên đem lại hiệu quả cao đồng thời tạo thuận lợi cho các bên trong việc giải quyết tranh chấp Khi
Trang 9tranh chấp không thể giải quyết được bằng khiếu nại, bên bị vi phạm mới nên đi kiện Việc đi kiện có thể đưa ra toà án hoặc trọng tài tuỳ theo qui định trong hợp đồng, theo luật định hay theo sự thoả thuận của hai bên Biện pháp này có hiệu lực thi hành cao hơn nhưng lại tốn kém thời gian, tiền bạc và dễ làm xấu đi mối quan hệ buôn bán của các bên Tuy nhiên, nhiều khi để bảo
vệ quyền lợi của mình, việc đi kiện với bên bị vi phạm là cần thiết
2 Giải quyết tranh chấp trong ngoại thương bằng khiếu nại và đặc điểm
2.1 Khái niệm
Khiếu nại là việc giải quyết tranh chấp phát sinh giữa các bên có liên quan bằng con đường thương lượng và đàm phán trực tiếp giữa hai bên và nếu thương lượng có kết quả thì tranh chấp được giải quyết tốt đẹp
Đối với tranh chấp phát sinh từ hợp đồng mua bán ngoại thương, hợp đồng bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu, khiếu nại là bắt buộc nếu điều đó được qui định cụ thể trong hợp đồng hoặc trong luật áp dụng cho hợp đồng Khi hợp đồng hoặc luật áp dụng cho hợp đồng không có qui định gì về khiếu nại thì khiếu nại không phải là bắt buộc, bên có quyền lợi bị vi phạm có thể
bỏ qua bước khiếu nại mà đi kiện ngay
Đối với tranh chấp phát sinh từ hợp đồng chuyên chở hàng hoá bằng đường biển thì điều ước quốc tế và luật liên quan của các nước không qui định bắt buộc phải khiếu nại rồi mới đi kiện, mà có thể đi kiện ngay ra toà án hoặc trọng tài thương mại Tuy vậy, trong thực tế các bên đương sự thường tiến hành khiếu nại nhau trước, rồi sau đó mới đi kiện nếu như khiếu nại không được thoả mãn Sở dĩ trước hết cần phải tiến hành khiếu nại chứ chưa
đi kiện ngay vì các bên đương sự là những người hiểu rõ tranh chấp cho nên
Trang 10dễ dàng nhân nhượng với nhau, rút ngắn được thời gian giải quyết tranh chấp, không bị đọng vốn và lệ phí giải quyết tranh chấp đỡ tốn kém
Mặc dù khiếu nại có thể là bắt buộc hoặc không bắt buộc tuỳ theo qui định trong hợp đồng hoặc trong luật áp dụng cho hợp đồng và khi hợp đồng hoặc trong luật áp dụng cho hợp đồng không có qui định gì về khiếu nại thì khiếu nại không phải là bắt buộc, bên có quyền lợi bị vi phạm có thể bỏ qua bước khiếu nại mà đi kiện ngay, nhưng trước tiên các bên tranh chấp nên giải quyết tranh chấp phát sinh trong ngoại thương bằng khiếu nại Luật pháp nhiều nước qui định khiếu nại là phương thức bắt buộc đầu tiên để giải quyết tranh chấp Cụ thể, khoản 1 điều 239 Luật thương mại Việt nam 1997
đã qui định : “Tranh chấp thương mại trước hết phải được giải quyết thông qua thương lượng giữa các bên” Khi đó, khiếu nại là cơ sở pháp lý để giải quyết tranh chấp ở các mức cao hơn là Toà án và Trọng tài
Khiếu nại là một khâu rất quan trọng trong hoạt động ngoại thương cho nên người làm công tác xuất nhập khẩu cần nắm vững kiến thức về nghiệp
vụ ngoại thương cũng như kiến thức pháp lý về khiếu nại
Trong hoạt động thương mại và hàng hải quốc tế, khiếu nại liên quan đến nhiều bên như người bán, người mua, người chuyên chở, người thuê chở, người gửi hàng, người nhận hàng, người uỷ thác, người nhận uỷ thác, người bảo hiểm v.v… Song khiếu nại người bán hàng, người chuyên chở hàng hoá bằng đường biển, người bảo hiểm hàng hoá là những trường hợp hay xảy ra nhất
2.2 Đặc điểm
Để có thể tiến hành giải quyết thành công tranh chấp trong ngoại thương bằng phương pháp khiếu nại các bên cần tuân thủ chặt chẽ thời hạn khiếu nại
và thủ tục khiếu nại
Trang 11a) Thời hạn khiếu nại
Thời hạn khiếu nại là một khoảng thời gian nhất định cho phép các bên tiến hành giải quyết tranh chấp với nhau bằng con đường khiếu nại
Thời hạn khiếu nại được chia làm hai loại: thời hạn khiếu nại theo luật định và thời hạn khiếu nại qui ước
Thời hạn khiếu nại theo luật định là thời hạn khiếu nại được qui định trong luật mà các bên đương sự phải tuân theo, không được làm khác đi Thời hạn khiếu nại được qui định trong điều ước quốc tế về hợp đồng mua bán ngoại thương là thời hạn khiếu nại luật định Ví dụ, Điều 49 Công ước
La Hay 1964 về mua bán quốc tế những động sản hữu hình qui định thời hạn khiếu nại về phẩm chất hàng hoá là 1 năm kể từ lúc người mua thông báo cho người bán biết về hàng không phù hợp Hay như Điều 39 Công ước Viên của Liên hợp quốc về mua bán quốc tế hàng hoá thời hạn khiếu nại về hàng không phù hợp là 2 năm kể từ ngày hàng đã thực sự được giao cho người mua
Thời hạn khiếu nại qui ước là thời hạn khiếu nại do các bên qui định trong hợp đồng Việc qui định thời hạn khiếu nại ngắn hay dài do các bên tự thoả thuận quyết định Thông thường, thời hạn khiếu nại qui ước ngắn hơn thời hạn khiếu nại luật định, thậm chí là rất ngắn Chẳng hạn, hợp đồng mẫu của tập đoàn mua bán gỗ thông Bắc Âu qui định thời hạn khiếu nại chỉ là 7 ngày
Luật Thương mại Việt nam 1997 đề cập đến cả thời hạn khiếu nại luật định và thời hạn khiếu nại qui ước Điều 241 khoản 2 Luật Thương mại Việt nam qui định thời hạn khiếu nại do các bên thoả thuận trong hợp đồng, trong trường hợp không có thoả thuận thì thời hạn khiếu nại được qui định như sau:
Trang 12- Ba tháng kể từ ngày giao hàng đối với khiếu nại về số lượng hàng hoá;
- Sáu tháng kể từ ngày giao hàng đối với khiếu nại về qui cách, chất lượng hàng hoá; trong trường hợp hàng hoá có bảo hành thì thời hạn khiếu nại là ba tháng kể từ ngày hết thời hạn bảo hành;
- Ba tháng kể từ khi bên vi phạm theo hợp đồng đối với khiếu nại về các hành vi thương mại khác
Khi qui định thời hạn khiếu nại cần xác định vị trí của mình, có ưu thế hay không; cần căn cứ vào tính chất, đặc điểm của hàng hoá, căn cứ vào khoảng cách xa gần giữa người bán và người mua, mức độ hiện đại của phương tiện giao thông,…để qui định là dài hay ngắn
Trong trường hợp cả hợp đồng lẫn luật áp dụng cho hợp đồng đều không qui định gì về thời hạn khiếu nại thì thông thường đó là một khoảng thời gian hợp lý kể từ ngày bên bị vi phạm biết được hoặc đáng lẽ ra phải biết được quyền lợi của mình bị vi phạm Do vậy, trong trường hợp này khi phát hiện ra quyền lợi của mình bị vi phạm, bên bị vi phạm phải nhanh chóng lập bộ hồ sơ khiếu nại để gửi đi trong thời gian nhanh nhất và hợp lý Các bên tranh chấp cần phải đặc biệt chú ý tới thời hạn khiếu nại Nếu bên bị vi phạm bỏ lỡ thời hạn khiếu nại thì sẽ mất quyền khiếu nại và hoặc mất quyền đi kiện, quyền thắng kiện, còn bên vi phạm có quyền bác khiếu nại nếu thấy thời hạn khiếu nại đã hết
