1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN VĂN: Mối quan hệ giữa hợp đồng thuê tàu chuyến với hợp đồng mua bán quốc tế và hợp đồng bảo hiểm hàng hoá pptx

97 798 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mối quan hệ giữa hợp đồng thuê tàu chuyến với hợp đồng mua bán quốc tế và hợp đồng bảo hiểm hàng hoá
Người hướng dẫn PGS, TS Nguyễn Như Tiến
Trường học Trường Đại học Giao thông vận tải Hà Nội
Chuyên ngành Vận Tải
Thể loại Luận văn
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 661,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu những quy định trong hợp đồng thuê tàu chuyến không thống nhất với quy định trong hợp đồng mua bán quốc tế và trong hợp đồng bảo hiểm hàng hoá, thì sẽ phát sinh tranh chấp mà đôi khi

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG………

LUẬN VĂN

Mối quan hệ giữa hợp đồng thuê tàu chuyến với hợp đồng

mua bán quốc tế và hợp đồng bảo hiểm hàng hoá

LỜI NÓI ĐẦU

Trang 2

Việt Nam nằm ở bán đảo Đông Nam Á, bên bờ Thái Bình Dương, với vùng lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế rộng lớn, có diện tích trên 1 triệu km2, gấp ba lần so với diện tích đất liền Bờ biển Việt Nam trải dài 3260 km gần tuyến đường hàng hải quốc tế xuyên Á- Âu và khu vực Nhờ vị trí có điều kiện

tự nhiên lý tưởng này mà hàng năm Việt Nam xuất khẩu và nhập khẩu khoảng

95 triệu tấn hàng hoá thông qua hệ thống cảng biển Trong số đó, chiếm tỷ trọng lớn là hàng lỏng như xăng dầu, dầu thô , hàng khô như gạo, cafe, than, xi măng Điều này cho thấy vai trò quan trọng của vận tải biển đối với sự phát triển giao lưu thương mại giữa Việt Nam và các nước khác

Trong vận tải đường biển, những hàng hoá có tính đồng nhất, khối lượng lớn thường được chuyên chở bằng tàu chuyến Song đối với các doanh nghiệp Việt Nam, nhìn chung nghiệp vụ thuê tàu chuyến khá phức tạp, đòi hỏi người thuê tàu phải có sự am hiểu cả về chuyên môn lẫn thị trường thuê tàu Thuê tàu chuyến là hoạt động không thể tách khỏi chuỗi hoạt động thương mại quốc tế, đó là: hoạt động mua bán, vận tải và bảo hiểm Khi ký kết hợp đồng thuê tàu chuyến, người ta phải căn cứ vào hợp đồng mua bán quốc tế và hợp đồng bảo hiểm hàng hoá Nếu những quy định trong hợp đồng thuê tàu chuyến không thống nhất với quy định trong hợp đồng mua bán quốc tế và trong hợp đồng bảo hiểm hàng hoá, thì sẽ phát sinh tranh chấp mà đôi khi hậu quả của nó là rất lớn

Vì vậy, việc nghiên cứu mối quan hệ giữa hợp đồng thuê tàu chuyến với hợp đồng mua bán quốc tế và hợp đồng bảo hiểm hàng hoá, đồng thời đưa ra một số lưu ý về những tranh chấp phát sinh từ mối quan hệ giữa ba hợp đồng, giúp bạn

đọc hiểu rõ hơn về mối quan hệ trên là rất cần thiết

Kết cấu của đề tài nghiên cứu: gồm ba chương

Chương 1: Khái quát chung về các hợp đồng

Trang 3

Chương 2: Mối quan hệ giữa hợp đồng thuê tàu chuyến với hợp đồng mua bán quốc tế và hợp đồng bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu chuyên chở bằng đường biển

Chương 3: Một số lưu ý về những tranh chấp thường phát sinh từ mối quan hệ giữa ba hợp đồng

Hoàn thành tốt đề tài nghiên cứu, em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn nhiệt tình, tận tuỵ của thầy giáo PGS, TS Nguyễn Như Tiến cùng các thầy cô trong bộ môn VẬN TẢI trường ĐHNT-Hà Nội

Do hạn chế về tài liệu, về trình độ của tác giả, đề tài nghiên cứu khó tránh khỏi những sai sót Tác giả rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô, bạn bè và các độc giả

Xin chân thành cảm ơn

Tác giả

Trang 4

Chương I I:

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÁC HỢP ĐỒNG

Trong xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới, giao lưu thương mại và dịch vụ giữa các quốc gia phát triển không ngừng Hoạt động thương mại và dịch

vụ không chỉ dừng lại ở các nước trong khu vực mà còn vươn tới các nước trên toàn thế giới Ngay tại thị trường Việt nam, người tiêu dùng có thể mua những sản phẩm được sản xuất tại Châu Âu ,Châu Mỹ, Châu Úc với chất lượng cao

và giá thành vừa phải Rồi những sản phẩm đặc trưng của Việt nam như cà phê, lúa gạo cũng có mặt trên thị trường các nước khác nhằm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng Kết quả này có được là nhờ sự đóng góp không nhỏ của ngành Giao thông –Vận tải, đặc biệt là vận tải biển Với ưu thế vượt trội của mình như: năng lực vận chuyển hàng hoá rất lớn (có tàu tới 500.000 tấn), các tuyến đường chuyên chở hầu hết là tuyến đường giao thông tự nhiên, giá thành vận chuyển thấp vận tải biển luôn chiếm khoảng 75-80% khối lượng vận chuyển hàng hoá trên thế giới Trong đó, hầu hết hàng hoá có tính chất đồng nhất, khối lượng lớn đều được chuyên chở bằng tầu chuyến Song việc đàm phán và ký kết hợp đồng thuê tàu chuyến lại không phải là vấn đề đơn giản Bởi vì, mặc dù hợp đồng thuê tàu chuyến là một hợp đồng độc lập quy định quyền và nghĩa vụ các bên tham gia ký kết hợp đồng, nhưng nó còn có mối quan hệ mật thiết với hợp đồng mua bán quốc tế và hợp đồng bảo hiểm hàng hoá Vậy để có thể hiểu rõ mối quan hệ giữa ba hợp đồng trên, trước hết chúng ta hãy tìm hiểu về từng hợp đồng một và nội dung của mỗi hợp đồng gồm những gì ?

I HỢP ĐỒNG THUÊ TÀU CHUYẾN

1 Khái niệm

Trang 5

Thuê tàu chuyến (voyage charter) là chủ tàu (ship-owner) cho người thuê

tàu (charterer) thuê toàn bộ hay một phần chiếc tàu để chuyên chở hàng hoá từ cảng này đến cảng khác Mối quan hệ giữa người cho thuê tàu (chủ tầu) với người thuê tàu (chủ hàng) được điều chỉnh bằng một văn bản gọi là hợp đồng thuê tàu chuyến (voyage charter party), viết tắt là C/P

Hợp đồng thuê tàu chuyến là hợp đồng chuyên chở hàng hoá bằng đường

biển, trong đó người chuyên chở cam kết sẽ chuyên chở hàng hoá từ một hay một số cảng này đến một hay một số cảng khác giao cho người nhận, còn người thuê tàu cam kết sẽ thanh toán cước phí theo đúng như thoả thuận của hợp đồng

Từ khái niệm trên chúng ta thấy hợp đồng thuê tàu chuyến là một văn bản ghi lại sự thoả thuận tự nguyện giữa người thuê tàu và người cho thuê tàu, thể hiện qua các điểu khoản trong hợp đồng Chính vì vậy hợp đồng thuê tàu chuyến

có giá trị pháp lý điều chỉnh mối quan hệ giữa người chuyên chở và người thuê chuyên chở Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu có những tranh chấp xẩy ra giữa các chủ thể trong hợp đồng, người ta sẽ lấy hợp đồng chuyên chở để giải quyết các tranh chấp đó

Hiện nay, để đơn giản hoá và rút ngắn thời gian đàm phán ký kết hợp đồng, các bên thường dựa vào các hợp đồng mẫu (Standard chaterparty) Song tuỳ thuộc vào từng trường hợp cụ thể để điền thêm những điều khoản vào chỗ trống đồng thời gạch đi những câu những từ không có thoả thuận và bổ sung những điều không có trong mẫu Hợp đồng thuê tàu chuyến mẫu chỉ mang tính chất bắt buộc khi hai bên đã thống nhất ký kết

2 Nội dung cơ bản của hợp đồng thuê tàu chuyến

Mỗi loại hàng hoá có tính chất khác nhau đòi hỏi điều kiện chuyên chở phù hợp với tính chất hàng hoá đó Vì vậy ,hợp đồng chuyên chở tương ứng cũng gồm những điều khoản khác nhau quy định rõ trách nhiệm và quyền lợi của

Trang 6

các bên Song nhìn chung nội dung cơ bản của hợp đồng thuê tàu chuyến gồm các điều khoản chủ yếu sau:

2.1 Chủ thể của hợp đồng

Chủ thể của hợp đồng thuê tàu chuyến gồm: Người cho thuê tàu là chủ

tàu (ship-owner) hoặc là người thuê tàu của người khác để kinh doanh lấy cước

(carrier) Người thuê tàu là người xuất khẩu hoặc là người nhập khẩu tuỳ theo

điều kiện cơ sở giao hàng được áp dụng trong hợp đồng mua bán quốc tế

Nếu đại lý hoặc người môi giới được uỷ thác để ký hợp đồng thuê tàu thì phải ghi rõ ở cuối hợp đồng dòng chữ “as agent only” (chỉ là đại lý) nhằm xác định tư cách của người ký hợp đồng

2.2 Điều khoản về tàu

Đây là điều khoản quan trọng bởi vì tàu là công cụ để vận chuyển hàng hoá, do đó điều khoản này quy định rất cụ thể và rõ ràng các đặc trưng cơ bản của con tàu chuyên chở :

- Tên tàu: ví dụ The MS Love River

Nếu chủ tàu muốn giành được quyền thay thế tàu thì bên cạnh con tàu sẽ ghi thêm “hoặc một tàu thay thế khác – or/and Substitute sister ship” Khi phải thay thế tàu, chủ tàu phải thông báo trước cho người thuê biết và đảm bảo tàu thay thế phải có những đặc điểm kỹ thuật tương tự như tàu cũ và phải chở hết hàng hoá

- Quốc tịch tàu: thể hiện qua cờ tàu

- Chất lượng tàu: phản ánh qua tuổi tàu (là tàu trẻ hay tàu trung bình hay tàu già)

- Động cơ tàu, Trọng tải tàu, Dung tích tàu

- Mớn nước tàu

Trang 7

- Vị trí con tàu hiện đang ở đâu?

