Trong việc duy trì và mở rộng thị trường rau quả cần chú ý khai thác những sản phẩm cây trồng đặc sản truyền thống...77 3.1.2.2.Định hướng kim ngạch, thị trường và mặt hàng rau quả xuất
Trang 1Khóa luận tốt nghiệp
Phương hướng mục tiêu và các giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh xuất khẩu rau quả trong thời gian
tới ( 2005-2010)
Trang 2MỤC LỤC
* LỜI NÓI ĐẦU 1
Tính cấp thiết của đề tài 2
Mục tiêu của đề tài 2
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
Phương pháp nghiên cứu và thu thập thông tin 2
Cấu trúc của khoá luận 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU RAU QUẢ CỦA VIỆT NAM 4
1.1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU RAU QUẢ CỦA VIỆT NAM 4
1.1.1. Vài nét giới thiệu về ngành rau quả việt nam 4
1.1.2 Đặc điểm của ngành sản xuất và xuất khẩu rau quả 6
1.1.2.1 Đặc điểm sản phẩm 7
1.1.2.2 Đặc điểm về vật tư nguyên liệu 7
1.1.2.3 Đặc điểm về tổ chức sản xuất 7
1.1.2.4 Đặc điểm vận chuyển bảo quản 7
1.1.2.6 Đặc điểm về giá cả 8
1.1.3 Vai trò vị trí của sản xuất và xuất khẩu rau quả 8
1.1.3.1 Vị trí của rau quả đối với đời sống 8
1.1.3.2 Vai trò vị trí của rau quả trong nền kinh tế quốc dân 9
1.1.4 Lợi thế của việt nam trong xuất khẩu rau quả 11
1.1.4.1 Về điều kiện tự nhiên 11
a Về mặt địa lý sinh thái 11
b Về đất đai 12
1.1.4.2 Về nguồn nhân lực 12
1.1.4.3 Xu thế chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng xuất khẩu hiện nay .13
1.2 TỔNG QUAN VỀ CÁC NHÂN TỐ CHỦ YẾU ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU RAU QUẢ Ở VIỆT NAM 15
1.2.1 Khái quát chung 15
1.2.2 Phân loại các nhân tố ảnh hưởng 15
CHƯƠNG 2: NHỮNG NHÂN TỐ CHỦ YẾU ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU RAU QUẢ CỦA VIỆT NAM 19
2.1 THỰC TRẠNG SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU RAU QUẢ Ở VIỆT NAM 19
2.1.1 Tình hình sản xuất quả 19
Trang 32.1.2.Tình hình sản xuất rau 23
2.1.3 Chế biến và bảo quản rau quả 25
2.1.3.1 Hệ thống bảo quản rau quả 25
2.1.3.2 Hệ thống chế biến rau quả 26
2.1.4 Thực trạng xuất khẩu rau quả 27
2.1.4.1 Kim ngạch xuất khẩu 28
2.1.4.2 Thị trường xuất khẩu rau quả 30
2.1.4.3 Nhóm hàng, mặt hàng xuất khẩu 39
2.2 CÁC NHÂN TỐ CHỦ YẾU ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XUẤT KHẨU RAU QUẢ Ở VIỆT NAM .42
2.2.1 Nhân tố bên trong 42
2.2.1.1 Tình hình tài chính 43
a Vốn và khả năng huy động vốn của doanh nghiệp 43
b Vốn vay 45
c Công tác liên doanh 47
d Quản lý tài chính 48
2.2.1.2 Lực lượng lao động 48
2.2.1.3 Trình độ phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật về ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, chế biến để xuất khẩu .50
2.2.1.4 Nguyên vật liệu 51
2.2.1.5 Hệ thống trao đổi và xử lý thông tin 53
2.2.1.6 Nhân tố quản trị doanh nghiệp 54
a Sản phẩm ( Product) 55
b Giá cả ( Price) 57
c Phân phối ( Place) 58
d Chiến lược xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh (promotion) 59
2.2.1.7 Văn hoá doanh nghiệp 62
2.2.2 Nhân tố bên ngoài 63
2.2.2.1 Môi trường quốc tế .63
a Tình hình kinh tế chính trị xã hội quốc tế nói chung 63
b Tình hình sản xuất và xuất khẩu rau quả thế giới 64
2.2.2.2 Môi trường pháp lý 66
2.2.2.3 Môi trường văn hoá - xã hội 68
2.2.2.4 Môi trường khoa học công nghệ 69
2.2.2.5 Môi trường kinh tế .70
2.2.2.6 Cơ sở hạ tầng 73
2 2.2.7.Liên kết giữa các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu rau quả 73
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG MỤC TIÊU VÀ CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU TRONG THỜI KỲ( 2005-2010) 75
Trang 43.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN XUẤT KHẨU RAU QUẢ ĐẾN NĂM 2010 75
3.1.1 Chủ trương của Đảng và Nhà nước về xuất khẩu rau quả 75
3.1.2 Định hướng phát triển xuất khẩu rau quả đến năm 2010 75
3.1.2.1 Một số quan điểm định hướng về duy trì và mở rộng thị trường xuất khẩu rau quả .75
a Đẩy mạnh tiêu thụ hàng hoá trước hết cần đa dạng hoá trong sản xuất, đa phuơng hoá trong tìm kiếm thị trường tiêu thụ rau quả 76
b Trong việc duy trì và mở rộng thị trường rau quả cần chú ý khai thác những sản phẩm cây trồng đặc sản truyền thống 77
3.1.2.2.Định hướng kim ngạch, thị trường và mặt hàng rau quả xuất khẩu 77
a Kim ngạch xuất khẩu rau quả 78
b Thị trường xuất khẩu 78
c Cơ cấu sản phẩm xuất khẩu 79
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU RAU QUẢ 80
3.2.1 Giải pháp về phát triển sản xuất chế biến 81
3.2.2 Giải pháp về phát triển thị trường xuất khẩu 81
3.2.3 Giải pháp về tổ chức lưu thông xuất khẩu rau quả 82
3.2.4 Giải pháp về vốn tài chính 82
3.2.6 Giải pháp về phát triển nguồn nhân lực 84
3.2.7.Giải pháp về Marketing-Mix 84
3.2.7.1 Sản phẩm (product) 84
3.2.7.2 Giá cả (price) 85
3.2.7.3 Phân phối (place) 86
3.2.7.4 Chiến lược xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh (promotion) 86
3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT 88
3.3.1 Một số kiến nghị đối với Nhà nước 88
3.3.1.1 Trợ giúp các doanh nghiệp xuất khẩu rau quả 88
3.3.1.2 Thực hiện chính sách gắn bảo hộ với chiến lược xuất khẩu 89
3.3.1.3 Tài trợ cho xuất khẩu 89
3.3.1.4 Đơn giản hoá thủ tục xuất khẩu 90
3.3.1.5 Tăng cường công tác xuất khẩu 90
3.3.2 Về phía doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất khẩu 91
* KẾT LUẬN 93 Phụ lục 1: Dự kiến kim ngạch xuất khẩu rau quả đến năm 2005 và năm 2010