Để thấy rõ tác hại của việc bỏ lỡ thời hạn khiếu nại chúng ta xem xét ví
dụ sau:
Một công ty của Việt nam mua bông của một công ty của Xuđăng
Hợp đồng qui định một số nội dung chính như sau:
- Số lượng: 650 MT bông cấp 4 và 3249 MT bông cấp 6
- Thời hạn giao hàng: tháng 11 và 12 năm 1978
Trang 13- Thời hạn khiếu nại: 30 ngày sau khi dỡ hàng đối với khuyết tật rõ rệt
và 90 ngàyđối với khuyết tật không rõ rệt
Quá trình thực hiện hợp đồng diễn ra như sau:
+ Ngày 29/01/1979, tàu đến cảng Việt nam
+ Ngày 05/02/1979, phía Việt nam yêu cầu Vinacontrol giám định hàng + Ngày 24/02/1979, bên Việt nam nhận được biên bản giám định của Vinacontrol và gửi thư nhắc nhở phía Xuđăng về phẩm chất hàng, đề nghị tránh lặp lại chuyến sau
+ Ngày 01/03/1979, bên Việt nam gửi thư cho phía Xuđăng tiếp tục phàn nàn về phẩm chất hàng
+ Ngày 12/03/1979, bên Việt nam gửi cho phía Xuđăng biên bản giám định do Vinacontrol cấp
+ Ngày 08/05/1979, phía Việt nam khiếu nại đòi giảm giá với số tiền là 732.250 USD
Kết quả: phía Xuđăng từ chối đơn khiếu nại Lý do là đối với bông các khuyết tật về màu sắc, tạp chất, độ ẩm là khuyết tật rõ rệt Theo như qui định
về thời hạn khiếu nại đối với khuyết tật rõ rệt trong hợp đồng thì trong vòng
30 ngày sau khi dỡ hàng (07/02/1979) người mua phải gửi cho người bán bộ
hồ sơ khiếu nại hợp lệ Nhưng mãi đến ngày 08/05/1979, khi đã hết thời hạn khiếu nại, người mua mới gửi đơn khiếu nại Do đó, yêu sách của người mua
đã bị từ chối Qua vụ việc trên ta thấy việc tuân thủ thời hạn khiếu nại là vô cùng quan trọng Bỏ lỡ thời hạn này, bên Việt nam đã phải gánh chịu thiệt hại, mặc dù bên nước ngoài vi phạm điều kiện về chất lượng hàng
b) Thủ tục khiếu nại
Việc giải quyết tranh chấp trong ngoại thương bằng phương pháp khiếu nại muốn đạt được hiệu quả cao thì người khiếu nại cũng phải tuân thủ thủ
Trang 14tục khiếu nại.Thủ tục khiếu nại là bên khiếu nại phải gửi cho bên bị khiếu nại một bộ hồ sơ khiếu nại đầy đủ và hợp lệ Bên bị khiếu nại sẽ xem xét, nghiên cứu rồi trả lời có thoả mãn yêu cầu của bên khiếu nại không
Bộ hồ sơ khiếu nại mà bên khiếu nại gửi cho bên bị khiếu nại bao gồm: đơn khiếu nại và các chứng từ kèm theo
Đơn khiếu nại được lập bởi người khiếu nại Đơn khiếu nại phải hợp lệ Tính hợp lệ được thể hiện ở những điểm sau:
+ Về hình thức: Đơn khiếu nại phải được làm thành văn bản, ghi rõ tiêu
đề là “Đơn khiếu nại” và nêu rõ tên, địa chỉ đầy đủ của người khiếu nại
và người bị khiếu nại
+ Về nội dung: Đơn khiếu nại phải nêu rõ nội dung khiếu nại, tức là người khiếu nại khiếu nại ai (tên, địa chỉ, số tài khoản,…), khiếu nại về vấn đề gì Một điều quan trọng là trong đơn người khiếu nại phải nêu ra yêu sách cụ thể đối với người bị khiếu nại Ở đây, người khiếu nại tính toán và phải nêu rõ các chi phí, thiệt hại…cần được bồi thường Nội dung này rất cần thiết vì nó là cơ sở để người bị khiếu nại xem xét xem
có nên thoả mãn yêu sách của người khiếu nại hay không, và nó cũng là
cơ sở để người khiếu nại có thể đòi được các chi phí, thiệt hại…mà mình phải gánh chịu
Ngoài những yêu cầu như trên, đơn khiếu nại hợp lệ cũng cần phải rõ ràng, ngắn gọn, lịch sự trong cách sử dụng ngôn ngữ giao tiếp, lời lẽ trong đơn hợp tình, hợp lý và có sức thuyết phục cao thì việc khiếu nại mới có thể thành công
Các chứng từ kèm theo có vai trò rất quan trọng trong quá trình khiếu nại Các chứng từ này là toàn bộ các thư từ, điện tín trao đổi giữa các bên từ khi kí kết, thực hiện hợp đồng mua bán ngoại thương cho đến khi phát sinh
và giải quyết tranh chấp để làm bằng chứng cho việc khiếu nại Trong mỗi
Trang 15một trường hợp khác nhau, bộ hồ sơ khiếu nại bao gồm các chứng từ khác nhau, nhưng thông thường bao giờ cũng có:
- Hợp đồng mua bán ngoại thương và các văn bản sửa đổi, bổ xung hợp đồng
Chứng từ này là cơ sở để xác định nghĩa vụ, trách nhiệm của các bên,
do đó cũng là cơ sở để xác định mức độ vi phạm hợp đồng của các bên
- Thư tín dụng L/C và các văn bản sửa đổi, bổ xung L/C
Khi hợp đồng qui định thanh toán bằng thư tín dụng thì việc nộp L/C trong bộ hồ sơ khiếu nại là cần thiết Nếu người mua là người khiếu nại,
bộ hồ sơ khiếu nại có L/C chứng tỏ người mua đã sẵn sàng thanh toán
mà người bán không thực hiện nghĩa vụ thì lỗi là ở người bán Còn nếu người mua mở L/C không phù hợp với hợp đồng thì khi người bán khiếu nại người bán sẽ nộp L/C trong bộ hồ sơ khiếu nại để chứng minh việc mở L/C sai với hợp đồng
- Vận đơn
Có thể là vận đơn đường biển (Bill of lading), vận đơn đường sắt (Railway bill), vận đơn hàng không (Airway bill)… tuỳ theo hàng hoá được chuyên chở bằng phương tiện gì Vận đơn phản ánh tình trạng bên ngoài của hàng hoá khi được giao cho người chuyên chở và số, trọng lượng hàng được giao, ngày giao hàng Trên vận đơn có ghi chi tiết về việc giao hàng là cơ sở để so sánh và xác nhận thực tế giao hàng so với hợp đồng Các bên có thể dùng vận đơn để làm căn cứ khiếu nại những người có liên quan nếu tranh chấp có liên quan đến việc giao hàng
- Biên bản giám định phẩm chất và số, trọng lượng
Biên bản giám định là văn bản, chứng từ do người mua lập ra ở bến đến Biên bản giám định phẩm chất và số, trọng lượng có ghi những kết luận của cơ quan giám định có thẩm quyền về chất lượng, số, trọng
Trang 16lượng hàng hoá thực tế đã giao Trong trường hợp kết quả giám định không phù hợp với hợp đồng thì người mua có quyền dựa vào đó để khiếu nại người bán về việc giao hàng không phù hợp về chất lượng, số, trọng lượng Tuy nhiên, các bên cần chú ý đến giá trị pháp lý của biên bản giám định Về tính chất pháp lý có 2 loại biên bản giám định: biên bản giám định có tính quyết định và biên bản giám định không có tính quyết định Chỉ có biên bản giám định có tính quyết định mới có thể ràng buộc các bên một cách chặt chẽ Các biên bản giám định khác rất
dễ bị phía bên kia bác bỏ
Ngoài ra, trong bộ hồ sơ khiếu nại còn có thể bao gồm các thư từ giao dịch qua lại giữa các bên mua và bán
Tuy nhiên, các tranh chấp trong ngoại thương thường rất phức tạp và đa dạng, do đó tuỳ từng trường hợp cụ thể mà các bên lựa có thể thêm hay bớt các chứng từ để lập bộ hồ sơ khiếu nại phù hợp
