Quan hệ thương mại Việt- Mỹ những năm gần đây đã đạt được những thành công đáng kể, đặc biệt là sau khi Hiệp định thương mại Việt-Mỹ được ký kết, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang th
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
THÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG MỸ- CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM HIỆN NAY
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN : THS PHẠM THỊ HỒNG YẾN
SINH VIÊN THỰC HIỆN : LƯƠNG THU HIỀN
HÀ NỘI - 2003
Trang 2MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
CHƯƠNG I : TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG MỸ VÀ QUAN HỆ THƯƠNG MẠI
VIỆT NAM - MỸ NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY 1
I Một vài nét về nước Mỹ 1
1 Địa lý, các điều kiện tự nhiên và lịch sử ra đời 1
2 Dân cư và lối sống của người Mỹ 2
3 Chế độ chính trị và hệ thống luật pháp 4
4 Nền kinh tế Mỹ 5
II Khái quát về thị trường Mỹ 9
1 Nhu cầu của thị trường Mỹ 9
2 Tập quán và thị hiếu tiêu dùng của người dân Mỹ 10
3 Hệ thống kênh phân phối trên thị trường Mỹ 12
4 Hoạt động cạnh tranh trên thị trường Mỹ 14
III Quan hệ thương mại Việt- Mỹ những năm gần đây 16
1 Một số điểm mốc quan trọng trong quan hệ thương mại Việt Nam – Mỹ 16
2.Tình hình xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang Mỹ 17
3.Tình hình xuất khẩu của Mỹ vào Việt Nam 22
CHƯƠNG II: CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC KHI DOANH NGHIỆP VIỆT NAM THÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG MỸ 25
I Cơ hội khi doanh nghiệp Việt Nam thâm nhập thị trường Mỹ 25
1 Nhu cầu lớn và thị hiếu phong phú của người tiêu dùng Mỹ 25
2 Cơ hội từ Hiệp định thương mại Việt- Mỹ 34
3 Lợi thế trong một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang Mỹ 38
4 Những cơ hội do cộng đồng Việt kiều ở Mỹ mang lại 44
II Thách thức khi doanh nghiệp Việt Nam thâm nhập thị trường Mỹ 47
1 Quy định pháp luật đối với hàng nhập khẩu vào Mỹ 47
2 Sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường Mỹ 64
3 Những khó khăn từ nội lực các doanh nghiệp Việt Nam 71
Trang 3CHƯƠNG III: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG THÂM NHẬP
THỊ TRƯỜNG MỸ HIỆU QUẢ 75
I Mục tiêu và định hướng phát triển thị trường Mỹ của Việt Nam đến năm 2010 75
1.Mục tiêu và nhiệm vụ của xuất khẩu Việt Nam đến năm 2010 75
2 Mục tiêu và định hướng phát triển thị trường Mỹ của Việt Nam 77
II.Các giải pháp thúc đẩy thâm nhập thị trường Mỹ hiệu quả 79
1 Giải pháp vĩ mô 79
2 Các giải pháp vi mô 87
III.Giải pháp đối với một số mặt hàng cụ thể 97
1 Nhóm hàng dệt may 97
2 Nhóm hàng giày dép 99
3 Nhóm hàng thuỷ sản 100
KẾT LUẬN
PHỤ LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Các chỉ số kinh tế cơ bản của Mỹ 6
Bảng 2: Kim ngạch xuất nhập khẩu của Mỹ từ năm 1999-2002 7
Bảng 3: Một số mặt hàng nhập khẩu lớn nhất của Mỹ từ năm 1998-2002 9
Bảng 4: Kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam sang Mỹ từ năm 1997-2002 20
Bảng 5: Kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang Mỹ từ năm 1997-2002 20
Bảng 6: Kim ngạch xuất khẩu giày dép của Việt Nam sang Mỹ từ năm 1997-2002 21
Bảng 7: Tình hình xuất khẩu của Mỹ vào Việt Nam từ năm 1997-2002 23 Bảng 8: Kim ngạch xuất nhập khẩu của Mỹ từ năm 1994-2000 26
Bảng 9: Nhập khẩu hàng dệt may và quần áo của Mỹ từ năm 1998- 2002 27
Bảng 10: Nhập khẩu thuỷ sản của Mỹ từ năm 1999-2001 30
Bảng 11: Nhập khẩu giày dép của Mỹ từ năm 1998-2002 30
Bảng 12: Những đặc trưng của các giai tầng xã hội cơ bản ở Mỹ 33
Bảng 13: Mức thuế nhập khẩu đối với hàng giày dép 35
Bảng 14: Mức thuế nhập khẩu đối với hàng thuỷ sản 35
Bảng 15: Mức thuế nhập khẩu đối với một số hàng dệt may 36
Bảng 16: So sánh hàng hoá Trung Quốc và hàng hoá Việt Nam 68
Bảng 17: Kim ngạch xuất khẩu của các nước Asean sang Mỹ từ năm 1999-2002 69
Bảng 18: So sánh hàng hóa Việt Nam và Thái Lan 70
Bảng 19: Tình hình đạt tiêu chuẩn chất lượng của các doanh nghiệp Việt Nam 73
Bảng 20: : Các hình thức và phương tiện khai thác thông tin của doanh nghiệp Việt Nam 76
Bảng 21 : Chỉ tiêu xuất khẩu thời kì 2001-2010 76
Trang 5Bảng 22: Mục tiêu về xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực của Việt
Nam sang Mỹ giai đoạn 2005-2010 78
Trang 6Trong quá trình viết khóa luận tốt nghiệp này, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của thầy cô giáo, bạn bè và gia đình
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy giáo,
cô giáo và cán bộ của trường Đại học Ngoại Thương, những người đã nhiệt tình giảng dạy , truyền đạt những kiến thức quý báu, và tạo điều kiện học tập cho tôi trong suốt quá trình học tại trường
Đặc biệt, tôi muốn bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới cô giáo - thạc sĩ Phạm Thị Hồng Yến, người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình làm khóa luận
Tôi cũng muốn được cảm ơn những cán bộ của thư viện trường Đại học Ngoại Thương, thư viện Quốc gia, thư viện của World Bank, thư viện Kinh tế thế giới đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập những tài liệu cần thiết
Đồng thời, tôi xin cảm ơn gia đình và bạn bè, những người đã giúp đỡ và khuyến khích, và tạo rất nhiều điều kiện để tôi có thể hoàn thành khoá luận này
Tôi xin gửi tới thầy cô, gia đình và bạn bè những tình cảm chân thành nhất và những lời chúc tốt đẹp nhất
Lời cảm ơn
Trang 7LỜI NÓI ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế Việt Nam sau khi thực hiện chính sách mở cửa hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới đã có những chuyển biến đầy khởi sắc Thị trường xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam không còn bó hẹp ở một số nước thuộc khối Xã hội chủ nghĩa hay những nước trong khu vực nữa mà nó đã và đang vươn rộng ra khắp thế giới
Thị trường Mỹ-một thị trường khổng lồ có sức tiêu thụ lớn nhất thế giới, cũng đang là mục tiêu chinh phục của Việt Nam Quan hệ thương mại Việt-
Mỹ những năm gần đây đã đạt được những thành công đáng kể, đặc biệt là sau khi Hiệp định thương mại Việt-Mỹ được ký kết, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Mỹ đã tăng lên rõ rệt và đóng góp một phần không nhỏ vào tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam Nhận thức được tầm quan trọng to lớn của thị trường Mỹ, Việt Nam đang nỗ lực hết mình để thâm nhập
và chinh phục thị trường này Nhưng muốn thâm nhập được thị trường Mỹ trước hết ta phải hiểu được nó, vì đây là yếu tố cần thiết hàng đầu khi thâm nhập bất cứ thị trường nào, nhất là thị trường Mỹ, vốn là một thị trường đầy tiềm năng nhưng cũng đầy rủi ro và thách thức
Tuy nhiên, hiện nay nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn thiếu những thông tin và chưa có sự hiểu biết đầy đủ về thị trường này, dẫn đến nhiều thua thiệt đáng tiếc xảy ra khi xuất khẩu hàng vào Mỹ cũng như chưa khẳng định
được vị thế của mình trên thị trường Mỹ Vì vậy, người viết lựa chọn đề tài
“Thâm nhập thị trường Mỹ-cơ hội và thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay” với hy vọng phần nào giúp các doanh nghiệp Việt Nam
