Trong khi đó, đối tượng bảo hộ ở những nước có trỠNH độ phát triển kinh tế trung bỠnh và thấp lại chủ yếu là các ngành sản xuất quan trọng và có nhiều tiềm năng trở thành ngành cạnh tran
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
-*** -
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
HÀNG RÀO PHI THUẾ QUAN VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA Nể
ĐẾN THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
Giáo viên hướng dẫn : PGS NGƯT Vũ Hữu Tửu
Sinh viờn thực hiện : Trần Bớch Thuỷ
Trang 2LỜI NỂI ĐẦU
Trong xu thế hội nhập kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ trờn toàn thế giới, phạm vi của chớnh sỏch thương mại cỏc quốc gia đang dần được mở rộng nhanh chúng để đún lấy những luồng giú mới từ bờn ngoài Hệ thống chớnh sỏch kinh tế thương mại của cỏc quốc gia mở rộng trờn mọi lĩnh vực, từ hàng hoỏ, dịch vụ đến đầu tư, cạnh tranh, tài chớnh, mụi trường và điều mà ai cũng dễ dàng nhận thấy là thương mại quốc tế đang đem lại lợi ớch cho mọi quốc gia Vỡ thế, phấn đấu cho một nền thương mại tự do toàn cầu đang là mục tiờu của nhiều quốc gia mà minh chứng rừ nột nhất
là sự ra đời và phỏt triển của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) Tuy nhiờn, do nhiều nguyờn nhõn, đặc biệt là do trỡnh độ phỏt triển kinh tế khụng đồng đều, cỏc nước đều duy trỡ cỏc rào cản thương mại nhằm bảo
hộ nền sản xuất nội địa Bờn cạnh hàng rào thuế quan, rất nhiều hàng rào phi thuế đó ra đời Mức độ cần thiết và lý do sõu xa dẫn đến việc bảo hộ nội địa của từng quốc gia cũng khỏc nhau, đối tượng cần bảo hộ cũng khỏc nhau càng khiến cho cỏc hàng rào phi thuế trở nờn đa dạng Chớnh cỏc hàng rào này đó đang và sẽ gõy ra những cản trở đối với sự phỏt triển của thương mại quốc tế và phương hại đến ý tưởng xõy dựng và hoàn thiện một nền thương mại tự do toàn cầu, cạnh tranh bỡnh đẳng Bởi vậy, nhiệm
vụ đau đầu hơn của cỏc quốc gia hiện nay là làm sao xõy dựng được một chớnh sỏch thương mại vừa cú khả năng hội nhập lại vừa cú thể bảo vệ sản xuất trong nước Cụng cụ thuế quan là một cụng cụ rất hữu ớch, tuy nhiờn nú quỏ lộ liễu trong việc để cho người ta cảm nhận được nú và trờn thực tế thỡ hiện nay, tất cả cỏc vũng đàm phỏn của mọi tổ chức thương mại quốc tế đều quan tõm đặc biệt đến việc cắt giảm hàng rào thuế quan,
mở rộng hội nhập kinh tế Chớnh vỡ thế mà mục tiờu hiện nay của cỏc quốc gia là kiến thiết một hàng rào phi thuế quan thật tinh vi, vừa cú tỏc dụng bảo hộ tốt lại khụng bị cỏc quốc gia khỏc lờn ỏn Do đú, giờ đõy,
Trang 3ngày càng cú nhiều cỏc hàng rào phi thuế mới ra đời với mức độ bảo hộ tốt hơn và ngày càng tinh vi hơn, nhạy cảm hơn Vấn đề đặt ra đối với Việt Nam hiện nay là làm sao định hướng cho đỳng việc ỏp dụng cỏc NTM vừa phỏt huy hữu ớch vai trũ của nú, vừa phự hợp với cỏc cam kết quốc tế Đú cũng chớnh là mục tiờu nghiờn cứu của cuốn luận văn này
Trong khuôn khổ luận văn tốt nghiệp, em xin trỡnh bày một số hiểu biết khiờm tốn của mỡnh về lĩnh vực đang rất nóng hổi này Em xin chân thành cảm ơn tất cả những người đó giỳp em hoàn thành luận văn này, và đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy giáo, Phó Tiến Sĩ-Nhà giáo ưu tú Vũ Hữu Tửu, người đó tận tỡnh giỳp đỡ em từ khâu xây dựng ý tưởng cho tới khi hoàn thành cụng trỡnh nhỏ này
Trang 4CHƯƠNG I CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI VÀ CÁC BIỆN PHÁP PHI THUẾ
QUAN
1 Sự cần thiết phải bảo hộ sản xuất trong nước
Bảo vệ nền kinh tế nước mỠNH Là NHU CẦU TẤT YẾU của mọi quốc gia, dù mạnh hay yếu Tuy nhiên, với mỗi nền kinh tế, mức độ cần thiết cũng như lÝ DO SÕU XA DẪN TỚI VIỆC BẢO HỘ SẢN XUẤT TRONG Nước lại khác nhau và được thể hiện qua sự khác biệt về đối tượng được bảo hộ
Đối với những nền kinh tế phát triển đối tượng được bảo hộ chủ yếu là các ngành có năng lực cạnh tranh và năng suất lao động tương đối thấp so với các ngành khác Mặc dù không tạo ra sức cạnh tranh chủ yếu cho nền kinh tế nhưng lực lượng lao động trong những ngành này lại có sức mạnh chính trị đáng kể, buộc các chính đảng được họ hậu thuẫn phải quan tâm đặc biệt tới lợi ích của họ Có thể nêu ví dụ điển hỠNH NHư ngành nông nghiệp ở EU hay ngành thép ở Mĩ
Trong khi đó, đối tượng bảo hộ ở những nước có trỠNH độ phát triển kinh tế trung bỠnh và thấp lại chủ yếu là các ngành sản xuất quan trọng và có nhiều tiềm năng trở thành ngành cạnh tranh trong tương lai của
họ, chẳng hạn như các ngành : sản xuất ô tô ở Malayxia; ngành điện tử, cơ khí, đường ở Thái Lan hay các ngành ô tô, thép, thuốc lá Ở TRUNG QUỐC
NGOàI RA, VIỆC ỎP DỤNG CỎC BIỆN PHỎP BẢO HỘ CŨN RẤT CẦN THIẾT để tránh cho các doanh nghiệp do nhà nước sở hữu
Trang 5khỏi bị phá sản nhanh chóng Tương tự như những nhóm người lao động tại các ngành đang suy thoái hoặc có năng suất thấp (ví dụ như dệt may, nông nghiệp) ở các nước phát triển, các doanh nghiệp sở hữu nhà nước có sức mạnh chính trị to lớn tại những nước đang chuyển đổi Nét nổi bật này của các nền kinh tế chuyển đổi làm cho việc bảo hộ sản xuất trong nước có
ý nghĩa quan trọng đặc biệT
Với nền kinh tế đang phát triển ở trỠNH độ thấp, lại đang trong quá trỠNH CHUYỂN đổi, Việt Nam chúng ta cũng có nhu cầu lớn cần được bảo hộ sản xuất trong nước do các yếu tố của kinh tế thị trường cŨN CHưa được tạo lập đồng bộ và cŨN NHIỀU KHIẾM KHUYẾT, hệ thống pháp luật, trong khi nhiều lĩnh vực chưa được điều chỉnh thỠ CỤNG CỤ QUAN TRỌNG để quản lý nhà nước trong kinh tế thị trường lại trong tỠNH TRẠNG CHỒNG CHỘO DO VẬY, MỤI TRường pháp lÝ BỠNH đẳng cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế chưa được hoàn chỉnh Các chính sách quản lÝ TàI CHỚNH TIỀN TỆ, XUẤT NHẬP KHẨU CŨNG đang trong tỠNH TRẠNG Tương tự, năng lực yếu kém của nhiều ngành sản xuất
Đứng trước xu thế tất yếu của tự do hoá thương mại và quá trỠNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ, NẾU KHỤNg có chiến lược bảo hộ đúng đắn thỠ NHIỀU NGàNH SẢN XUẤT TRONG Nước sẽ không thể đứng vững trước sức ép cạnh tranh gay gắt của hàng nhập khẩu Những ngành cần được bảo hộ chủ yếu là những ngành yêu cầu hàm lượng vốn lớn, có khả năng cạnh tranh và phát triển dựa trên công nghệ hiện đại Mặt khác, đây lại là những ngành công nghiệp chiếm vị trí quan trọng, tạo nên xương sống cho nền kinh tế như luyện kim, hoá dầu, xi măng Nếu được hưởng những hỗ trợ nhất định và được bảo hộ bằng những chính sách thích hợp trong một thời gian cần thiết, các ngành này dù gặp nhiều khó khăn trước mắt trong việc cạnh tranh với hàng nhập khẩu nhưng trong tương lai có thể có sức cạnh tranh cao
Trang 62 Các biện pháp bảo hộ nền sản xuất trong nước
NHẰM MỤC TIỜU BẢO HỘ SẢN XUẤT TROng nước, nhiều biện pháp khác nhau có thể được áp dụng Tuy nhiên, về cơ bản có thể
chia làm hai nhóm lớn là CỎC BIỆN PHỎP THUẾ QUAN Và CỎC
BIỆN PHỎP PHI THUẾ QUAN