2.3 Ưu điểm và của giải quyết tranh chấp bằng khiếu nại
Giải quyết tranh chấp bằng con đường khiếu nại thường đem lại hiệu quả rất cao và có nhiều ưu điểm vì những lý do sau:
- Phương pháp này thể hiện thái độ tôn trọng của bên bị vi phạm đối với bên vi phạm nên bên vi phạm cũng sẽ phải suy nghĩ và cố gắng giải quyết tranh chấp một cách hợp tình hợp lý nhất
- Hai bên hiểu rõ nội dung sự việc, nội dung tranh chấp nên dễ có thể đạt được sự thống nhất nếu như cả hai bên đều thiện chí
- Vì giải quyết tranh chấp bằng khiếu nại thì chỉ có các bên tranh chấp với nhau nên những thông tin cần thiết và bí mật không bị lộ ra bên ngoài và giữ được uy tín của các bên trong hoạt động kinh doanh lâu dài
Trang 17- Tiết kiệm được thời gian và chi phí Khiếu nại giữa hai bên không bắt buộc phải tuân theo thủ tục tố tụng nào nên tranh chấp có thể được giải quyết nhanh chóng Hơn nữa, không phải trả tiền công cho hoà giải viên, không mất phí trọng tài, án phí cho nên chi phí bỏ ra là
3 Giải quyết tranh chấp trong ngoại thương bằng Toà án và đặc điểm
Trang 18Toà án kinh tế Việt nam được thành lập ngày 1/7/1994 sau khi kì họp thứ tư Quốc hội khoá IX thông qua Luật sửa đổi bổ xung Luật tổ chức Toà
án nhân dân với phần sửa đổi chủ yếu là các điều kiện có liên quan đến việc thành lập Toà án kinh tế, tổ chức và thẩm quyền của Toà án kinh tế nhân dân trong việc giải quyết các vụ án kinh tế Toà án kinh tế được tổ chức thành các toà chuyên trách nằm trong hệ thống Toà án nhân dân cấp tỉnh trở lên Doanh nghiệp Việt nam có thể thoả thuận với bên nước ngoài đưa tranh chấp ra xét xử tại Toà án kinh tế Việt nam
3.2 Đặc điểm
a) Thẩm quyền xét xử
Toà án của bất kì nước nào cũng không có thẩm quyền đương nhiên đối với các tranh chấp phát sinh trong ngoại thương Toà án chỉ có thẩm quyền xét xử khi các bên đương sự thoả thuận thống nhất giao tranh chấp cho xét
xử Các bên đương sự chỉ được thoả thuận giao tranh chấp cho toà án xét xử
Trang 19bằng một điều khoản của hợp đồng (hoặc bằng một văn bản riêng) khi trong điều ước quốc tế có liên quan không qui định giao tranh chấp cho trọng tài giải quyết Mặt khác, thẩm quyền xét xử của toà án đối với các tranh chấp trong ngoại thương cũng có thể được qui định trong điều ước quốc tế Do vậy, muốn biết kiện tới toà án của nước nào phải căn cứ vào hợp đồng, văn bản thoả thuận giữa hai bên, vào điều ước quốc tế đang có hiệu lực trong quan hệ giữa hai nước tương ứng
Khi toà án nhận được đơn kiện thì cần phải dựa trên đơn kiện xem xét mình có thẩm quyền xét xử không Trong các tranh chấp thương mại thuộc thẩm quyền xét xử của toà kinh tế, chỉ có toà án cấp tỉnh hoặc thành phố trực thuộc trung ương mới có thẩm quyền giải quyết tranh chấp có nhân tố nước ngoài, nhưng phải ở nơi bị đơn cư trú hoặc nơi có bất động sản (nếu là tranh chấp bất động sản) hoặc nơi bị đơn có tài sản hoặc đóng trụ sở chính
Ở Việt nam, theo Điều 12 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (16/3/1994), toà án có thẩm quyền giải quyết các vụ án kinh tế sau đây:
- Các tranh chấp về hợp đồng kinh tế giữa pháp nhân với pháp nhân, giữa pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh;
- Các tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến thành lập, hoạt động, giải thể công ty;
- Các tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu;
- Các tranh chấp kinh tế khác theo qui định của pháp luật
Luật Thương mại Việt nam qui định ở Điều 240 rằng: “Đối với các tranh chấp thương mại với thương nhân nước ngoài, nếu các bên không thoả thuận hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam ký kết hoặc tham gia không có qui định thì tranh chấp được giải quyết tại Toà án Việt nam”
Trang 20Như vậy, toà án Việt nam có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh trong ngoại thương khi điều này được qui định trong hợp đồng, trong văn bản thoả thuận giữa các bên hoặc trong pháp luật có liên quan
b) Hồ sơ kiện ra toà án
Toà án của bất kỳ nước nào cũng chỉ tuân thủ luật tố tụng của nước mình, nghĩa là nhận đơn kiện, chuẩn bị xét xử, tiến hành xét xử theo đúng luật tố tụng của nước toà án Còn khi giải quyết tranh chấp toà án phải áp dụng luật thực chất điều chỉnh hợp đồng
Toà án Việt nam không phải là trường hợp ngoại lệ Chẳng hạn, bên Việt nam và bên Nhật bản ký kết hợp đồng mua bán ngoại thương có điều khoản
về luật điều chỉnh là luật Nhật bản Khi tranh chấp phát sinh, hai bên thống nhất đưa tranh chấp ra xét xử tại Toà án Việt nam thì Toà án Việt nam sẽ tuân thủ luật tố tụng của Việt nam trong việc nhận đơn kiện, chuẩn bị xét xử, tiến hành xét xử và Toà án Việt nam sẽ tuân thủ luật Nhật bản để thực hiện việc xét xử, bởi vì ở đây luật Nhật bản là thực chất điều chỉnh HĐMBNT ký kết giữa bên Việt nam và bên Nhật bản
Hồ sơ kiện tới toà án gồm đơn kiện và các chứng từ làm bằng chứng Đơn kiện phải được làm bằng văn bản Nội dung của đơn kiện thường theo đúng qui định của luật tố tụng nước toà án Nhìn chung, đơn kiện phải bao gồm: tên, địa chỉ của toà án, tên, địa chỉ đầy đủ của bên đi kiện và bên bị kiện, trình bày nội dung kiện, căn cứ pháp lý của vụ kiện, trị giá vụ kiện và yêu cầu của bên đi kiện đề nghị giải quyết
Chẳng hạn, đơn yêu cầu Toà án Trọng tài Quốc tế của Phòng Thương mại Quốc tế gồm các chi tiết:
+ Họ tên đầy đủ, địa chỉ, nghề nghiệp của bên nguyên và bên bị Nội dung tranh chấp
Trang 21+ Hợp đồng và các văn bản thoả thuận giữa hai bên, đặc biệt là thoả thuận về trọng tài, các tài liệu xác lập rõ ràng, chi tiết vụ tranh chấp
+ Tài liệu liên quan đến số lượng trọng tài viên và lựa chọn trọng tài viên
Đơn kiện ra toà án theo Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế ngày 16/3/1994 (khoản 2 điều 31) phải có các nội dung sau đây:
+ Ngày, tháng, năm viết đơn;
+ Toà án được yêu cầu giải quyết vu án;
+ Tên của nguyên đơn, bị đơn;
+ Địa chỉ của nguyên đơn, bị đơn; trong trường hợp không có địa chỉ của bị đơn thì ghi địa chỉ nơi có trụ sở hoặc cư trú cuối cùng của bị đơn; + Tóm tắt nội dung tranh chấp, giá trị tranh chấp;
+ Quá trình thương lượng của các bên;
+ Các yêu cầu đề nghị toà án xem xét, giải quyết
Ngoài đơn kiện, bộ hồ sơ kiện tới toà án còn có các chứng từ làm bằng