2.3 Điều khoản về thời gian tàu đến cảng xếp hàng và ngày huỷ hợp đồng

Thời gian tàu đến cảng xếp hàng là thời gian tàu phải đến cảng xếp hàng

nhận hàng để chuyên chở theo quy định của hợp đồng

Có nhiều cách quy định thời gian tàu đến cảng xếp hàng như: quy định ngày cụ thể (ví dụ: ngày 1/12/2002 tàu phải có mặt tại cảng xếp hàng) hay quy định theo khoảng (ví dụ: từ ngày 1/12/2002 đến ngày 10/12/2002 tàu phải có mặt tại cảng xếp hàng) hoặc quy định sau

Nếu tàu đến sớm hơn so với thời gian quy định, người thuê tàu không nhất thiết phải giao hàng, nhưng nếu giao hàng thời gian sẽ tính vào thời gian làm hàng; Ngược lại, tàu đến theo đúng quy định mà chưa có hàng để giao thì số ngày tàu phải chờ hàng sẽ tính vào thời gian làm hàng

Thông thường, chủ tàu phải thông báo cho người thuê tàu biết dự kiến thời gian tàu đến cảng xếp hàng( estimated time of arrival )

Ngày huỷ hợp đồng là ngày cuối cùng của thời gian tàu phải đến cảng xếp

hàng Khi đã huỷ hợp đồng, toàn bộ chi phí điều tàu đến cảng là chủ tàu phải tự gánh chịu Song trên thực tế không phải tàu đến muộn là người thuê tàu huỷ hợp đồng, mà việc huỷ hợp đồng hay không còn phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể Nếu tàu gặp sự cố trên đường đi đến cảng xếp hàng và thông báo kịp thời cho người thuê tàu, hoặc tàu đến châm so với thời gian quy định nhưng không ảnh hưởng đến quyền lợi của người thuê, hay tàu đến muộn nhưng chủ tàu cam kết chịu chi phí lưu kho lưu bãi thì không huỷ hợp đồng

2.4 Điều khoản về hàng hoá

Trong điều khoản này cần quy định rõ tên hàng, bao bì đóng gói, các đặc điểm của hàng hoá Nếu người thuê tàu muốn giành quyền lựa chọn hàng (cargo

Trang 8

option) thì cần chú ý ghi chữ “và/ hoặc” để tránh tranh chấp sau này VD:10 000MT of Rice or/ and Maize

Căn cứ vào đặc điểm của hàng hoá mà người ta tính số lượng hàng hoá

chuyên chở, có thể tính theo trọng lượng hay thể tích Song để thuận tiện cho các

chủ thể của hợp đồng, người ta ít khi quy định chính xác số lượng hàng hoá thuê

chuyên chở mà thường kèm theo một tỷ lệ dung sai (tolerance)

VD: 10 000MT of Rice or/ and Maize  5%

Và khi gửi thông báo sẵn sàng xếp hàng, thuyền trưởng sẽ là người tuyên

bố chính thức số lượng hàng hoá chuyên chở Người thuê tàu có trách nhiệm

cung cấp đầy đủ toàn bộ số lượng hàng hoá được thông báo (full and complete

cargo) Nếu số lượng hàng hoá người thuê tàu giao ít hơn so với số lượng hàng

hoá quy định, thì người chuyên chở có quyền thu tiền cước khống (Dead

Freight) Còn nếu người chuyên chở không nhận hết số lượng hàng hoá quy định

thì phải chịu những chi phí liên quan đến số hàng hoá bị bỏ lại (như chi phí vận

chuyển và lưu kho lưu bãi số hàng hoá đó)

2.5 Điều khoản về cảng xếp-dỡ

Trong hợp đồng có thể quy định tên một hoặc một vài cảng xếp hàng (Port

of shipment), một hoặc một vài cảng dỡ hàng (Port of destination).Tuy nhiên cả

cảng xếp hàng và cảng dỡ hàng phải là cảng an toàn về mặt hàng hải và an toàn

về mặt chính trị xã hội Có nghĩa là về mặt hàng hải phải đảm bảo cho tàu ra, vào

và đậu một cách thuận tiện “always afloat or safe aground” (tàu luôn luôn đậu

nổi hoặc chạm đất an toàn); Về mặt chính trị xã hội, cảng không có chiến tranh,

binh biến, biểu tình, bãi công

Nếu quy định một số cảng bốc dỡ hàng hoặc khu vực cảng bốc dỡ (Range

of port), thì phải quy định thêm thứ tự địa lý của cảng xếp dỡ (Port to be in

Trang 9

Geographitical rotation) để giảm thời gian và chi phí đi lại của tàu Số lượng cảng bốc dỡ có ảnh hưởng trực tiếp đến mức cước thuê tàu Vì vậy, người thuê tàu chuyến cần cố gắng xác định rõ cảng xếp dỡ cụ thể, tránh ký kết chung chung về cảng xếp dỡ

2.6 Điều khoản về cước phí thuê tàu

Cước phí thuê tàu chuyến (Freight) chính là giá cả của hợp đồng thuê tàu chuyến, do chủ tàu và người thuê tàu thương lượng và quy định rõ trong hợp đồng thuê tàu Nó gồm những nội dung sau:

+ Mức cước (Rate of freight): là tiền cước tính cho mỗi đơn vị hàng hoá

(Freight unit).Tuỳ vào đặc điểm hàng hoá mà đơn vị tính cước có thể là đơn vị

trọng lượng (tấn phổ thông, tấn Anh, tấn Mỹ) đối với hàng nặng, hàng rời (Weight cargo) hoặc đơn vị thể tích m3 đối với hàng nhẹ, hàng cồng kềnh (measurement cargo) hay đơn vị tính cước khác như: standard (hàng gỗ), gallon (dầu mỏ), bushels (lúa mì) v.v

Mức cước thuê bao (lumpsum freight) không phụ thuộc vào loại hàng và

số lượng hàng hóa chuyên chở mà tính theo đơn vị trọng tải hoặc dung tích tàu Bên cạnh mức cước thuê tàu, hai bên còn phải thoả thuận chi phí xếp dỡ thuộc

về ai

+ Khối lượng hàng hoá tính cước: tiền cước có thể tính theo khối lượng

hàng hoá xếp lên tàu ở cảng gửi hàng (intaken quantity), căn cứ vào khối lượng hàng hoá ghi trên vận đơn (Bill of lading quantity); Hoặc tính theo khối lượng hàng hoá thực nhận ở cảng đến (Deliveried quantity), căn cứ vào biên bản dỡ hàng ROROC Đối với hàng rời có giá trị thấp như than đá, quặng sắt việc cân lại hàng ở cảng đến là rất tốn kém nên người ta thường quy định cước phí tính theo khối lượng hàng hoá ghi trên vận đơn, sau đó trừ đi 2% thay cho việc cân lại hàng hoá ở cảng đến

Trang 10

+ Thời gian thanh toán tiền cước: có thể quy định theo các cách sau:

- Cước trả trước: là cước phí thanh toán ở cảng bốc hàng (freight payable

at port of loading), tức là toàn bộ tiền cước phải thanh toán khi ký vận đơn (on signing of loading) hoặc sau khi ký vận đơn mấy ngày

- Cước thu sau: là cước thanh toán ở cảng đến (freight payable at port of destination) Thời gian thanh toán cước phí cảng dỡ được quy định cụ thể hơn như: cước phí trả trước khi dỡ hàng (freight payable before breaking bulk); cước phí trả sau khi dỡ hàng xong (freight payable after complete of discharge); cước phí trả cùng việc dỡ hàng trong mỗi ngày (freight payable concurent with discharge)

Trên thực tế, cách tốt nhất là quy định cước phí trả trước khoảng 80-90% tổng số tiền cước, số tiền còn lại sẽ để tính thưởng phạt xếp dỡ

Và trên hợp đồng còn quy định địa điểm thanh toán, tỷ giá hối đoái của đồng tiền thanh toán, phương thức thanh toán, tiền cước phí ứng trước

2.7 Điều khoản về chi phí bốc dỡ

Chi phí bốc dỡ chiếm tỷ lệ khá cao trong giá cước chuyên chở hàng hoá Thông thường có các điều kiện chi phí bốc dỡ sau:

+ Điều kiện chi phí bốc dỡ theo tàu chợ: nghĩa là chủ tàu có trách

nhiệm bốc dỡ hàng hoá, chủ hàng không phải bận tâm đến chi phí xếp dỡ vì chi phí đã được tính gộp cả vào cước thuê tàu

+ Điều kiện miễn chi phí bốc hàng cho người chuyên chở (free in=FI):

nghĩa là chủ tàu được miễn chi phí xếp hàng lên tàu, nhưng vẫn phải chịu chi phí

dỡ hàng ra khỏi tàu Bên cạnh đó cũng cần quy định rõ chi phí sắp đặt hàng (Stowage) và san cào hàng (Trimming) trong hầm tàu Có thể quy định:

Trang 11

FIS (Free in and stowage): miễn chi phí bốc hàng và sắp đặt hàng trong hầm tàu cho người chuyên chở, hoặc

FIT (Free in and trimming): miễn chi phí bốc hàng và san cào hàng trong hầm tàu cho người chuyên chở

+ Điều kiện miễn chi phí dỡ hàng cho người chuyên chở (Free out=FO)

nghĩa là người chuyên chở được miễn trách nhiệm dỡ hàng nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm bốc hàng lên tàu