và những ai quan tâm đến thị trường Mỹ có thêm những hiểu biết và nhận thức được rõ hơn những thuận lợi và những khó khăn khi xuất khẩu hàng hoá vào Mỹ để từ đó đưa ra những giải pháp hợp lí nhằm tận dụng được cơ hội, khắc phục được khó khăn để đạt được đích cuối cùng là chinh phục và đứng vững được trên thị trường rộng lớn đầy tiềm năng này
Trang 82 Mục đích nghiên cứu của đề tài
_Tìm hiểu và phân tích những cơ hội và thách thức khi doanh nghiệp Việt Nam thâm nhập thị trường Mỹ để giúp họ có thêm những thông tin và những hiểu biết về thị trường Mỹ
_Đưa ra những giải pháp vĩ mô và vi mô để các doanh nghiệp Việt Nam tận dụng cơ hội, khắc phục khó khăn nhằm thâm nhập thị trường Mỹ hiệu quả
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài chủ yếu nghiên cứu những cơ hội và thách thức mà doanh nghiệp Việt Nam gặp phải trong lĩnh vực xuất khẩu hàng hoá hữu hình sang thị trường Mỹ thông qua nghiên cứu thị trường Mỹ, môi trường pháp luật, môi trường kinh doanh của mỹ và trên cơ sở xem xét năng lực xuất khẩu của Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
- Sử dụng phương pháp tổng hợp , phân tích, tính toán, so sánh dựa trên những tài liệu thu thập được và những kiến thức của bản thân
- Sử dụng phương pháp phân tích thống kê để đánh giá các số liệu thống kê thu thập được
5 Kết cấu của khoá luận
Chương I : Nghiên cứu tổng quan về thị trường Mỹ
- Nêu lên những nét chung về đất nước, xã hội, con người Mỹ, và nhất là đề cập đến thị trường Mỹ để người đọc có cái nhìn bao quát nhất về thị trường
Mỹ như nhu cầu và thị hiếu người tiêu dùng Mỹ như thế nào, hoạt động cạnh tranh và hệ thống phân phối trên thị trường Mỹ ra sao
- Quan hệ thương mại Việt Nam-Mỹ những năm gần đây Chủ yếu nghiên cứu tình hình xuất nhập khẩu giữa hai nước
Chương II : Cơ hội và thách thức khi doanh nghiệp Việt Nam thâm nhập
thị trường Mỹ
- Thông qua việc nghiên cứu thị trường, môi trường pháp luật , môi trường cạnh tranh năng lực xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam để chỉ ra những thuận lợi và những khó khăn khi Việt Nam thâm nhập thị trường Mỹ
Trang 9- Trong khi phân tích những cơ hội và những thách thức nói trên thì lấy một
số ngành hàng cụ thể của Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ để chứng minh
Chương III :Các giải pháp nhằm thúc đẩy hiệu quả hoạt động thâm nhập
Hà Nội, 12/2003 Sinh viên thực hiện Lương Thu Hiền
Trang 11CHƯƠNG I : TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG MỸ VÀ QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - MỸ NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
1 Địa lý, các điều kiện tự nhiên và lịch sử ra đời
Hợp chủng quốc Hoa Kỳ là nước có diện tích 9626091 km2, đứng thứ tư thế giới sau Nga, Canađa và Trung Quốc Phía Bắc giáp Canađa ,phía nam giáp Mêhicô ,phía đông giáp Đại Tây Dương và phía tây giáp Thái Bình Dương Nước Mỹ gồm có 50 bang và quận Columbia ,trong đó 48 bang kề nhau trên lục địa Bắc Mỹ, một bang Alasca nằm tách riêng ở phía bắc Canađa, bang Hawaii ở giữa Thái Bình Dương
Tính chất khí hậu của nước Mỹ nhìn chung khá phức tạp, lượng mưa phân bố không đều trên các vùng lãnh thổ khác nhau Khí hậu địa hình đa dạng cho phép Mỹ phát triển các sản phẩm nông ,lâm ,ngư nghiệp phong phú trên quy mô lớn Nước Mỹ cũng rất giàu tài nguyên thiên nhiên, nhiều loại khoáng sản với trữ lượng khá lớn như: than đá, dầu mỏ, khí đốt tự nhiên, vàng, bạc nhưng Mỹ vẫn nhập khẩu khá nhiều nguyên nhiên liệu đặc biệt là dầu mỏ để thực hiện chính sách tiết kiệm tài nguyên
Quá trình hình thành nước Mỹ gắn liền với phát kiến địa lý và những dòng người di cư từ châu Âu sang lập nghiệp Sau sự việc Chistopher Columbus tìm ra châu Mỹ năm 1942 ,người Tây Ban Nha ,Pháp ,Hà Lan ,Thụy Điển rồi người Anh đã bắt đầu đến bắc Mỹ lập nghiệp Sau nhiều cuộc chiến tranh với người bản địa và các nước thực dân với nhau thì người Anh đã thành lập được 13 bang thuộc địa ở bắc Mỹ Dưới sự lãnh đạo tài ba của tổng
Trang 12chỉ huy quân đội George Washington ,người dân ở 13 bang này đã đứng lên kháng chiến chống lại thực dân Anh và ngày 4/7/1776 nước Mỹ chính thức tuyên bố độc lập Sau đó bằng việc mở rộng, xâm lấn đất đai của người da đỏ
ở phía Tây và bỏ tiền ra mua lại các vùng đất thuộc địa của các nước thực dân khác mà nước Mỹ trở nên rộng lớn như ngày nay
2 Dân cư và lối sống của người Mỹ
2.1 Dân cư
Mỹ là nước đông dân đứng thứ ba trên thế giới sau Trung Quốc, Ấn Độ Hiện nay dân số Mỹ vào khoảng 281 triệu người trong đó có 143 triệu người
nữ chiếm 50,9% dân số và 138 triệu nam chiếm 49,1% dân số Tỷ lệ tăng dân
số tự nhiên những năm gần đây là 0,91% ,mật độ phân bố dân cư không đồng đều, chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn
Thành phần dân cư của Mỹ rất đa dạng, có nguồn gốc từ khắp nơi trên thế giới Đông nhất là người da trắng đến từ châu Âu chiếm 83,5% dân số Mỹ Người da đen đến từ châu Phi chiếm 12,4%, người châu Á chiếm 3,3%, còn lại là thổ dân da đỏ bản xứ chỉ chiếm 0,8%.Người châu Á sống ở Mỹ chiếm nhiều nhất là người Trung Quốc, số lượng người Việt Nam sống ở đây cũng khá lớn, vào khoảng 2 triệu người, sống chủ yếu tập trung ở miền Tây nước
Mỹ
Chính vì sự đa dạng của thành phần chủng tộc nên cũng kéo theo sự đa dạng về tôn giáo Ở Mỹ, 56% dân số theo đạo Tin lành, 28% dân số theo đạo Thiên chúa giáo La Mã, 2% dân số theo đạo Do Thái, các tôn giáo khác là 4%
và những người không theo tôn giáo nào cả chiếm 10% dân số
Tiếng Anh được dùng làm ngôn ngữ chính thức của Mỹ Tuy nhiên ở một số bang miền Nam vẫn có một số ít người sử dụng tiếng Tây Ban Nha
2.2 Lối sống của người Mỹ
Mỹ là một hợp chủng quốc nên lối sống của người Mỹ cũng là sự kết tụ
từ nhiều phong cách sống từ các nền văn hoá khác nhau nhưng cùng với thời gian và để thích nghi được với điều kiện tự nhiên, xã hội người Mỹ đã tạo được một phong cách rất riêng Đây cũng là yếu tố quan trọng mà các nhà
Trang 13kinh doanh nước ngoài cần chú ý, nghiên cứu để có thể đáp ứng được tốt các nhu cầu của người Mỹ và thuận lợi hơn khi muốn làm ăn với các đối tác Mỹ Khác với người Nhật có bản tính tiết kiệm, người Mỹ rất “chịu chơi “ và mua sắm không tiếc tiền, thậm chí nhiều khi vượt quá mức thu nhập thực tế Nhưng có hai thứ mà người Mỹ rất tiết kiệm đó là: lao động và thời gian,
Do lịch sử nước Mỹ được hình thành từ sự tìm tòi và khai phá nên người
Mỹ luôn là những người cần cù, giàu nghị lực, có chí tiến thủ và sáng tạo Họ hiểu rất rõ giá trị của lao động và luôn có ý thức sao cho lao động bỏ ra mang lại hiệu quả cao nhất Đó là nguồn gốc của các phát minh, cải tiến trong sản xuất và các phương pháp tổ chức, quản lý lao động khoa học, những yếu tố này đã làm cho nước Mỹ sớm vươn lên trở thành một cường quốc lớn nhất thế giới Đặc điểm này cũng lý giải cho đặc tính “thực dụng”của người Mỹ: đồ dùng làm ra càng nhiều chức năng càng tốt, hàng hóa phải chú trọng đến tính tiện dụng