Trang 5Phụ lục 2: Một số chỉ tiêu chủ yếu của các loại sản phẩm phục vụ xuất khẩu Phụ lục 3: Kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam sang các nước trên thế
giới
Phụ lục 4: Thị trường xuất khẩu chính của vegetxco
Phụ lục 5 : Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu chính
Phụ lục 6: Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu sang thị trương Nhật Bản của
Vegetxco
Phụ lục 7:Kim ngạch xuất khẩu của các đơn vị
* TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6
LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Với ưu thế về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý và nguồn lao động, Việt Nam có tiềm năng lớn về sản xuất các loại rau quả mà thị trường thế giới có nhu cầu như chuối, vải, dứa, xoài, nhãn, chôm chôm…và một số loại rau có giá trị kinh tế cao như dưa chuột, khoai tây, cà chua… Những năm trước đây, khi còn thị trường Liên Xô và các nước trong khối SEV, năm cao nhất Việt Nam đã xuất khẩu được khối lượng rau quả tươi và rau quả chế biến trị giá 30 triệu Rúp (năm 1988) Từ khi đất nước chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, do thị trường truyền thống bị thu hẹp, thị trường mới còn đang trong giai đoạn thử nghiệm, chưa ổn định, hơn nữa chất lượng, mẫu mã, giá cả sản phẩm chưa đáp ứng yêu cầu của thị trường nên kim ngạch xuất khẩu rau quả đạt được còn thấp Nếu so sánh kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam với một số nước Châu Á có tiềm năng về sản xuất các loại rau quả như nước ta thì kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam còn rất thấp Điều đó chứng tỏ tiềm năng lớn về xuất khẩu rau quả chưa được khai thác
Bước đầu tìm hiểu nguyên nhân hạn chế khả năng xuất khẩu rau quả cho thấy ngoài lý do biến động thị trường xuất khẩu truyền thống thì một nguyên nhân quan trọng khác là chưa có giải pháp hữu hiệu phát huy thế mạnh của các thành phần kinh tế tham gia tích cực vào hoạt động sản xuất, chế biến, lưu thông xuất khẩu rau quả, chưa đánh giá đúng mức lợi thế của nó trong lĩnh vực xuất khẩu
Do đó, việc nghiên cứu và tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu rau quả ở Việt Nam để từ đó đề ra những giải pháp hợp lý nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu rau quả của Việt Nam trong thời gian tới là rất
Trang 7cấp thiết, nhằm phát huy tiềm năng, thế mạnh của mọi thành phần kinh tế trong lĩnh vực kinh doanh xuất khẩu rau quả, góp phần tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, góp phần nâng cao vị thế của sản phẩm nông nghiệp nước ta trên thị trường quốc tế Hơn nữa, phát triển nhanh thị trường xuất khẩu rau quả của Việt Nam không chỉ là mối quan tâm của Đảng, Chính phủ, Bộ thương mại, mà đồng thời đây cũng là đòi hỏi bức xúc của người sản xuất kinh doanh xuất khẩu rau quả hiện nay
2 Mục tiêu của đề tài
Đề tài: Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu rau quả ở Việt Nam sẽ nghiên cứu, chỉ ra những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu rau quả và nhân tố nào quyết định năng lực cạnh tranh của ngành rau quả Việt Nam, đồng thời đề xuất một số giải pháp cấp bách trước mắt nhằm thúc đẩy nhanh hoạt động xuất khẩu rau quả của Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Khoá luận tập trung nghiên cứu những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến
hoạt động xuất khẩu rau quả ở Việt Nam, trong đó có đề cập đến thực trạng xuất khẩu rau quả của Việt Nam trong những năm qua; nghiên cứu về kim ngạch xuất khẩu, thị trường xuất khẩu, cơ cấu xuất khẩu; nghiên cứu năng lực cạnh tranh của ngành rau quả Việt Nam; nghiên cứu các giải pháp chủ yếu thúc đẩy xuất khẩu một số sản phẩm rau quả chủ yếu có lợi thế ở Việt Nam trong thời gian tới
4 Phương pháp nghiên cứu và thu thập thông tin
Khoá luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: Thống kê, phân tích-so sánh, tổng hợp, đánh giá, dự báo, bảng biểu, phân tích kinh tế vĩ mô và thu thập thông tin trên 3 hướng chính:
Trang 8*Thông qua tài liệu sẵn có được tích luỹ trong thời gian học tập, kết hợp với những thông tin và tài liệu của một số cơ quan ( Bộ thương mại, Tổ chức nông nghiệp - Lương thực thế giới, Viện kinh tế thế giới, Tổng công ty rau quả Việt Nam, Thư viện quốc gia…)
*Sử dụng thông tin và kết qủa nghiên cứu trong lĩnh vực về sản xuất nông nghiệp của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
*Tham gia ý kiến đóng góp của các thầy giáo trong trường
5 Cấu trúc của khoá luận
Khoá luận được trình bày gồm 3 chương chính:
Chương 1: Tổng quan về tình hình sản xuất và xuất khẩu rau quả của Việt Nam
1 Chương 2: Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu rau quả ở Việt Nam
Chương 3: Phương hướng mục tiêu và các giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh xuất khẩu rau quả trong thời gian tới ( 2005-2010)
Trang 9CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU
RAU QUẢ CỦA VIỆT NAM
1.1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU RAU QUẢ CỦA VIỆT NAM
1.1.1 Vài nét giới thiệu về ngành rau quả Việt Nam
Việt Nam là nước nông nghiệp có khoảng 10 triệu ha đất nông nghiệp Trong đó khoảng 6 triệu ha cây hàng năm Nằm trải dài trên 15 vĩ tuyến, có địa hình cao thấp khác nhau tạo ra vùng sinh thái đa dạng: đồng bằng, ven biển, trung du, cao nguyên, miền núi với khí hậu nhiệt đới điển hình và có vùng khí hậu giao thoa giữa các dạng khí hậu
Bảng 1.1: Một số thông số về thời tiết khí hậu
Số giờ nắng bình quân trong năm