+ Điều kiện miễn chi phí bốc dỡ hàng cho người chuyên chở (Free in

and out =FIO): nghĩa là người chuyên chở được miễn cả chi phí bốc hàng lên tàu

và chi phí dỡ hàng ra khỏi tàu Cũng có thể thoả thuận miễn thêm cả chi phí sắp đặt và san cào hàng cho người chuyên chở bằng cách quy định trong hợp đồng là FIOS hoặc FIOT

Vậy khi nào chúng ta quan tâm đến chi phí bốc dỡ hàng? Chỉ khi ta giành được quyền thuê tàu thì mới quan tâm đến chi phí bốc dỡ Và để lựa chọn điều kiện chi phí nào cho phù hợp cần căn cứ vào điều kiện cơ sở giao hàng trong hợp đồng mua bán quốc tế, sao cho phân định rõ ràng trách nhiệm giữa các bên, tránh trả chi phí hai lần cho người chuyên chở hoặc cho người bán và tạo điều kiện thuận lợi cho việc bốc dỡ hàng hoá lên xuống tàu

VD: Trong hợp đồng mua bán quốc tế quy định: bán 10.000MT gạo CIF cảng Hải phòng Người bán là người thuê tàu hộ người mua và trong hợp đồng thuê tàu chuyến, người bán sẽ chọn điều kiện chi phí bốc dỡ FO là đúng nhất

2.8 Điều khoản về thời gian bốc dỡ

Thời gian bốc dỡ (laytime) là thời gian mà tàu phải lưu lại tại cảng để tiến hành bốc dỡ hàng hoá Thời gian này thường do hai bên thoả thuận trong hợp đồng thuê tàu chuyến Nếu người thuê tàu tiến hành việc bốc dỡ hàng hoá nhanh

Trang 12

hơn thời gian quy định trong hợp đồng thì người thuê tàu sẽ được chủ tàu thưởng một khoản tiền gọi là tiền thưởng bốc dỡ nhanh (Despatch money) Ngược lại, nếu người thuê tàu tiến hành công bốc dỡ chậm hơn thời gian quy định trong hợp đồng thì người thuê tàu sẽ bị chủ tàu phạt một khoản tiền gọi là tiền phạt bốc dỡ chậm (Demurrage money)

Để tính thời gian cho phép bốc dỡ hàng, trong hợp đồng có thể quy định thành một số ngày cụ thể hoặc theo mức xếp dỡ hàng hoá và có thể phân ra các loại ngày làm hàng sau đây:

+ Ngày theo lịch( days): là ngày liên tục 24 tiếng tính từ 0h đêm hôm trước đến 0h đêm hôm sau, gồm cả ngày làm vịêc, ngày chủ nhật và ngày lễ

+ Ngày làm việc(Working days): là những ngày làm việc chính thức tại

các cảng do luật pháp của từng nước quy định

VD: ở Việt nam ngày làm việc tính từ thứ 2 đến thứ 6, giờ làm việc bắt đầu từ 8hđến 4h30 chiều

+ Ngày làm việc 24 tiếng (Working days of 24 hours ): là khi làm 24

tiếng mới tính là một ngày cho dù trên thực tế phải mất nhiều ngày mới làm đủ

24 tiếng

+ Ngày làm việc 24 tiếng liên tục (Working days of 24 consecutive hours

): là ngày làm việc 24 giờ liên tục bất kể ngày hay đêm, dù thời tiết có thuận lợi hay không, không tính chủ nhật ngày lễ

+ Ngày làm việc tốt trời (Weather working days): là những ngày thời tiết

tốt cho phép tiến hành công việc bốc dỡ hàng hóa Ngày mưa gió bão là thời tiết xấu không thể tiến hành bốc dỡ hàng hoá nên không tính

Tuy nhiên, theo hợp đồng Nubaltwood, nếu số giờ làm việc bị ngưng trệ

do thời tiết ít hơn 1/2tổng số giờ làm việc chính thức của mỗi ngày thì ngày đó

Trang 13

sẽ được tính là 1 ngày làm việc đầy đủ Ngược lại, nếu số giờ bị ngưng trệ này nhiều hơn 1/2tổng số giờ làm việc của một ngày theo hợp đồng, ngày đó sẽ được tính là 1/2ngày làm việc

+ Ngày chủ nhật (Sundays), ngày lễ (Holidays): thường là ngày nghỉ làm

việc, nhưng cũng có thể tiến hành bốc dỡ hàng hoá tuỳ theo quy định của hợp đồng

Vậy để tránh những tranh chấp xẩy ra, cần phải hiểu thời gian cho phép bốc dỡ hàng hoá khác hẳn so với ngày tính trên lịch thông thường Chẳng hạn quy định thời gian cho phép bốc dỡ hàng hoá trong hợp đồng thuê tàu chuyến theo các cách sau:

+ Thời gian cho phép bốc và dỡ hàng là 10 ngày làm việc tốt trời 24 giờ liên tục, không kể chủ nhật, ngày lễ (Cargo to be loaded and discharged in 10 weather working days of 24 consecutive hours, sundays, holidays excepted

=WWD,S.H.E.X)

+ Thời gian cho phép bốc và dỡ hàng là 10 ngày làm việc tốt trời 24 giờ liên tục, không kể chủ nhật, ngày lễ, trừ phi có sử dụng (Cargo to be loaded and discharged in 10 weather working days of 24 consecutive hours, sundays, holidays excepted, unless used = WWD,S.H.E.X.U.U)

Có thể quy định riêng cho thời gian bốc hàng và dỡ hàng, tức là tính thưởng phạt riêng cho từng cảng, hoặc quy định thời gian cho phép chung cả bốc

và dỡ hàng, tức là sau khi hoàn thành việc dỡ hàng mới tính thưởng phạt

Mốc để bắt đầu tính thời gian cho phép bốc dỡ hàng phụ thuộc vào ngày giờ đưa hoặc chấp nhận thông báo sẵn sàng bốc dỡ (Notice of readiness to load

=NOR)

Trang 14

Theo mẫu hợp đồng GENCON quy định: nếu NOR được đưa và chấp nhận trước 12h trưa buổi sáng ngày làm việc thì thời gian bốc dỡ bắt đầu tính vào lúc 13h chiều cùng ngày; Nếu NOR được đưa và chấp nhận vào buổi chiều ngày làm việc thì thời gian bốc dỡ bắt đầu tính vào lúc 6h sáng ngày hôm sau

Nếu người thuê tàu tiến hành công việc bốc dỡ hàng hoá nhanh hơn thời gian quy định trong hợp đồng thì người thuê tàu sẽ được chủ tàu thưởng một khoản tiền gọi là tiền thưởng bốc dỡ nhanh (Despatch money) Ngược lại, nếu người thuê tàu tiến hành công bốc dỡ chậm hơn thời gian quy định trong hợp đồng thì người thuê tàu sẽ bị chủ tàu phạt một khoản tiền gọi là tiền phạt bốc dỡ chậm (Demurrage money) Mức tiền thưởng thông thường chỉ bằng 1/2 mức tiền phạt

Nguyên tắc của phạt bốc dỡ chậm là khi bị phạt thì luôn luôn bị phạt (Once on demurrage, always on demurrage), tức là khi đã bị phạt thì những ngày tiếp theo kể cả chủ nhật, ngày lễ, ngày xấu trời đều bị phạt

Nhưng tiền thưởng lại quy định theo hai trường hợp: thưởng cho tất cả thời gian tiết kiệm được( all time saved) và thưởng cho thời gian làm việc tiết kiệm được (working time saved)

2.9 Điều khoản về trách nhiệm và miễn trách của người chuyên chở Trách nhiệm của người chuyên chở:

+ Phải cung cấp tàu có đủ khả năng đi biển: nghĩa là tàu phải bền chắc, chịu đựng được sóng gió; được trang bị biên chế đầy đủ và các hầm quầy hàng phải thích ứng với việc chuyên chở hàng hoá

+ Phải có trách nhiệm hướng dẫn hàng hoá lên xuống tàu và bảo quản hàng hoá trong suốt quá trình vận chuyển kể từ khi nhận hàng hoá để chuyên chở cho tới khi giao xong hàng

Trang 15

+ Phải chịu trách nhiệm đối với những tổn thất xẩy ra với hàng hoá do lỗi lầm sơ suất hoặc khuyết điểm của thuyền trưởng và thuỷ thủ trong thuật đi biển

và quản trị tàu

+ Điều khiển tàu chạy trên biển với tốc độ hợp lý, không cho phép tàu đậu

đỗ ở bất kỳ nơi nào không có trong hành trình trừ trường hợp bất khả kháng

+ Sau khi nhận hàng hoá để chở phải cấp cho người gửi hàng vận đơn theo yêu cầu của người gửi hàng

Miễn trách cho người chuyên chở (exemptions from liability) đối với những hư

hỏng, mất mát của hàng hoá do các nguyên nhân và trường hợp sau:

+ Do thiên tai, tai nạn bất ngờ ngoài biển, cướp biển

+ Do ẩn tỳ của tàu và máy móc

+ Do bản chất của hàng hoá

+ Do cháy, nhưng không do lỗi của sĩ quan, thuỷ thủ trên tàu

+ Do chiến tranh và các hoạt động bị bắt, tịnh thu của chính phủ

2.10 Các điều khoản khác

Hợp đồng thuê tàu chuyến còn có các điều khoản khác cần phải lưu ý như: điều khoản về trọng tài (arbitration clause), điều khoản về hai tàu đâm nhau cùng có lỗi (both to blame collision clause), điều kiện thông báo tàu (expected time of arrival), điều khoản kiểm đếm (tally clause)

II HỢP ĐỒNG MUA BÁN QUỐC TẾ

1 Khái niệm

Hợp đồng mua bán quốc tế còn gọi là hợp đồng xuất nhập khẩu hoặc hợp

đồng mua bán ngoại thương là sự thoả thuận giữa những đương sự có trụ sở kinh doanh ở các nước khác nhau, theo đó một bên gọi là bên xuất khẩu (bên bán) có

Trang 16

nghĩa vụ chuyển vào quyền sở hữu của một bên khác gọi là bên nhập khẩu (bên mua) một tài sản nhất định, gọi là hàng hoá; Bên mua có nghĩa vụ nhận hàng và trả tiền hàng