bị đơn chứng Các chứng từ làm bằng chứng kèm theo đơn kiện bao gồm toàn bộ các chứng từ có trong bộ hồ sơ khiếu nại, ngoài ra còn có thêm thư
từ, điện tín trao đổi giữa hai bên trong quá trình giải quyết khiếu nại giữa các bên nhưng không đạt kết quả, các bằng chứng mới mà lúc khiếu nại chưa tìm ra… Khi thiếu các chứng từ làm bằng chứng thì bộ hồ sơ kiện vẫn có thể hợp lệ (toà án vẫn thụ lý) nếu đơn kiện hợp lệ nhưng đơn kiện sẽ bị bác toàn
bộ hoặc một phần do thiếu các chứng từ làm bằng chứng Do vậy, việc chuẩn bị và nộp đầy đủ các chứng từ làm bằng chứng đi kèm theo đơn kiện khi đi kiện là một nhân tố quan trọng giúp cho việc đi kiện thành công
Pháp luật qui định người đi kiện có quyền bổ sung các bằng chứng và người bị kiện cũng có quyền cung cấp các bằng chứng bổ sung để bác lại Toà án không có nghĩa vụ phải thông báo cho các bên nếu thiếu chứng từ
Trang 22Ngoài ra, toà án có quyền điều tra, xác minh các chứng từ trong quá trình xét
xử
Muốn được thụ lý đơn kiện để đưa ra xét xử, nguyên đơn phải nộp một
số tiền nhất định gọi là chi phí hành chính Chẳng hạn, Toà án trọng tài quốc
tế của Phòng thương mại quốc tế khi nhận hồ sơ kiện thu 2000 USD trả trước chi phí hành chính
c) Thời hiệu khởi kiện
Người đi kiện phải tuân thủ đúng thời hiệu khởi kiện Thời hiệu khởi kiện (hay còn gọi là thời hiệu tố tụng) là khoảng thời gian do pháp luật qui định cho bên có quyền lợi bị vi phạm đi kiện ra toà án, nếu bỏ qua thời hiệu khởi kiện mới đi kiện thì đơn kiện sẽ bị bác
Thời hiệu khởi kiện được qui định trong điều ước quốc tế Chẳng hạn, theo Điều 20 Công ước Hamburg 1978, thời hiệu khởi kiện người chuyên chở là 2 năm kể từ ngày đã giao toàn bộ hàng cho người nhận hàng
Thời hiệu khởi kiện cũng được qui định trong luật quốc gia của các nước Ví dụ, Luật hàng hải Việt nam 1990 qui định thời hiệu khởi kiện đối với Công ty bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm hàng hoá là 2 năm kể từ ngày phát sinh vụ việc (Điều 209), Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 qui định thời hiệu khởi kiện là 6 tháng kể từ ngày phát sinh tranh chấp, trừ trường hợp có qui định khác (Điều 31)
Như vậy, nếu hợp đồng không do điều ước quốc tế điều chỉnh thì bên đi kiện phải tuân thủ đúng thời hiệu khởi kiện được qui định trong luật của nước đó
d) Nguyên tắc xét xử
Toà án xét xử theo những nguyên tắc sau:
Toà án chỉ tuân theo pháp luật và sẽ không bị ảnh hưởng cũng như không
có sự can thiệp của bất cứ cơ quan nào
Trang 23 Toà án xét xử công khai, trừ khi vì những bí mật của quốc gia hay an ninh của đất nước mà phải xét xử bí mật
Toà án luôn giữ vững quan điểm, đường lối của giai cấp thống trị
Trên cơ sở những nguyên tắc xét xử chung của toà án, Toà án Việt nam cũng có những nguyên tắc xét xử của riêng mình:
Nguyên tắc tự định đoạt : Các tranh chấp phát sinh từ các quan hệ kinh
tế ngoại thương chỉ có thể đưa ra giải quyết tại toà án khi có yêu cầu của các bên đương sự Các bên đương sự có quyền quyết định có đưa vụ việc ra toà
án để giải quyết hay không sau khi các bên không thể hoà giải, thương lượng với nhau được hoặc các bên không thoả thuận trước sẽ giải quyết theo thủ tục trọng tài Nguyên tắc tự định đoạt này còn được thể hiện ở việc khi đã lựa chọn toà án là nơi giải quyết tranh chấp thì các bên vẫn có quyền rút đơn kiện hoặc thay đổi nội dung đơn kiện Sau khi đã nộp đơn mà các bên có thể
tự hoà giải thì cũng được toà án công nhận Ngoài ra, các bên tranh chấp có quyền tự định đoạt về hình thức tài phán để giải quyết tranh chấp của mình
Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật : trong quá trình giải quyết
tranh chấp các bên đương sự có quyền và nghĩa vụ như nhau trước toà án không phân biệt đương sự có quốc tịch nước ngoài hay quốc tịch Việt nam Quyền và lợi ích hợp pháp của các bên sẽ được bảo vệ chính đáng Bên vi phạm nghĩa vụ sẽ bị áp dụng các biện pháp chế tài phù hợp Khi tham gia quan hệ tố tụng trước toà án để giải quyết tranh chấp quyền và nghĩa vụ của các bên là bình đẳng
Nguyên tắc tự hoà giải : nội dung của nguyên tắc này là trước khi đưa
tranh chấp ra toà án xét xử các bên phải hoà giải, thương lượng với nhau để giải quyết tranh chấp theo nguyện vọng chính đáng của các bên Khi đã đưa tranh chấp ra toà án các bên vẫn phải hoà giải, thương lượng dưới sự công
Trang 24nhận, hướng dẫn của toà án Biên bản hoà giải thành công có giá trị pháp lý như biên bản xét xử của toà và buộc các bên phải thực hiện
Nguyên tắc toà án không tiến hành điều tra mà chỉ thu thập và xác minh chứng cứ : toà án ra phán quyết trên cơ sở các chứng cứ mà các bên
đương sự đưa ra Các đương sự có nghĩa vụ cung cấp các chứng cứ này để chứng minh và bảo vệ quyền lợi của mình Toà án không tiến hành điều tra
để xác minh các tình tiết, sự thật của vụ tranh chấp mà chỉ thông qua các biện pháp nghiệp vụ như nghe các bên trình bày, xem xét các chứng cứ, tiến hành tranh luận…để đánh giá, kết luận và đưa ra phán quyết
Nguyên tắc xét xử công khai : mọi tranh chấp được xét xử công khai ,
trừ khi luật pháp cho phép, toà án sẽ xét xử kín Toà án có thể được xét xử kín đối với các vụ tranh chấp liên quan đến bí mật của các quốc gia hay bí mật của các bên đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ Bí mật của các quốc gia có thể là các vấn đề liên quan đến an ninh quốc gia, liên quan đến việc duy trì nền kinh tế, hay chiến lược phát triển kinh tế của các quốc gia
Bí mật của các bên đương sự có thể là sự sống còn của các bên, là vấn đề liên quan trực tiếp đến hiệu quả sản xuấtkinh doanh, uy tín của các bên…
Nguyên tắc chỉ tuân theo pháp luật : theo nguyên tắc này, toà án chỉ
tuân theo pháp luật khi xét xử các tranh chấp và không bị ảnh hưởng bởi sự chi phối của bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào khác Việc ra phán quyết phải hoàn toàn dựa vào tình tiết khách quan cụ thể và luật áp dụng Toà án độc lập trong việc ra phán quyết và chịu trách nhiệm đối với các phán quyết đó
3.3 Nhược điểm của xét xử bằng toà án
So với biện pháp giải quyết tranh chấp bằng khiếu nại thì giải quyết tranh chấp bằng toà án có tính bắt buộc thi hành cao hơn nhưng biện pháp
này còn nhiều nhược điểm như sau:
Trang 25- Các toà án luôn tìm cách bảo vệ công dân của nước mình, do vậy việc xét xử của toà án bị yếu tố chính trị ảnh hưởng
- Thủ tục xét xử của toà án tương đối phức tạp, rườm rà Ví dụ, ở Việt nam khi xét xử, toà án phải lập hội đồng xét xử bao gồm hai thẩm phán, một hội thẩm, một chánh án, một thư ký và đại diện cho viện kiểm sát, một phiên dịch…
- Nguyên tắc xét xử công khai của toà án làm cho việc xét xử bằng toà
án không mấy hấp dẫn các nhà kinh doanh ngoại thương vì họ luôn muốn giữ bí mật hoạt động kinh doanh của mình
- Việc xét xử bằng toà án là theo hai cấp, nếu không thoả mãn xét xử
sơ thẩm (của toà cấp tỉnh) thì được kháng cáo lên toà án nhân dân tối cao nên thường tốn kém thời gian và chi phí Hơn thế, nhiều khi các bên phải sử dụng toà án nước ngoài thì lại phải nghiên cứu thẩm quyền xét xử của toà án theo luật nước toà án
- Các nguyên tắc xét xử của toà án còn cứng nhắc, không linh động như nguyên tắc việc xét xử tranh chấp chỉ tuân theo pháp luật hay nguyên tắc toà án không tiến hành điều tra mà chỉ thu thập và xác minh chứng cứ của toà án Việt nam
- Sự hiểu biết chuyên sâu về thương mại quốc tế của toà án thường bị hạn chế, do đó việc đưa tranh chấp ra xét xử tại toà án là không phải
là phương pháp ưu việt
4 Giải quyết tranh chấp trong ngoại thương bằng Trọng tài và đặc điểm
4.1 Khái niệm
Trang 26Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là việc giải quyết tranh chấp phát sinh bởi một người gọi là trọng tài Ngày nay, giải quyết tranh chấp bằng trọng tài đã ngày càng phát triển và trọng tài thương mại được coi là cơ quan giải quyết tranh chấp chủ yếu trong mua bán quốc tế
Trọng tài thương mại được thành lập dưới hai hình thức: trọng tài Adhoc (trọng tài vụ việc) và trọng tài qui chế (trọng tài thường trực) Tuỳ tính chất, mức độ và phạm vi của các vụ tranh chấp mà các bên lựa chọn hình thức trọng tài sao cho phù hợp để giải quyết tranh chấp đạt hiệu quả cao
Trọng tài Adhoc (hay còn gọi là trọng tài đặc biệt, trọng tài ngẫu nhiên) được hình thành để giải quyết một tranh chấp cụ thể, sau khi giải quyết xong thì giải tán Đặc điểm của trọng tài này là không có cơ quan, tổ chức, không
có trụ sở hoạt động cố định và vận dụng linh hoạt qui tắc xét xử như không nhất thiết ngôn ngữ xét xử và ngôn ngữ đơn kiện phải đồng nhất, nơi xét xử
có thể ở bất cứ đâu…
Ban trọng tài xét xử chỉ có một trọng tài viên duy nhất Do đó, khi lựa chọn trọng tài các bên tranh chấp cần chọn những chuyên gia đầu nghành, có tên tuổi Với thủ tục xét xử linh hoạt trong vận dụng qui tắc, điều lệ, việc giải quyết tranh chấp thường gọn gàng và triệt để
Trọng tài qui chế hay còn gọi là trọng tài thường trực là loại trọng tài được thành lập thành tổ chức cố định, thường xuyên của các nước và hoạt động theo một qui chế nhất định Đó là điều lệ và qui tắc tố tụng của tổ chức trọng tài Trọng tài qui chế có trụ sở hoạt động cố định và thường được đặt cạnh phòng thương mại của các nước Tên gọi của trọng tài qui chế thường
là trung tâm trọng tài như Trung tâm trọng tài quốc tế Việt nam (VIAC), Trung tâm trọng tài quốc tế Singapo (SIAC)…, hay có tên gọi khác như Hiệp hội trọng tài thương mại Nhật bản (JCAA), toà án trọng tài quốc tế
Trang 27Luân đôn… Trung tâm trọng tài quốc tế Việt nam (Vietnam International Arbitration Center- VIAC) được thành lập năm 1993 bên cạnh Phòng thương mại và Công nghiệp Việt nam, là kết quả của việc tổ chức lại, hợp nhất hai hội đồng trọng tài: hội đồng trọng tài ngoại thương được thành lập năm 1963 và hội đồng trọng tài hàng hải được thành lập năm 1968
Ban trọng tài xét xử có thể được lựa chọn theo ba cách sau:
+ Ban xét xử chỉ gồm một trọng tài viên duy nhất chọn từ danh sách các trọng tài viên được niêm yết tại trung tâm trọng tài quốc tế
+ Ban xét xử gồm hai trọng tài viên, mỗi bên đương sự chọn ra một trọng tài viên của mình Nếu hai trọng tài viên mâu thuẫn với nhau trong khi xét xử thì họ thống nhất chọn ra một trọng tài viên thứ ba lập thành ban xét
xử gồm ba người, phán quyết theo đa số
+ Ban xét xử gồm ba trọng tài viên do mỗi bên đương sự chọn một người, hai trọng tài chọn ra một người thứ ba và bầu làm chủ tịch ban trọng tài Chủ tịch là viết và công bố phán quyết
Việc chọn thêm trọng tài phải trong danh sách các trọng tài viên của tổ chức trọng tài đã được chọn làm cơ quan xét xử
Ngày nay, trọng tài qui chế là loại hình trọng tài được áp dụng phổ biến nhất, còn trọng tài Adhoc ít được áp dụng do chi phí xét xử thường tốn kém
4.2 Đặc điểm
a) Thẩm quyền xét xử
Trọng tài không có thẩm quyền đương nhiên để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong ngoại thương Trọng tài chỉ có thẩm quyền xét xử khi các bên đương sự có hiệp nghị trọng tài Hiệp nghị trọng tài là sự thoả thuận giữa hai bên về việc giao tranh chấp phát sinh giữa hai bên cho một loại
Trang 28trọng tài cụ thể nhất định giải quyết Ở đa số các nước, hình thức của hiệp nghị trọng tài là bằng văn bản Hiệp nghị trọng tài có thể được qui định theo
Hiệp nghị trọng tài có giá trị pháp lý rất quan trọng Thứ nhất, nó là cơ
sở pháp lý để khẳng định thẩm quyền xét xử của trọng tài Thứ hai, hiệp nghị trọng tài là cơ sở pháp lý để khẳng định tính bất khả thụ lý của toà án quốc gia đối với tranh chấp này Nó loại bỏ thẩm quyền xét xử của toà án Thứ ba, đây là cơ sở pháp lý để các quốc gia cho phép cưỡng chế thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài tại lãnh thổ nước mình
Điều lệ tổ chức Trung tâm trọng tài quốc tế Việt nam ngày 28/4/1993 qui định: “Trung tâm trọng tài quốc tế Việt nam có thẩm quyền xét xử các tranh chấp phát sinh từ các quan hệ kinh tế quốc tế như hợp đồng mua bán ngoại thương, hợp đồng đầu tư, du lịch quốc tế, hợp đồng vận tải và bảo hiểm quốc tế, hợp đồng chuyển giao công nghệ, xây dựng và thanh toán quốc tế v.v…”(điều 2) Theo yêu cầu của VIAC, ngày 26/2/1996, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định 114/TTg về việc mở rộng thẩm quyền giải quyết các tranh chấp của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt nam Bên cạnh thẩm quyền xét xử đối với các tranh chấp có yếu tố nước ngoài, VIAC còn có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh từ những quan hệ kinh doanh trong nước nếu các bên đương sự thoả thuận đưa ra Trung tâm trọng tài quốc