Số giờ mưa bình quân trong năm
Nhiệt độ trung bình trong năm
Trang 10Miền nam 2416 2018 27,5ºC
Nguồn : Niên giám thống kê qua các năm
Đó là môi trường rất tốt cho việc trồng cây ăn quả và rau mầu nhiệt đới
và Á nhiệt đới Đất đai có nhiều loại rất phong phú, do đó thuận lợi cho phát triển nông nghiệp Việt Nam nói chung và rau quả nói riêng Nhờ đó mà sản phẩm rau quả ở Việt Nam rất phong phú, mùa nào vật ấy Nước ta không chỉ
có nhiều giống rau quả nhiệt đới mà còn có nhiều loại rau quả ôn đới Nhờ có nhiệt độ khá thích hợp, trình độ thâm canh cao, rau quả của Việt Nam có chất lượng khá tốt, chưa kể đến các loại quả kén đất đã tạo nên những vùng rau quả đặc sản như vải thiều Hải Hưng, nhãn lồng Hưng Yên…
Rau quả nước ta có mặt ở hầu khắp các tỉnh, thành phố với quy mô chủng loại khác nhau Trải qua quá trình sản xuất lâu dài đã hình thành những vùng sản xuất rau quả có tập quán sản xuất và kinh nghiệm truyền thống trong các điều kiện sinh thái riêng Từ sau giải phóng, sự chỉ đạo của nhà nước đã thúc đẩy nhiều vành đai rau xanh cung cấp cho các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, TP HCM
Mấy thập kỷ qua cùng với sự phát triển của nền nông nghiệp Việt Nam, ngành sản xuất rau quả đã có những bước phát triển quan trọng Nó đã góp phần không nhỏ trong tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản của Việt Nam và giải quyết việc làm cho hàng chục vạn lao động ở nông thôn, tạo ra một tập quán canh tác qui mô công nghiệp ở những vùng trồng cây xuất khẩu Tuy nhiên, nhìn chung sản xuất rau quả ở Việt Nam còn mang tính tự cung tự cấp, chưa có những loại chủ lực được đầu tư lớn, chất lượng chưa ổn định, năng suất còn thấp, giá thành chưa cao, chưa áp dụng được tiến bộ khoa học vào qui trình sản xuất và sau thu hoạch, kỹ thuật chế biến bảo quản lạc hậu, chưa tiếp cận được với khoa học kỹ thuật tiên tiến của thế giới do đó đã làm ảnh
Trang 11hưởng đến công nghệ chế biến rau quả, rau quả khó có thể cất giữ lâu để bán
ở trên thị trường
Tại Việt Nam hầu hết các nhà chế biến rau quả được xây dựng và đã sử dụng 20 đến 30 năm, máy móc thiết bị đã cũ kỹ và lạc hậu, sản phẩm làm ra không đủ sức cạnh tranh về chất lượng và các tiêu chuẩn chất lượng kỹ thuật
mà thị trường thế giới yêu cầu Vì vậy việc xây dựng mới những nhà máy chế biến rau quả là hết sức cần thiết và sẽ đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ các loại rau quả, các vùng nguyên liệu một cách hiệu quả và tinh tế nhất
Trong giai đoạn hiện nay, tuy ngành rau quả xuất khẩu không phải là một hoạt động kinh tế mũi nhọn, mang lại sự phát triển vượt bậc cho đất nước nhưng nó vẫn đang và sẽ là một hoạt động kinh tế có hiệu quả, phù hợp với nguồn lực hiện có của đất nước, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập quốc dân, nâng cao uy tín về chất lượng sản phẩm hàng Việt Nam trên thị trường quốc
tế, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển
1.1.2 Đặc điểm của ngành sản xuất và xuất khẩu rau quả
Sản phẩm rau quả là một mặt hàng xuất khẩu thuộc nhóm hàng thực phẩm và là hàng xuất khẩu quan trọng của Việt Nam Sản phẩm rau quả rất giàu Vitamin và khoáng chất cung cấp đều đặn cho con người hàng ngày trong cuộc sống Để đảm bảo những đặc tính của nó thì phải giữ được tươi và tinh chất riêng đầy đủ của mỗi loại, đây là một số vấn đề hết sức khó khăn và nan giải đối với mỗi quốc gia, đặc biệt là đối với những nước đang phát triển
và chậm phát triển như Việt Nam, bởi vì nó đòi hỏi một ngành công nghiệp chế biến và bảo quản tốt thì mới đáp ứng được yêu cầu đó Trong khi đó nếu không kịp thời thu hoạch bảo quản và chế biến thì chất lượng của hàng hoá sẽ rất nhanh bị giảm sút bởi vì một nhược điểm lớn nhất của mặt hàng này là
"sáng tươi - trưa héo - chiều thối" Điều này đòi hỏi sản phẩm sau khi thu
Trang 12hoạch phải có một hệ thống lạnh đồng bộ khi thu hái, xử lý - vận chuyển và tiêu thụ
Đối với sản phẩm rau quả hộp tuy đã giải quyết được vấn đề bảo quản nhưng một vấn đề đặt ra là liệu các sản phẩm rau quả hộp có giữ được độ tươi ngon, tinh chất của rau quả tươi nữa không, thêm vào đó thì các sản phẩm rau quả hộp chỉ được bảo quản trong thời gian dài nhất là 1 tháng, đây là một đặc điểm khác biệt lớn nhất của mặt hàng rau quả đối với các mặt hàng khác Chính vì vậy mặt hàng rau quả cần được xuất khẩu nhanh, tiêu thụ nhanh Sản phẩm rau quả khác với các sản phẩm khác là ngay từ khâu chọn và
xử lý giống để gieo trồng cho tới khâu cuối là thu hoạch - bảo quản - chế biến
- tiêu thụ Sản phẩm rau quả mang tính thời vụ nên hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu phải phụ thuộc vào thời điểm, thời gian, tiến độ sản xuất Nhìn chung, các loại sản phẩm rau quả cùng có một đặc điểm là có chu kỳ sản xuất ngắn Các sản phẩm rau quả được chế biến theo dây chuyền công nghệ ngay trong cùng một phân xưởng, thời gian công nghệ, thời gian chuẩn bị và vận chuyển tính cho một đơn vị sản phẩm là khá ngắn
Như vậy ta có thể rút ra một số điểm quan trọng của mặt hàng rau quả qua các mặt sau:
1.1.2.1 Đặc điểm sản phẩm
Sản phẩm rau quả cũng như các sản phẩm thực phẩm khác được sản xuất
ra không chỉ để đáp ứng nhu cầu ăn uống của con người hàng ngày, mà còn để phục vụ cho hoạt động xuất khẩu, cho nên yêu cầu quan trọng nhất đối với sản phẩm này là phải có giá trị dịnh dưỡng cao, tươi ngon, đảm bảo về chất lượng