2.1 CỎC BIỆN PHỎP THUẾ QUAN (TARIFF MEASURES)
QUA NHIỀU VŨNG đàm phán thương mại đa phương trong hơn
50 năm qua, hàng rào thuế quan trên thế giới ngày càng có xu thế ổn định
và dễ dự đoán Sau vŨNG đàm phán Urugay, hầu như tất cả các nước thành viên WTO đÓ RàNG BUỘC 100% CỎC DŨNG THUẾ đối với các sản phẩm nông nghiệp (1) Đối với các sản phẩm công nghiệp, các nước phát triển đÓ RàNG BUỘC TỚI 99% SỐ DŨNG THUẾ, CỎC Nước đang phát triển ràng buộc 73% và các nước có nền kinh tế chuyển đổi ràng buộc tới 98% Các con số này thể hiện cơ hội tiếp cần thị trường an toàn hơn cho các nhà đầu tư và kinh doanh quốc tế
Trang 7Nhờ đặc TỚNH RỪ RàNG NỜN TRONG CỎC CUỘC đàm phán thương mại song phương và đa phương, thuế quan luôn là đối tượng dễ đàm phán cắt giảm Một điểm đáng chú Ý KHỎC Là TRONG KHUỤN KHỔ đàm phán đa phương, thuế quan có thể được tiến hành cắt giảm theo công thức Trong Và SAU VŨNG đàm phán Uruguay, trong khuôn khổ WTO cŨN NỔI LỜN XU Hướng cắt giảm thuế quan theo ngành (ví dụ : mức thuế 0% áp dụng cho nhiều sản phẩm của các ngành dược phẩm, sắt thép, sản phẩm công nghệ thông tin )
TUY NHIỜN, BIỆN PHỎP THUẾ QUAN CŨNG CÚ đặc điểm dễ thấy là không tạo được rào cản nhanh chóng Trước các tỠNH THẾ KHẨN CẤP, KHI HàNG NHẬP KHẨU Tăng nhanh gây tổn hại hoặc đe doạ gây tổn hại cho ngành sản xuất nội địa, các NTB như cấm nhập khẩu, hạn ngạch nhập khẩu, giấy phép nhập khẩu không tự động với khả năng chặn đứng dŨNG NHẬP KHẨU NGAY LẬP TỨC LẠI TỎ RA HỮU HIỆU Hơn
Các biện pháp phi thuế quan có những ưu điểm cơ bản là phong phú
về hỡnh thức (2), đáp ứng nhiều mục tiêu và có thể áp dụng linh hoạt vỡ nhiều biện phỏp chưa bị buộc phải cam kết hay loại bỏ
Trang 8Cỏc biện phỏp phi thuế trong thực tế rất phong phỳ về hỡnh thức nờn
tác động, khả năng và mức độ đáp ứng mục tiêu của chúng cũng rất đa dạng Do đó nếu sử dụng các biện pháp phi thuế để phục vụ một mục tiêu
-
(1) Khi một dũng thuế đó cam kết ràng buộc ở thuế suất nào đó, ví dụ 10% thỡ thành viờn đó không có quyền đánh thuế nhập khẩu cao hơn quá mức 10% này
(2) Cú thể chia cỏc biện phỏp phi thuế thành cỏc nhúm lớn sau
- Các biện pháp hạn chế định lượng (như cấm, hạn ngạch, giấy phộp)
- Cỏc biện phỏp quản lý giỏ (như trị giá tính thuế quan tối thiểu, giá nhập khẩu tối đa, phí thay đổi, phụ thu)
- Các biện pháp liên quan tới doanh nghiệp (như doanh nghiệp thương mại nhà nước)
- Các biện pháp kĩ thuật (như quy định tiêu chuẩn, kĩ thuật, yờu cầu về nhón mỏc, kiểm dịch động thực vật, thủ tục xác định sự phù hợp)
- Các biện pháp bảo vệ thương mại tạm thời (như tự vệ, trợ cấp và các biện pháp đối kháng, biện pháp chống bán phá giá)
- Các biện pháp liên quan tới đầu tư (như thuế suất thuế nhập khẩu phụ thuộc tỉ lệ nội địa hoá, hạn chế tiếp cận ngoại tệ, yêu cầu xuất khẩu, ưu đói gắn với thành tớch xuất khẩu)
Cỏc biện phỏp khỏc như tem thuế, biểu thuế nhập khẩu hay thay đổi, yờu cầu đảm bảo thanh toỏn, yờu cầu kết hối, thủ tục hành chớnh, thủ tục hải quan, mua sắm chớnh phủ, quy tắc xuất xứ)
cụ thể thỡ sẽ cú nhiều lựa chọn mà khụng bị bú hẹp trong khuụn khổ một cụng cụ duy nhất như thuế quan Vớ dụ : để hạn chế nhập khẩu phõn bún, cú thể đồng thời ỏp dụng cỏc biện phỏp hạn ngạch nhập khẩu, cấp giấy phộp nhập khẩu khụng tự động, đầu mối nhập khẩu, phụ thu nhập khẩu
Một NTM có thể đồng thời đáp ứng được nhiều mục tiêu với hiệu quả cao Mỗi quốc gia đều theo đuổi nhiều mục tiêu trong chính sách kinh
tế, thương mại của mỡnh Cỏc mục tiêu đó có thể là : (i) bảo hộ sản xuất trong nước, khuyến khích phát triển một số ngành nghề; (ii) bảo đảm an toàn sức khoẻ con người, động thực vật, môi trường; (iii) hạn chế tiêu dùng; (iv) đảm bảo cân bằng cán cân thanh toán; (v) đảm bảo an ninh quốc gia, trật tự an toàn xó hội, vv Cỏc NTM cú thể đồng thời phục vụ hiệu quả nhiều mục tiêu khác nhau nêu trên trong khi việc sử dụng công cụ thuế quan không khả thi hoặc không hữu hiệu bằng
Ví dụ quy định về kiểm dịch đối với nông sản nhập khẩu vừa đảm bảo an toàn sức khoẻ con người, động thực vật lại vừa gián tiếp bảo hộ sản
Trang 9xuất nông nghiệp trong nước một cách hợp pháp Hay cấp phép không tự động đối với dược phẩm nhập khẩu vừa giúp bảo hộ ngành dược nội địa, dành độc quyền cho một số đầu mối nhập khẩu nhất định, quản lý chuyên ngành một mặt hàng quan trọng đối với sức khoẻ con người, phân biệt đối
xử với một số nước cung cấp nhất định
Hỡnh thức thể hiện của cỏc NTM rất phong phỳ nờn nhiều biện phỏp chưa chịu sự điều chỉnh của các quy tắc thương mại Các NTM thường mang tính "mập mờ", mức độ ảnh hưởng không rừ ràng như những thay đổi mang tính định lượng của thuế quan, nên dù tác động của chúng
có thể lớn nhưng lại là tác động ngầm, có thể che đậy hoặc biện hộ bằng cách này hay cách khác Hiện nay các Hiệp định của WTO chỉ mới điều chỉnh việc sử dụng một số NTM nhất định Theo đó, tất cả các NTM hạn chế định lượng (1) đều không được phép áp dụng, trừ trường hợp ngoại lệ
Một số NTM khỏc tuy cú thể nhằm mục tiờu hạn chế nhập khẩu, bảo hộ sản xuất trong nước nhưng vẫn được WTO cho phộp ỏp dụng với điều kiện tuõn thủ những điều kiện cụ thể, rừ ràng, khỏch quan Chẳng hạn như cỏc tiờu chuẩn kĩ thuật, biện phỏp kiểm dịch động thực vật, tự vệ, thuế chống bỏn phỏ giỏ, cỏc biện phỏp chống trợ cấp, thuế đối khỏng, một
Trang 10cũng có nhiều điểm bất lợi như khó dự đoán, khó quản lý và khụng đem lại nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước
Dự đoán việc áp dụng các NTM là rất khó khăn vỡ trờn thực tế chúng thường được vận dụng trên cơ sở dự đoán chủ quan, đôi khi tuỳ tiện của nhà chức trách về sản xuất và nhu cầu tiêu dùng trong nước Chẳng hạn để xác định hạn ngạch nhập khẩu phân bón trong một năm, người ta
dự tính khả năng các đơn vị sản xuất phân bón trong nước có thể đáp ứng được tổng nhu cầu về phân bón của toàn ngành nông nghiệp
Trong bối cảnh kinh tế phức tạp và thường xuyên biến động hiện nay, việc đưa ra một dự đoán tương đối chính xác là rất khó khăn Hậu quả của việc dự đoán không chính xác sẽ rất nghiêm trọng như gây ra thiếu hụt trầm trọng nguồn cung cấp phân bón khi sản xuất trong nước vào thời vụ, đẩy giá tăng vọt (sốt nóng) hoặc trái lại dẫn đến tỡnh trạng cung vượt cầu
- (1) Các NTM hạn chế định lượng như cấm nhập khẩu, hạn ngạch, giấy phép nhập khẩu không tự động
quỏ lớn trên thị trường làm giá sụt giảm (sốt lạnh) Điều này đồng nghĩa nguồn thu nào cho ngân sách
Các NTM đôi khi cũng làm nhiễu tín hiệu của thị trường mà người sản xuất và người tiêu dùng trong nước thường dựa vào đó để ra quyết định Tín hiệu này chính là giá thị trường Khi bị làm sai lệch, nó sẽ phản ánh không trung thực lợi thế cạnh tranh thực sự, chỉ dẫn sai việc phân bổ nguồn lực trong nội bộ nền kinh tế Do đó, khả năng xây dựng kế hoạch đầu tư, sản xuất, kinh doanh hiệu quả trong trung hạn và dài hạn của người sản xuất bị hạn chế