Ở Mỹ, câu nói: “ thời gian là tiền bạc “ đã ăn sâu vào trong tiềm thức của mỗi cá nhân Mỹ Ý thức tiết kiệm thời gian thể hiện trong tác phong làm việc hàng ngày khẩn trương, nhanh nhẹn, trong cách ra quyết định chóng vánh, cách đàm phán luôn đi thẳng vào vấn đề tránh vòng vo Người Mỹ rất tôn trọng sự đúng giờ trong các cuộc hẹn Dù đến hẹn chỉ muộn năm phút cũng có thể làm người Mỹ bực tức và gây ảnh hưởng xấu đến mối quan hệ Người Mỹ rất có ý thức tôn trọng pháp luật Vai trò của pháp luật rất được đề cao trong kinh doanh cũng như trong cuộc sống hàng ngày Những tranh chấp xung đột đều rất dễ có thể được đưa ra toà án Người ta nói rằng: “ Sống bên cạnh một người Mỹ bao giờ cũng có một bác sĩ và một luật sư “ vì người Mỹ luôn bị ám ảnh có thể bị kiện bất cứ lúc nào
Về mặt tính cách: Người Mỹ được đánh giá là cởi mở, thẳng thắn, khá nồng nhiệt và dễ tạo lập quan hệ bạn bè Phần đông người dân Mỹ đều tỏ ra rất thân thiện ngay từ lần gặp đầu tiên Họ đề cao giá trị của giao tiếp xã hội
vì nó rất có thể đem lại không chỉ các mối quan hệ làm ăn hay mở mang kiến
Trang 14thức mà còn giúp tạo cảm giác thư giãn, giảm bớt những căng thẳng mệt nhọc của công việc
Trong đàm phán kinh doanh: Người Mỹ hay nói thẳng và biết tôn trọng lời hứa Nếu nhận thấy điều gì đó có thể làm được, họ hứa và cố thực hiện cho được, những điều cảm thấy khó khăn, không cho phép hứa hẹn thì họ không ngại thẳng thắn nói “không “ Người Mỹ không dễ bị tự ái trước những lời phê bình, chỉ trích hay những quan điểm đối lập vì họ rất coi trọng quyền
Quyền lập pháp: thuộc về Quốc hội, gồm hai viện: Thượng viện và Hạ
viện Hai viện đều có quyền đưa ra các luật, có quyền đối với đánh thuế, quyết định lực lượng vũ trang và quyết định chính trị Nhưng Thượng viện
có đặc quyền thông qua các hiệp ước, hiệp định kí với nước ngoài như BTA
và các chức vụ do tổng thống bổ nhiệm Thượng viện có quyền thay đổi các
dự luật do Hạ viện đề xuất hoặc chấp nhận hay phủ quyết quyền bỏ phiếu buộc tội tổng thống của hạ viện
Quyền hành pháp: Bộ máy hành pháp Hoa Kì có 15 bộ và 60 uỷ ban độc
lập Tổng thống Mỹ đứng đầu bộ máy hành pháp và có quyền lực lớn nhất được bầu trực tiếp và có nhiệm kì bốn năm, và không quá hai nhiệm kì Tổng thống là người ký, ban bố các sắc lệnh và hiến pháp cho phép tổng thống có quyền phủ quyết dự luật được quốc hội thông qua
Quyền tư pháp: Thuộc về hệ thống Toà án Liên bang mà đứng đầu là
Toà án tối cao hợp chủng quốc Hoa Kỳ Toà án tối cao Liên bang có các quyền hạn như: quyền xét xử các vụ án quan trọng, làm trọng tài xét xử các mâu thuẫn giữa các bang, giữa Liên bang với một bang, có quyền xác định tính hợp hiến của các luật và các quyết định của tổng thống và có quyền vô
Trang 15hiệu hoá bất cứ luật lệ liên bang hoặc bang nào mà Toà xét thấy là trái với Hiến pháp
Về Đảng phái: Mỹ theo chế độ đa Đảng Hai Đảng lớn thay nhau cầm quyền từ trước đến nay là Đảng Dân Chủ và Đảng Cộng Hoà Dù hai đảng này không có sự khác biệt lớn về đường lối chính trị cơ bản chỉ khác nhau
1
quan điểm, biện pháp giải quyết các vấn đề nhưng mục đích đều phục vụ quyền lợi của giai cấp tư sản Mỹ và đều phấn đấu để làm cho nước Mỹ trở thành vai trò lãnh đạo thế giới
Hệ thống pháp luật của Mỹ khá đồ sộ và phức tạp, mỗi bang lại còn đặt
ra những luật lệ riêng vì vậy mà các doanh nghiệp khi làm ăn với các đối tác
Mỹ cần nghiên cứu cẩn thận để tránh những thiệt hại đáng tiếc xảy ra
4 Nền kinh tế Mỹ
4.1 Tổng quan về kinh tế
Mỹ là cường quốc kinh tế đứng ở vị trí số 1 trên thế giới, đặc biệt giai đoạn 1994- 2000 là thời kỳ Hoa Kỳ đạt tăng trưởng kinh tế cao, năm 2000 GDP đạt 9963 tỷ USD chiếm hơn 25% tổng GDP của toàn thế giới, lớn gấp hai lần tổng GDP của Nhật Bản (nước đứng thứ hai sau Mỹ) Mỹ chỉ cần tăng trưởng 1% thì đã tạo ra một giá trị tuyệt đối lớn hơn giá trị tuyệt đối của 15%
Trang 16
tốc độ tăng trưởng của Trung Quốc Điều này đã tạo nên nhu cầu và khả năng cua sắm khổng lồ của người dân Mỹ
Lạm phát vừa đủ ở mức để kích thích tăng trưởng kinh tế, năm 1998 là 0,8%, năm 1999 là 2,3% và năm 2000 là 2,5%1 Tỷ lệ thất nghiệp của Mỹ từ mức 7,5% năm 1992 xuống thấp tới mức kỷ lục 4% năm 2000 Trong khi tỷ lệ thất nghiệp trung bình của EU những năm gần đây luôn ở mức cao hơn 10% Bội thu ngân sách là một thành tựu nổi bật của nền kinh tế Mỹ, năm
1999 Mỹ bội thu ngân sách là 2,3% GDP (221 tỷ USD)2 Thế nhưng từ đầu năm 2001, kinh tế Mỹ rơi vào tình trạng suy thoái phần lớn do ảnh hưởng của
sự kiện 11/9, tốc độ tăng trưởng GDP năm 2001 chỉ đạt 0,3% trong khi năm
2000 là 5,2% Đến đầu năm 2002 nền kinh tế Mỹ bắt đầu phục hồi, GDP đạt 10.446,2 tỷ USD, tốc độ tăng trưởng GDP là 2,58% Tháng 5/2003 mức độ chi tiêu đã tăng thêm 11 tỷ USD là dấu hiệu đáng mừng đối với các công ty làm ăn trên đất Mỹ3
Bảng 1: Các chỉ số kinh tế cơ bản của Mỹ
GDP ngang giá sức mua : 10.082 tỷ USD (2001)
GDP/người theo PPP (2001): 36.300 USD
Mức tăng trưởng kinh tế:2,8% (2002); 5% (2000)
Tỷ lệ lạm phát (2000): 3,4%
Lực lượng lao động (2000): 140,0 triệu người ( bao gồm cả số lao động thất nghiệp )
Tỷ lệ thất nghiệp: 5% (2002); 4% (2000)
Ngân sách (1999): Thu 1.828 ngàn tỷ USD/ Chi 1.703 ngàn tỷ USD
Nợ nước ngoài (1995): 852 tỷ USD
Tỷ lệ tăng trưởng sản xuất (2000): 5,6%
Cơ cấu kinh tế: Nông nghiệp 2%, công nghiệp 18%, dịch vụ 80%
2
Tạp chí Châu Mỹ ngày nay, trang 4, số 1/2001
3 Nguồn: www.vcci.com.vn/xuctienthuongmai/hosothitruong/Mỹ.asp
Trang 17 Các ngành công nghiệp chính: xăng dầu, thép, ô tô, vũ trụ, viễn thông, hoá chất, điện tử, chế biến lương thực thực phẩm, hàng tiêu dùng, khai mỏ
Các sản phẩm nông nghiệp chính: lúa mì, các loại ngũ cốc khác, ngô,hoa quả, bông , thịt bò, thịt lợn, gia cầm, sản phẩm sữa, lâm sản, cá
Nguồn: Cục xúc tiến thương mại-Bộ thương mại Việt Nam
Mỹ có nền kinh tế dịch vụ rất phát triển Dịch vụ chiếm đến 80% trong khi công nghiệp chiếm 18% và nông nghiệp chỉ chiếm 2% trong cơ cấu kinh
tế của Mỹ Dịch vụ đóng góp đến 75% GDP của Mỹ Theo dự tính của các nhà kinh tế Mỹ đến năm 2010 dịch vụ sẽ đóng góp vào GDP 93% Phát triển nhất là các dịch vụ như: vận tải, thương mại, tài chính, bảo hiểm, bất động sản, dịch vụ tư vấn, quản lý pháp luật và pháp luật kinh doanh, y tế
Mỹ có nền kinh tế phát triển ở trình độ cao Đây là nước đi đầu trong việc khám phá và phát triển ngành công nghệ cao như: công nghệ thông tin, công nghệ vũ trụ, sản xuất ô tô, máy bay, y học Chi phí của Mỹ cho khoa học kĩ thuật là cao nhất thế giới Năm 1992, Mỹ chi 79.4 tỷ USD trong khi thế giới còn lại chi 87.9 tỷ USD Đây chính là yếu tố quan trọng thúc đẩy nền kinh tế Mỹ phát triển đạt năng suất cao
4.2 Ngoại thương Mỹ
Nước Mỹ có một nền ngoại thương rất phát triển Từ năm 1999 đến
2002, xuất khẩu hàng năm đạt gần 1000 tỷ USD và nhập khẩu từ 1200 đến
1400 tỷ USD
Bảng 2: Kim ngạch xuất nhập khẩu của Mỹ từ năm 1999-2002
Tổng kim ngạch xuất khẩu 957,1 1064,2 998,0 973,0
Tổng kim ngạch nhập khẩu 1219,4 1442,9 1356,3 1408,2
Nhập khẩu hàng hoá 1030,0 1224,4 1145,9 1166,9
Tổng cán cân thương mại -262,2 -378,7 -358,3 -435,2
Cán cân thương mại hàng hoá -346,0 -452,4 -427,2 -484,4