vệ sinh an toàn thực phẩm Bên cạnh đó rau quả của ta phải đáp ứng được những yêu cầu chung như màu sắc hình dáng đồng đều, số lượng và chủng loại phong phú
1.1.2.2 Đặc điểm về vật tư nguyên liệu
Trang 13Mặt hàng rau quả được chế biến với nguyên liệu chính là các loại rau quả khác nhau Vì vậy các loại rau quả được dùng làm nguyên liệu chính phải đa dạng về chủng loại, chất lượng tốt, như vậy rau quả chế biến của ta mới đủ sức cạnh tranh với rau quả xuất khẩu của các nước khác
1.1.2.3 Đặc điểm về tổ chức sản xuất
Một yêu cầu đối với mặt hàng rau quả là phải giữ được đặc tính tự nhiên của nó vì vậy khi sản xuất chế biến phải chú ý đảm bảo giảm tới mức tối đa các chất hoá học, phụ gia Các sản phẩm khác nhau được chế biến trên cùng dây chuyền vì vậy phải đảm bảo độ tinh chất tính khoa học trình tự của từng loại rau quả Ngoài ra mặt hàng rau quả rất dễ thối, cho nên sau khi thu hoạch xong yêu cầu phải có hệ thống bảo quản tốt, với công nghệ bảo quản tiên tiến
1.1.2.4 Đặc điểm vận chuyển bảo quản
Để đảm bảo độ tươi ngon của sản phẩm yêu cầu công tác vận chuyển phải nhanh chóng kịp thời để đưa vào các cơ sở chế biến hoặc tiêu thụ ngay, đồng thời với những sản phẩm chưa tiêu thụ ngay phải tổ chức tốt công tác bảo quản để giữ được đúng tính chất tự nhiên của sản phẩm Việc vận chuyển bốc
dỡ phải đảm bảo không chỉ nhanh gọn mà cần phải chú ý sao cho hàng hoá không bị dập úng
1.1.2.5 Đặc điểm về giá cả
Yêu cầu chung về giá chào bán xuất khẩu hàng rau quả cũng như các mặt hàng khác đều chịu tác động của thị hiếu và biến động cung cầu Qua nghiên cứu nhiều hợp đồng xuất khẩu thì giá cả phải bao gồm giá bán = giá thành+ lợi nhuận Trong đó:
Giá thành gồm: Chi phí sản xuất, lãi tín dụng, các chi phí bảo quản vận chuyển
Phần lợi nhuận: tính tối thiểu 10% giá thành
Trang 14Từ những yếu tố trên ta có được giá chào bán tối thiểu đưa ra cho người mua Giá này trên thực tế được nâng cao hay hạ thấp tuỳ thuộc vào hoàn cảnh
cụ thể
Nói tóm lại, mặt hàng rau quả cũng như mặt hàng thực phẩm khác, nó đòi hỏi chất lượng của nguyên liệu và công nghệ chế biến cao Chính vì vậy việc sản xuất và xuất khẩu mặt hàng này phức tạp hơn các mặt hàng khác rất nhiều Hiểu biết về từng mặt hàng để có kế hoạch và biện pháp hữu hiệu để phát triển thị trường xuất khẩu là một yêu cầu cấp thiết của nước ta
1.1.3 Vai trò vị trí của sản xuất và xuất khẩu rau quả
1.1.3.1 Vị trí của rau quả đối với đời sống
Từ xa xưa, cha ông ta đã có câu: " Cơm không rau như đau không thuốc" Điều đó cho thấy, ngay từ khi khoa học chưa phát triển, mà chỉ với kinh nghiệm sống thực tế, người xưa đã khẳng định tính thiết yếu của rau quả đối với đời sống bình thường của mỗi con người Gần đây, khoa học dinh dưỡng
đã chứng minh tính thiết yếu của rau quả trong cơ cấu khẩu phần ăn hàng ngày đối với con người Qua việc phân tích, có thể kết luận rằng rau quả cung cấp cho cơ thể nhiều loại vitamin, khoáng chất dưới dạng dễ tiêu và an toàn cho sức khoẻ con người Các loại chất xơ của rau quả thực sự có tác dụng trong việc phân giải độc tố phát sinh trong quá trình tiêu hoá thức ăn đồng thời còn có tác dụng phòng được nhiều bệnh hệ tiêu hoá nói chung và đường ruột nói riêng
Xuất phát từ tính thiết yếu của rau quả đối với đời sống con người, nên trong các chương trình chăm sóc sức khoẻ cộng đồng nước ta, với sự tham gia
và tài trợ của các tổ chức quốc tế, vai trò của rau quả được đề cập như là yếu
tố cơ bản, đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng cho con người Đối với trẻ em rau quả cung cấp các loại vitamin và khoáng chất dễ hấp thụ, đảm bảo cho cơ thể có thể phát triển tốt Đối với người cao tuổi, nếu được ăn đầy đủ rau quả sẽ giúp
Trang 15cho cơ thể hấp thụ được nhiều Kali, ngoài ra sẽ giúp cơ thể thải được cholesterol thừa Nhờ vậy có thể tránh được các bệnh về tim mạnh, về đường tiêu hoá
Ngày nay, khoa học dinh dưỡng đã xếp rau quả là một trong bốn nhóm cơ bản cấu thành bữa ăn phù hợp của con người Bốn nhóm đó là: nhóm giàu chất bột ( gạo, mì ); nhóm giàu chất đạm( thịt, cá, sữa ); nhóm giàu chất béo (dầu ăn, bơ ); nhóm giàu vitamin và khoáng chất tự nhiên ( rau quả các loại) Như vậy, tính thiết yếu của rau quả trong cơ cấu bữa ăn hàng ngày của dân cư không chỉ được khẳng định bởi kinh nghiệm, bởi khẩu vị của mỗi con người, mà còn bởi sự phân tích chính xác của khoa học hiện đại
1.1.3.2 Vai trò vị trí của rau quả trong nền kinh tế quốc dân
Trong những năm sắp tới, để nâng cao đời sống nhân dân, để quá trình hội nhập vào nền kinh tế quốc tế đạt hiệu quả cao về kinh tế và xã hội, Việt Nam cần duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, cần giải quyết việc làm cho hàng triệu người đến tuổi lao động hàng năm trong khi nhu cầu có khả năng thanh toán trong nước chưa thể tiêu thụ hết lượng sản phẩm hàng hoá được tạo ra với tốc độ tăng trưởng cao hàng năm Đối với sản phẩm rau quả cũng trong tình trạng đó Những năm qua, sản phẩm rau quả chưa nhiều lắm, song
đã có tình trạng "thừa" sản phẩm Nếu tiếp tục khuyến khích sản xuất, nạn ế thừa sản phẩm sẽ có nguy cơ trầm trọng hơn Rất may là cùng với thị trường trong nước, còn có thị trường thế giới đang rộng mở Ngành rau quả đã tận dụng lợi thế đó bằng cách mở rộng hoạt động xuất khẩu rau quả, và hoạt động xuất khẩu rau quả đã giữ một vị trí quan trọng:
Thứ nhất, đẩy mạnh xuất khẩu rau quả chính là đòn bẩy để kích thích sản
xuất nông nghiệp phát triển, tạo thêm việc làm và tăng thu nhập cho người lao động trong nông nghiệp, nông thôn