tế Việt nam giải quyết Cũng như các Trung tâm trọng tài quốc tế khác trên
Trang 29thế giới, VIAC không có thẩm quyền đương nhiên đối với các tranh chấp trong ngoại thương VIAC chỉ có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp này trong các trường hợp:
- Khi một bên hay các bên đương sự là thể nhân hay pháp nhân nước ngoài
- Nếu trước hay sau khi xảy ra tranh chấp, các bên đương sự thoả thuận đưa vụ việc ra trước Trung tâm trọng tài quốc tế Việt nam, hoặc nếu có một điều ước quốc tế ràng buộc các bên phải đưa vụ tranh chấp ra trước Trung tâm trọng tài quốc tế Việt nam
Thoả thuận này có thể là một điều khoản trong hợp đồng mua bán ngoại thương (điều khoản trọng tài) hoặc là một văn bản riêng biệt chỉ rõ rằng VIAC sẽ là cơ quan giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng mua bán ngoại thương
b) Hồ sơ kiện ra trọng tài
Cũng giống như hồ sơ kiện ra toà án, hồ sơ kiện ra trọng tài phải bao gồm đơn kiện và các chứng từ làm bằng chứng
Đơn kiện phải làm bằng văn bản Nội dung đơn kiện thường theo đúng qui chế của trọng tài Nhìn chung, đơn kiện phải bao gồm: tên, địa chỉ của trọng tài, tên, địa chỉ đầy đủ của bên đi kiện và bên bị kiện, trình bày nội dung kiện, căn cứ pháp lý của vụ kiện, trị giá vụ kiện và yêu cầu của bên đi kiện đề nghị giải quyết Tuỳ theo qui chế của từng trọng tài mà có những qui định cụ thể, chi tiết trong đơn kiện
Chẳng hạn, đơn kiện ra Hiệp hội trọng tài thương mại Nhật bản gồm các chi tiết:
+ Tên đầy đủ và địa chỉ của bên nguyên và bên bị, nếu cử đại diện phải ghi rõ tên và địa chỉ của người đại diện
Trang 30+ Nội dung yêu cầu giải quyết
+ Lý do yêu cầu giải quyết và bằng chứng
Đơn kiện ra Trung tâm trọng tài quốc tế Việt nam phải ghi rõ các nội dung sau:
+ Tên và địa chỉ của nguyên đơn và bị đơn
+ Các yêu cầu của nguyên đơn, có trình bày sự việc và kèm theo bằng chứng
+ Những căn cứ pháp lý dựa vào đó để kiện, trị giá vụ kiện Tên trọng tài viên mà nguyên đơn chọn trong danh sách trọng tài viên của Trung tâm, hoặc đề nghị của nguyên đơn với chủ tịch chỉ định trọng tài viên cho mình + Chứng từ làm bằng chứng kèm theo đơn kiện là toàn bộ các chứng từ
có trong bộ hồ sơ khiếu nại Ngoài ra còn có thêm các chứng từ về việc giải quyết khiếu nại giữa các bên nhưng không đạt kết quả, và các chứng từ mới Muốn được thụ lý đơn kiện để đưa ra xét xử, bên đi kiện phải nộp trước một phần hay toàn bộ lệ phí trọng tài tuỳ theo qui định trong Qui tắc tố tụng của các tổ chức trọng tài Trung tâm trọng tài quốc tế Việt nam thụ lý đơn kiện khi bên nguyên ứng trước toàn bộ phí trọng tài theo qui định của Biểu phí trọng tài của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt nam (ví dụ, trị giá vụ kiện dưới 10.000 USD thì phí trọng tài là 500 USD)
c) Thời hiệu khởi kiện
Thời hiệu khởi kiện hay thời hiệu tố tụng là một chế định pháp luật trong đó bên có quyền lợi bị vi phạm phải đưa sự việc tranh chấp ra trước cơ quan xét xử (trọng tài) trong một thời hạn nhất định Nếu bỏ lỡ thời hiệu tố tụng, nguyên đơn vẫn có quyền đi kiện nhưng bị mất quyền được kiện và quyền của người thắng kiện, còn bị đơn sẽ được lợi
Quyền đi kiện là quyền của tất cả các chủ thể pháp luật được đưa sự việc ra trước trọng tài bằng một thủ tục là nộp đơn kiện ra trọng tài Quyền
Trang 31được kiện là quyền được trọng tài đứng ra bảo vệ quyền lợi cho mình một cách cụ thể bằng cách mở phiên xét xử Quyền của người thắng kiện là quyền được trọng tài công bố là thắng kiện, được miễn nộp phí trọng tài và được phục hồi quyền lợi bị vi phạm
Luật Thương mại Việt nam 1997 điều 242 qui định thời hiệu tố tụng là hai năm kể từ thời điểm phát sinh quyền khiếu nại
d) Thủ tục xét xử
Thủ tục xét xử của trọng tài được tiến hành theo đúng qui tắc tố tụng của trọng tài Thông thường, ngày xét xử do chủ tịch tổ chức trọng tài quyết định Thư ký tổ chức trọng tài phải báo cho bên nguyên và bên bị bằng văn bản để họ tham gia phiên họp xét xử Nếu một bên vắng mặt không có lý do thì phiên họp xét xử vẫn tiến hành
Tại phiên họp xét xử trọng tài viên có quyền nêu câu hỏi cho các bên và các bên phải trả lời, đồng thời các bên có quyền trình bày lý lẽ của mình Luật sư của các bên cũng có quyền tham dự phiên họp xét xử và phát biểu bảo vệ quyền lợi cho mỗi bên
Phán quyết của trọng tài được làm bằng văn bản và được đọc trước các bên đương sự Các trọng tài viên xét xử phải ký vào phán quyết Phán quyết của trọng tài có giá trị chung thẩm, các bên phải có nghĩa vụ thực hiện
Thủ tục xét xử của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt nam được tiến hành theo đúng qui tắc tố tụng của Trung tâm Sau khi nhận được đơn kiện hợp lệ, thư ký Trung tâm báo cho bị đơn biết và gửi cho bị đơn bản sao đơn kiện và các tài liệu kèm theo cùng danh sách trọng tài viên, đồng thời yêu cầu bị đơn gửi đến Trung tâm bản tự bào chữa, kèm theo những bằng chứng trong vòng
30 ngày kể từ ngày nhận được bản sao đơn kiện Theo yêu cầu của bị đơn, thời hạn này có thể kéo dài nhưng không quá 2 tháng
Trang 32Cũng trong thời hạn này bị đơn phải chọn trọng tài viên và báo cho Trung tâm biết, hoặc yêu cầu Chủ tịch Trung tâm chỉ định trọng tài viên, Chủ tịch sẽ chọn trọng tài viên cho bị đơn
Trọng tài viên của nguyên đơn và bị đơn sẽ chọn trọng tài viên thứ ba trong danh sách trọng tài làm Chủ tịch uỷ ban trọng tài Uỷ ban trọng tài chịu trách nhiệm giải quyết vụ kiện Trong vòng 15 ngày kể từ ngày chọn trọng tài viên thứ hai mà trọng tài viên thứ ba không chọn được thì Chủ tịch Trung tâm sẽ chỉ định Chủ tịch uỷ ban trọng tài
Khi có nhiều hơn một nguyên đơn hoặc bị đơn, những nguyên đơn và bị đơn này phải thống nhất chọn một trọng tài viên Nếu các đương sự không thoả thuận được, Chủ tịch Trung tâm sẽ chỉ định trọng tài viên cho họ
Uỷ ban trọng tài có thể chỉ bao gồm một trọng tài viên duy nhất do hai bên đương sự thoả thuận chỉ định hoặc yêu cầu chủ tịch VIAC chỉ định (nếu hai bên không đạt được thoả thuận) Trong trường hợp này, trọng tài viên duy nhất thực hiện nhiệm vụ như một Uỷ ban trọng tài
Uỷ ban trọng tài gồm 3 trọng tài viên hoặc một trọng tài viên duy nhất
có trách nhiệm thực hiện việc xét xử