Trang 18Cán cân thương mại dịch vụ 83,8 73,7 68,9 99,1
Nguồn: US census Bureau
Tuy rằng năm 2001 kim ngạch xuất nhập khẩu của Mỹ có giảm đi so với những năm trước đó do những tác động của suy thoái kinh tế thế giới và
sự phục hồi không chắc chắn, không ổn định của nền kinh tế Mỹ Đặc điểm của cán cân thương mại Mỹ gần đây là thường xuyên bị thâm hụt chứng tỏ
Mỹ là nước phần lớn là nhập siêu (xem bảng 2) Năm 2002 Mỹ đã xuất khẩu vào Trung Quốc đạt 21,1 tỷ USD trong khi đó nhập khẩu từ Trung Quốc là 125,1 tỷ USD Nhập khẩu của Hoa Kỳ từ các nước Tây Âu cũng đều lớn hơn xuất khẩu4 Tuy nhiên sự thâm hụt đó cũng bù đắp được phần nào bởi thặng
dư trong trao đổi thương mại về dịch vụ Bảng 2 cho thấy cán cân thương mại dịch vụ của Mỹ trong năm 1999 đến năm 2002 đều đạt thặng dư, năm 2001 chỉ đạt 68,9 tỷ USD so với 83,8 tỷ USD của năm 1999 và năm 2002 đạt 99,1
tỷ USD là một dấu hiệu khả quan của sự phục hồi kinh tế Mỹ
Các mặt hàng xuất khẩu chính của Mỹ là: máy móc thiết bị chiếm 32%, các mặt hàng công nghiệp chiếm 25%, thiết bị vận tải chiếm 16%, hoá chất chiếm 10%, lâm sản chiếm 9% và các hàng hoá khác chiếm 7% Mỹ là nước nổi tiếng có thế mạnh trong việc xuất khẩu các mặt hàng công nghệ cao nhưng những mặt hàng tiêu dùng của Mỹ cũng có sức cạnh tranh không nhỏ, chỉ đứng thứ hai thế giới sau Singapo
Những mặt hàng nhập khẩu của Mỹ chủ yếu là: máy móc, công cụ chiếm 30%, hàng tiêu dùng 20%, ô tô và phụ tùng ô tô chiếm 15%, nhiên liệu chiếm 10%, các mặt hàng nguyên vật liệu cho công nghiệp chiếm 10%, nhóm các mặt hàng lương thực, thực phẩm, đồ uống chiếm 5%, còn lại là các mặt hàng khác chiếm 10% Đây chính là một thị trường đấy tiềm năng cho tất cả các quốc gia
Hiện nay Mỹ có quan hệ buôn bán với 230 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới, trong đó Canađa, Mêhicô, Trung Quốc và Nhật Bản là những bạn
4 Thời báo kinh tế số 147 ra ngày 13/9/2003, trang 11
Trang 19hàng lớn nhất Việt Nam đứng thứ 56 nếu tính theo kim ngạch hai chiều, nếu tính riêng xuất khẩu thì Việt Nam đứng thứ 34
II KHÁI QUÁT VỀ THỊ TRƯỜNG MỸ
1 Nhu cầu của thị trường Mỹ
Mỹ là đất nước có diện tích lớn hơn 9 triệu km2, số dân hơn 281 triệu người với tổng thu nhập quốc dân năm 2002 là 10.446,2 tỷ USD, thu nhập bình quân đầu người là 37.175 USD được đánh giá là một thị trường lớn nhất toàn cầu5
Ở Mỹ, người ta đánh giá giá trị của một con người qua cách thức cá nhân đó tiêu dùng chứ không phải qua thu nhập và tiết kiệm được bao nhiêu Điều này đã ăn sâu và trở thành một khía cạnh văn hoá Mỹ Vì vậy mà người dân Mỹ tuy làm ra rất nhiều của cải nhưng họ cũng tiêu nhiều không kém, hàng năm tiêu dùng chiếm đến 70% GDP của Mỹ và tỷ lệ tiết kiệm đã có lần tụt xuống mức âm (vào năm 1998)
Vì vậy mà hàng năm Mỹ phải nhập khẩu khoảng trên 1 nghìn tỷ USD để thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của người dân trong nước Những mặt hàng mà thị trường Mỹ có nhu cầu nhập khẩu với khối lượng lớn là hàng công nghiệp chế tạo, quần áo, giày dép, thuỷ sản, nông sản, và các sản phẩm nguyên nhiên liệu như sắt, thép, gỗ, dầu thô Đây là những mặt hàng mà Mỹ gần như đứng hàng đầu thế giới về giá trị nhập khẩu
Bảng 3: Một số mặt hàng nhập khẩu lớn nhất của Mỹ từ năm 1998-2002
Đơn vị: Triệu USD
Trang 20Thị trường Mỹ được coi là một thị trường độc đáo, tự do, mang tính
“mở” nhất thế giới Tính quốc tế của thị trường này được hiểu theo nghĩa dễ dàng chấp nhận hàng hoá từ bên ngoài vào khi các hàng hoá đó đáp ứng được đòi hỏi đa dạng của thị trường này Vì vậy đây là một điểm đến hấp dẫn cho tất cả các nước trên thế giới
Gần đây, nhu cầu của thị trường Mỹ có một số biến động và suy giảm do
sự kiện 11/9 làm kinh hoàng nước Mỹ và do sự suy thoái chung của nền kinh
tế thế giới Nhưng sau những nỗ lực của chính phủ và người dân Mỹ, năm
2003 đã có những dấu hiệu khả quan cho thấy mức tiêu dùng của Mỹ đã dần hồi phục trở lại Sức mua của quý I năm 2003 đã tăng 2% so với quý I năm
2002 là dấu hiệu của sự phục hồi này6
2 Tập quán và thị hiếu tiêu dùng của người dân Mỹ
Tập quán tiêu dùng của người dân Mỹ xuất phát từ quan điểm: “giá trị của một cá nhân được đánh giá qua cách mà người đó tiêu dùng như thế nào “
đã hình thành nên một tâm lý tôn sùng tiêu dùng của người dân Mỹ khác hẳn với người Đức coi tiêu dùng là hành vi hoang phí, người Nhật coi tiết kiệm là hành vi quý tộc Điều này đã tạo nên tính hấp dẫn rất riêng của thị trường
Trang 21- Mỹ là quốc gia phát triển đứng hàng đầu thế giới nên việc mua sắm ở Mỹ cũng rất hiện đại Người dân Mỹ mua hàng chủ yếu thông qua hệ thống mạng lưới phân phối của các cửa hàng, siêu thị trên khắp đất nước Họ rất tin vào hệ thống các cửa hàng, đại lý bán lẻ tại Mỹ, nơi họ có sự đảm bảo về chất lượng, bảo hành và các điều kiện về vệ sinh an toàn khác Vì vậy mà một khi sản phẩm nào đó có được sự đảm bảo của các nhà phân phối có tiếng thì sẽ dễ dàng được người tiêu dùng Mỹ chấp nhận
- Giống như ở nhiều nước phát triển khác, khi mua hàng người Mỹ thường sử dụng thẻ tín dụng hoặc ngân phiếu Điều này tạo rất nhiều thuận lợi cho cả người bán và người mua vì sự nhanh gọn, an toàn và tiện lợi
- Người Mỹ rất tiết kiệm thời gian thể hiện ngay cả trong việc đi mua hàng
Họ thường có thói quen mua sắm với số lượng lớn để giảm thời gian đi lại nhiều lần cho công việc này
- Với tính cách và lối sống phóng khoáng, thích thay đổi nên thị hiếu của người Mỹ cũng rất ưa những mặt hàng mới lạ Điều này đòi hỏi hàng hoá phải được cải tiến liên tục về chủng loại, mẫu mã, vòng đời sản phẩm phải được nghiên cứu để rút ngắn hơn
- Đối với những hàng hoá thuộc phẩm cấp trung bình và thấp thì thị hiếu của người Mỹ nhìn chung chuộng những hàng có mẫu mã đơn giản, không cần cầu kỳ miễn là mới lạ, tiện dụng, và giá rẻ Điều này lý giải cho việc hàng hoá của Trung Quốc tuy chất lượng chưa cao những mẫu mã phong phú và giá rẻ lại bán được rất chạy ở Mỹ
- Cũng cần lưu ý rằng người Mỹ từ khi còn rất nhỏ đã luôn muốn khẳng định cái tôi của mình vì vậy mà họ cũng muốn tạo cho mình một cái riêng, khác người khác do đó mà người tiêu dùng Mỹ rất ưa chuộng sự độc đáo, mới lạ,
ấn tượng Họ có thể vô cùng tự hào vì nhà mình có những chiếc bát ăn cơm hay lọ hoa với hoa văn không ai có dù là nó rất đơn giản và không phải là hàng đắt tiền hoặc là họ có thể bỏ ra 12000 USD để mua chiếc đồng hồ nhãn hiệu cao cấp như Rolex nhưng họ cũng hài lòng không kém với chiếc đồng hồ
Trang 22Trung Quốc kiểu dáng lạ giá chỉ 12 USD dùng một thời gian rồi bỏ, thay mẫu mới
- Về ăn uống, người Mỹ thường dùng đồ ăn sẵn, đồ ăn nguội Ngoài ngũ cốc, rau quả, thì thịt và hải sản cao cấp là thức ăn chính Các loại hàng này thường được chế biến và đóng gói rất tiện lợi Tuỳ theo từng mặt hàng bao bì được thiết kế hấp dẫn, không cần quá cầu kỳ nhưng phải thuận tiện cho việc sử dụng và dễ tái chế nhằm tránh gây ô nhiễm môi trường
3 Hệ thống kênh phân phối trên thị trường Mỹ