Đặc điểm: Trước hết hợp đồng mua bán quốc tế là một hợp đồng mua bán

nên nó có các đặcđiểm sau:

+ Là hợp đồng ưng thuận (consensual contract): là văn bản ghi lại sự thoả thuận tự nguyện giữa các bên đương sự và có hiệu lực ngay từ khi ký kết nếu không có quy định gì khác

+ Là hợp đồng song vụ (synallagmtic contract): có nghĩa là có hai nghĩa

vụ, bên bán có nghĩa vụ giao hàng đúng theo như thoả thuận trong hợp đồng và bên mua có nghĩa vụ thanh toán tiền hàng đầy đủ và kịp thời

+ Là hợp đồng đối thường (onerous contract): hay còn gọi là hợp đồng có bồi thường cho nhau, bên bán giao hàng hoá và nhận được một số tiền tương ứng, còn bên mua nhận hàng hoá và trả một số tiền có giá trị tương đương

+ Có sự di chuyển quyền sở hữu

Hợp đồng mua bán quốc tế là một hợp đồng mua bán có yếu tố nước ngoài, được

thể hiện ở chỗ:

+ Hàng hoá được di chuyển ra ngoài biên giới quốc gia

+ Đồng tiền thanh toán là ngoại tệ đối với một trong hai bên tham gia ký kết hợp đồng

+ Các bên tham gia ký kết hợp đồng có trụ sở kinh doanh ở các nước khác nhau

Trang 17

Tuy nhiên đặc điểm thứ nhất có thể không xẩy ra khi hợp đồng mua bán quốc tế được ký kết giữa một xí nghiệp trong khu chế xuất với một xí nghiệp ngoài khu chế xuất

Vậy hợp đồng mua bán quốc tế là một văn bản có giá trị pháp lý điều chỉnh mối quan hệ giữa các bên ký kết hợp đồng Nó buộc chủ thể của hợp đồng phải thực hiện đúng như nội dung của hợp đồng Nếu bên nào không thực hiện đúng như quy định của hợp đồng có nghĩa là vi phạm hợp đồng và sẽ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm đối với những hậu quả xẩy ra do hành động vi phạm của mình gây nên

2 Các điều khoản quan trọng trong hợp đồng mua bán quốc tế

2.1 Chủ thể của hợp đồng

Chủ thể của hợp đồng là Bên bán (bên xuất khẩu) và Bên mua (bên nhập khẩu) Bên bán giao một giá trị nhất định và để đổi lại, bên mua phải trả một đối giá(counter value) cân xứng với giá trị được giao (contract with consideration)

Tại Việt nam, theo nghị định 57/1998/NĐ-CP ngày 31/7/1998, chủ thể của hợp đồng mua bán quốc tế phải là doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh (theo thủ tục thành lập doanh nghiệp) và đã đăng ký mã số kinh doanh xuất nhập khẩu tại cục hải quan tỉnh, thành phố

2.2 Điều khoản về tên hàng

Tên hàng là điều khoản quan trọng của hợp đồng, nó nói lên chính xác đối tượng mua bán trao đổi Nếu tên hàng mà ghi sai, chúng ta sẽ không mua được những thứ cần mua, bán được những thứ cần bán Vì vậy, người ta luôn tìm cách diễn đạt chính xác tên hàng theo một trong những cách sau đây:

+ Tên thương mại của hàng hoá ghi kèm với tên thông thường và tên khoa học của nó VD: vitamin C, tức axit Ascortic, tức laroscorbol

Trang 18

+ Tên hàng và địa danh sản xuất ra hàng hoá đó VD: Bohemia Crytal + Tên hàng và nhãn hiệu, VD: MH2021 TV set

+ Tên hàng và công dụng của hàng hoá đó

VD: saw blade for resirous wood (lưỡi cưa để cưa gỗ có dầu)

+ Tên hàng và mã hiệu của hàng hoá trong danh mục hàng hoá thống nhất VD: mô-tơ điện, mục 100.101

Tuy nhiên, trên thực tế, tên hàng hoá được ghi gồm: tên chính xác của hàng hoá, quy cách chính của hàng hoá, nhãn hiệu của hàng hoá, công dụng của hàng hoá, năm sản xuất, và nơi sản xuất

2.3 Điều khoản phẩm chất

Đây là điều khoản quy định mặt chất của đối tượng- hàng hoá mua bán, nghĩa là nói lên tính năng, quy cách, kích thước, tác dụng, công suất, hiệu suất của hàng hoá đó Và mặt chất này được thể hiện thông quy nhiều chỉ tiêu

Do tập quán khác nhau mà có nước coi trọng chỉ tiêu này, coi nhẹ chỉ tiêu khác,

vì vậy điều khoản phẩm chất thường hay tranh chấp nhất Để tránh tranh chấp và

có những quy định chính xác mặt chất của hàng hoá, trong hợp đồng mua bán quốc tế người ta vận dụng những phương pháp xác định phẩm chất sau:

+ Dựa vào mẫu hàng (Sales by sample): nghĩa là chất lượng của hàng hoá

được xác định căn cứ vào chất lượng của một số ít hàng hoá, gọi là mẫu hàng Mẫu này có thể do bên bán đưa ra ; hoặc do bên mua đưa ra và bên bán sẽ sản xuất ra 3 mẫu gọi là 3 mẫu đối (counter sample) và người ta ký kết hợp đồng trên

cơ sở mẫu đối, bởi vì chỉ có mẫu do bên bán sản xuất mới nói lên năng lực sản xuất của bên bán

Trang 19

Cần làm thành 3 mẫu hàng: Bên bán giữ một để căn cứ vào đó giao hàng, Bên mua giữ một để đối chiếu và một mẫu được giao cho bên thứ ba do hai bên chỉ định để khi cần thì lấy ra làm chứng

VD: Quality as per sample, submitted by the Seller, signed and sealed by both parties, in possession of the Buyer, the Seller and Vinacontrol (54 Trân Nhân Tông-Ha noi)

+ Dựa vào phẩm cấp (category) hoặc tiêu chuẩn (standard)

Tiêu chuẩn là những điều mà một cơ quan có thẩm quyền quy định về các chỉ tiêu chất lượng, phương pháp sản xuất, phương pháp đóng gói bao bì hàng hoá và trên cơ sở ấy, người ta mới chia ra hàng loại 1,2,3 gọi là phẩm cấp của hàng hoá Khi ký hợp đồng dựa vào tiêu chuẩn và phẩm cấp cần:

- Quy định số hiệu của tiêu chuẩn đó: mỗi số hiệu nói lên một tiêu chuẩn

- Quy định năm ban hành tiêu chuẩn đó: năm ban hành tiêu chuẩn khác nhau thì phẩm chất hàng hoá khác nhau

- Người ban hành tiêu chuẩn

VD: Quality to be conformed to the Vietnam State’s Standard No TCVN 321 published in 2001

+ Dựa vào chỉ tiêu đại khái quen dùng

+ Dựa vào hàm lượng chất chủ yếu: đối với những hàng hoá nhất là hàng

nông sản, khoáng sản, người ta quy định hàm lượng của chất chủ yếu Hàm lượng này càng nhiều thì càng dễ phán đoán phẩm chất của hàng hoá

Khi dựa vào hàm lượng chất chủ yếu cần chú ý chất chủ yếu của hàng hoá

là gì, và hàm lượng bao nhiêu là vừa? Và để tránh bị phạt, trong hợp đồng cần

Trang 20

quy định tỷ lệ tăng giá nếu ta giao hàng tốt hơn và giảm giá nếu ta giao hàng xấu hơn

VD: Apatit : P205 30% , Bonification +1%, Reflextion - 1%

+ Dựa vào việc xem hàng trước: tức là hàng hoá được người mua xem và

đồng ý, còn người mua phải nhận hàng và trả tiền hàng

+ Dựa vào số lượng thành phẩm thu được: khi mua bán những hàng hoá

là nguyên vật liệu hay bán thành phẩm, người ta quy định số lượng thành phẩm được sản xuất ra từ hàng hoá mua bán

VD: Quality 1000 kg raffined sugar from 1500 kg brut sugar

+ Dựa vào dung trọng hàng hoá: Dung trọng là trọng lượng tự nhiên của

một đơn vị dung tích hàng hoá Nó phản ánh tính chất vật lý như hình dạng, kích

cỡ, trọng lượng và tỷ trọng tạp chất của hàng hoá Cách sử dụng dung trọng thường được kết hợp với các phương pháp khác

+ Dựa vào hiện trạng của hàng hoá (tale quale): tức là dựa vào tình hình

thực tế của hàng hoá lúc giao hàng

+ Dựa vào nhãn hiệu của hàng hoá: nhãn hiệu của hàng hoá là ký hiệu về

mặt thương nghiệp Ký hiệu này có thể bằng số, chữ, hình vẽ, hoặc hình chụp Khi sử dụng phương pháp này cần chú ý tránh nhầm lẫn với nhãn hiệu tương tự

và phải ghi rõ năm sản xuất( year of production ) và xêry sản xuất của loại hàng

có nhãn hiệu đó

+ Dựa vào tài liệu kỹ thuật: trong việc mua bán máy móc, thiết bị, hàng

công nghiệp tiêu dùng lâu bền, trên hợp đồng mua bán người ta thường dẫn chiếu đến một tài liệu kỹ thuật như bản vẽ kỹ thuật, sơ đồ lắp ráp, bản thuyết minh tính năng và tác dụng, bản hướng dẫn sử dụng Vì vậy, cần chú ý là dựa vào tài liệu kỹ thuật nào, do ai xuất bản, năm xuất bản?