Tác động của NTM thường khó có thể được lượng hoá rừ ràng như tác động của thuế quan Nếu mức bảo hộ thông qua thuế quan đối với một sản phẩm có thể xác định được một cách dễ dàng thông qua mức thuế suất đánh lên sản phẩm đó thỡ mức độ bảo hộ thông qua NTM là tổng mức bảo
Trang 11hộ của các NTM riêng rẽ áp dụng cho cùng một sản phẩm Bản thân mức
độ bảo hộ của mỗi NTM cũng chỉ có thể được ước lượng một cách tương đối chứ không thể lượng hoá rừ ràng như thuế quan Cũng vỡ mức độ bảo
hộ của các NTM không dễ xác định nên rất khó xây dựng một lộ trỡnh tự
do hoỏ thương mại như với bảo hộ chỉ bằng thuế quan
Khụng những thế, vỡ khú dự đoán nên các NTM thường đũi hỏi chi phớ quản lý cao và tiờu tốn nhõn lực của nhà nước để duy trỡ hệ thống điều hành, kiểm sát bằng NTMs
Một số NTM lại thuộc thẩm quyền và phạm vi quản lý của nhiều cơ quan với những mục tiêu khác nhau, đôi khi cũn mõu thuẫn nhau, nờn cú thể gõy ra khú khăn cho các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý và cỏc chủ thể tham gia hoạt động kinh tế trong việc xây dựng, sử dụng, tiếp cận thông tin cũng như đánh giá tác động của các NTM này
Các doanh nghiệp sản xuất chưa chú trọng đến việc tiếp cận thông tin và chưa có ý thức xây dựng, đề xuất các NTM để bảo hộ sản xuất, cũn trụng chờ vào nhà nước tự quy định Do đó, thực tế là các doanh nghiệp thường phải tốn kém chi phí vận động hành lang để cơ quan ra quyết định
áp dụng NTM nhất định có lợi cho mỡnh
Ngoài ra việc quản lý cỏc NTM cũn khú khăn hơn nếu đó là những NTM bị động, tồn tại trên thực tế ngoài ý muốn của cỏc nhà hoạch định chính sách như bộ máy quản lý thương mại quan liêu, năng lực thấp của các nhân viên hải quan, các văn bản pháp lý không được công bố công khai
Việc sử dụng cỏc NTM nhằm hạn chế nhập khẩu, bảo hộ sản xuất trong nước hầu như không đem lại nguồn thu tài chính trực tiếp nào cho nhà nước mà thường chỉ làm lợi cho một số doanh nghiệp hoặc một số ngành nhất định được bảo hộ hoặc được hưởng ưu đói, đặc quyền như được phân bổ hạn ngạch, được chỉ định làm đầu mối nhập khẩu Điều này
Trang 12cũn dẫn đến sự mất bỡnh đẳng giữa các doanh nghiệp trong nội bộ nền kinh tế
Các biện pháp thuế quan và các NTM là hai công cụ bảo hộ sản xuất quan trọng đối với mọi quốc gia Do mỗi công cụ đều có điểm mạnh, điểm yếu đặc thù nên các biện pháp thuế quan và NTM thường được sử dụng kết hợp, bổ sung lẫn nhau nhằm nâng cao hiệu quả bảo hộ sản xuất trong nước Mặc dù về lý thuyết, WTO và cỏc định chế thương mại khu vực thường chỉ thừa nhận thuế quan là công cụ bảo hộ hợp pháp duy nhất nhưng thực tế đó chứng minh rằng cỏc nước không ngừng sử dụng các NTM mới, vừa đáp ứng mục đích bảo hộ, vừa không trái với thông lệ quốc
tế
Mức độ hiệu quả của bảo hộ có tăng lên nhiều hay không là cũn phụ thuộc vào tớnh linh hoạt cú chọn lọc, cú định hướng của chính phủ các nước trong việc áp dụng NTMs bổ trợ cho biện pháp thuế quan Nếu biết kết hợp hài hoà và tinh tế hai công cụ này, sản xuất trong nước sẽ được bảo hộ, hỗ trợ có thời hạn để nâng cao sực cạnh tranh nhằm từng bước thích nghi với các định chế và nguyên tắc chung của môi trường thương mại quốc tế
II KINH NGHIỆM ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP PHI THUẾ QUAN Ở MỘT SỐ NƯỚC
1 Kinh nghiệm của Hoa Kỡ
Hoa Kỡ là một cường quốc kinh tế lớn nhất thế giới và là một trong những thành viên sáng lập của GATT (WTO ngày nay) Mặc dù có tiềm năng to lớn trong hầu hết mọi lĩnh vực sản xuất, nhưng theo quy luật về lợi thế cạnh tranh tương đối, trong những năm qua, Hoa Kỡ đang phải đối mặt
Trang 13với những thách thức rất lớn nhằm bảo hộ cho những ngành sản xuất đó suy giảm sức cạnh tranh trờn thị trường thế giới
Thực tiễn ỏp dụng cỏc NTM của Hoa Kỡ cú thể được minh hoạ rừ nột khi nghiờn cứu cỏc biện phỏp được áp dụng để bảo hộ các ngành dệt may, nông nghiệp và sắt thép
Dệt may là một ngành sử dụng nhiều lao động không đũi hỏi kỹ
năng cao Hoạt động sản xuất của ngành này có tác động lớn tới thu nhập, việc làm và ổn định xó hội của Hoa Kỡ Do đó, ngành dệt may luôn được các nhà hoạch định chính sách thương mại của Hoa Kỡ tỡm mọi cỏch để bảo hộ, trong đó công cụ bảo hộ chính là hạn ngạch Theo Hiệp định Dệt May của WTO, Hoa Kỡ phải loại bỏ hạn ngạch đối với các sản phẩm dệt
và may vào năm 2005 theo một lộ trỡnh gồm 3 giai đoạn Tuy nhiên, Hoa
Kỡ đó tỡm nhiều cỏch để lẩn trốn các nghĩa vụ, chẳng hạn như rất nhiều sản phẩm chỉ được loại bỏ hạn ngạch vào giai đoạn cuối cùng của Hiệp định này
Một NTM khác là quy tắc xuất xứ đó được Hoa Kỡ sử dụng khỏ tinh vi để hạn chế nhập khẩu sản phẩm dệt may từ Trung Quốc và Ấ n Độ
Nền nụng nghiệp của Hoa Kỡ cú năng suất lao động đứng đầu thế
giới, có sức cạnh tranh rất lớn cả về chất lượng và giá cả nhờ điều kiện thiên nhiên thuận lợi cộng với trỡnh độ khoa học công nghệ cao Tuy nhiên, Hoa Kỡ vẫn phải ỏp dụng nhiều NTM nhằm bảo hộ cho một số nhúm sản phẩm nụng nghiệp, đặc biệt là sữa và đường Hai biện pháp nổi bật được áp dụng để bảo hộ ngành sữa và đường là biện pháp hạn ngạch thuế quan và hỗ trợ giá Chỉ tính riêng khoản hỗ trợ trong nước của Hoa
Kỡ vi phạm Hiệp định Nông nghiệp của WTO và thuộc diện phải cam kết cắt giảm trong năm 1996 đối với ngành sữa đó lờn tới 4,7 tỷ USD và đối với ngành đường là 0,9 tỷ USD
Chỉ vài thập kỉ trước đây, ngành sắt thộp của Hoa Kỡ đứng đầu thế
giới Nhưng những năm gần đây ngành công nghiệp này của Hoa Kỡ phải
Trang 14đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt của các nước khác như Nga, Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc
Để bảo hộ ngành công nghiệp sắt thép, Hoa Kỡ đó tăng cường và thường xuyên sử dụng biện pháp thuế chống bán phá giá Ngoài ra, với những nước chưa phải là thành viên WTO, Hoa Kỡ cũn tỡm cỏch gõy sức
ộp buộc phải kớ với Hoa Kỡ thoả thuận hạn chế xuất khẩu tự nguyện một
số loại sắt thộp
Gần đây, Hoa Kỡ đang cố gắng tỡm mọi cỏch để có thể sử dụng các biện pháp gắn với tiêu chuẩn môi trường và lao động để hạn chế nhập khẩu
Hai trường hợp điển hỡnh về việc Hoa Kỡ đơn phương áp dụng các tiêu chuẩn về môi trường của mỡnh để hạn chế nhập khẩu là trường hợp cá hồi và tôm Trong trường hợp thứ nhất, Hoa Kỡ cấm nhập khẩu cỏ hồi từ những nước mà Hoa Kỡ cho rằng phương pháp đánh bắt của họ làm ảnh hưởng xấu đến cá heo Trong trường hợp thứ hai, việc nhập khẩu tôm từ những nước sử dụng lưới quét có hại cho rùa biển cũng bị cấm
Một đặc điểm nổi bật là Hoa Kỡ đó ban hành luật và ỏp dụng trờn thực tiễn nhiều biện phỏp đơn phương có tác dụng hạn chế thương mại rất lớn Có thể kể ra một số biện pháp đáng chú ý nhất như sau :
- An ninh quốc gia : Hoa Kỡ đó hạn chế nhập khẩu từ cỏc nước bị coi là có thể đe doạ đến an ninh của Hoa Kỡ, chẳng hạn như Cu
Ba, Angola, Ruanda