Tại Hoa Kỳ có nhiều loại công ty lớn, vừa và nhỏ có các kênh thị trường khác nhau Các công ty lớn thường có hệ thống phân phối riêng và tự họ làm lấy tất cả các khâu từ nghiên cứu, sản xuất, tiếp thị, phân phối và tự nhập khẩu Các tập đoàn và các công ty lớn có tác động mạnh đến các chính sách của Chính phủ Còn các công ty vừa và nhỏ vận động xung quanh hệ thống thị trường và được Chính phủ hỗ trợ
Đối với loại công ty vừa và nhỏ họ có nhiều cách bán hàng nhập khẩu tại Hoa Kỳ Họ thường nhập khẩu hàng hoá về để bán tại Hoa Kỳ theo các cách phổ biến sau:
1.Bán xỉ cho các cửa hàng bán lẻ Hầu hết các loại hàng như: trang sức,
quần áo, đồ chơi, mỹ nghệ, tạp hoá đều có thể bán trực tiếp cho các nhà bán lẻ thông qua các nhà nhập khẩu hay người bán hàng có tính chất cá nhân và các công ty nhập khẩu hay các tổ chức buôn bán hàng hoá chuyên nghiệp Cách bán hàng này rất có hiệu quả khi hàng hoá có nhu cầu mạnh và có lợi nhuận cao Nhìn chung nếu ngành hàng đa dạng đủ đáp ứng hết các chủng loại liên quan thì càng có hiệu quả hơn
2 Bán cho nhà phân phối Thay bằng bán hàng cho người bán lẻ các
doanh nghiệp có thể bán hàng cho các nhà phân phối vì họ có hệ thống phân phối rộng khắp khu vực nào đó hoặc nằm trong nhóm ngành công nghiệp nào
đó Họ có khả năng bán hàng nhanh chóng trong thời gian ngắn Nhưng cách này doanh nghiệp sẽ phải chia sẻ bớt lợi nhuận của mình cho các nhà phân
phối
Trang 233 Bán trực tiếp cho các nhà công nghiệp Các công ty này có thể làm
được khi các nhà máy công xưởng trực tiếp mua hàng của một số thương nhân nhỏ ở nước sở tại khi họ không có điều kiện để mua trực tiếp của các nhà xuất khẩu nước ngoài hoặc mua qua các nhà nhập khẩu trong nước
4 Bán xỉ qua đường bưu điện Có một số sản phẩm nhỏ và không đắt
lắm có thể bán theo cách này qua một số trung gian bán buôn Cách này có lợi
là bán hàng theo diện rất rộng và không phải qua khâu trung gian phân phối hay bán buôn
5 Bán lẻ qua đường bưu điện Có một số nhà nhập khẩu không cần qua
trung gian mà họ trực tiếp gửi bưu kiện đến cho người mua Để làm được cách này phải có hệ thống nghiên cứu thị trường chuẩn xác và có hiệu quả cao Thiết kế được thị trường một cách chi tiết
6 Một số nhà nhập khẩu bán hàng theo catalog qua các nhà buôn theo
kiểu này hay trực tiếp lập ra các công ty để bán hàng theo catalog Chìa khoá cho phương thức này là phải biết được địa chỉ của người hay công ty có nhu cầu thường xuyên về mặt hàng mình kinh doanh
7 Bán lẻ: Nhà nhập khẩu tự tổ chức việc nhập khẩu và bán lẻ hàng hoá
theo khả năng về thị trường của mình và tự gánh chịu mọi rủi ro về nhu cầu của thị trường cũng như thu được toàn bộ lợi tức do nhập khẩu mang lại Khi nhập khẩu họ phải biết được xu hướng thị trường và phải tự làm lấy hết mọi
việc trong mọi khâu buôn bán là điều chứa đựng nhiều rủi ro lớn
8 Bán hàng qua các cuộc trưng bày hàng hoá trên các kênh truyền hình
là hình thức mới và phải có hàng tức thời và bán theo giá công bố
9 Bán hàng trực tiếp cho các nhà máy công xưởng với các điều kiện
giống như đã bán cho các nhà bán buôn bán lẻ
10 Làm đại lý bán hàng Có một số người Mỹ có quan hệ tốt cả hai
chiều với nhà thương nhân nước ngoài và hệ thống phân phối bán buôn bán lẻ trong nước thì họ thường làm đại lý cho nước ngoài để khỏi phải lo khâu tài chính cho kinh doanh Họ chỉ cần đưa ra điều khoản L/C chuyển nhượng là có thể giải quyết được việc này
Trang 2411 Bán hàng qua “buổi giới thiệu bán hàng” (Bali Imports Party) Một
số nhà nhập khảu mua một số lượng nhỏ hàng hoá về rồi mời người thân quen đến dự buổi giới thiệu bán hàng luôn tại chỗ Có một số nhà nhập khẩu trả hoa hồng cho ai đứng ra tổ chức và giới thiệu bạn hàng cho họ
12 Bán hàng ở ngoài chợ trời (Flea Market) Có hãng lớn đã từng tổ
chức nhập khẩu và bán hàng ở ngoài chợ trời với quy mô lớn và diện rộng khắp cả nước Cách làm này đòi hỏi phải có quan hệ rộng với người bán hàng của nhiều nước khác nhau và phải trả một phần lợi tức cho người bán hàng Cách này yêu cầu phải đặt giá trực tiếp đến người tiêu dùng
13 Bán hàng qua các hội chợ triển lãm tại Mỹ Có người mua hàng về
kho của mình và quanh năm đi dự các hội chợ triển lãm khắp nước Mỹ để tìm kiếm các đơn đặt hàng tại quầy rồi về gửi hàng cho người mua theo đường bưu điện, phát chuyển nhanh Cách này chỉ có thể làm ở quy mô nhỏ với hàng đặc chủng, hàng mới và giá cao
14 Bán hàng qua hệ thống Internet như dạng Amazon.com
Hệ thống kênh phân phối hàng hoá nhập khẩu trên thị trường Mỹ là rất
đa dạng và phong phú nhưng xu hướng chung ngày nay là vai trò của các nhà trung gian phân phối như những người chuyên nhập khẩu, người bán buôn ngày càng giảm Thay vào đó, các nhà sản xuất và những người bán lẻ ngày càng tăng cường đặt các đơn hàng trực tiếp đến các nhà xuất khẩu nước ngoài, phần để giảm chi phí trung gian, phần để đảm bảo hơn về chất lượng hàng Vì vậy mà các nhà xuất khẩu Việt Nam cũng cần lưu ý đến vấn đề này
để loại dần những thói quen xuất khẩu qua những trung gian như: Singapo, Thái Lan mà tìm cách trực tiếp tiếp cận bạn hàng Mỹ để giới thiệu quảng bá
và bán sản phẩm của chính mình
4 Hoạt động cạnh tranh trên thị trường Mỹ
Thị trường Mỹ là một thị trường mang tính mở và rất đề cao sự tự do nên nó đón nhận hàng hoá từ hầu hết các nước trên thế giới Nó là địa chỉ lý tưởng cho các nhà xuất khẩu từ tất cả các nước, từ nước phát triển đến cả những nước kém phát triển miễn là hàng hoá họ cung cấp thoả mãn những
Trang 25nhu cầu đòi hỏi của thị trường Mỹ Do đó, một điều dễ hiểu là mức độ cạnh tranh trên thị trường Mỹ cực kỳ gay gắt Các doanh nghiệp nước ngoài không những phải chịu áp lực cạnh tranh với các công ty, doanh nghiệp nội địa của
Mỹ mà họ còn phải đối mặt với rất nhiều đối thủ xuất khẩu đến từ các nước khác nhau Cùng một loại hàng nhưng cũng có rất nhiều nhà cung cấp, cùng một vùng thị trường nhưng cũng có rất nhiều đối thủ cùng muốn chiếm giữ
Vì vậy mà tuy nước Mỹ có rộng lớn, số dân đông với thu nhập cao nhưng tính cạnh tranh ở đây quyết liệt hơn bất cứ thị trường nào
Hơn nữa, tính cạnh tranh gay gắt còn thể hiện trong quan điểm cạnh tranh của người Mỹ Một khi đã cạnh tranh thì các doanh nghiệp Mỹ cho rằng chỉ có thắng hoặc thua chứ không có khái niệm hoà Mục tiêu của các doanh nhân Mỹ luôn là việc giành chiến thắng chứ không thể nhân nhượng Các doanh nghiệp luôn tìm cách cải tổ chứ ít khi chịu thoả hiệp Hàng hoá do đó
mà luôn được thay đổi, cải tiến để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng và doanh nghiệp có được vị thế cạnh tranh, tiếp tục tồn tại và phát triển
Môi trường cạnh tranh gay gắt là vậy song người Mỹ cũng rất tôn trọng yếu tố công bằng Pháp luật Mỹ cũng quy định chặt chẽ các điều khoản ràng buộc các doanh nghiệp nhằm tạo ra một sân chơi bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh Hàng hoá nước ngoài được nhập vào thị trường Mỹ nếu phát hiện là có hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh như: trợ giá, bán phá giá hay vi phạm bản quyền thì bị phạt rất nặng theo luật bồi thường thương mại có liên quan của Mỹ Ngoài ra để chống lại xu hướng độc quyền Chính phủ Mỹ cũng thông qua những cơ chế lập pháp như :” Luật uỷ ban thương mại liên bang” và đạo luật chống “Tơrơt Sherman” để hạn chế tối đa xu hướng độc quyền của các công ty, tập đoàn kinh tế lớn trên đất Mỹ nhằm đem lại môi trường cạnh tranh dân chủ lành mạnh