Trang 21

+ Dựa vào mô tả hàng hoá (sales by description): người ta mô tả hàng hoá

rất đầy đủ, người bán chỉ cần làm theo mô tả đó là đã phù hợp với hợp đồng

Vậy chúng ta có rất nhiều cách để quy định chất lượng của hàng hoá khi

ký kết hợp đồng Lựa chọn cách quy định nào phải dựa vào tập quán sử dụng đối với hàng hoá đó

2.4 Điều khoản số lượng

Là điều khoản nói lên mặt lượng của đối tượng mua bán Trong điều khoản

này cần quan tâm đến đơn vị tính số lượng (hoặc trọng lượng của hàng hoá), phương pháp quy định số lượng và phương pháp xác định trọng lượng

+ Đơn vị tính số lượng: tuỳ theo tính chất và đặc điểm của hàng hoá mà

người ta áp dụng đơn vị tính khác nhau Đơn vị đó có thể là cái, chiếc (piece, unit), hay đơn vị đo chiều dài, đơn vị đo diện tích, đơn vị đo khối lượng, đơn vị

đo số lượng tập hợp Bên cạnh đó, đã xẩy ra những tranh chấp do có sự hiểu trái

ý nhau về đơn vị đo, bởi vì nhiều đơn vị đo lường có cùng một tên gọi nhưng ở mỗi nước lại có nội dung khác nhau

VD : Một bao bông ở Ai Cập là 330kg ,ở Braxin là 180kg

Một bì cà phê ở các nước thường là 60 cân Anh(27,13kg), trong khi đó ở Côlômbia lại là 70 cân Anh (31,7kg)

Và một nguyên nhân nữa là sự áp dụng đồng thời nhiều hệ thống đo lường trong buôn bán quốc tế Ngoài đơn vị thuộc mét hệ, người ta còn dùng hệ thống

đo lường của Anh, Mỹ

VD: Metric ton (MT)= 1000kg, Long ton (LT)= 1016kg, Short ton (ST)= 907kg

Vì vậy, phải quy định rất cẩn thận về đơn vị số lượng

+ Phương pháp quy định số lượng:

Trang 22

Nhìn chung trong các hợp đồng mua bán quốc tế, số lượng được quy định bằng hai cách sau:

- Phương pháp quy định dứt khoát số lượng: nghĩa là bên bán và bên mua

quy định cụ thể số lượng giao dịch Phương pháp này thường dùng với những hàng tính bằng cái, chiếc

- Phương pháp quy định số lượng phỏng chừng: theo phương pháp này

bên bán và bên mua quy định phỏng chừng về số lượng hàng hoá giao dịch Nghĩa là bên cạnh một số lượng cơ bản, người ta cho phép khi giao nhận có dung sai (tolerance)

Phương pháp này có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc mua bán những mặt hàng có khối lượng lớn như ngũ cốc, than, quặng, dầu mỏ bởi vì đây là những mặt hàng dễ bốc hơi, hút ẩm và có quy định dung sai thì mới thuận tiện cho việc thuê phương tiện chuyên chở và chuẩn bị hàng

Trong hợp đồng, cần quy định độ lớn của dung sai là bao nhiêu, ai có quyền chọn dung sai, và dung sai đó được tính theo giá nào?

+ Phương pháp xác định trọng lượng: người ta thường dùng những

phương pháp sau đây:

Trang 23

Bao bì là vật liệu để bảo quản hàng hoá khỏi sự va đập và góp phần duy trì chất lượng của hàng hoá trong quá trình chuyên chở Khi ký kết điều khoản bao

bì, chủ thể của hợp đồng cần chú ý ba vấn đề chính sau:

+ Chất lượng của bao bì: có thể quy định theo một trong hai cách sau:

- Chất lượng của bao bì phải phù hợp với phương thức vận tải hàng hoá

Sở dĩ, người ta có thể thoả thuận chung chung như vậy mà vẫn hiểu nhau được là

vì, trong buôn bán quốc tế đã hình thành một số tập quán quốc tế về các loại bao

bì này

VD: Theo tập quán, bao bì đường biển phải đáp ứng 4 yêu cầu sau: Chắc, bền để chống đỡ sự va chạm; Thường có hình hộp chữ nhật; Chiều dày của các cạnh không bao giờ là số lẻ vì số lẻ bao nhiêu cũng tính là số chẵn; Không đóng chung nhiều loại hàng hoá có suất cước khác nhau vào cùng một kiện hàng

- Quy định cụ thể: vật liệu làm bao bì, kích thước của bao bì, hình dáng của bao bì, sức chứa của bao bì, vật liệu gia cố thêm

+ Phương thức cung cấp bao bì: bao bì do người bán cung cấp hay do

người mua cung cấp?

+ Phương pháp tính giá bao bì: giá của bao bì đã được tính vào trong giá

của hàng hoá chưa? Nó được tính như giá hàng hoá hay được tính riêng?

2.6 Điều kiện giao hàng

Nội dung cơ bản của điều kiện giao hàng là sự xác định thời hạn giao hàng

và điạ điểm giao hàng, sự xác định phương thức giao hàng và việc thông báo giao hàng

+ Thời hạn giao hàng: là thời hạn mà người bán phải hoàn thành nghĩa vụ

giao hàng Nếu các bên giao dịch không có thoả thuận gì khác, thời hạn này cũng

Trang 24

là lúc di chuyển rủi ro và tổn thất về hàng hoá từ người bán sang người mua Thông thường, có ba kiểu quy định về thời hạn giao hàng :

- Thời hạn giao hàng có định kỳ:

VD: giao hàng vào ngày 31/12/2002; hay giao hàng không chậm qua ngày 31/12/2002

- Thời hạn giao hàng ngay:

- Thời hạn giao hàng không định kỳ:

VD: giao hàng cho chuyến tàu đầu tiên (Shipment by first available steamer)

+ Địa điểm giao hàng: việc lựa chọn địa điểm giao hàng có liên quan chặt

chẽ đến phương thức chuyên chở hàng hoá và đến điều kiện cơ sở giao hàng

VD: Nếu điều kiện cơ sở giao hàng theo điều kiện FOB Marseille thì địa điểm giao hàng đã xác định rõ là cảng Marseille

Nếu điều kiện cơ sở giao hàng theo điều kiện CIF, CFR thì địa điểm giao hàng chưa được xác định Vậy hai bên cần phải thoả thuận quy định địa điểm giao hàng

+ Phương thức giao hàng: thực tiễn giao hàng trong mua bán hàng hoá

đã làm nảy sinh nhiều phương thức giao hàng:

- Giao hàng sơ bộ: thường được tiến hành ơ nơi sản xuất hoặc nơi gửi hàng nhằm xác định sự phù hợp về số lượng và chất lượng hàng so với quy định trong hợp đồng

- Giao hàng cuối cùng: nhằm xác định người bán hoàn thành nghĩa vụ giao hàng về các mặt số lượng, chất lượng, thời hạn giao hàng

- Giao nhận về số lượng: là xác định số lượng thực tế của hàng được giao bằng các phương pháp cân, đo, đong, đếm

Trang 25

- Giao nhận về chất lượng: là việc kiểm tra hàng hoá về tính năng, công dụng, hiệu suất, kích thước, hình dáng và các chỉ tiêu khác của hàng hoá để xác định sự phù hợp giữa chúng với quy định của hợp đồng

+ Thông báo giao hàng: người ta thường quy định về số lần thông báo

giao hàng và những nội dung cần được thông báo

Ngoài ra, người ta còn quy định đến việc hàng có được giao hàng từng phần hay không, có được chuyển tải không, vận đơn đến chậm có được chấp nhận hay không, vận đơn người thứ ba có được chấp nhận hay không?

2.7 Giá cả

Trong giao dịch buôn bán, điều kiện giá cả là một điều kiện quan trọng, gồm các vấn đề sau: đồng tiền tính giá, phương pháp quy định giá, phương pháp xác định mức giá, cơ sở của giá cả và việc giảm giá

+ Đồng tiền tính giá: có thể là đồng tiền của nước người xuất khẩu hay

của nước người nhập khẩu hoặc của nước người thứ ba đồng tiền tính giá có thể trùng với đồng tiền thanh toán nếu không trùng thì phải quy định tỷ giá hối đoái giữa hai đồng tiền

+ Phương pháp quy định giá: trên hợp đồng, giá có thể là:

- Giá cố định (fixed price): là giá cả được khẳng định ngay từ khi ký kết hợp đồng, trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng giá này không đổi

- Giá linh hoạt (flexible price): là giá đã được ký kết vào lúc thành lập hợp đồng nhưng giá này còn được xem xét lại nếu gặp một điều kiện nào đó

- Giá trượt (sliding price): là giá được xác định ngay khi ký kết hợp đồng nhưng người ta xác định những thành phần cấu tạo nên giá đó và khi thanh toán người ta tính toán di động theo với mức thay đổi của các tỷ lệ các yếu tố cấu thành

Trang 26

- Giá quy định sau (deferred fixing price): khi ký hợp đồng người ta chưa xác định giá mà giá cả của hàng hoá có thể được xác định sau

+ Phương pháp xác định giá: là giá thâm nhập thị trường hay là giá hớt

váng hoặc là giá trung lập

+ Giảm giá (discount): người ta căn cứ vào giá đã tính toán rồi bớt đi một

khoản tiền nhất định gọi là giảm giá

2.8 Điều kiện thanh toán

Điều kiện thanh toán là điều kiện trong đó quy định trách nhiệm của người mua trong việc thanh toán tiền hàng Nội dung của điều khoản này gồm: đồng tiền thanh toán, thời hạn trả tiền, phương thức trả tiền và các điều kiện bảo đảm hối đoái

+ Đồng tiền thanh toán: đây là đồng tiền thể hiện trị giá của nghiệp vụ mua

bán, nó có thể là đồng tiền của nước người mua hoặc của nước người bán hay của nước thứ ba

+ Thời hạn trả tiền: thông thường trong giao dịch, các bên thường trả tiền

trước, trả ngay hoặc trả sau

+ Địa điểm thanh toán: được quy định thanh toán tại nước người bán hoặc

tại nước người mua hay tại nước trung gian Ngoài ra, người ta thường quy định

ai sẽ chịu phí chuyển tiền

+ Phương thức thanh toán: là cách thức mà người mua sử dụng để thực

hiện nghĩa vụ thanh toán của mình theo như hợp đồng Có thể thanh toán theo một trong các phương thức sau:

- Phương thức chuyển tiền (Transfer): thông qua hệ thống ngân hàng, các ngân hàng chuyển tiền từ nơi gửi đến nơi nhận Có thể chuyển tiền bằng điện (T/T, T/TR), bằng thư (M/T), bằng phiếu (D/T)