Trang 16Thứ hai, cũng qua đẩy mạnh xuất khẩu rau quả, mới có thể khai thác hợp
lý các yếu tố nguồn lực nông nghiệp còn dạng tiềm năng Những yếu tố đó sở
dĩ chưa được khai thác, một mặt do cầu trong nước còn yếu, mặt khác thậm chí còn do trong nước không có nhu cầu
Thứ ba, đẩy mạnh xuất khẩu rau quả là đòn bẩy để thúc đẩy quá trình
chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng tiên tiến cơ cấu mà trong đó giá trị sản phẩm rau quả, các sản phẩm thực phẩm phi lương thực chiếm tỷ trọng ngày càng cao Trong điều kiện cơ chế mới, chúng ta đã có điều kiện để từ bỏ phương thức giải quyết vấn đề lương thực bằng mọi giá như trước kia Ngày nay, nông dân có thể trồng các cây trồng phi lương thực nhưng lại giải quyết được vấn đề lương thực với hiệu quả cao hơn Hàng vạn
hộ nông dân vùng trung du và miền núi phía Bắc đã trồng vải, trồng mận trên đất mà trước kia họ phải trồng sắn, ngô có hiệu quả kinh tế thấp và thông qua thị trường để chuyển rau quả thành lương thực Tuy nhiên quá trình chuyển hóa đó sẽ khó khăn, nếu sức mua quả của dân cư bị hạn chế ở mức thấp như ở nước ta hiện nay Với mức cầu đó, nếu tiếp tục trồng thêm cây ăn quả sẽ thừa ế sản phẩm Chúng ta có thể giải quyết được mâu thuẫn đó qua đường xuất khẩu các sản phẩm rau quả cho nông dân
Thứ tư, xuất khẩu rau quả góp phần tăng thêm nguồn thu ngoại tệ phục vụ
cho quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá nền kinh tế nước nhà Đồng thời cũng qua xuất khẩu rau quả, chúng ta có thể chuyển hoá sản phẩm có yêu cầu lao động với trình độ không cao lắm lấy sản phẩm có yêu cầu lao động với trình độ cao, đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hoá và hiện đại hoá nền kinh
tế đất nước
Như vậy xuất khẩu rau quả đã đem lại lợi ích nhiều mặt cho đất nước ta Thị trường thế giới về rau quả đang mở rộng, chúng ta có những lợi thế cơ bản để sản xuất và xuất khẩu rau quả, hơn nữa quá trình xuất khẩu rau quả còn
Trang 17đem lại lợi ích to lớn cho đất nước do vậy cần phải có được những giải pháp hợp lý để đẩy nhanh quá trình đó
1.1.4 Lợi thế của việt nam trong xuất khẩu rau quả
Việt Nam là một nước có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển ngành rau quả, không chỉ đảm bảo đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước, mà còn có khả năng xuất khẩu ra thị trường nước ngoài Những lợi thế làm bàn đạp phát triển ngành sản xuất rau quả thể hiện rõ nét trên các phương diện sau:
1.1.4.1 Về điều kiện tự nhiên
Về mặt địa lý sinh thái
Việt Nam nằm trên bán đảo Đông Dương kéo dài suốt sườn Đông & sườn Nam của bán đảo này chiếm phần lớn diện tích của bán đảo này Do vậy hình thành nhiều tiểu vùng khí hậu khác nhau, kể cả vùng hải đảo Tuy nhiên, nước
ta cũng có thể phân chia thành hai vùng khí hậu lớn: miền Nam từ đèo Hải Vân trở vào mang khí hậu nhiệt đới Nhất là Đà Lạt có khí hậu ôn hoà, nơi tập trung nhiều các loại rau quả cung cấp quanh năm cho thành phố Hồ Chí Minh cũng như cả nước Miền Bắc có khí hậu rất thuận lợi cho việc sản xuất rau xanh quanh năm Mùa hè, mùa thu có rau muống, rau dền, rau đay, đậu và các loại cây ăn quả như : mít, na, cam, nhãn, vải Mùa đông, mùa xuân rất thích hợp cho vùng rau ôn đới như: bắp cải, cà rốt, khoai tây, su hào, xúp lơ,
cà chua, cải Điều kiện khí hậu như vậy cho phép các tỉnh phía Bắc gieo trồng
và thu hoạch được sản phẩm cây vụ đông và cây trái vụ mà miền Nam và một
số nước trong khu vực không có Ngược lại, khí hậu miền Nam lại phù hợp với việc trồng các loại cây có nguồn gốc nhiệt đới quanh năm như: măng, xoài, thanh long, sầu riêng, nho, bưởi, chuối, măng cụt, dừa, hạt điều Nhìn chung nhờ điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa, lắm nắng nhiều mưa nên rau quả của nước ta rất đa dạng Chỉ tính riêng cây ăn quả hiện nay nước ta đã trồng trên 150 loài cây Có thể chia thành 3 nhóm chính: (1) nhóm nguồn gốc
Trang 18nhiệt đới có : chuối, xoài, dừa, đu đủ, mãng cầu, hồng xiêm (2) Nhóm nguồn gốc ôn đới như: lê, đào, mận, mơ (3) nhóm có nguồn gốc nửa nhiệt đới như: nhãn, vải, cam, hồng nước ta có những giống cây ăn trái đặc sản, không những nổi tiếng trong nước mà còn tín nhiệm ở thị trường nước ngoài như một số giống chuối, dứa, thanh long, xoài, vải, nhãn Đặc biệt là sản phẩm hạt điều
Với vị trí địa lý của Việt Nam, từ cảng biển, cảng sông lớn, cảng vận tải chỉ cần 3-5 giờ là đã có thể hoà nhập vào hệ thống đường biển quốc tế Từ các trục biển quốc tế này, tàu biển có thể đi đến vùng Đông Bắc Á, Trung Cận Đông, Châu Âu, Châu Mỹ rất tiện lợi Đó là điều kiện cơ bản để bố trí sản xuất một tập đoàn rau quả phong phú đáp ứng nhu cầu tiêu thụ nội địa và cho xuất khẩu
Về đất đai
Diện tích cả nước vào khoảng 330.363 km2 trong đó có tới 50% là đất nông nghiệp và ngư nghiệp Điều kiện khí hậu nhiệt đới: mưa nắng điều hoà
đã giúp cho đất đai trở nên màu mỡ và có độ ẩm lớn Hàng năm, mưa giông
có thể cung cấp cho đất một lượng đạm vô cơ là 10-16 kg/ha Đây là một thuận lợi đáng kể cho việc gieo trồng các loại rau và phát triển cây ăn quả Đặc biệt là các loại cây vừa ưa nhiệt vừa ưa ẩm như: chuối, dứa, xoài Thêm vào đó nước ta có một mạng lưới sông khá dày ( trên 2.860 sông ngòi) và phân bố tương đối đồng đều trên lãnh thổ
Với khí hậu thiên nhiên ưu đãi, địa hình thuận lợi, không chỉ giúp ta có tập đoàn rau quả phong phú, mà đó còn là điều kiện tốt để nâng cao chất lượng,