Tóm lại, phần I và II của chương I đã phần nào cho thấy đất nước, xã hội, con người Mỹ và đặc biệt là những nét cơ bản về thị trường Mỹ như: nhu cầu, thị hiếu, hệ thống kênh phân phối, môi trường cạnh tranh Vì mục đích của đề tài là nghiên cứu thị trường Mỹ để tìm ra cơ hội và thách thức nhằm
Trang 26giúp các doanh nghiệp thâm nhập thị trường Mỹ một cách hiệu quả nên phần III của chương này tác giả muốn đề cập tới mối quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Mỹ những năm gần đây nhằm làm tiền đề để tiếp tục nghiên cứu những phần sau
III QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT- MỸ NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
1 Một số điểm mốc quan trọng trong quan hệ thương mại Việt Nam –
Mỹ
Ngày 3/2/1994: Mỹ tuyên bố bãi bỏ cấm vận đối với Việt Nam
Ngày 11/7/1995: Tổng thống Mỹ Bill Clinton tuyên bố bình thường hoá quan hệ với Việt Nam
Ngày 10/3/1998: Tổng thống Mỹ tuyên bố miễn áp dụng điều luật bổ sung Jackson Vanik- điều luật hạn chế một số quyền lợi kinh tế tài chính đối với các nước mà Mỹ cho là chưa có tự do di cư, đối với Việt Nam
Đến năm 1999, 2000 tiếp tục gia hạn miễn áp dụng điều luật bổ sung này Ngày 28/6/1997: Hai bên mở cơ quan tổng lãnh sự
Ngày 26/3/1998: Hai bên ký hiệp định về hoạt động của các cơ quan đầu tư tư nhân hải ngoại (OPIC) tại Việt Nam
Ngày 9/12/1999 : Ký hiệp định bảo lãnh khung và hiệp định khuyến khích dự án đầu tư giữa Ngân hàng nhà nước Việt Nam và Ngân hàng xuất nhập khẩu Hoa Kỳ (EXIMBANK)
Ngày 13/7/2000: Hiệp định thương mại song phương Việt Nam-Hoa
Kỳ được ký
Ngày 10/12/2001: Hiệp định thương mại song phương có hiệu lực
Những điểm mốc quan trọng đã ghi dấu từng bước quan hệ hai nước được cải thiện, nhất là những năm gần đây quan hệ thương mại Việt Nam-Mỹ
đã có những bước tiến triển rõ nét, đặc biệt là sự kiện Hiệp định thương mại Việt- Mỹ được kí kết đã mở ra một trang mới trong quan hệ hai nước Kim ngạch buôn bán hai chiều cũng vì thế mà gia tăng đáng kể và ngày càng có chiều hướng tốt đẹp hơn
Trang 272.Tình hình xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang Mỹ
2.1.Tình hình chung
Từ năm 1997 đến năm 2001, xuất khẩu từ Việt Nam vào Mỹ tăng trưởng bình quân 27%/năm, trong khi tổng kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng ở mức 20% (theo Bộ thương mại Việt Nam ) Vào năm 2001, trước khi Hiệp định thương mại Việt- Mỹ có hiệu lực, thị trường Mỹ chỉ chiếm khoảng 7% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam Với kim ngạch khoảng 1 tỷ USD trong năm 2001, xuất khẩu của Việt Nam chỉ chiếm 0,2% tổng kim ngạch nhập khẩu của Mỹ từ các nước phát triển
Năm 2002, năm đầu tiên sau Hiệp định thương mại Việt- Mỹ, mức thuế trung bình đánh vào tất cả các loại hàng hoá của Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ chỉ còn là 3-4% so với mức thuế trung bình không có Tối huệ quốc 40% trước đây Theo đó, kim ngạch xuất khẩu vào Mỹ của Việt Nam tăng hơn gấp đôi từ 1,05 tỷ USD lên khoảng trên 2,4 tỷ USD (tăng 128%) trong khi tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước chỉ tăng 10% Trên thực tế khoảng 90% gia tăng của tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam năm 2002 là do sự tăng trưởng xuất khẩu sang Mỹ Theo đà tăng trưởng này, trong 6 tháng đầu năm 2003 kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường Mỹ đã tiếp tục tăng và đạt 2,24 tỷ USD Các chuyên gia của Bộ thương mại Việt Nam đã dự đoán kết quả năm 2003 Việt Nam có thể xuất khẩu vào thị trường Mỹ đạt 4,5 tỷ USD, tăng 90% so với năm 2002
Như vậy cho thấy thị trường Mỹ đang dần trở thành một thị trường quan trọng bậc nhất đối với Việt Nam với sự gia tăng đáng kể kim ngạch xuất khẩu theo từng năm và nhất là sau khi BTA được ký kết Sự tăng trưởng đột ngột của kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Mỹ trong năm đầu tiên thực hiện BTA là dấu hiệu mở ra một giai đoạn phát triển mạnh mẽ của xuất khẩu Việt Nam vào thị trường Mỹ
Trang 28388 553 609
822 1053
2395
0 500 1000 1500 2000 2500
Nguồn: Số liệu thương mại của Uỷ ban Thương mại quốc tế Hoa Kỳ thu thập từ Bộ
Thương mại Hoa Kỳ
2.2 Tình hình xuất khẩu một số mặt hàng
Hàng hoá của Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Mỹ đã ngày càng tăng về kim ngạch đặc biệt là sau khi Hiệp định thương mại Việt- Mỹ được ký kết Những mặt hàng chủ lực xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ như: hàng hoá chưa chế biến, may mặc, giày dép, thuỷ hải sản, đồ gỗ đã tăng lên nhanh chóng và hứa hẹn tiềm năng sinh lợi đáng kể trên thị trường Mỹ
H µng cha
ch Õ biÐn
Nguồn: Số liệu của USITC thu thập từ Bộ Thương mại Hoa Kỳ
Trang 29Khác với cơ cấu xuất khẩu của nhiều nước đang phát triển khác, đặc biệt là các nước châu Á xuất khẩu vào thị trường Mỹ chủ yếu bao gồm hàng công nghiệp chế tạo, Việt Nam xuất khẩu hàng hoá vào Mỹ chủ yếu là các sản phẩm chưa chế biến, hàng công nghiệp chế tạo chỉ chiếm dưới 25% tổng kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ Hàng chưa chế biến của Việt Nam xuất khẩu vào
Mỹ luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường này: năm 1999 với kim ngạch 209 triệu USD chiếm 34,3% và
kỷ lục là năm 2001 chiếm 77,8%, đến năm 2002 tỷ lệ này đã giảm xuống nhưng vẫn ở mức cao là 41,5% Nguyên nhân cũng xuất phát từ việc trước khi ký kết Hiệp định thương mại nhiều hàng công nghiệp chế tạo xuất sang
Mỹ của Việt Nam chịu mức thuế xuất cao hơn từ 5-10 lần so với thuế quan của Mỹ dành cho các nước khác nên chỉ có một tỷ trọng nhỏ hàng công nghiệp chế tạo xuất khẩu của Việt Nam đi vào thị trường này (7% trong năm 2001) vì vậy mà cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ lại nghiêng về hàng chưa chế biến Tuy nhiên sau khi được hưởng quy chế Tối huệ quốc, mức thuế hàng công nghiệp chế tạo từ 46,7% xuống còn 3,8% thì hàng công nghiệp chế tạo của Việt Nam xuất sang Mỹ đã tăng đột biến từ 233 triệu USD lên đến 1.400 triệu USD (xem biểu đồ 2) Sau đây là phân tích một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang Mỹ trong một vài năm trở lại đây:
Nhóm hàng dệt may
Đây là mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ liên tục tăng nhanh kể
từ khi lệnh cấm vận được bãi bỏ, kim ngạch xuất khẩu năm 2002 tăng 3362%
so với năm 1997 Tuy nhiên nếu nhìn vào cơ cấu hàng xuất khẩu thì ta lại thấy một thực trạng là tỷ trọng kim ngạch hàng dệt may xuất khẩu sang Mỹ liên tục giảm từ năm 1996 đến năm 2001: từ 6,7% xuống còn 4,5% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ Nhưng đến đầu năm 2002, năm đầu tiên BTA có hiệu lực thì tỷ trọng hàng may mặc đã tăng vọt lên 37,6% và được đánh giá là thành công nhất tại thị trường Mỹ thời gian qua Và tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu dệt may sang Mỹ đã tăng chóng mặt, từ 2% năm 2001 lên đến 1775% năm 2002 (xem bảng 4)