Trang 27

- Phương thức nhờ thu (Collection): là phương thức thanh toán mà người bán sau khi giao hàng hoặc dịch vụ, uỷ thác cho ngân hàng thu hộ tiền hàng hoặc dịch vụ đó

- Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ (Letter of credit= L/C): trong nghiệp vụ buôn bán, là sự thoả thuận mà một ngân hàng theo yêu cầu của bên mua sẽ trả tiền cho bên bán hoặc cho bất kỳ người nào theo lệnh của bên bán, khi bên bán xuất trình đầy đủ các chứng từ và thực hiện đầy đủ các yêu cầu được quy định trong một văn bản gọi là thư tín dụng (letter of credit)

2.9 Điều kiện khiếu nại

Khiếu nại là một bên yêu cầu bên kia phải giải quyết những tổn thất hoặc thiệt hại mà bên kia đã gây ra, hoặc về những sự vi phạm điều đã được cam kết giữa hai bên

Nội dung cơ bản của điều kiện khiếu nại bao gồm các vấn đề: thể thức khiếu nại, thời hạn khiếu nại, quyền hạn và nghĩa vụ của các bên có liên quan đến việc khiếu nại, cách thức giải quyết khiếu nại

+ Thời hạn khiếu nại: chủ thể của hợp đồng sẽ thoả thuận thời hạn khiếu

nại kéo dài bao lâu? thời hạn này phụ thuộc vào tính chất của hàng hoá và tính chất của việc khiếu nại Nếu bên khiếu nại để quá thời hạn khiếu nại đã được thoả thuận, đơn khiếu nại có thể bị từ chối

+ Thể thức khiếu nại: trong buôn bán quốc tế, khiếu nại phải làm bằng văn

bản và gồm những chi tiết sau: tên hàng hoá bị khiếu nại, hợp đồng mua bán quốc tế (số hợp đồng, ngày tháng ký kết hợp đồng và trị giá của hợp đồng), tình trạng hàng hoá (hàng hoá bị mất, bị thiếu hay bị vỡ), lập luận của người khiếu nại (nói rõ trách nhiệm là của ai), yêu cầu của bên khiếu nại (phải bồi thường bằng gì)

Trang 28

+ Quyền hạn và nghĩa vụ của các bên liên quan: Hai bên cũng cần quy

định rõ nghĩa vụ của người mua và của người bán trong thuê trường hợp có khiếu nại

+ Cách thức giải quyết khiếu nại: khi có khiếu nại thì có thể giải quyết

bằng một trong những biện pháp sau: giao bù hàng, giao bổ sung, cử người đến tại chỗ sửa chữa hàng hư hỏng, trả lại tiền hàng

2.10 Điều kiện về trường hợp miễn trách

Trong việc thực hiện hợp đồng, nhiều khi một bên không thể thực hiện được hợp đồng vì những trường hợp khách quan ngăn trở bên ấy Khi gặp trường hợp khách quan ngăn trở một bên thực hiện hợp đồng, người ta gọi đó là trường hợp bất khả kháng

Để tránh những tranh chấp xẩy ra sau này, cần phải ghi lên những tiêu chí

để xem xét một trường hợp có phải là bất khả kháng hay không, hoặc liệt kê những trường hợp sẽ xẩy ra và miễn trách cho bên gặp trường hợp đó, hay dẫn chiếu đến điều khoản của Phòng Thương Mại Quốc Tế Và cũng cần phải quy định quyền và nghĩa vụ của các bên gặp trường hợp bất khả kháng

2.11 Điều kiện trọng tài

Trong điều kiện trọng tài, cần quy định là địa điểm trọng tài, trình tự tiến hành trọng tài, luật áp dụng vào xét xử, việc chấp hành tài quyết

2.12 Điều kiện vận tải

Trong điều khoản vận tải của các hợp đồng, người ta thường nêu lên những vấn đề sau:

+ Quy định tiêu chuẩn về con tàu chở hàng như: tàu phải dưới 15 tuổi sử

dụng, hoặc phụ phí tàu già phải do người thuê tàu chịu

Trang 29

+ Quy định về mức bốc dỡ, thời gian bốc dỡ, thưởng phạt bốc dỡ

+ Quy định về điều kiện để tống đạt “thông báo sẵn sàng bốc dỡ”

2.13 Điều kiện bảo hiểm

Trong điều khoản bảo hiểm của hợp đồng, người ta thường quy định các vấn

Hợp đồng bảo hiểm là một văn bản trong đó người bảo hiểm cam kết sẽ bồi

thường cho người được bảo hiểm những tổn thất, mất mát đến với đối tượng bảo hiểm do rủi ro được bảo hiểm gây nên, còn người được bảo hiểm cam kết sẽ đóng phí bảo hiểm

Hợp đồng bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu chuyên chở bằng đường biển

là hợp đồng bảo hiểm trong đó đối tượng bảo hiểm là hàng hoá xuất nhập khẩu chuyên chở bằng đường biển

Ta thấy hợp đồng bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu chuyên chở bằng đường biển là văn bản điều chỉnh mối quan hệ giữa người bảo hiểm và người được bảo hiểm thông qua các thoả thuận được quy định trong hợp đồng Khi có tổn thất xảy ra đối với hàng hoá, người ta sẽ căn cứ vào các điều khoản trong hợp đồng để bồi thường cho những tổn thất do rủi ro được bảo hiểm gây nên Hơn nữa, do người mua bảo hiểm hàng hoá có thể là chủ sở hữu hợp pháp của lô

Trang 30

hàng hay cũng có thể là người mua hộ, nên hợp đồng bảo hiểm hàng hoá là một hợp đồng có thể chuyển nhượng bằng phương pháp ký hậu thông thường

2 Nội dung của hợp đồng bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu chuyên chở bằng đường biển

Hợp đồng bảo hiểm hàng hoá thường do các công ty bảo hiểm phát hành mẫu sẵn để sử dụng cho tiện Nhìn chung hợp đồng bảo hiểm gồm hai với các điều khoản sau:

MẶT TRƯỚC HỢP ĐỒNG

2.1 Chủ thể của hợp đồng

Người bảo hiểm: là công ty bảo hiểm Người được bảo hiểm: là người xuất

khẩu hoặc là người nhập khẩu trong hợp đồng mua bán quốc tế

Con tàu vận chuyển được ghi trong hợp đồng bảo hiểm hàng hoá phải là con tàu

có tên trong hợp đồng thuê tàu chuyến với đầy đủ tính chất đặc trưng của con tàu

đó như: tuổi tàu, trọng tải, dung tích, quốc tịch tàu

2.5 Ngày xếp hàng và ngày khởi hành

Trang 31

Người được bảo hiểm phải căn cứ vào hợp đồng mua bán quốc tế và hợp đồng thuê tàu chuyến để điền các thông tin về ngày xếp hàng và ngày khởi hành của hàng hoá trên con tàu chuyên chở Nếu chưa rõ các thông tin này thì có thể ghi

là “sẽ báo sau” và người được bảo hiểm phải thông báo cho công ty bảo hiểm ngay khi biết Nếu không thông báo mà có xẩy ra tổn thất gì đối với lô hàng thì công ty bảo hiểm sẽ không chịu trách nhiệm đối với tổn thất đó

2.6 Điều kiện bảo hiểm

Điều kiện bảo hiểm là những quy định về phạm vi trách nhiệm đối với đối tượng bảo hiểm Căn cứ vào đặc điểm, tính chất của hàng hoá mà người ta chọn mua

điều kiện bảo hiểm cho phù hợp Bởi vì, mỗi loại hàng hoá với những tính chất khác nhau dễ gặp phải một số loại rủi ro nhất định Thêm vào đó là mức phí bảo hiểm khác nhau giữa các điều kiện bảo hiểm Vì vậy, để tiết kiệm phí bảo hiểm, đồng thời vẫn đảm bảo rằng hàng hoá được bảo hiểm trước những rủi ro, người mua bảo hiểm phải căn cứ vào tính chất của hàng hoá để chọn mua điều kiện bảo hiểm thích hợp

2.7 Giá trị bảo hiểm, số tiền bảo hiểm, tỷ lệ phí bảo hiểm

Giá trị bảo hiểm (insured value=V) là giá trị của đối tượng bảo hiểm cộng

phí bảo hiểm và các chi phí khác có liên quan

Đối với hàng hoá vận chuyển bằng đường biển, thì giá trị bảo hiểm chính bằng giá hàng hoá cộng với phí bảo hiểm và cước phí chuyên chở V= C + I + F = CIF

Tuy nhiên, người ta có thể bảo hiểm cho cả phần lãi ước tính (Imaginary profit), nhưng phải được thể hiện trong hợp đồng bảo hiểm Thông thường lãi ước tính bằng 10%CIF, hay V = 110% CIF

Trang 32

Số tiền bảo hiểm (Insured amount=A) là số tiền mà người tham gia bảo hiểm

yêu cầu người bảo hiểm bảo hiểm cho đối tượng đó Đây là giới hạn trách nhiệm cao nhất của người bảo hiểm đối với đối tượng bảo hiểm: A < = V

Phí bảo hiểm (Insurance primium=I) là một khoản tiền mà người được bảo

hiểm phải trả cho người bảo hiểm để được bồi thường khi có tổn thất xẩy ra đối với đối tượng bảo hiểm do rủi ro được bảo hiểm gây nên Phí bảo hiểm chính là giá cả của hợp đồng bảo hiểm, ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả kinh doanh do nó ảnh hưởng tới giá cả của hàng hoá trên thị trường quốc tế

Tỷ lệ phí bảo hiểm (Insurance rate=R) là tỷ lệ phần trăm nhất định của giá trị

bảo hiểm hoặc số tiền bảo hiểm

2.8 Nơi giám định tổn thất

2.9 Nơi thanh toán tiền đòi bồi thường

MẶT SAU HỢP ĐỒNG

Phần lớn được in tất cả các nội dung của hợp đồng bảo hiểm: điều kiện bảo

hiểm, trọng tài, luật xét xử

Trang 33

Chương II:

MỐI QUAN HỆ GIỮA HỢP ĐỒNG THUÊ TÀU CHUYẾN VỚI HỢP ĐỒNG MUA BÁN QUỐC TẾ VÀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP KHẨU CHUYÊN CHỞ BẰNG ĐƯỜNG BIỂN

I MỐI QUAN HỆ HỮU CƠ GIỮA BA HỢP ĐỒNG

Hoạt động thương mại quốc tế bao gồm nhiều lĩnh vực Các lĩnh vực có mối quan hệ mật thiết chặt chẽ với nhau Sở dĩ như vậy vì thương mại quốc tế là kết quả của một chuỗi các hoạt động như mua bán, vận chuyển, bảo hiểm và các hoạt động này phát sinh các mối quan hệ mà những mối quan hệ này lại được xác định dựa trên thoả thuận hoặc hợp đồng khác nhau Có thể nói hàng hoá từ người bán đến khi được giao cho người mua là kết quả của các mối quan hệ: quan hệ giữa người mua và người bán thông qua hợp đồng mua bán quốc tế , quan hệ giữa người vận chuyển với người bán hàng và người mua hàng thông qua hợp đồng vận chuyển hàng hoá, mối quan hệ giữa người bảo hiểm với người mua hàng và người bán hàng thông qua hợp đồng bảo hiểm Như vậy, hợp đồng mua bán quốc tế là hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá từ người này sang người kia, hợp đồng vận chuyển là hợp đồng thực hiện chuyển giao quyền sở hữu đó Và chủ sở hữu hàng hoá nhận thấy rằng hàng hoá trước khi đến đích an toàn, phải vượt qua quãng đường dài chuyên chở với nhiều rủi

ro Nếu những rủi ro đó xảy ra sẽ gây ra những tổn thất ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của họ Do đó, mua bảo hiểm hàng hoá chuyên chở bằng đường biển

Trang 34

là biện pháp hữu hiệu nhất khắc phục tổn thất, giúp cho người được bảo hiểm nhanh chóng khôi phục lại vị thế tài chính của mình

Hợp đồng thuê tàu chuyến, hợp đồng mua bán quốc tế và hợp đồng bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu chuyên chở bằng đường biển là ba loại hợp đồng độc lập Mỗi hợp đồng có chủ thể riêng, đồng thời chịu sự điều chỉnh bằng nguồn luật khác nhau, song lại có mối quan hệ đan xen chặt chẽ với nhau Hợp đồng mua bán quốc tế là hợp đồng có trước Nếu không có hợp đồng mua bán quốc tế thì hợp đồng thuê tàu và hợp đồng bảo hiểm hàng hoá không được ký kết Và ngược lại, nếu không có hợp đồng thuê tàu chuyến và hợp đồng bảo hiểm hàng hoá thì không thể có hợp đồng mua bán quốc tế và không thể thực hiện được Trên thực tế, ngay khi triển khai một phương án kinh doanh, người ta phải tính đến việc vận chuyển Mua cái gì, ở đâu, vận chuyển bằng phương thức nào ? Nhiều khi, quãng đường vận chuyển quá dài, chi phí vận chuyển và phí bảo hiểm quá lớn mà người ta không thực hiện được phương án kinh doanh đã định Bởi vì chi phí vận chuyển hàng hoá và phí bảo hiểm là bộ phận cấu thành lên giá cả hàng hoá trên thị trường Do đó, điều khoản giao hàng, điều khoản vận tải và bảo hiểm được quy định ngay trong hợp đồng mua bán quốc tế

Khi tiến hành đàm phán, ký kết hợp đồng thuê tàu chuyến cũng như hợp đồng bảo hiểm hàng hoá, người ta không thể không căn cứ vào hợp đồng mua bán quốc tế Vì hợp đồng thuê tàu chuyến và hợp đồng bảo hiểm hàng hoá chính là hai khâu quan trọng để thực hiện hợp đồng mua bán quốc tế Ký hợp đồng thuê tàu để chuyên chở hàng hoá trong hợp đồng mua bán quốc tế, ký hợp đồng bảo hiểm để bảo hiểm cho hàng hoá trong hợp đồng mua bán quốc tế trước những tổn thất bị gây ra bởi những rủi ro trong quá trình chuyên chở, phải căn cứ vào các điều khoản đã được quy định trong hợp đồng mua bán quốc tế

Trang 35

như: loại hàng, số lượng hàng, bao bì, ký mã hiệu, cảng bốc hàng, cảng dỡ hàng, thời gian giao hàng

Chủ thể của hợp đồng mua bán quốc tế (người xuất khẩu- người nhập khẩu) cũng chính là một bên chủ thể trong hợp đồng thuê tàu và trong hợp đồng bảo hiểm hàng hoá Nếu bán hàng theo điều kiện CIF, CFR thì người xuất khẩu là chủ thể của hợp đồng thuê tàu và hợp đồng bảo hiểm hàng hoá Tuy nhiên, người xuất khẩu là người mua bảo hiểm cho hàng hoá hộ người nhập khẩu, và người nhập khẩu là chủ sở hữu hàng hoá và là người có quyền lợi bảo hiểm thực

sự Do vậy, người xuất khẩu sau khi mua bảo hiểm hàng hoá phải dùng biện pháp ký hậu chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm cho người nhập khẩu quyền hưởng những lợi ích trên hợp đồng bảo hiểm hàng hoá Còn nếu mua hàng theo điều kiện FOB thì người nhập khẩu là một bên chủ thể trong hợp đồng thuê tàu

và hợp đồng bảo hiểm hàng hoá Khi đó, người nhập khẩu là người được bảo hiểm và cũng là người có quyền lợi bảo hiểm thực sự

Vậy để có thể hiểu chi tiết về mối quan hệ đan xen chặt chẽ giữa ba hợp đồng trên, chúng ta sẽ xem xét mối quan hệ giữa các điều khoản trong ba hợp đồng ở phần sau

II MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC ĐIỀU KHOẢN TRONG HỢP ĐỒNG THUÊ TÀU CHUYẾN VỚI HỢP ĐỒNG MUA BÁN QUỐC TẾ VÀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM HÀNG HOÁ XUẤT NHẬP KHẨU

Hợp đồng thuê tàu chuyến là một hợp đồng gồm rất nhiều các điều khoản phức tạp, đòi hỏi người thuê tàu chuyến phải am hiểu chuyên môn và thị trường thuê tàu Tuy là hợp đồng độc lập, điều chỉnh mối quan hệ giữa người thuê tàu

và người cho thuê tàu, nhưng hợp đồng thuê tàu chuyến lại có mối quan hệ rất chặt chẽ với hợp đồng mua bán quốc tế và hợp đồng bảo hiểm hàng hoá Sở dĩ như vậy vì mục đích của người thuê tàu là chuyên chở hàng hoá đến cảng đến

Trang 36

an toàn, đầy đủ và đúng thời hạn Để thực hiện được mục đích này, người thuê tàu chuyến phải căn cứ vào những điều khoản được quy định trong hợp đồng mua bán quốc tế để đàm phán, ký kết hợp đồng thuê tàu chuyến; Và hàng hoá, con tàu chuyên chở, hành trình chuyên chở lại là những điều khoản quan trọng trong hợp đồng bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu chuyên chở bằng đường biển Vì vậy, các điều khoản trong ba hợp đồng này không thể mâu thuẫn với nhau Nói cách khác, phải có sự thống nhất giữa các quy định trong ba hợp đồng Chỉ cần có sự khác nhau nhỏ giữa các quy định trong ba hợp đồng, có thể phát sinh tranh chấp mà đôi khi ta không thể lường trước được hậu quả to lớn của nó Nhằm hiểu rõ hơn mối quan hệ giữa hợp đồng thuê tàu chuyến với hợp đồng mua bán quốc tế và hợp đồng bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu chuyên chở bằng đường biển, chúng ta sẽ nghiên cứu mối quan hệ giữa các điều khoản trong

ba hợp đồng

1 Tên hàng

Tên hàng trong hợp đồng mua bán quốc tế cũng chính là tên hàng chuyên chở của hợp đồng thuê tàu chuyến và vì sự an toàn của nó mà người ta phải mua bảo hiểm Do đó, hàng hoá cũng là đối tượng được bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm Tên hàng được ghi trong ba hợp đồng phải chính xác, đầy đủ và thống nhất với nhau Có như vậy người mua mới mua được đúng mặt hàng mình cần, người chuyên chở mới vận chuyển được đúng hàng hoá mua bán trong hợp đồng mua bán quốc tế, người bảo hiểm mới bảo hiểm đúng hàng hoá trong hợp đồng mua bán quốc tế và được vận chuyển trên con tàu đã định

2 Quy cách phẩm chất

Phẩm chất hàng hoá là điều khoản thu hút sự quan tâm đặc biệt của tất cả các chủ thể trong ba hợp đồng: hợp đồng mua bán quốc tế, hợp đồng thuê tàu chuyến, hợp đồng bảo hiểm hàng hoá Sở dĩ như vậy bởi vì, trên thực tế, rất

Trang 37

nhiều tranh chấp phát sinh có liên quan đến chất lượng hàng hoá Hay nói cách khác, mục đích cuối cùng của chuỗi hoạt động mua bán, vận chuyển, bảo hiểm là người mua nhận được hàng có chất lượng đúng theo yêu cầu và người bán nhận được tiền hàng đúng và đầy đủ; Nếu mục đích này không đạt được thì chắc chắn

sẽ phát sinh tranh chấp Vì vậy, trong hợp đồng mua bán quốc tế, người mua và người bán quy định rất cụ thể và chi tiết về chất lượng hàng hoá Và người bán

có nghĩa vụ giao hàng đúng theo những quy định đó Khi tiến hành thuê tàu để chuyên chở hàng hoá, mua bảo hiểm hàng hoá, các chủ thể phải căn cứ vào tính chất hàng hoá mà thuê tàu và mua bảo hiểm cho phù hợp Tính chất lý hoá của hàng hoá sẽ quyết định con tàu chuyên chở là tàu chở hàng bách hoá thông thường hay phải là tàu chở hàng chuyên dụng? Hàng hoá có thể được xếp trên boong hay không? Hàng hoá được phép xếp gần những hàng hoá khác không?