- Các hành động thương mại đơn phương : Theo các điều 301 luật thương mại Hoa Kỡ (1974), Super 301, Special 301, Hoa Kỡ tự cho phộp mỡnh ỏp dụng cỏc biện phỏp đơn phương hạn chế thương mại với các nước mà Hoa Kỡ cho là cú phương hại tới lợi ích của mỡnh Luật Helm - Burton hạn chế khụng chỉ cỏc cụng ty Hoa Kỡ mà thậm chớ cỏc cụng ty và thể nhõn cỏc nước khác tiến hành đầu tư buôn bán với Cu Ba
Trang 15Hoa Kỡ cũng thực thi và ban hành cỏc biện phỏp hạn chế thương mại với Iran
2 Kinh nghiệm của Thỏi Lan
Thái Lan đó đạt được sự phát triển kinh tế khá ngoạn mục trong vài thập kỉ gần đây Mặc dù nhiều lĩnh vực sản xuất của Thái Lan có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế nhưng Thái Lan vẫn áp dụng nhiều NTM với mục tiêu bảo hộ sản xuất trong nước
Hạn ngạch nhập khẩu
Hạn ngạch nhập khẩu được Thỏi Lan sử dụng đối với mỏy múc, giấy, hoỏ chất, mỏy nụng nghiệp, bỡnh chứa gas để nấu nướng, mỏy cưa đĩa Thỏi Lan cũn chuyển biện phỏp cấp phộp sang hạn ngạch thuế quan
và thuế hoỏ cỏc NTM đối với 23 nhúm nụng sản Chỳng hầu hết là nguyờn liệu thụ (nụng sản chưa chế biến) bao gồm sữa chưa cụ đặc, khoai tõy, hành tỏi, cà phờ, hạt tiờu, ngụ, gạo, đậu tương, lỏ thuốc lỏ Thuế suất ngoài hạn ngạch thay đổi từ 40% đến 242%
Cấp phộp nhập khẩu
Thái Lan đó giảm số nhúm hàng nhập khẩu cần có giấy phép từ 42 (năm 1995 - 96) xuống cũn 23 (năm 1997) Các mặt hàng phải có giấy phép mới được nhập khẩu bao gồm nguyên vật liệu, dược phẩm, xăng dầu, hàng công nghiệp, hàng dệt, nông sản và tất cả các loại lương thực thực phẩm phục vụ tiêu dùng của con người
Giấy phép nhập khẩu không tự động cũng được áp dụng đối với động cơ, bộ phận, phụ tùng đó qua sử dụng của xe mỏy cú dung tớch đến
Trang 1650cc, và bánh xe có bán kính không quá 10 inches Đặc biệt, giấy phép nhập khẩu chỉ cấp cho các doanh nghiệp nhà nước
Bên cạnh yêu cầu về cấp phép nhập khẩu thuộc thẩm quyền của Bộ thương mại, nhập khẩu các sản phẩm lương thực, thực phẩm, thuốc men,
mỹ phẩm, chất độc hại, chất gây nghiện, chất kích thích, các dụng cụ và trang bị y tế cũn phải được sự chấp thuận của Cơ quan quản lý Thuốc và Thực phẩm của Thỏi Lan Nhỡn chung, cỏc quy định về lương thực thực phẩm thuốc men là một rào cản lớn đối với nhập khẩu do thủ tục chậm trễ, kéo dài trước khi được chấp thuận đưa vào thị trường và hệ thống giấy phép nhập khẩu độc quyền
Xác định trị giá tính thuế hải quan
Trong giai đoạn 1996 - 1999, Cục Hải quan Thái Lan thường sử dụng hoá đơn cao nhất của sản phẩm cùng loại nhập khẩu từ bất kỡ nước nào trong thời gian trước đó để xác định trị giá tính thuế Các nhân viên hải quan Thái Lan sử dụng công thức giá CIF để tính giá trị chịu thuế, hoặc công thức giá FOB + 10% cước vận tải + 5% phí bảo hiểm
Như vậy có thể thấy rằng các thủ tục và phương pháp xác định trị giá tính thuế hải quan của Thái Lan khá tuỳ tiện, phụ thuộc vào cách áp dụng của nhân viên hải quan Tuy nhiên, từ tháng 5 - 2000, Thái Lan đó sử dụng phương pháp xác định trị giá tính thuế nhập khẩu theo trị giá giao dịch như quy định trong Hiệp định về xác định trị giá thuế quan của WTO
Chương trỡnh nội địa hoá
Thái Lan đưa ra yêu cầu về hàm lượng nội địa đối với sản xuất ô tô
con (54%), xe tải nhẹ (65 - 80%), xe tải và xe buyt (40 - 50%), xe máy
Trang 17(70%) và sản phẩm sữa (phải mua tối thiểu 50 tấn sữa nguyên liệu địa phương/ngày trong năm hoạt động đầu tiên) Tuy nhiên, Thái Lan đó cam kết loại bỏ hoàn toàn cỏc yờu cầu về nội địa hoá vào cuối năm 1999 theo quy định của Hiệp định TRims của WTO Thái Lan đó tiến hành sửa đổi các văn bản pháp luật trong nước để loại bỏ dần yêu cầu về hàm lượng nội địa hoá trong năm 1999, phù hợp với thời hạn quá độ cho phép trong Hiệp định TRIMs
Khuyến khích đầu tư
Uỷ ban Đầu tư (Board of Investment) của Thái Lan đưa ra những
ưu đói và khuyến khớch đầu tư đối với các công ty nước ngoài đạt những mục tiêu cụ thể về tỉ lệ xuất khẩu hoặc chấp nhận các yêu cầu về cân bằng thương mại Hỡnh thức khuyến khớch cú thể là miễn, giảm phớ, thuế nhập khẩu, quỹ khuyến khớch xuất khẩu và cỏc hỡnh thức ưu đói thuế khỏc Nhằm khuyến khớch đầu tư nước ngoài, khắc phục hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực vừa qua, BOI đó tạm thời nới lỏng nhiều điều kiện về miễn thuế và phí
Chương trỡnh khuyến khớch xuất khẩu đưa ra các hỡnh thức ưu đói chủ yếu sau : miễn thuế nhập khẩu đối với các nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu, khấu trừ 5 % phần tăng lên của thu nhập năm trước do xuất khẩu khỏi phần thu nhập chịu thuế, vv Tuy nhiên, Luật khuyến khích đầu tư không quy định tiêu chuẩn cụ thể để đựơc hưởng những ưu đói, khuyến khớch này
Trợ cấp
Ngân hàng Trung ương Thái Lan được giao nhiệm vụ hỗ trợ tài chính đối với các dự án ưu tiên thông qua chương trỡnh tỏi tài trợ tớn dụng
Trang 18cụng nghiệp Mỗi cụng ty, với tổng tài sản cố định không vượt quá 200 triệu bath, đều được phân bổ mức tín dụng để phát hành lệnh phiếu Tổng trị giá tái tài trợ là 50% mệnh giá lệnh phiếu Uỷ ban quốc gia về Xúc tiến đầu tư và xuất khẩu chịu trách nhiệm quản lý chương trỡnh này Chương trỡnh này hướng mục tiêu vào hỗ trợ tài chính cho các ngành công nghiệp phục vụ phát triển nông thôn Tuy nhiên, theo điều tra của một số nước khác, chương trỡnh này cũng hỗ trợ một số ngành xuất khẩu
Thỏi Lan khụng duy trỡ trợ cấp xuất khẩu cho nụng sản trừ Chương trỡnh tớn dụng cả gúi và cho rằng chương trỡnh này rất phự hợp với cỏc quy định của WTO
3 Kinh nghiệm của Trung Quốc
Sau 16 năm kiên trỡ, Trung Quốc cuối cựng đó trở thành thành viờn của WTO Gia nhập WTO được coi là một nhân tố thúc đẩy cạnh tranh, thu hút FDI và nâng cao hiệu quả của các doanh nghiệp Trung Quốc Trung Quốc đó tăng trưởng mạnh trong hơn hai thập kỉ qua và có nhiều dấu hiệu cho thấy nước này sẽ có thể duy trỉ sự tăng trưởng ổn định trong nhiều năm tới
Cỏc biện phỏp hạn chế định lượng
Trong quỏ trỡnh đàm phán gia nhập WTO, Trung Quốc đó cú những bước tiến đáng kể trong việc loại bỏ các biện pháp hạn chế định lượng Nước naỳ đó giảm số nhúm hàng thuộc danh mục chịu điều chỉnh của các biện pháp này từ 53 nhóm năm 1993 xuống cũn 35 nhúm năm
1999 Tuy nhiên, trong cam kết gia nhập WTO, Trung Quốc vẫn bảo lưu được quyền cấp phép nhập khẩu và áp dụng hạn ngạch nhập khẩu với 260 mặt hàng gồm hàng tiêu dùng, nguyên liệu thô và một số thiết bị sản xuất
Trang 19như dầu thực vật, cao su tự nhiên, săm lốp xe máy, xe máy và phụ tùng, ô
tô các loại, xe tải và ti vi màu Trong số các mặt hàng này, 112 mặt hàng
sẽ được loại bỏ giấy phép và hạn ngạch ngay sau khi Trung Quốc gia nhập như đường, len, bông, sợi tổng hợp, máy điều hoà, tủ lạnh những mặt hàng cũn lại sẽ được tăng 15% hạn ngạch sau mỗi năm và đến 01/01/2005
sẽ loại bỏ hoàn toàn việc áp dụng hai biện pháp này Cơ quan quản lý việc cấp phộp nhập khẩu là Bộ Ngoại Thương và Hợp tác Kinh tế (MOFTEC)