Trang 30Bảng 4: Kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam sang Mỹ từ năm
Nguồn: Số liệu của USITC thu thập từ Bộ thương mại Hoa Kỳ
Nguyên nhân chính là do đây là mặt hàng Việt Nam có lợi thế về giá nhân công và là mặt hàng có chênh lệch giữa mức thuế MFN và MFN khá lớn (trung bình khoảng 40%) nên khi Hiệp định thương mại Việt- Mỹ được ký, nhóm hàng này được hưởng mức thuế phi MFN và nhanh chóng thâm nhập thị trường Mỹ hiệu quả mặc dù Việt Nam mới bị Mỹ áp đặt hạn ngạch
Nhóm hàng thuỷ sản
Từ trước đến nay thị trường truyền thống tiêu thụ thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam là Nhật và EU nhưng bắt đầu từ khi Hiệp định thương mại được ký kết, Việt Nam bắt đầu khai thác thị trường Mỹ và mức tăng trưởng vượt xa dự kiến 29% ( năm 2002) kim ngạch xuất khẩu đạt mức khá cao: 616 triệu USD khiến ngay cả phía Mỹ cũng bày tỏ sự lo ngại đối với thị trường của họ Vì vậy mà vụ kiện cá tra, cá basa gần đây đã phần nào làm tiến độ xuất khẩu thuỷ sản của ta sang thị trường này có phần chững lại
Bảng 5: Kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang Mỹ từ năm
Trang 31Những mặt hàng thuỷ sản chủ yếu của Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ gồm nhóm hàng tôm và nhóm hàng cá Nhóm hàng tôm chiếm 75% trị giá xuất khẩu của Việt Nam trên thị trường này Năm 2000 Việt Nam xuất khẩu tôm sang Hoa Kỳ tăng hơn 2 lần so với năm 1999, đạt giá trị trên 200 triệu USD Năm 2001, Việt Nam đứng thứ 8 trong tổng số 50 nước cung cấp tôm cho thị trường này Nhóm hàng cá, trước khi có vụ kiện xảy ra trị giá xuất khẩu cá tra và cá basa của Việt Nam đạt gần 60 triệu, đứng dầu trong số các nước cung cấp loại sản phẩm cá này cho thị trường Hoa Kỳ
rẻ của nhân công Việt Nam để làm hàng gia công xuất khẩu nên kim ngạch xuất khẩu cao nhưng phần lớn lợi nhuận thực của phía Việt Nam lại thấp so với các nhóm hàng xuất khẩu khác
Những năm trước khi Hiệp định thương mại được ký kết nhóm hàng này thường đứng đầu trong số các mặt hàng xuất khẩu sang Mỹ bởi các kênh phân phối khép kín sẵn có của các hãng nổi tiếng thế giới như Nike, Reebok và một
số công ty có trụ sở tại Mỹ Sau khi BTA có hiệu lực, thì cũng như những mặt hàng chủ lực khác kim ngạch xuất khẩu hàng giày dép cũng tăng đáng kể, tốc
độ tăng trưởng là 70% vào năm 2002 nhưng do mang lại lợi nhuận còn thấp
so với những nhóm mặt hàng khác nên tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của nhóm hàng này đã giảm từ 12,5% (năm 2001) xuống 9,4% (năm 2002) trong khi giá trị kim ngạch xuất khẩu tuyệt đối vẫn tăng (xem bảng 5)
Bảng 6: Kim ngạch xuất khẩu giày dép của Việt Nam sang Mỹ từ năm
1997-2002
Đơn vị: Triệu USD
Trang 32Việt Nam xuất khẩu sản phẩm đồ gỗ chủ yếu là những mặt hàng trang trí bên ngoài, bàn ghế ngoài trời chiếm đến 60-70% trong tổng số
Lợi thế lớn nhất của Việt Nam trong mặt hàng này là giá nhân công rẻ, đội ngũ nhân công địa phương có tay nghề khá
Năm 2003, dự đoán kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam sẽ đạt 540 triệu USD và Mỹ trở thành nước nhập khẩu sản phẩm gỗ lớn thứ 2 của Việt Nam sau thị trường EU
Ngoài ra những sản phẩm khác xuất khẩu sang thị trường Mỹ đều tăng đáng kể và hứa hẹn tiềm năng sinh lợi đáng kể trong những năm tới bao gồm hàng điện tử (đã tăng trưởng 270%), hàng hoá du lịch (5422%), cao su thô (300%) và các hàng công nghiệp chế tạo khác (847%)
3.Tình hình xuất khẩu của Mỹ vào Việt Nam
Mức tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu của Mỹ vào Việt Nam cũng đã tăng lên rõ rệt trong những năm gần đây, từ mức -2,3% năm 1998 lên đến 25,8% năm 2002 (xem bảng 6) Đây là mức tăng trưởng phù hợp với mức của những năm trước, nhưng tốc độ tăng trưởng này cao hơn nhiều so với tổng
Trang 33mức xuất khẩu của Mỹ và nhanh hơn so với tổng mức nhập khẩu là 20% của Việt Nam trong năm 2002
Bảng 7: Tình hình xuất khẩu của Mỹ vào Việt Nam từ năm 1997-2002
Đơn vị: Triệu USD
Kim ngạch xuất khẩu của
Mỹ vào Việt Nam
Tốc độ tăng trưởng (%) x -2,3 5,6 26,4 25,3 25,8 Nhập khẩu từ Mỹ/ tổng NK
của Việt Nam (%)
Nguồn: Số liệu của Uỷ ban Thương mại quốc tế Hoa Kỳ
Điều đáng nói là sau khi ký Hiệp định thương mại, xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Mỹ tăng nhanh hơn xuất khẩu của Mỹ vào Việt Nam vì những cơ hội mở rộng xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ lớn hơn nhiều so với
cơ hội tăng xuất khẩu của Mỹ vào Việt Nam Nguyên nhân sâu xa của vấn đề này là:
Thứ nhất: BTA dẫn đến giảm hàng rào thương mại đối với hàng hoá
Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Mỹ nhiều hơn so với việc giảm hàng rào thương mại đối với hàng hoá Mỹ vào Việt Nam
Thứ 2: Sự chênh lệch về quy mô rất lớn giữa hai nền kinh tế, trong đó
GDP của Việt Nam chỉ tương đương với phân nửa của 1% GDP của Mỹ Do vậy mà Mỹ có thể trở thành thị trường chủ yếu cho hàng xuất khẩu của Việt Nam, nhưng Việt Nam sẽ chẳng bao giờ là thị trường xuất khẩu có tầm quan trọng tương đương đối với hàng hoá xuất khẩu của Mỹ
Khối lượng hàng nhập khẩu từ Mỹ vẫn còn ở mức rất thấp so với mức tiêu biểu của một nước đang phát triển như Việt Nam Mỹ cung cấp chưa tới 3% hàng nhập khẩu của Việt Nam, kim ngạch chưa bằng 25% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào Mỹ
Xét về cơ cấu nhập khẩu, ngược lại với cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ chủ yếu là hàng chưa chế biến, Việt Nam lại nhập khẩu từ Mỹ chủ yếu là hàng công nghiệp chế tạo
Trang 34BiÓu ® å 3 : Tû trä n g h µn g x u Êt k h Èu tõ M ü
Nguồn: Số liệu do Uỷ ban Thương mại quốc tế Hoa Kỳ thu thập từ Bộ Thương mại Hoa Kỳ.
Đây là mặt hàng luôn chiếm tỷ trọng cao nhất, gần tới 80% tổng kim ngạch xuất khẩu của Mỹ vào Việt Nam Hàng công nghiệp chế tạo phần lớn là máy móc, thiết bị vận tải, chiếm tới 75% Tỷ trọng hàng chưa chế biến luôn đứng ở con số khiêm tốn, trung bình chiếm khoảng 20% tổng kim ngạch xuất khẩu và chủ yếu là thực phẩm, sợi dệt
Gần đây, tỷ trọng hàng công nghiệp chế tạo đang có xu hướng giảm, năm 1999 là 86% đến năm 2000 là 80% và năm 2001 giảm xuống còn77% (xem biểu đồ 3), điều này cũng đồng nghĩa với tỷ trọng hàng chưa chế biến đang tăng dần lên Xu hướng này sẽ không có lợi cho Mỹ vì giá trị xuất khẩu của hàng chưa chế biến thấp hơn nhiều so với hàng công nghiệp chế tạo, hơn nữa mặt hàng chưa chế biến cũng đang là mặt hàng mà Việt Nam có nhiều lợi thế trong sản xuất và xuất khẩu
Tóm lại, Mỹ là một quốc gia trẻ, đông dân, có thể chế chính trị khá ổn
định và đặc biệt có một nền kinh tế hùng mạnh Thị trường Mỹ với dung lượng lớn, thị hiếu đa dạng là điểm đến lý tưởng cho các nhà xuất khẩu nước ngoài và cũng do đó mà mức độ cạnh tranh trên thị trường này rất gay gắt Vì vậy mà các doanh nghiệp Việt Nam khi thâm nhập thị trường Mỹ sẽ có được những cơ hội to lớn cũng như phải đối mặt với những thách thức không nhỏ
Trang 35Đây là những vấn đề chính được tác giả nghiên cứu cụ thể trong chương tiếp theo.