Trước khi mở phiên họp xét xử, các trọng tài viên có thể thực hiện việc điều tra như nghe các bên trình bày ý kiến, yêu cầu các bên cung cấp thêm tư liệu, mời giám định viên đến giám định… Hai bên đương sự được triệu tập đến dự phiên họp xét xử bằng giấy triệu tập có nêu rõ thời gian và địa điểm xét xử Thời gian xét xử do Chủ tịch Uỷ ban trọng tài quyết định Địa điểm xét xử là ở Hà nội Theo yêu cầu của các bên hoặc trong trường hợp cần thiết, Chủ tịch Uỷ ban trọng tài sẽ quyết định địa điểm xét xử ở một nơi khác trên lãnh thổ Việt nam
Tại phiên họp xét xử, các bên có quyền trình bày ý kiến và có nghĩa vụ trả lời các câu hỏi được đặt ra đối với mình
Trang 33Uỷ ban trọng tài hoặc trọng tài viên duy nhất giải quyết tranh chấp căn
cứ vào hợp đồng, vào luật áp dụng, vào các điều ước quốc tế có liên quan và
có tính đến các tập quán thương mại và thông lệ quốc tế
Việc xét xử được kết thúc bằng một phán quyết hoặc một quyết định của Uỷ ban trọng tài Phán quyết trọng tài của là quyết định chung thẩm không thể kháng cáo trước bất kỳ toà án hoặc tổ chức nào các bên phải tự nguyện thi hành trong thời hạn qui định của phán quyết
Kể từ khi thành lập năm 1993 cho đến nay, hoạt động của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt nam đã thu được những kết quả đáng ghi nhận và ngày càng có uy tín đối với các nhà kinh doanh trong và ngoài nước Trong thời gian hoạt động 1993-1998, trung bình mỗi năm VIAC giải quyết 7 vụ Giai đoạn 1998 đến nay, số vụ giải quyết trung bình mỗi năm đã tăng lên đến 20
vụ Ngoài ra, Trung tâm trọng tài quốc tế Việt nam còn nhận được nhiều đơn kiện từ phía Việt nam cũng như phía nước ngoài, song các tranh chấp này không được thụ lý do các nguyên nhân như Trung tâm không có thẩm quyền giải quyết tranh chấp, trong điều khoản trọng tài các bên không chọn Trung tâm để giải quyết tranh chấp hay điều khoản trọng tài không phù hợp với qui tắc tố tụng của Trung tâm…
Sau đây là ví dụ về một vụ tranh chấp do người xuất khẩu giao hàng kém phẩm chất (một trong những tranh chấp thường hay xảy ra trong ngoại thương) đã được giải quyết thành công tại Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt
nam:
Tóm tắt sự việc:
Ngày 13-02-1996 thương nhân Nhật ký hợp đồng bán cho doanh nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh Việt Nam 1400 MT UREA 5%, thanh toán bằng L/C trả chậm 330 ngày kể từ ngày giao hàng
Trang 34Ngày 06-07-1996, hàng về đến cảng Sài Gòn, doanh nghiệp Việt Nam mời Công ty giám định hàng hoá tại Thành phố Hồ Chí Minh Việt Nam đến giám định lô hàng Biên bản giám định kết luận biuret của UREA không đạt tiêu chuẩn qui định của hợp đồng, các bao UREA có hàng bên trong bị cứng, vón cục từng phần, trọng lượng của các bao không thống nhất nhau Vì thế doanh nghiệp Việt Nam buộc phải chuyển hàng từ cảng về kho của công ty tái chế để thuê tái chế, thay thế bao bì, đóng gói lại
Doanh nghiệp Việt Nam đã điện khiếu nại thương nhân Nhật kèm biên bản giám định phẩm chất, đòi giảm giá lô hàng do độ biuret kém, đòi bồi thường chi phí phát sinh do tái chế
Ngày 22-08-1996, doanh nghiệp Việt Nam và thương nhân Nhật đã ký biên bản thoả thuận, theo đó thương nhân Nhật đồng ý hỗ trợ cho doanh nghiệp Việt Nam 11.700 USD do độ biuret không đạt qui định của hợp đồng, không nói gì đến chi phí tái chế Nhưng thực tế, thương nhân Nhật mới trả cho doanh nghiệp Việt Nam 8.000 USD
Qua nhiều lần điện đòi số tiền còn thiếu và chi phí tái chế nhưng không được bồi thường, doanh nghiệp Việt Nam kiện thương nhân Nhật ra Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam đòi bồi thường các khoản sau:
- Số tiền hỗ trợ do độ biuret không đạt còn thiếu: 3.700 USD
- Chi phí tái chế, thay thế bao bì, gồm:
Trang 35D Chi phí vận chuyển hàng từ cảng Bến Nghé về kho của công ty tái chế: 3.000.000 VND
E Chi phí tái chế, đóng gói lại lô hàng: 173.128.150 VND, gồm:
- Chi phí gia công đóng gói lại: 86.319.250 VND
- Phí bốc xếp nhập tái chế: 2.021.100 VND
- Phí trung chuyển phục vụ đóng gói: 2.694.800 VND
- Chi phí mua bao bì mới: (27.080 bộ x 3100 VND/bộ) trừ tiền bán bao bì cũ (1.855.000 VND): 82.093.000 VND
Các chi phí tái chế đều có chứng từ, biên lai kèm theo làm bằng chứng
Trong bản biện minh đề ngày 29-06-1997, thương nhân Nhật trình bày như sau:
Một là, mục B: thương nhân Nhật không đồng ý thời gian lưu kho là 3
tháng rưỡi mà chỉ chấp nhận 2 tháng rưỡi kể từ ngày 29-08-1996 (theo hợp đồng thuê kho) đến ngày 14-11-1996:
1.314,84 tấn x 10.000 VND/tấn/tháng x 2,5 tháng = 32.871.000 VND
Hai là, thương nhân Nhật không thừa nhận thiệt hại của mục C và mục
D vì theo hợp đồng ngoại thương và thực tiễn thực hành tại Việt Nam người
Trang 36mua hàng phải lo và chịu các chi phí bốc xếp tại cảng đến, vận chuyển hàng
từ cảng về kho và bốc xếp tại kho Lô hàng này, tuy có vấn đề phát sinh nhưng cũng chỉ có một đợt bốc xếp tại cảng, vận chuyển về kho và bốc xếp tại kho như các lô hàng khác
Ba là, về chi phí mua bao bì mới trong mục E, thương nhân Nhật chỉ
thừa nhận 26.500 bao trị giá 82.150.000 VND theo hợp đồng mua bao bì và phiếu chi
Bốn là, lãi đọng vốn nhập khẩu trong mục G thương nhân Nhật đề nghị mức lãi suất hợp lý là 1,124%/tháng vì số tiền hàng nhập khẩu doanh nghiệp Việt Nam trả theo phương thức L/C trả chậm 330 ngày (11 tháng), chênh lệch giữa đơn giá bán trả chậm và đơn giá bán trả ngay là 24,475 USD (231,50 USD – 206,025 USD)
Phân tích và quyết định của trọng tài:
(1) Vì giao hàng có độ biuret không đạt tiêu chuẩn do hợp đồng qui định và thương nhân Nhật đã cam kết hỗ trợ cho doanh nghiệp Việt Nam 11.700 USD theo biên bản thoả thuận ngày 22-08-1996, nhưng còn thiếu 3.700 USD, do đó, thương nhân Nhật phải có trách nhiệm trả tiếp cho doanh nghiệp Việt Nam số tiền này
(2) Thực tế thương nhân Nhật giao các bao UREA bên trong có vón cục hoặc đóng cứng, trọng lượng các bao không đồng đều, cho nên doanh nghiệp Việt Nam phải tái chế, đóng gói lại lô hàng, cụ thể gồm:
Trang 37C Phí bốc nhập hàng vào kho để tái chế, đóng gói lại hàng là 7.889.040 VND
Phí bốc xuất hàng từ kho cảng kể cả khi không phải tái chế, đóng gói lại hàng thì doanh nghiệp Việt Nam vẫn phải chi, vì doanh nghiệp Việt Nam phải bốc hàng từ kho để vận chuyển giao cho người mua lại hoặc chở về kho của mình Sau khi tái chế doanh nghiệp Việt Nam đã giao hàng cho người mua lại tại kho của công ty tái chế Do đó, doanh nghiệp Việt Nam không có quyền đòi bồi thường chi phí này