Ngoài ra Trung Quốc đó đạt được cam kết duy trỡ việc đấu thầu nhập khẩu cho 117 mặt hàng máy công cụ, thiết bị điện tử như máy in, máy fax Tuy nhiên, biện pháp này cũng cú lộ trỡnh cắt giảm rừ ràng và sẽ loại bỏ hoàn toàn vào năm 2004
Quyền kinh doanh thương mại
Các doanh nghiệp nhà nước của Trung Quốc được ưu tiên quyền kinh doanh thương mại đối với 7 nhóm hàng nhập khẩu gồm ngũ cốc, dầu thực vật, đường, thuốc lá, phân hoá học, bông, dầu thô, dầu chế biến và 19 nhóm hàng xuất khẩu như chè, gạo, bông, đậu tương, than, bạc
Khỏc với việc quản lý trực tiếp cỏc cụng ty ngoại thương nhà nước như trước đây, hiện nay, MOFTEC không cũn can thiệp vào hoạt động kinh doanh của các công ty này nữa Trung Quốc khẳng định rằng tất cả các doanh nghiệp sở hữu nhà nước hoặc doanh nghiệp do nhà nước đầu tư
sẽ chỉ tiến hành các hoạt động mua, bán theo tiêu chí thương mại Các doanh nghiệp và cá nhân của các nước thành viên WTO (dù không đầu tư hoặc đăng ký kinh doanh tại Trung Quốc) cũng sẽ được hưởng đối xử quốc gia về quyền kinh doanh thương mại
Trung Quốc cũng đó đưa ra lịch trỡnh về quyền kinh doanh xuất nhập khẩu cho cỏc doanh nghiệp cú vốn đầu tư nước ngoài Theo đó, trong vũng 3 năm kể từ ngày Trung Quốc gia nhập WTO, toàn bộ các doanh
Trang 20nghiệp thuộc sở hữu nước ngoài sẽ được nhập khẩu và phân phối hầu hết các sản phẩm
Cỏc biện phỏp liờn quan đến đầu tư
Trước đây, Trung Quốc quy định rất chặt chẽ tiêu chuẩn về hàm lượng nội địa, thành tích xuất khẩu và yêu cầu cân đối thương mại để hạn chế hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Ngoài ra nước này cũn cú những yờu cầu mua hàng giỏn tiếp khi ký hợp đồng mua sắm với các công ty nước ngoài (ví dụ : để ký được hợp đồng bán máy bay thỡ cỏc nhà cung cấp nước ngoài có thể phải mua một số hàng hóa khác của Trung Quốc)
Để gia nhập WTO, tuân thủ Hiệp định TRIMs, Trung Quốc đó cam kết loại bỏ hoàn toàn cỏc yờu cầu cõn đối ngoại tệ, yêu cầu về hàm lượng nội địa, thành tích xuất khẩu Bên cạnh đó, việc cấp phép nhập khẩu, hạn ngạch nhập khẩu và hạn ngạch thuế quan sẽ không căn cứ vào các yêu cầu
về hàm lượng nội địa, chuyển giao công nghệ, thành tích kinh doanh hay tiến hành hoạt động nghiên cứu và phát triển tại Trung Quốc
Xỏc định trị giỏ tớnh thuế hải quan
Trước đây, ngoài việc xác định trị giá tính thuế hải quan theo hoá đơn bán hàng, hải quan Trung Quốc vẫn sử dụng bảng giá tham khảo không chính thức hoặc bảng giá ước tính của Phũng Thương mại Cách tính mập mờ và không công khai này đó gõy ra tỡnh trạng một sản phẩm
cú thể chịu cỏc mức thuế suất khụng giống nhau tại cỏc cửa khẩu khỏc nhau
Trang 21Đến nay, Trung Quốc đó cam kết tuõn theo những quy định của WTO về trị giá tính thuế hải quan, tiến tới xoá bỏ hoàn toàn việc áp dụng các bảng giá tối thiểu và các bảng giá tham chiếu như trước đây
Trợ cấp
Trung Quốc sử dụng nhiều hỡnh thức trợ cấp xuất khẩu như cho nhà sản xuất hưởng gía điện thấp, cho phép doanh nghiệp nhà nước và công ty thương mại nhà nước vay ngân hàng với những điều kiện và lói suất ưu đói Ngoài ra, để được vay ưu đói và cung cấp một số phương tiện nghiên cứu, phát triển, các doanh nghiệp phải đáp ứng một số chỉ tiêu xuất khẩu nhất định Những doanh nghiệp hoạt động trong các đặc khu kinh tế và vùng ven biển được hưởng ưu đói về thuế Trung Quốc cũn tiến hành trợ cấp tài chớnh cho cỏc chương trỡnh phỏt triển sản phẩm xuất khẩu cuối cựng
Các cam kết phi thuế quan trong thương mại nông sản
Trung Quốc đó cam kết giới hạn tổng lượng trợ cấp tính gộp bằng 0 trên cơ sở mức hỗ trợ tối thiểu là 8,5% cho cả hỗ trợ chung và hỗ trợ theo sản phẩm cụ thể Nước này được áp dụng hạn ngạch thuế quan đối với lúa
mỡ, ngụ, gạo, dầu đậu tương, dầu cọ, dầu hạt cải, đường, len và bông Tuy nhiên, hạn mức quota cho những mặt hàng này tăng khá mạnh trong giai đoạn thực hiện (trung bỡnh khoảng 60%) Riờng mặt hàng đường, Trung Quốc không những cam kết tăng mức hạn ngạch từ năm 2001 đến năm
2004 lên 15,77% mà cũn cam kết giảm thuế trong hạn ngạch trong giai đoạn tương ứng từ 20% xuống cũn 15%
Trang 22Biện pháp hạn ngạch thuế quan với hầu hết các mặt hàng nông sản
sẽ được loại bỏ từ 01/01/2004 Những mặt hàng cũn lại như dầu đậu tương, dầu hạt cải, dầu cọ sẽ loại bỏ hạn ngạch sau đó một năm
Cơ chế phân bổ và tái phân bổ hạn ngạch thuế quan của Trung Quốc được công bố công khai, tuân theo các thủ tục và tiêu chí minh bạch Mọi chủ thể được phân bổ hạn ngạch thuế quan đều được quyền uỷ thác nhập khẩu thông qua doanh nghiệp thương mại nhà nước và/hoặc thông qua các chủ thể có quyền kinh doanh khác, kể cả trực tiếp nhập khẩu theo quy định tại văn bản cấp hạn ngạch
Các nông sản không thuộc danh mục phải nhập khẩu qua doanh nghiệp thương mại nhà nước như ngũ cốc, dầu thực vật, đường, thuốc lá, bông có thể được nhập khẩu thông qua bất kỳ doanh nghiệp nào cú quyền kinh doanh
III CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP PHI THUẾ QUAN
1 Những cơ sở khoa học của việc áp dụng
Việc nghiên cứu các biện pháp phi thuế quan nhằm mục tiêu cao nhất là để tránh những tác động xấu của chỳng tới tỡnh hỡnh nhập khẩu và phỏt triển kinh tế xó hội của một nước, đồng thời xây dựng một hệ thống phi thuế quan hiệu quả hơn để vừa bảo hộ một cách chọn lọc các ngành sản xuất trong nước lại vừa phù hợp với thông lệ quốc tế trong quá trỡnh hội nhập kinh tế thế giới Nhưng song song với việc đó, người ta không thể không nghiên cứu những cơ sở khoa học của việc áp dụng các biện pháp này
1.1 Việc ỏp dụng mang tớnh khỏch quan
Trang 23Trong môi trường cạnh tranh quốc tế ngày càng tăng, các NTM đó
và đang được sử dụng như một xu thế tất yếu để bảo hộ những ngành sản xuất mới và có tiềm năng phát triển Hơn nữa, nền kinh tế xó hội của bất
kỳ quốc gia nào cũng cú thể chao đảo vỡ sự thõm hụt cỏn cõn thanh toỏn hay sự thương tổn của các ngành sản xuất nội địa do hàng hoá được trợ cấp hay bị bán phá giá nhập khẩu ồ ạt vào thị trường trong nước Trong những tỡnh huống như vậy, việc áp dụng các NTM như thuế đối kháng, thuế chống bán phá giá để hạn chế nhập khẩu hay triệt để tác dụng của trợ cấp, bán phá giá hàng hoá và ổn định tỡnh hỡnh kinh tế xó hội là một nhu cầu khỏch quan Bờn cạnh cụng cụ thuế quan là một cụng cụ cú tớnh cứng nhắc và bảo thủ cao, cỏc biện phỏp phi thuế quan đó và đang phát huy vai trũ của nú như một công cụ nhanh nhạy và hiệu quả trong việc đảm nhận nhiệm vụ như một tấm lá chắn tiên phong bảo vệ những ngành sản xuất non trẻ và nền kinh tế xó hội núi chung trước những biến động không ngừng của thị trường thế giới
1.2 Việc ỏp dụng mang tớnh phổ biến
Mặc dự thuế quan là cụng cụ bảo hộ hợp pháp duy nhất được WTO thừa nhận nhưng hiện nay các NTM đang được áp dụng một cách phổ biến trên thế giới, tại các nước dù hùng mạnh hay kém phát triển, để bảo hộ cho nhiều lĩnh vực sản xuất từ giản đơn như sản xuất lúa gạo ở Philippin đến phức tạp như sản xuất máy bay công nghệ cao tại Pháp