hạ giá thành sản phẩm rau quả Việt Nam trên thị trường quốc tế
1.1.4.2 Về nguồn nhân lực
Hiện nay, trong khu vực nông thôn Việt Nam, có khoảng trên 30 triệu người trong độ tuổi lao động với lực lượng lao động dồi dào về số lượng,
Trang 19trong điều kiện đất canh tác của ta rất ít, là một trong những lợi thế quan trọng
để phát triển ngành rau quả- một ngành sản xuất rất khó nâng cao trình độ cơ giới hoá Đây là lợi thế hơn hẳn các quốc gia công nghiệp phát triển Hơn nữa, trong xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới như hiện nay, hầu hết các yếu tố đầu vào của sản xuất nông nghiệp đều được quốc tế hoá- giá cả gần như cùng trên một mặt bằng, thì lợi thế về lao động nhiều, lao động rẻ đang được coi là lợi thế quan trọng trong sản xuất và xuất khẩu hàng hoá nói chung, rau quả nói riêng Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, lợi thế này sẽ mất đi cùng với quá trình hội nhập của nước ta Ngoài ra, lao động của nước ta đặc biệt là lao động nông thôn, chưa thể xoá được tập quán sản xuất nhỏ, tuỳ tiện trong việc áp dụng quy trình kỹ thuật sản xuất Hạn chế này nếu không khắc phục nhanh, sẽ rất khó đưa được sản phẩm rau quả vào thị trường có yêu cầu chất lượng sản phẩm cao
1.1.4.3 Xu thế chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng xuất khẩu hiện nay
Nền kinh tế của ta trước đây chủ yếu là nền kinh tế nông nghiệp, trong nông nghiệp chủ yếu là trồng trọt, trong đó ngành trồng cây lương thực gần như chiếm vị trí thống trị Trong nền nông nghiệp mà mọi nguồn lực đều tập trung cho sản xuất lương thực, thì những lợi thế khác hầu như không được khai thác, trong nhiều năm những lợi thế về sản xuất rau quả hàng hoá chỉ dừng lại ở trạng thái tiềm năng
Khi chuyển đổi cơ chế kinh tế, cơ chế quản lý kinh tế, các yếu tố nguồn lực trong ngành nông nghiệp được giải phóng Theo đó vấn đề lương thực đã được giải quyết một cách căn bản Nền kinh tế tự cấp được chuyển dần sang nền kinh tế hàng hoá-giá trị Từ đó đặt ra cho mọi vùng kinh tế một yêu cầu mới: tạo ra lượng giá trị lớn thay cho làm ra nhiều lương thực trên một đơn vị diện tích Yêu cầu đó đã giải thoát cho các cấp, các địa phương khỏi nhiệm vụ
Trang 20tự túc lương thực bằng mọi giá Nói cách khác phương thức tự túc lương thực
đã thay đổi, từ trực tiếp làm ra lương thực, đến chỗ gián tiếp làm ra lương thực Phương thức đó đã thúc đẩy các cấp, các địa phương chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá, khai thác hợp lý lợi thế tương đối của các vùng, các địa phương
Đảng và nhà nước ta đã nhìn thấy yêu cầu phải chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp Do vậy đã có nhiều chủ trương, chính sách khuyến khích chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp Chủ trương tự do hoá thương mại, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thuỷ lợi, giao thông, cung cấp tín dụng ưu đãi cho các vùng nông nghiệp giàu tiềm năng đã tạo điều kiện khai thác lợi thế của từng vùng, từng địa phương Như vậy, chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp vừa là phương thức, vừa là động lực của quá trình sản xuất nông nghiệp Nhờ có chủ trương chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp mà nhiều vùng đất ở trung du, miền núi trước đây làm lương thực khó khăn, nay
đã chuyển sang trồng các loại cây ăn quả có giá trị cao cho tiêu thụ nội địa và cho xuất khẩu Những vùng trồng rau ôn đới giàu tiềm năng như sông Hồng,
Đà Lạt sẽ vẫn được khai thác để đẩy mạnh xuất khẩu
Tóm lại, chủ trương thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp sẽ đẩy mạnh sản xuất hàng hoá, khai thác lợi thế tương đối của tất cả các vùng theo hướng xuất khẩu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tạo việc làm và tăng thu nhập cho dân cư thúc đẩy quá trình hội nhập vào nền kinh tế quốc tế của nước
ta Chủ trương này tuy không trực tiếp tạo ra sản phẩm hàng hoá cho xuất khẩu, nhưng lại tạo điều kiện để khai thác các yếu tố tiềm năng, khai thác những lợi thế thiên nhiên, kinh tế, xã hội phục vụ cho xuất khẩu Do đó, chủ trương thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá theo hướng xuất khẩu cũng được coi là lợi thế của nước ta trong sản xuất và xuất khẩu rau quả trong tương lai
Trang 21Tóm lại, lợi thế trong xuất khẩu rau quả của nước ta là cơ bản Những lợi thế về tự nhiên, lao động, đang từng bước trở thành hiện thực nhờ chủ trương chính sách đúng đắn của Đảng và nhà nước ta Trong những năm sắp tới, hiệu quả của chủ trương chính sách đó sẽ ngày càng rõ nét Trong đó, tăng trưởng ngày càng cao về sản xuất và xuất khẩu rau quả là xu thế tương đối chắc chắn
1.2 TỔNG QUAN VỀ CÁC NHÂN TỐ CHỦ YẾU ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU RAU QUẢ Ở VIỆT NAM
1.2.1 Khái quát chung
Hoạt động xuất khẩu nói chung và hoạt động xuất khẩu rau quả nói riêng chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều các nhân tố Những nhân tố này tác động đến toàn bộ quá trình xuất khẩu của một quốc gia nói chung và của các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu nói riêng Nó chi phối hoạt động xuất khẩu, ảnh hưởng gián tiếp cũng như trực tiếp đến hoạt động xuất khẩu, các nhân tố bao gồm cả nhóm nhân tố bên trong cũng như nhóm nhân tố bên ngoài, nhóm nhân tố chủ quan cũng như khách quan
1.2.2 Phân loại các nhân tố ảnh hưởng
Từ những hướng tiếp cận khác nhau ta có thể phân loại được nhiều nhóm