Chi phí vận chuyển hàng từ cảng Bến Nghé về kho của công ty tái chế không phải là thiệt hại trực tiếp do phải tái chế, đóng gói lại hàng, bởi vì nếu không phải tái chế, đóng gói lại hàng thì doanh nghiệp Việt Nam vẫn phải có nghĩa vụ vận chuyển hàng từ cảng Bến Nghé về kho của mình hoặc để giao cho người mua lại Vì vậy, thương nhân Nhật không có trách nhiệm bồi thường chi phí này
D Chi phí tái chế, đóng gói lại lô hàng, gồm:
- Chi phí gia công, đóng gói lại: 86.319.250 VND
- Phí bốc xếp nhập tái chế: 2.021.100 VND
- Phí trung chuyển phục vụ đóng gói: 2.694.800 VND
- Chi phí mua bao bì mới theo hợp đồng mua bao bì và phiếu chi trừ phiếu bán bao bì cũ là:
26.500 bao x 3.100 VND/1 bao – 1.855.000 VND = 80.295.000 VND Cộng: 171.330.150 VND
Cộng A + B + C + D = 225.395.070 VND
E Lãi suất đọng vốn nhập khẩu tính theo mức 1,124%/tháng là hợp lý,
vì doanh nghiệp Việt Nam thanh toán tiền hàng theo phương thức L/C trả chậm 330 ngày (tức 11 tháng)
314.099,43 USD x 1,124%/tháng x 3 tháng = 10.591,43 USD
Trang 38F Lãi suất đọng vốn trên số tiền giám định, thuê kho, mua bao bì, đóng gói lại:
225.395.070 VND x 1,25%/tháng x 6 tháng = 16.904.630 VND
Cộng (A + B + C + D) + E + F = 225.395.070 VND + 10.591,43 USD + 16.904.630 VND = 10.519,43 USD + 242.299.700 VND
Qui đổi ra USD theo tỉ giá 1 USD = 11.650 VND
= 10.591,43 USD + (242.299.700 : 11.650)
= 31.389.684 USD
Tổng cộng: (1) + (2) = 3.700 USD + 31.389,68 USD = 35.089,68 USD Căn cứ vào những điều phân tích đó, trọng tài ra phán quyết buộc thương nhân Nhật phải trả cho doanh nghiệp Việt Nam tiền hỗ trợ biuret không đạt còn thiếu cộng với chi phí tái chế là 35.089,68 USD
Qua vụ tranh chấp nêu trên, chúng ta thấy rằng doanh nghiệp Việt Nam
đã kịp thời làm đầy đủ các thủ tục pháp lý, khiếu nại và thương lượng trực tiếp với doanh nghiệp nước ngoài Điều quan trọng là đã ký được văn bản thoả thuận ràng buộc trách nhiệm của doanh nghiệp nước ngoài Mặt khác, khi đi kiện, doanh nghiệp Việt Nam đã cung cấp đầy đủ bằng chứng để chứng minh cho những yêu sách chính đáng của mình Tuy nhiên, cũng cần lưu ý là những yêu cầu không chính đáng thì không nên đưa vào đơn kiện
e) Việc cưỡng chế thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài tại nước sở tại
Do phán quyết của trọng tài có giá trị chung thẩm nên nó ràng buộc các bên và bên thua kiện phải có nghĩa vụ thi hành phán quyết
Trong thực tế nhiều phán quyết của trọng tài được các bên đương sự tự nguyện thi hành, song cũng có khi bên thua kiện trì hoãn thi hành hoặc cố tình không thi hành phán quyết Trong trường hợp đó bên thắng kiện phải thông qua toà án nước bên thua kiện để đảm bảo cho phán quyết của trọng
Trang 39tài được thi hành Muốn thực hiện điều này bên thắng kiện phải tuân theo thủ tục cưỡng chế thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài tại nước sở tại, tức là tuân theo thủ tục thi hành án kiện Bên thắng kiện phải làm đơn yêu cầu thi hành phán quyết của trọng tài gửi tới toà án của nước bên thua kiện (nếu nước này theo hệ thống luật Civil Law) hoặc ngoài đơn yêu cầu còn phải kèm theo phán quyết của trọng tài và lệ phí toà án (nếu gửi đến nước theo hệ thống luật Civil Law hoặc các nước Anh, Mỹ) để nhờ toà án can thiệp cho phán quyết được thi hành Toà án bên thua kiện sẽ xem xét đơn yêu cầu đó và nếu thấy không trái với trật tự công cộng của nước mình thì cho thi hành án bằng cách ra mệnh lệnh thi hành phán quyết của trọng tài gửi cho bên thua kiện để bên này thi hành Khi xem xét để ra mệnh lệnh thi hành phán quyết của trọng tài, toà án dựa vào điều ước quốc tế có liên quan giữa hai nước, hoặc dựa vào luật của nước mình khi chưa có điều ước quốc
tế có liên quan
Hiện nay nhiều nước đã ký kết hoặc phê chuẩn các điều ước quốc tế về trọng tài thương mại, nhất là việc thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài Đó là Công ước New York năm 1958 về việc công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài, Công ước Châu Âu năm 1961 về trọng tài thương mại
Ngoài ra, việc thi hành phán quyết của trọng tài còn được qui định trong hiệp ước thương mại hàng hải, hiệp định thương mại
Nhìn chung trong các điều ước quốc tế nêu trên đều qui định rằng các nước ký kết phải đảm bảo công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài thương mại nước ngoài (nước ngoài trong trường hợp này được hiểu là nước ký kết hay gia nhập điều ước quốc tế) Nhưng một nước ký kết sẽ từ chối cho thi hành phán quyết của trọng tài thương mại nước ngoài trong các trường hợp sau:
Trang 40- Khi một bên đương sự vắng mặt tại phiên họp xét xử của trọng tài do
sơ suất của trọng tài
- Khi phán quyết của trọng tài chưa có giá trị chung thẩm xét theo luật của nước trọng tài
- Khi phán quyết của trọng tài buộc bên thua kiện phải làm một hành động không được phép làm theo luật của nước mà ở đó phán quyết phải được thi hành
- Khi việc thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài trái với trật tự công cộng của nước mà ở đó phán quyết phải được thi hành
Ngày 28/7/1995, Việt nam đã gia nhập Công ước New York 1958 Khi gia nhập công ước này Nhà nước CHXHCN Việt nam tuyên bố: Công ước chỉ áp dụng đối với việc công nhận và cho thi hành tại Việt nam phán quyết của trọng tài nước ngoài được tuyên tại lãnh thổ của quốc gia là thành viên của Công ước Sẽ chỉ áp dụng Công ước đối với tranh chấp phát sinh từ các quan hệ pháp luật thương mại Ngày 14/9/1995, Việt nam ban hành pháp lệnh về thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài
Việc Việt nam đã gia nhập Công ước New York có ý nghĩa rất quan trọng Trước hết, điều này thể hiện mong muốn của Việt nam thực sự muốn hoà nhập vào nền kinh tế thế giới, thực hiện phương châm “Việt nam muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới” Thứ hai là, nhờ tham gia vào Công ước New York, vai trò và uy tín của trọng tài Việt nam sẽ được nâng cao trên trường quốc tế Các phán quyết do Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt nam đưa ra sẽ có hiệu lực thi hành bắt buộc cao
4.3 Ưu điểm của giải quyết tranh chấp bằng trọng tài
Ngày nay trong hoạt động ngoại thương, khi có tranh chấp các bên thường đưa ra xét xử tại cơ quan trọng tài Việc giải quyết tranh chấp bằng