1.3 Việc ỏp dụng mang tớnh dài hạn
Hiện đang tồn tại một nghịch lý là một mặt, các quốc gia trên thế giới đang cố gắng loại bỏ dần các NTM thỡ mặt khỏc người ta lại không
Trang 24ngừng sáng tạo ra các NTM mới như các NTM liên quan đến tiêu chuẩn môi trường, tiêu chuẩn lao động hay công nghệ biến đổi gen Theo đà này, trong tương lai, NTM sẽ là người bạn đồng hành dài hạn với thương mại quốc tế
2 Cần chỳ ý khi ỏp dụng cỏc biện phỏp phi thuế quan
Việc sử dụng các NTM có nhiều nét ưu việt như vậy song cần phải cân nhắc một cách thận trọng khi xây dựng và sử dụng chúng trong chính sách thương mại
2.1 Sự lạm dụng cỏc biện phỏp phi thuế quan
Áp dụng các NTM là cần thiết song bài toán đặt ra cho các nhà hoạch định chính sách thương mại là phải xây dựng được một hệ thống NTM khoa học, đồng bộ, không tràn lan, chồng chéo Sự lạm dụng các NTM không chỉ gây khó khăn cho công tác quản lý mà đôi khi cũn gõy ra những tỏc động tiêu cực như triệt tiêu cạnh tranh, kớch thớch buụn lậu
2.2 Cần loại bỏ các NTM cổ điển và xây dựng các NTM hiện đại
Hiện nay, cần phải thừa nhận rằng các NTM cổ điển đó bộc lộ những nhược điểm của nó trong các hoạt động thương mại quốc tế và ảnh hưởng không nhỏ đến tiến trỡnh hội nhập kinh tế của các quốc gia trên thế giới Bởi vậy, các quốc gia đó khụng ngừng tạo ra và ỏp dụng triệt để các NTM mới và phát huy các ưu việt của nó, đó là tính tinh vi hơn, bảo hộ nhạy bén hơn và có hiệu quả hơn trong chính sách phân biệt đối xử Đối lập với việc áp dụng thái quá các NTM cổ điển, các nước chậm phát triển như Việt Nam lại rất ít sử dụng các NTM hiện đại Nguyên nhân của thực
Trang 25trạng này là trỡnh độ sản xuất và sức cạnh tranh của nền kinh tế các nước này cũn thấp Thờm vào đó năng lực khoa học kĩ thuật và trỡnh độ quản lý hạn chế đó gõy ra những khú khăn không nhỏ Ví dụ như hiện nay, Việt Nam không đủ điều kiện kiểm dịch để hạn chế nhập khẩu những hoa quả tươi bị nghi là sử dụng chất bảo quản gây hại cho sức khỏe con người
2.3 Lựa chọn đúng đắn lĩnh vực sản xuất cần bảo hộ
Là yếu tố quyết định đối với việc xây dựng hệ thống NTM Do hạn chế về nguồn lực, các nước không thể bảo hộ tất cả các ngành sản xuất nội địa nhưng để chọn đúng các ngành cần được bảo hộ qủa thực không đơn giản Người ta sẽ phải cân nhắc đến nhiều yếu tố chủ quan và khách quan
về định hướng phát triển nền kinh tế nội địa, khả năng cạnh tranh của từng ngành và xu thế phát triển trên thế giới bởi sau khi loại bỏ các NTM bảo
hộ, nhiều ngành sản xuất sẽ không thể đứng vững trong cuộc cạnh tranh khốc liệt hiện nay
Nói tóm lại, nhu cầu bảo hộ nền sản xuất trong nước đối với mỗi quốc gia là nhu cầu không thể thiếu Vỡ vậy, việc ỏp dụng cỏc biện phỏp phi thuế quan là điều tất yếu đối với mọi nền kinh tế Tuy nhiên, việc áp dụng này cần được xem xét một cách cẩn thận, dựa trên các cơ sở khoa học của nó và không được đi ngược lại với các cam kết quốc tế trên con đường hội nhập
Trang 26CHƯƠNG II
HỆ THỐNG CÁC BIỆN PHÁP PHI THUẾ QUAN TRÊN THẾ GIỚI
VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
I HỆ THỐNG CÁC HÀNG RÀO PHI THUẾ QUAN TRấN THẾ GIỚI
1 Định nghĩa
1.1 Cỏc biện phỏp phi thuế
- "Là tập hợp những biện pháp của chính phủ ngoài thuế quan nhằm hạn chế luồng thương mại vào một nước" (Định nghĩa của Trung tâm nghiên cứu kinh tế quốc tế - Trường Đại học ADELAIDE - ÔXTRÂYLIA)
- "Là những biện pháp biên giới nằm ngoài phạm vi thuế quan có thể được các quốc gia sử dụng, thông thường dựa trên cơ sở lựa chọn, nhằm hạn chế nhập khẩu" (Định nghỉa của OECD)
1.2 Hàng rào phi thuế quan
- "Là tập hợp những biện pháp phi thuế quan có tác dụng can thiệp vào thương mại của một nước, bằng cách này làm biến dạng sản xuất trong nước" (Định nghĩa của PECC)
Trang 27- "Là bất kỡ một biện phỏp thuộc khu vực nhà nước hay tư nhân nào khiến hàng hoá và các dịch vụ mua bán quốc tế hoặc mọi nguồn lực giành cho việc sản xuất các hàng hóa và dịch vụ đó, sẽ được phân bổ theo cách như thế nào đó nhằm giảm thu nhập tiềm tàng thật sự của thế giới" (Định nghĩa của BALDWIN, trích trong Laird 1996, trang 5)
Như vậy, các hàng rào phi thuế quan không nên được xem như đồng nghĩa với các biện pháp phi thuế quan mà nên coi là một tập hợp con của các biện pháp phi thuế quan Tất cả các hàng rào phi thuế quan đều là các biện pháp phi thuế quan song không phải biện pháp phi thuế quan nào cũng là yếu tố tạo nên hàng rào phi thuế quan Các biện pháp phi thuế quan có thể bao gồm những biện pháp thúc đẩy xuất khẩu, chúng không phải là "rào cản" đối với thương mại chút nào
2 Hệ thống cỏc biện phỏp phi thuế quan trờn thế giới
Hiện nay, hệ thống cỏc biện phỏp phi thuế quan trờn thế giới rất phức tạp Bờn cạnh hệ thống cỏc NTMs cũ cũn xuất hiện rất nhiều cỏc NTMs mới do cỏc quốc gia nghĩ ra ngày càng tinh vi để bảo hộ nền sản xuất trong nước của họ càng nhiều càng tốt Tuy nhiờn, theo cỏc nghiờn cứu của UNCTAD, cú thể chia hệ thống cỏc biện phỏp phi thuế quan trờn thế giới hiện nay ra làm 8 nhúm lớn
Trang 28- Định giá trị hải quan theo sắc lệnh
2.2 Cỏc biện phỏp kiểm soỏt giỏ
- Định giá hành chính của giá hàng nhập khẩu
- Hạn chế giỏ xuất khẩu tự nguyện
- Tính giá thay đổi
- Cỏc biện phỏp chống bỏn phỏ giỏ
- Những biện pháp đền bù
2.3 Cỏc biện phỏp tài chớnh
- Những yêu cầu thanh toán trước
- Tỷ giá hối đoái đa mức
- Phõn bổ ngoại hối chớnh thức hạn chế
- Các quy định liên quan đến thanh toán đối với nhập khẩu
- Chậm trễ chuyển tiền, xếp hàng
2.4 Các biện pháp cấp giấy phép tự động
Trang 29- Giấy phép tự động
- Giỏm sỏt nhập khẩu
- Những yêu cầu nhượng bộ
2.5 Các biện pháp kiểm soát số lượng
- Một hoặc một số giới hạn cỏc kờnh nhập khẩu
- Cỏc dịch vụ quốc gia bắt buộc
2.7 Cỏc biện phỏp kỹ thuật
- Các quy định kỹ thuật
- Kiểm tra trước khi xuống tàu
Trang 30- Cỏc thủ tục hải quan
2.8 Các biện pháp trong nước
- Các biện pháp đầu tư
Thỳc đẩy xuất khẩu Chớnh sỏch cụng nghiệp
Trang 31Sự suy giảm tốc độ tăng trưởng GDP nói trên là do nhịp độ tăng trưởng chậm lại của tất cả cỏc ngành cụng nghiệp, nụng nghiệp và dịch vụ
Cú thể nhỡn nhận sự tăng trưởng của ba ngành này theo hai giai đoạn rừ rệt Từ năm 1996 đến năm 1999, công nghiệp và dịch vụ đó sụt giảm đáng
kể, từ mức tăng trưởng 14,5% và 8,8% xuống cũn 7,7% và 2,3% Tuy nhiên, hai ngành này đó dần hồi phục trong những năm tiếp theo, đạt tốc
độ tăng trưởng 10,4% và 6,1% trong năm 2001 Ngược lại với hai ngành trên, tốc độ tăng trưởng sản xuất nông nghiệp đó gia tăng trong giai đoạn
1996 - 1999 từ 4,4% lên 5,2% Nhưng trong hai năm sau, tốc độ này đó suy giảm xuống cũn 2,7% năm 2001