Trang 37CHƯƠNG II: CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC KHI DOANH NGHIỆP
VIỆT NAM THÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG MỸ
I CƠ HỘI KHI DOANH NGHIỆP VIỆT NAM THÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG MỸ
Thị trường Mỹ đã và đang là điểm đến hấp dẫn của nhiều quốc gia và không loại trừ Việt Nam, thị trường Mỹ cũng đang mở ra rất nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam Cùng với những cơ hội khách quan xuất phát từ nhu cầu lớn và thị hiếu phong phú của người tiêu dùng mỹ thì Việt Nam còn
có thuận lợi do lợi ích thuế quan mà Hiệp định thương mại Việt-Mỹ đem lại Ngoài ra, Việt Nam còn có rất nhiều lợi thế trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực sang Mỹ và những lợi thế do cộng đồng người Việt ở Mỹ mang lại
1 Nhu cầu lớn và thị hiếu phong phú của người tiêu dùng Mỹ
Nhu cầu và thị hiếu luôn là yếu tố mà các doanh nghiệp quan tâm khi thâm nhập vào bất cứ thị trường nào Thị trường Mỹ, một thị trường mang nét đặc trưng riêng với nhu cầu vô cùng lớn và thị hiếu phong phú đã mang đến
cơ hội cho các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp Việt Nam nói riêng Đây là cơ hội tồn tại mang tính khách quan nhưng lại rất quan trọng vì nó là động cơ chính để các doanh nghiệp Việt Nam nỗ lực tìm cách thâm nhập thị trường Mỹ
1.1.Nhu cầu
1.1.1.Nhu cầu chung
Với dân số chiếm gần 5% tổng dân số thế giới, quy mô tổng thu nhập quốc dân hàng năm gần bằng 33,3% tổng thu nhập của cả thế giới, người dân
Mỹ được xem là dân có sức tiêu dùng lớn nhất trong các nước có nền công nghiệp phát triển Theo nghiên cứu của một nhóm chuyên gia Liên Hợp Quốc thì nếu sức tiêu dùng của một gia đình Nhật, EU là 1 thì của các gia đình Mỹ
là 1,7
Vì vậy mà nền kinh tế Mỹ tuy phát triển đứng vào hàng đầu thế giới, có thể tự tạo nên khả năng cung cấp hàng hoá dồi dào không những cho thị
Trang 38trường nội địa mà còn xuất khẩu sang hầu hết các nước trên thế giới nhưng yêu cầu về nhập khẩu hàng hoá từ các nước khác để thoả mãn nhu cầu trong nước còn lớn hơn nhiều so với khả năng xuất khẩu Điều này lý giải tình trạng nhập siêu liên tục của Mỹ trong suốt mấy thập kỷ qua (xem bảng 8)
Bảng 8: Kim ngạch xuất nhập khẩu của Mỹ từ năm 1994-2000
Đơn vị: tỷ USD
Kim ngạch XK 584,7 625,1 689,2 682,9 835,6 978,6 Kim ngạch NK 770,8 822,1 870,6 913,8 1.124,7 1.314,5 Tổng 1.355,6 1.447,1 1.559,8 1.596,8 1.960,4 2.293,1 Thâm hụt 138,6 176,6 186,1 230,8 289,1 355,9
Nguồn:International Financial Statistics, tháng 7/1998
Và http://www.state.gov/
Trong thập kỷ 90, trung bình hàng năm Mỹ bị thâm hụt khoảng 212 tỷ USD và tỷ lệ thâm hụt luôn theo chiều hướng gia tăng năm sau cao hơn năm trước, theo tính toán các con số thống kê năm 2000 tỷ lệ này đã tăng 256% so với năm 1995 Người ta lo ngại rằng vụ khủng bố 11/9/2001 sẽ làm ảnh hưởng rất lớn và lâu dài tới sức mua của thị trường Mỹ nhưng nền kinh tế Mỹ
đã phục hồi nhanh chóng và sức mua đã ổn định trở lại thể hiện ở con số kim ngạch nhập siêu của Mỹ năm 2002 là 435 tỷ USD ( theo US Census Bureau) Với tổng kim ngạch nhập khẩu năm 2002 là 1408 tỷ USD, Mỹ đã nhập khẩu lớn gấp 4 lần kim ngạch nhập khẩu của Nhật Bản (306 tỷ USD), một nước mà người dân cũng có thu nhập GDP đứng thứ hai thế giới và gấp 8 lần của Trung Quốc (65,8 tỷ USD), một nước có dân số đông nhất thế giới
Nhu cầu lớn của thị trường Mỹ không chỉ xuất phát từ dân số đông, thu nhập cao mà còn từ tính cách phóng khoáng và tâm lý chuộng tiêu dùng của người dân Mỹ Nhiều tác giả, trong đó nhà nông học Pháp René Dumont, nhấn mạnh rằng nếu toàn bộ hành tinh chúng ta tiêu thụ năng lượng như nhịp
độ của người dân Mỹ thì sản lượng dầu mỏ tăng gấp 3 lần, sản lượng than đá tăng gấp 10 lần và số lượng nhà máy điện hạt nhân tăng lên gấp 60 lần Một
Trang 39tính toán khác: để phục vụ cho 5,6% nhân khẩu thế giới đang sống ở Mỹ phải mất khoảng 40% tổng khối lượng nguyên liệu toàn thế giới
Ngoài ra thị trường Mỹ còn rất đa dạng với nhiều tầng lớp dân cư, không quá khắt khe về chất lượng Chính sách thương mại của Mỹ lại rất rộng mở trừ một số ít mặt hàng có hạn ngạch như dệt may, nông sản đã tạo nên một thị trường thông thoáng mang tính quốc tế Vì vậy mà thị trường Mỹ là địa chỉ
lý tưởng của hàng hoá tất cả các nước trên thế giới, từ các nước phát triển như Canađa, Mêhicô đến các nước đang phát triển như Ấn Độ, Trung Quốc và đến
cả các nước nghèo như Campuchia, Bangladesh đều có thể xuất khẩu được hàng hoá vào Mỹ
1.1.2.Nhu cầu đối với một số nhóm hàng cụ thể
Như phần trên đã phân tích, thị trường Mỹ quả thực là một thị trường có dung lượng khổng lồ Và đây là một cơ hội cho tất cả các quốc gia, nhưng xét
cụ thể đối với Việt Nam thì cơ hội đó thể hiện thông qua nhu cầu của Mỹ đối với một số nhóm mặt hàng: nhóm hàng dệt may, hàng thuỷ sản, nhóm hàng giày dép vì đây cũng chính là những mặt hàng mà Việt Nam có nhiều thế
mạnh
Nhóm hàng dệt may
Mỹ là nước đứng đầu thế giới về nhập khẩu hàng dệt may trong đó nhập khẩu hàng may mặc gấp 4 lần hàng dệt Kể từ năm 1990, nhập khẩu hàng dệt may của Mỹ tăng cao và liên tục nên tỷ trọng nhập khẩu của Mỹ trong tổng giá trị nhập khẩu dệt may của thế giới cũng tăng lên Năm 1996, giá trị nhập khẩu hàng dệt may chiếm hơn 25% tổng giá trị nhập khẩu của thế giới với mức nhập khẩu bình quân cho mỗi người Mỹ là 140 USD/ năm
Bảng 9: Nhập khẩu hàng dệt may và quần áo của Mỹ từ năm 1998- 2002
Đơn vị: Triệu USD
Trang 40Tình hình nhập khẩu nhóm mặt hàng trên của Mỹ tăng đều trong thập kỷ
90 nhưng bắt đầu giảm từ năm 2000 Tốc độ giảm đã tăng dần từ -4,2% năm
2000 lên đến -43% năm 2001 và đến năm 2002 thì tình trạng này đã dần được phục hồi, mức giảm xuống còn -35% Đây gần như là tình trạng chung của các mặt hàng nhập khẩu của Mỹ do ảnh hưởng của cuộc suy thoái kinh tế Mỹ mấy năm gần đây Tuy nhiên dù kim ngạch nhập khẩu so với các năm trước
có giảm đi nhưng so với các quốc gia nhập khẩu hàng dệt may trên thế giới
Mỹ vẫn đứng ở vị trí số 1
Về quần áo, Mỹ chủ yếu nhập quần áo sơ mi đan móc của phụ nữ, quần
áo nam, áo sơ mi nam và hàng dệt kim Năm 2002, tỷ lệ này trong tổng kim ngạch nhập khẩu hàng quần áo của Mỹ lần lượt là: 13,5%; 11%; 6,6% Đây là điểm thuận lợi cho Việt Nam vì hiện nay các doanh nghiệp xuất khẩu dệt may của Việt Nam đang chủ yếu xuất sang Mỹ những mặt hàng này (trừ hàng dệt kim)
Nhóm hàng thuỷ sản
Theo số liệu thống kê của tổ chức Nông lâm thế giới (FAO), hàng năm
Mỹ nhập khẩu mặt hàng thuỷ sản có giá trị trên 7 tỷ USD, trong đó có nhiều phần nhóm thuộc mặt hàng này Mỹ nhập với số lượng và giá trị lớn nhất thế giới Người tiêu dùng Mỹ hàng năm chi khoảng 50 tỷ USD cho các loại thuỷ hải sản,trong đó 32 tỷ USD mua qua các cơ sở chế biến thực phẩm và 18 tỷ USD mua qua các cửa hàng bán lẻ Mỗi người Mỹ hàng năm tiêu dùng khoảng 14,9 pound hàng thuỷ sản so với 10,3 pound những năm 60 và 12,5 pound những năm 80 Mức tiêu dùng hàng thuỷ sản của người Mỹ sẽ còn có triển vọng tăng vì hiện nay người dân Mỹ đã ý thức được rằng thuỷ sản là loại thực phẩm tốt cho sức khoẻ và ít chứa các loại chất béo
Cá hộp là loại thuỷ sản được tiêu thụ nhiều nhất ở Mỹ với mức khá ổn định trong nhiều năm gần đây là 4,4-4,5 lb/người/ năm trong đó cá ngừ là loại được ưa thích với mức tiêu thụ 3,4 lb/ người / năm Mặt hàng tiêu thụ lớn thứ hai là tôm đông lạnh với mức tiêu thụ bình quân là 3,19 / người trong năm
1996 và tăng lên mức 3,59 lb/ người trong năm 1998 Ngoài ra, các loại có