Tuy trong hợp đồng thuê tàu chuyến, người chuyên chở không xác định bất

cứ điều gì về chất lượng của hàng hoá, nhưng khi giao hàng, người gửi hàng nên

mô tả hàng hoá và tình trạng của hàng hoá để người chuyên chở có phương pháp bốc dỡ, sắp đặt, bảo quản và chăm sóc hàng hoá trong suốt quá trình chuyên chở cho thích hợp.Tình trạng hàng hoá lúc giao hàng được ghi trên vận đơn đường biển sẽ là bằng chứng chứng minh việc giao hàng cho người chuyên chở, người mua tốt hay không? Trên thực tế đã có những tranh chấp xẩy ra chỉ vì chủ tàu không có sự hiểu biết về tính chất của hàng hoá

VD: vụ hãng Albacora kiện hãng tàu Laurence Line (1966)

Người chuyên chở theo hợp đồng nhận chở cá tươi muối từ Glassgow tới Genoa Loại cá này nếu không làm đông lạnh thì sẽ bị thối rữa rất nhanh Chủ tàu không biết được đặc tính này Về phía người gửi hàng khi ký hợp đồng chuyên chở có yêu cầu rằng hàng phải đặt xa máy móc Chủ tàu nhận chở hàng cá theo đúng chỉ dẫn này của người gửi hàng Nhưng trên tàu không có máy đông lạnh Khi hàng

Trang 38

đến cảng Genoa, số cá bị rữa, thối và hư hỏng nhiều Chủ tàu bị chủ hàng kiện ra toà Tại toà án, vấn đề được đặt ra là liệu người chuyên chở đã nhận chở cá tươi đúng cách và thích hợp không? Toà cho rằng chủ tàu đã làm đúng nghĩa vụ và trách nhiệm của mình đối với hàng hoá lúc bắt đầu hành trình Nhưng đã nhận hàng chở lên tàu là người chuyên chở có nghĩa vụ chăm sóc, bảo quản hàng hoá trong suốt hành trình, đòi hỏi người chuyên chở phải có những biện pháp cần thiết để bảo quản hàng hoá Trong trường hợp này người chuyên chở đã không làm tròn trách nhiệm chăm sóc bảo quản thích hợp hàng hoá và đây chính là nguyên nhân gây ra tổn thất cho hàng hoá Cho nên người chuyên chở phải chịu trách nhiệm bồi thường tổn thất hàng hoá do mình không làm tròn nghĩa vụ theo hợp đồng

Cũng như vậy, người ta phải dựa vào tính chất của hàng hoá để chọn điều kiện bảo hiểm kinh tế nhất cho hàng hoá của mình Người được bảo hiểm phải biết rằng vai trò của các điều kiện bảo hiểm là tạo ra sự mềm dẻo có thể thích ứng một cách tối ưu nhất cho từng loại mặt hàng Trong đó, mỗi loại mặt hàng với những tính chất khác nhau rất dễ gặp phải những rủi ro cụ thể khác nhau

VD: khi mua bảo hiểm cho hàng hoá theo điều kiện “A”, có nghĩa là hàng hoá được bảo hiểm mọi rủi ro trong đó có các rủi ro ngoại lệ Rõ ràng là, một lô hàng sắt thép, máy móc thiết bị sẽ không bao giờ bị rách vỡ, hay một lô hàng thực phẩm nông sản sẽ chẳng bao giờ lo bị bẹp, cong, vênh, han rỉ Đối với những lô hàng trên, người được bảo hiểm không cần mua bảo hiểm cho hàng theo điều kiện “A” với mức phí cao mà có thể mua theo điều kiện “B”, “C” và mua bảo hiểm thêm cho các rủi ro ngoại lệ có thể xảy ra Bằng cách này người được bảo hiểm sẽ tiết kiệm được tiền phí bảo hiểm và khi tổn thất xẩy ra vẫn có thể được bồi thường

3 Số lượng hàng hoá

Trang 39

Số lượng hàng hoá trong hợp đồng mua bán quốc tế cũng chính là số lượng hàng hoá cần chuyên chở trong hợp đồng thuê tàu chuyến và là số lượng hàng hoá được bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm hàng hoá Khi thuê tàu để chuyên chở hàng hoá, điều quan tâm của người thuê tàu là liệu trọng tải, dung tích của con tàu được thuê có thể vận chuyển hết số lượng hàng hoá mua bán hay không?

Vì thế, phải căn cứ vào điều khoản số lượng trong hợp đồng mua bán quốc tế mà chọn thuê con tàu sao cho phù hợp Nói cách khác, con tàu có tên trên hợp đồng thuê tàu chuyến phải đáp ứng hết nhu cầu chuyên chở hàng hoá quy định trong hợp đồng mua bán quốc tế Và phương pháp quy định số lượng, phương pháp xác định trọng lượng trong hợp đồng thuê tàu chuyến phải thống nhất như quy định trong hợp đồng mua bán quốc tế

VD: số lượng hàng hoá : 20000MT  3%

Tương tự, số lượng ghi trong hợp đồng bảo hiểm hàng hoá cũng phải thống nhất với số lượng hàng hoá trong hợp đồng mua bán quốc tế, hợp đồng thuê tàu chuyến Nếu không thống nhất với nhau, khi xẩy ra tổn thất, công ty bảo hiểm sẽ không chịu trách nhiệm bồi thường cho lô hàng

4 Bao bì hàng hoá

Bao bì hàng hoá phải đảm bảo được chức năng của nó: bảo vệ hàng hoá chống lại sự va đập trong quá trình chuyên chở, bảo quản hàng hoá chống lại diễn biến của thời tiết và chức năng trình bầy

Khi lựa chọn loại bao bì, loại vật liệu làm bao bì và phương pháp bao bì, chủ hàng xuất nhập khẩu phải xét đến những điều đã thoả thuận trong hợp đồng, thứ đến phải xét đến tính chất của hàng hoá (như lý tính, hoá tính, hình dạng bên ngoài, màu sắc, trạng thái của hàng hoá ) đối với những sự tác động của môi trường, của điều kiện bốc xếp, của phương thức vận tải Nói cách khác, việc quy

Trang 40

định bao bì đòi hỏi mỗi bên giao dịch phải có trình độ nhất định về kiến thức và kinh nghiệm trong cả lĩnh vực thương phẩm lẫn trong lĩnh vực vận tải Nếu bao

bì đóng gói không phù hợp với hàng hoá hoặc không phù hợp với phương thức chuyên chở, khi xẩy ra tổn thất có nguyên nhân trực tiếp do bao bì đóng gói không phù hợp, công ty bảo hiểm sẽ không bồi thường cho tổn thất này Trên thực tế, đã có những tổn thất đáng tiếc xẩy ra do chủ hàng không hiểu biết điều kiện thời tiết của vùng con tàu vận chuyển đi qua

VD: hợp đồng xuất nhập khẩu được ký kết giữa một doanh nghiệp X của Việt nam với doanh nghiệp Y của Nam phi Theo đó, doanh nghiệp X bán cho doanh nghiệp Y một triệu chiếc khăn tắm theo điều kiện CIF với giá 1.7 USD/chiếc Do không hiểu rõ về thời tiết của vùng con tàu chuyên chở đi qua, doanh nghiệp X đã dùng giấy dầu để chèn lót lô hàng Khi tàu đi vào vùng khí hậu nóng bức ở Châu phi, giấy dầu bị chảy ra làm cho toàn bộ lô hàng khăn tắm

bị đen Tại cảng dỡ hàng, doanh nghiệp Y đã không chấp nhận lô hàng trên và đòi doanh nghiệp X phải bồi thường cho những tổn thất

Bên cạnh đó, việc hiểu biết về pháp luật của nước có cảng bốc hàng, cảng

dỡ hàng cũng là yếu tố giúp chủ thể của hợp đồng đỡ mắc phải những rắc rối không đáng có

VD: ở Mỹ và Tân-tây-lan, người ta cấm dùng bao bì bằng cỏ khô, rơm, gianh, rạ v.v Một vài nước khác lại cho phép nhập khẩu loại bao bì như vậy nếu chủ hàng xuất trình những giấy tờ chứng nhận rằng các nguyên liệu bao bì

đã được khử trùng

Theo tập quán, bao bì đường biển thường có dạng hình hộp chữ nhật, bền chắc và chịu được sức ép của hàng hoá khác chất xếp trong cùng hầm tàu Do vậy, trong hợp đồng thuê tàu chuyến cũng phải quy định rõ bao bì và đề nghị chủ tàu xác định tình trạng bao bì khi giao hàng trên vận đơn Tình trạng bao bì này

Ngày đăng: 06/03/2014, 01:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Vũ Hữu Tửu – Kỹ Thuật Nghiệp Vụ Ngoại Thương [2]. Giáo trình Vận Tải và Giao Nhận Hàng Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ Thuật Nghiệp Vụ Ngoại Thương
Tác giả: Vũ Hữu Tửu
[4]. Quy tắc chung về bảo hiểm hàng hoá vận chuyển bằng đường biển (QTCB- 1998)[5]. INCOTERMS 2000 Khác
[6]. Nguyên My – Dành lại quyền vận tải và kinh nghiệm của các nước Đông Nam Á. Thời báo Kinh Tế Sài Gòn số 31, 7/1995 Khác
[7]. Nguyễn Như Mai – Bảo hiểm hàng hải mối quan hệ với các luật có liên quan. Hàng hải Việt Nam, số 8/2001 Khác
[8]. Vũ Khắc Từ – Cạnh tranh quốc tế trong lĩnh vực dịch vụ hàng hải. Tạp chí Giao Thông Vận Tải tháng 7/2 Khác
[9]. Chu Quang Thứ – Chiến lược phát triển hệ thống cảng biển nước sâu ở Việt Nam. Hàng hải Việt Nam, số 7/2002 Khác
[10]. Nguyễn Như Tiến – Hướng dẫn sử dụng vận đơn đường biển trong thương mại và hàng hải quốc tế Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w