Sự suy giảm tốc độ tăng trưởng GDP cũng không loại trừ bất kỳ đối tượng nào, từ khu vực nhà nước tới khu vực tư nhân và khu vực đầu tư nước ngoài Khu vực kinh tế nhà nước chịu thiệt hại đáng kể, từ chỗ tăng trưởng 11,3% năm 1996, xuống cũn 4,3% năm 1999 Khu vực kinh tế tư nhân cũng suy giảm liên tục trong giai đoạn này, từ chỗ tăng trưởng 14,4% năm 1996 chỉ cũn 6,2% năm 1999
Mức tăng trưởng chậm lại của khu vực công nghiệp trong giai đoạn 1996-1999 là do sự giảm sút của ngành công nghiệp chế biến và ngành sản xuất điện, khí đốt và nước Tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp chế biến đó giảm từ 12,8% năm 1996 xuống cũn 7,5% năm 1999 Ngành sản xuất điện, khí đốt và nước cũn gặp sự suy giảm mạnh hơn, từ 14,7% năm
1996 xuống chỉ cũn 7% năm 1999 Tuy nhiên, từ năm 2000, các ngành này đó gia tăng trở lại như ngành điện tăng 15%, ô tô lắp ráp tăng 41%, quạt điện dân dụng tăng 17,9% Trong khi đó, số mặt hàng chủ lực của Việt Nam như da giày, dệt may, đường mật bị suy giảm đáng kể trong năm
2001 Đặc biệt, sản lượng dầu thô giảm mạnh do chủ động hạn chế số lượng khai thác vỡ giỏ cả hạ thấp
Giai đoạn 1996-1999 chứng kiến sự suy giảm của tất cả các ngành trong lĩnh vực dịch vụ đặc biệt đó là ngành xây dựng Tốc độ tăng trưởng
Trang 32của ngành này đó giảm từ 16,1% năm 1996 xuống cũn 2,4% năm 1999, đặc biệt năm 1998, tốc độ tăng trưởng của ngành này ở mức âm (-0,5%) Song từ năm 2000 trở lại đây, ngành dịch vụ đó cú dấu hiệu khởi sắc với
sự gia tăng của ngành vận tải, du lịch, xõy dựng
Kết quả khả quan của ngành sản xuất nụng nghiệp từ năm
1996-1999 là nhờ mức tăng trưởng cao trong sản xuất lỳa gạo, thuỷ sản và chăn nuụi Sản lượng thúc đó tăng khụng ngừng từ 27 triệu tấn năm 1997 lờn 29 triệu tấn năm 1998 Do đú, xuất khẩu gạo đó đạt mức kỉ lục 4,2 triệu tấn vào năm 1999 Ngành chăn nuụi cũng duy trỡ mức tăng trưởng tương đối nhanh, sản lượng thuỷ hải sản phục hồi lại và phỏt triển mạnh mẽ (một phần là do nhu cầu xuất khẩu tăng) Từ năm 2000, ngành nụng nghiệp trải qua giai đoạn khú khăn mà một trong những lý do căn bản là tỡnh trạng giỏ nụng sản trờn thị trường thế giới giảm mạnh Nhiều mặt hàng nụng sản mũi nhọn của Việt Nam đó gia tăng đỏng kể về số lượng nhưng lại khụng
bự đắp được đà sụt giảm về giỏ cả như cà phờ : tăng 24% về số lượng nhưng lại giảm 23,2% về giỏ trị; tương tự, gạo tăng 2,1% và giảm 11,8%; cao su tăng 9,9% và giảm 2,9%; hạt tiờu tăng 51,6% và giảm 38,5%
Tỡnh hỡnh tăng trưởng kinh tế giai đoạn 1996 - 2001
Trang 33tư Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và các nước Đông Nam á, những nước
bị ảnh hưởng nhiều của cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 Nhờ nhiều biện pháp tích cực của Chính phủ, các nhà đầu tư đó trở lại Việt Nam năm
2001 với trên 2 tỷ USD
b Tỡnh hỡnh phỏt triển thương mại
Khỏc với tỡnh hỡnh suy thoỏi của nền kinh tế nói chung, trong giai đoạn 1996-2001, ngoại thương Việt Nam đó phỏt triển rất đáng khích lệ cả
về quy mô, tốc độ tăng trưởng và diện mặt hàng, đóng góp tích cực vào GDP, thúc đẩy kinh tế trong nước phát triển và góp phần tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động
Trang 34Xuất khẩu
Xuất khẩu trong thời kỳ 1996-2001 đó đạt được tốc độ tăng trưởng tương đối cao Tổng kim ngạch xuất khẩu của cả giai đoạn đó đạt 66,74 tỷ USD, trong đó năm 2000 đạt 14,3 tỷ USD, năm 2001 đạt 15,1 tỷ USD), đưa mức xuất khẩu bỡnh quõn đầu người đạt khoảng 150 USD/năm
Sự phát triển của xuất khẩu Việt Nam trong thời kỳ này có thể chia làm bốn giai đoạn Trong giai đoạn 1996-1997, xuất khẩu tăng trung bỡnh 30% Đến năm 1998, tỷ lệ tăng trưởng này chỉ dừng lại ở mức rất khiêm tốn là 2% (do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính khu vực) Năm 1999-
2000, kim ngạch xuất khẩu nước ta dần lấy lại được đà tăng trưởng, đạt mức bỡnh quõn 24% Tuy nhiên, năm 2001 lại là một năm đầy khó khăn cho xuất khẩu nước nhà Mức tăng trưởng xuất khẩu chỉ dừng lại ở 5,6%, thấp hơn rất nhiều so với chỉ tiêu 16% đặt ra ban đầu Nguyên nhân của sự sụt giảm khác thường này là do việc chủ động hạn chế xuất khẩu dầu thô,
và những diễn biến bất lợi về giá nông sản trên thị trường thế giới
Tuy nhiờn, trong vũng 6 năm qua, Việt Nam đó khụng ngừng mở rộng chủng loại và tăng kim ngạch của từng nhóm hàng xuất khẩu
Năm 1991, Việt Nam mới có bốn nhóm mặt hàng xuất khẩu chủ lực, đạt kim ngạch từ 100 triệu USD/năm trở lên, nhưng đến năm 2000, số nhóm mặt hàng này đó tăng lên 15 nhóm với nhiều mặt hàng đó đạt kim ngạch xuất khẩu từ 1 tỷ USD đến 2 tỷ USD như dầu thô, dệt may, giày da, thuỷ sản, gạo
Ngoại trừ những diễn biến bất lợi trong năm 2001, giai đoạn
1996-2001 đó chứng kiến tốc độ tăng trưởng khá cao của cỏc mặt hàng chủ lực, bỡnh quõn 19,7% năm, trong đó có những mặt hàng tốc độ tăng trưởng nhảy vọt như giày da tăng 6,7 lần; hàng thủ công mỹ nghệ tăng 2,3 lần; hàng dệt may tăng 1,76 lần và thuỷ hải sản tăng 1,5 lần Nhóm hàng nông, lâm, thuỷ, hải sản tăng 64%, trong đó gạo, cao su, cà phê đều tăng từ
Trang 3565% đến 103% Nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản tăng 109%, trong đó chủ yếu là dầu thô và than đá
Đáng lưu ý trong số cỏc nhúm mặt hàng xuất khẩu chủ lực, nhúm điện tử và linh kiện máy tính có tốc độ phát triển khá nhanh, mặc dù năm
1996 mới bắt đầu xuất khẩu đạt kim ngạch 89 triệu USD, từ năm 1997 đó liờn tục tăng trưởng nhanh, đến năm 1999 đó đạt 700 triệu USD, tăng gần
7 lần so với năm 1996 và năm 2000 đạt 750 triệu USD
Thị trường xuất khẩu của Việt Nam trong giai đoạn 1996-2001 cũng
đó mở rộng đáng kể với sự gia tăng kim ngạch xuất khẩu vào bốn khu vực thị trường chính như sau :
Thị trường Châu Á - Thái Bỡnh Dương chiếm tỷ trọng bỡnh quõn
64,6% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn
1996-2001, trong đó năm 1996: 71.3%; năm 1997: 66,6%; năm 1999: 62,4% và năm 2000: 61,5% Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bỡnh quõn của Việt Nam vào khu vực này đạt 15%/năm
Thị trường khu vực ASEAN chiếm tỷ trọng trung bỡnh 23,3% với
cỏc số liệu cụ thể của năm 1996: 24,5%; năm 1997: 22%; năm 1998: 25,1%; năm 1999: 21,3% và năm 2000 là 24,1% Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bỡnh quõn của Việt Nam vào khu vực này đạt 22,6%/năm
Thị trường khu vực Âu - Mỹ chiếm tỷ trọng 30,7% và ngày càng
trở thành thị trường quan trọng cho hàng hoá xuất khẩu Việt Nam Tỷ trọng thị trường của khu vực này đó tăng 11,1%, từ mức 20,8% năm 1996 đến mức 33,9% năm 2000 Hơn thế nữa, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bỡnh quõn của Việt Nam vào khu vực khỏ cao, đạt 28,8%/năm Trong thị trường khu vực Âu- Mỹ, EU là bạn hàng quan trọng nhất, chiếm 20% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam và có tốc độ tăng trưởng 34,3%/năm, cao hơn nhiều so với các thị trường khác cùng khu vực Sau khi Hiệp định thương mại Việt Mĩ được kí kết, triển vọng hợp tác kinh tế với thị trường
Trang 36quan trọng này càng được mở ra mạnh mẽ Theo Hiệp định này, Việt Nam
và Mĩ sẽ dành cho nhau những ưu đói về thuế quan và phi thuế quan, theo
đó, tỷ trọng hàng hoá giao dịch với khu vực này sẽ không cũn dừng lại ở mức khiờm tốn ở trên nữa mà sẽ lấn át các khu vực khác trong tương lai Đây cũng là mục tiêu chủ yếu của Việt Nam trong giai đoạn tới
Thị trường khu vực Châu Phi - Tây Nam Á chiếm tỷ trọng 3,2%,
trong đó năm 1996 chiếm 2,8%, năm 1997: 2,5%, năm 1999: 3%, năm
2000 là 4,5%, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bỡnh quõn của Việt Nam vào khu vực này đạt 40,7% năm
Tỷ trọng và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu vào 10 thị trường chủ
yếu giai đoạn 1996 - 2000
Nguồn: Bộ Thương Mại
Số lượng doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu ngày càng tăng
và có sự chuyển dịch rừ nột trong cơ cấu chủ thể tham gia kinh doanh, đặc biệt là sau khi Chính phủ ban hành Nghị định số 57/1998/NĐ-chính phủ ngày 31/7/1998, số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia xuất nhập
Trang 37khẩu tăng nhanh Năm 1980 chỉ có 13 doanh nghiệp thuộc Bộ Ngoại Thương Năm 1991 có 495 doanh nghiệp thuộc 14 Bộ, ngành, cơ quan, đoàn thể chính trị, 42 tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương Đến năm
2000 có khoảng 13 000 doanh nghiệp và chi nhánh đăng kí trực tiếp xuất nhập khẩu hàng hoá
Xuất khẩu của cỏc doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng trưởng khá nhanh cả quy mô và tốc độ so với các doanh nghiệp có vốn đầu
tư trong nước, cụ thể là khối các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài xuất khẩu đạt 19,8 tỷ USD (kể cả dầu thô), chiếm tỷ trọng 38,6%, tăng trưởng bỡnh quõn 34,9%/năm; các doanh nghiệp 100% vốn đầu tư trong nước xuất khẩu đạt 31,54 tỷ USD (không kể dầu thô), chiếm tỷ trọng 61,4%, tăng trưởng bỡnh quõn 13,3%/năm
Nhập khẩu
Trong giai đoạn 1996 - 2001, kim ngạch và cơ cấu hàng nhập khẩu
đó gúp phần bảo đảm được nhu cầu sản xuất (máy móc, thiết bị, phụ tùng, vật tư, nguyên liệu) và nhu cầu tiêu dùng, góp phần làm phong phú thêm hàng hoá lưu thông trên thị trường nội địa Tỡnh hỡnh tăng trưởng của kim ngạch nhập khẩu có thể chia làm ba thời kỡ rừ nột Năm 1996, kim ngạch nhập khẩu trong thời kỡ này đạt 60,7 tỷ USD, với tốc độ bỡnh quõn hàng năm tăng 12,2%
Cỏc mặt hàng phục vụ sản xuất luụn chiếm tỷ trọng cao trong tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam Nhúm mỏy múc thiết bị phụ tựng và nguyên nhiên vật liệu chiếm tỷ trọng 91,3% và đó tăng từ 83,5% năm
1995 lên 94,8% năm 1999, và 2000 đạt 92% Nhóm hàng tiêu dùng chiếm khoảng 8,7% năm 2000 Nhóm máy móc, thiết bị phụ tùng và nguyên nhiên vật liệu tăng bỡnh quõn 14,1% năm, trong đó năm 2000 tăng 21%
Trang 38Nhóm hàng tiêu dùng giảm bỡnh quõn 2% năm tuy năm 2000 có đột biến tăng tới 90%
Trong giai đoạn này cỏn cõn ngoại thương của Việt Nam luụn trong tỡnh trạng nhập siờu Tuy nhiờn, mức nhập siờu đó giảm đỏng kể, từ mức 3,9 tỷ USD năm 1996 (bằng 53,6% kim ngạch xuất khẩu) xuống 82 triệu USD năm 1999 (chỉ cũn bằng 0,7% kim ngạch xuất khẩu) và 800 tỷ USD năm 2000 (chiếm khoảng 5,7% kim ngạch xuất khẩu) Một trong những nguyờn nhõn làm giảm nhập siờu là do kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh trong khi kim ngạch nhập khẩu những năm gần đõy đó dần dần ổn định
Về cơ cấu thị trường nhập khẩu
Các năm 1996 - 2001, khu vực Châu á-Thái Bỡnh Dương luôn là thị trường nhập khẩu quan trọng nhất của Việt Nam, chiếm tỷ trọng bỡnh quõn 78,3% và cú tốc độ tăng trưởng bỡnh quân 9,7%/năm Trong khu vực này, Việt Nam nhập khẩu từ 54% - 56% từ Xing-ga-po, Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan Khối các nước ASEAN (mà chủ yếu là Xing-ga-po) cũng chiếm tỷ trọng tới 28,5%
Khu vực Âu-Mỹ với cỏc bạn hàng chớnh Phỏp, Đức, Hoa Kỡ chỉ chiếm vị trớ khiờm tốn với tỷ trọng 17,2% Tuy nhiờn, khu vực này cũng đang dần trở thành thị trường nhập khẩu quan trọng của Việt Nam với tốc
độ tăng trưởng bỡnh quõn 1996-2001 đạt 12,6%/năm, cao hơn khu vực Chõu ỏ-Thỏi Bỡnh Dương
Khu vực Chõu Phi-Tõy Nam á chỉ chiếm tỷ trọng 2,2%, nhưng thời
kỳ 1996-2001 đạt tốc độ tăng khá cao 22,5%/năm
Tỷ trọng và tốc độ tăng trưởng của 10 thị trường nhập khẩu chủ yếu
giai đoạn 1996-2000
Trang 39
Nước/Thị trường Tỷ trọng(%) Tốc độ tăng trưởng(%)
Nguồn: Bộ Thương Mại
Rừ ràng chớnh sỏch thương mại đó ảnh hưởng tích cực đến thành tích xuất nhập khẩu trong giai đoạn 1996-2001 Mưc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu được thể hiện qua sự đồng đều của kim ngạch, thị trường, mặt hàng, số lượng doanh nghiệp, giá cả về chất và lượng Những động thái tích cực này không những góp phần cung ứng đầy đủ lượng hàng lưu thông trên thị trường mà cũn giỳp hỡnh thành nhiều ngành nghề, đơn vị sản xuất mới, tạo việc làm cho người lao động
Việt Nam đó dần dần cải thiện được khả năng cạnh tranh quốc gia thông qua hàng loạt các bước tiến tích cực, thể hiện bằng cách cải thiện đáng kể chế độ quản lý thương mại trong thời kỡ 1996-2001 theo hướng nới lỏng quản lý nhà nước, tạo điều kiện cho thương mại phát triển
So với thời kỡ trước 1996, biểu thuế nhập khẩu đó được hoàn thiện dần dần với việc áp dụng hệ thống mó HS với cấu trúc biểu thuế đơn giản
và ổn định hơn Thuế suất của rất nhiều mặt hàng được cắt giảm phù hợp với các cam kết quốc tế và yêu cầu của tiến trỡnh hội nhập Hiện nay hầu hết cỏc sản phẩm nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu đều có mức thuế nhập khẩu danh nghĩa thấp hoặc không bị đánh thuế
Trang 40Các NTM cũng dần được nới lỏng Trong đó :
phép hoặc hạn ngạch đó được thu hẹp dần Chế độ phân bổ hạn ngạch và cấp phép cũng được cải tiến theo nguyên tắc phân bổ phù hợp với khả năng sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển;
xuất nhập khẩu, đến nay tất cả các doanh nghiệp đó được phép, trừ một số mặt hàng như dược phẩm hay xăng dầu phải thông qua đầu mối;
cản trở thương mại đó được đưa vào sử dụng, chẳng hạn các biện pháp tiêu chuẩn kỹ thuật và chất lượng, kiểm dịch động thực vật, các thủ tục hải quan phù hợp với quy định và thông lệ quốc tế;
hơn và đơn giản hoá hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp
1.2 Những thay đổi về thuế quan
Việt Nam mới bắt đầu sử dụng thuế quan như một công cụ quan trọng của chính sách thương mại từ khi luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đối với hàng mậu dịch được quốc hội thông qua ngày 29/12/1987 và
có hiệu lực từ ngày 1/1/1988
Đến 26/12/1991, luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ ngày 1/3/1992 Theo luật này, Biểu thuế xuất nhập khẩu được xây dựng dựa trên Hệ thống hài hoà hoá và miêu tả hàng hoá (HS)
Theo luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật thuế xuất nhập khẩu được Quốc hội thông qua ngày 20/5/1998 và có hiệu lực từ 1/1/1999, Biểu