nhân tố khác nhau.Dưới đây là một số nhóm nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu nói chung và hoạt động xuất khẩu rau quả nói riêng
Căn cứ vào khả năng lượng hoá các nhân tố ảnh hưởng
- Nhân tố có thể lượng hoá
- Nhân tố phi lượng hoá
Từ góc độ doanh nghiệp, nhân tố có thể lượng hoá bao gồm rất nhiều nhóm như nhóm nhân tố giá, lượng, tỷ giá; nhóm nhân tố số lượng công nhân viên, thời gian làm việc, năng suất lao động;
Trang 22Từ góc độ một ngành sản xuất xuất khẩu, các nhân tố có thể lượng hóa được chú trọng phân tích hơn cả là nhóm nhân tố giá, lượng và tỷ giá
Nhân tố phi lượng hoá bao gồm chính sách, trình độ quản lý
Căn cứ vào phạm vi hoạt động
- Môi trường bên trong
- Môi trường bên ngoài
Môi trường bên trong bao gồm các nhân tố phản ánh những điều kiện hiện
có, sự nỗ lực chủ quan của doanh nghiệp, những chiến lược mà doanh nghiệp
sử dụng trong kinh doanh nhằm duy trì và mở rộng thị trường tiêu thụ Chúng được tựu chung trong đặc điểm kinh tế – kỹ thuật chủ yếu của doanh nghiệp ảnh hưởng tới duy trì và mở rộng thị trường tiêu thụ
(1) Nhóm nhân tố đầu vào: Bao gồm các nhân tố như: lao động, vốn, công nghệ thiết bị và nguyên nhiên vật liệu Những nhân tố này có ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng sản phẩm đầu ra, tới sức cạnh tranh về sản phẩm giữa các doanh nghiệp, tới khả năng duy trì và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp Cho nên những nhân tố này đóng một vai trò quan trọng trong việc quyết định lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường trong nước cũng như thị trường thế giới
(2) Nhóm nhân tố đầu ra: Bao gồm các nhóm nhân tố như mặt hàng, chủng loại, hình ảnh sản phẩm, giá cả Những nhân tố này đóng vai trò quyết định đến khả năng tiêu thụ và mở rộng thị trường của doanh nghiệp Các doanh nghiệp chỉ khi kinh doanh các mặt hàng mà đảm bảo cả về số lượng và chất lượng, mẫu mã giá cả, sản phẩm được thị trường tiêu dùng chấp nhận thì doanh nghiệp mới có thể duy trì và mở rộng thị trường tiêu thụ của mình
Trang 23Để duy trì và mở rộng thị trường xuất khẩu, hoạt động xuất khẩu không chỉ chịu tác động của môi trường bên trong mà còn chịu tác động của môi trường bên ngoài
Môi trường bên ngoài bao gồm:
(1) Nhân tố chính trị, pháp luật
Nhân tố chính trị, pháp luật bao gồm các nhân tố như: thể chế chính trị,
an ninh, hệ thống pháp luật, hành lang pháp lý Những nhân tố này quyết định thị trường tiêu thụ cho các doanh nghiệp xuất khẩu Một hành lang pháp lý ổn định, một hệ thống pháp luật đồng bộ sẽ tạo ra một sân chơi bình đẳng cho doanh nghiệp, đóng góp lớn vào nỗ lực duy trì và mở rộng thị trường tiêu thụ
Và ngược lại chúng sẽ không kích thích mà tạo ra nhiều mối đe dọa hơn là cơ hội làm cho công tác duy trì và mở rộng thị trường tiêu thụ gặp khó khăn hơn, rủi ro cao hơn
(2) Nhân tố kinh tế : Bao gồm ba nhân tố chủ yếu:
- Trạng thái tăng trưởng của nền kinh tế
- Tỷ giá hối đoái
- Lạm phát và thất nghiệp
Thông qua các chỉ tiêu trên ta có thể dự đoán hiệu quả kinh doanh cao hay thấp, cho ta biết khả năng tích luỹ thế nào? Và thông qua khả năng tích luỹ đầu tư ta có thể biết được môi trường kinh doanh có hấp dẫn không? Doanh nghiệp nên duy trì thị trường nào? Thu hẹp hay loại bỏ thị trường nào? (3) Môi trường văn hoá - xã hội:
Môi trường văn hoá - xã hội biến đổi chậm, sự đan xen pha trộn các nền văn hoá - xã hội của các dân tộc, các quốc gia với nhau diễn ra mạnh mẽ Đây là một lĩnh vực rất nhạy cảm, tinh tế đối với nhà kinh doanh ngày nay và tác động mạnh
Trang 24tới cơ cấu nhu cầu thị trường Nó đòi hỏi doanh nghiệp luôn phải quan tâm tới khách hàng, tới công tác nghiên cứu và mở rộng thị trường xuất khẩu
(4) Môi trường công nghệ
Ngày nay, có lẽ công nghệ là nhân tố có sự thay đổi năng động nhất trong các yếu tố môi trường kinh doanh Sự thay đổi này đem lại những thách thức
và nguy cơ đối với doanh nghiệp Sự tiến bộ của công nghệ tác động mạnh mẽ đối với sản phẩm, dịch vụ, thị trường, nhà cung cấp, nhà phân phối, khách hàng và cả vị thế cạnh tranh của các doanh nghiệp
Căn cứ vào góc độ yêu cầu quản lý
- Nhân tố chủ quan
- Nhân tố khách quan Các nhân tố chủ quan bao gồm:
Nguồn nhân lực (trình độ quản lý cán bộ công nhân viên, trình độ quản lý)
Vốn
Chất lượng sản phẩm
Chính sách của doanh nghiệp
Các nhân tố khách quan bao gồm:
Giá xuất khẩu
Chính sách:
- Chính sách trong nước tạo nền tảng cho doanh nghiệp phát triển
- Chính sách tập quán văn hoá của thị trường nhập khẩu
Cung, cầu:
- Cung: Đối thủ cạnh tranh, tình hình sản xuất
- Cầu: Tập quán, thị hiếu tiêu dùng, thu nhập
Trang 25Trên đây đã tiến hành phân loại các nhân tố ảnh hướng đến hoạt động xuất khẩu căn cứ theo nhiều tiêu thức khác nhau Đối với hoạt động xuất khẩu rau quả của Việt Nam, ta tiến hành phân tích các nhân tố ảnh hưởng căn cứ vào phạm vi hoạt động được xem là thích hợp nhất.((1)Phân loại theo giáo trình
Marketing của trường ĐHNT)
CHƯƠNG 2 NHỮNG NHÂN TỐ CHỦ YẾU ẢNH HƯỞNG ĐẾN
HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU RAU QUẢ CỦA VIỆT NAM
2.1 THỰC TRẠNG SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU RAU QUẢ Ở VIỆT NAM
Việt Nam nằm ở vùng Đông Nam châu Á, đất nước có chiều dài trên 15
vĩ độ, với hàng ngàn Km giáp biển Đông, thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió
Trang 26mùa, có mùa đông lạnh ở phía Bắc và miền núi, cùng với địa hình từ núi cao đến đồng bằng, đã tạo nên những lợi thế về địa lý, sinh thái so với các nước trong khu vực Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, cả nước ta có khoảng 930.000 ha trồng rau và cây ăn quả, sản lượng trung bình đạt khoảng 14,3 triệu tấn/năm, sản lượng rau bình quân đầu người đạt khoảng 60-65kg/năm, sản lượng quả bình quân đầu người đạt khoảng 55-60 kg/năm.Từ khi có Nghị quyết Hội nghị lần thứ V- BCH Trung ương Đảng khoá VII ( năm 1993) về thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đẩy mạnh phát triển sản xuất và xuất khẩu rau quả, ngành sản xuất rau quả đã có nhiều chuyển biến tích cực với mức tăng trưởng cao về cả diện tích, năng suất, sản lượng rau quả hàng năm
2.1.1 Tình hình sản xuất quả
Trong những năm gần đây cây ăn quả có nhiều chuyển biến tích cực về diện tích, năng suất Theo số liệu thống kê của Tổ chức Lương thực thế giới (FAO) thì tình hình sản xuất quả ở Việt nam trong 11 năm gần đây (1990-2001) tỷ lệ tăng trưởng bình quân hàng năm về sản xuất hoa quả là 3,2% Trong khi tăng trưởng hàng năm về sản xuất hoa quả của các nước đang phát triển là 5,5% và chung toàn thế giới là 2,5% Sản lượng cây ăn quả hàng năm đạt trên 4 triệu tấn, bình quân đầu người khoảng trên 45 kg/năm So với bình quân chung toàn thế giới năm 2001 là 75kg/năm/người, thì mức của ta vẫn còn thấp hơn nhiều Do vậy, tỷ trọng của mặt hàng này trong tổng giá trị nông nghiệp còn thấp khoảng 6,3% chiếm khoảng 7,5% giá trị trồng trọt
Theo Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, những năm trở lại đây, diện tích trồng cây ăn quả tăng nhanh, năm 1996, cả nước có 385.000 ha, song cho đến năm 2000 đã tăng lên 544.700 ha, tốc độ tăng bình quân là
(141,48%)
Mức quả sản xuất bình quân đầu người của cả nước là 53 kg/người, vùng Đồng bằng sông Cửu long có sản lượng quả chiếm 60% sản lượng quả của cả
Trang 27nước, có mức sản xuất quả bình quân đầu người gấp 3 lần mức sản xuất quả bình quân đầu người của cả nước
Diện tích trồng cây ăn quả tăng khá nhanh Tốc độ tăng bình quân hàng năm về diện tích trồng cây ăn quả là 7,4%/ năm((2)Theo số liệu thống kê của ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn 1996-2000) Cây ăn quả được trồng phân
bố đều giữa các vùng trong cả nước, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long là vùng có diện tích trồng cây ăn quả lớn nhất, chiếm 43,8% diện tích trồng cây ăn quả của cả nước
Biểu đồ 1: Diện tích cây ăn quả của Việt Nam theo vùng kinh tế
1996 1997 1998 1999 2000
Nguồn: Số liệu thống kê ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
1996-2000, NXB Nông nghiệp Hà Nội
Theo như biểu đồ trên cho thấy diện tích trồng cây ăn quả của các nước cũng như miền bắc và miền nam có xu hướng tăng Sản lượng cây ăn quả cả nước năm 2000 là 544.000 ha, tăng 159.700 ha so với năm 1996, tương đương với 141,48% Trong cơ cấu diện tích cây trồng thì miền nam có diện tích cây
ăn quả lớn hơn miền bắc, năm 2000 sản lượng cây ăn trái của miền nam lớn
Trang 28hơn so với miền bắc là 105.500 ha, đây chính là thế mạnh của miền nam trong việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng xuất khẩu hiện nay Cây ăn quả được trồng dưới hai hình thức: Trồng phân tán tại vườn của các nông hộ, qui mô từ 0,5-2,0 ha/hộ Một số rất ít có diện tích đạt 5-10 ha/hộ Hình thức thứ hai là cây ăn quả được trồng tập trung thành vùng, nhằm mục đích sản xuất hàng hoá, nhưng còn rất ít, khoảng70 ngàn ha chiếm 16% tổng diện tích trồng cây ăn quả của cả nước Đây chính là một điểm yếu của ngành nông nghiệp Việt Nam, do chủ yếu là trồng phân tán không có qui hoạch đầy
đủ, cho nên việc thu mua trái cây để xuất khẩu gặp phải khó khăn rất lớn, khó khăn về việc vận chuyển, bảo quản, chi phí vận chuyển tăng nhanh, đã đẩy giá thành của trái cây lên cao, làm giảm khả năng cạnh tranh cuả trái cây Việt Nam với các nước khác Mấy năm trở lại đây trên cả nước đã bắt đầu hình thành một số vùng chuyên canh cây ăn quả như xoài cát ở Hoà Lộc (Tiền Giang), xoài Cam Ranh ( Khánh Hoà), thanh long ở Bình Thuận, chôm chôm
ở Long Khánh, vải thiều ở Lục Ngạn ( Bắc Giang), nhãn ở Hưng Yên, Văn Chấn (Yên Bái), Sông Mã ( Sơn La), nhãn miền Nam ở các tỉnh Bến tre, Vĩnh Long, Đồng Tháp, Bà Rịa- Vũng Tàu, dứa ở Tiền Giang, Long An, Kiên Giang Nhưng số lượng còn rất hạn chế Từ nay đến năm 2010 theo chủ trương của Đảng và Nhà nước sẽ tăng cường mở rộng các vùng chuyên canh chuyên trồng cây ăn trái phục vụ cho xuất khẩu
Năng suất cây ăn quả phụ thuộc vào cơ cấu mỗi vườn và trình độ thâm canh của từng vườn quả tập trung, của từng vùng nông nghiệp Nhìn chung,
do trình độ thâm canh (bón phân, tưới tiêu) còn thấp, mặt khác do giống cũ thoái hoá, không được chọn lọc, kỹ thuật chăm bón không được chú ý đúng mức, sâu bệnh nhiều, chúng ta chưa lựa chọn được những giống cây cho năng suất cao hoặc nhập giống cây ngoại Do vậy, năng suất quả của ta còn thấp và không ổn định so với năng suất quả trên thế giới
Trang 29Hiện cả nước đã hình thành vùng trồng cây ăn quả cho xuất khẩu, với tổng diện tích trên 90 ngàn ha, được phân bố như sau:
Bảng 2.1: Vùng trồng cây ăn quả cho xuất khẩu
Loại quả Vùng phân bố Diện tích (ha)
- Đồng bằng sông Hồng 3.600
- Ven sông Tiền, sông Hậu 26 000
- Vùng phù sa sông Thao, miền núi Bắc bộ 3 500
- Ven sông Tiền, sông Hậu 12.230
- Cà Mau và Tây sông Hậu 19.500
- Bình Sơn - Kiên Giang 4.200
- Bắc Đông- Tiền Giang 4.500
sầu riêng, măng cụt - Đồng Nai- Đông Nam bộ 4.707
- Ven sông Tiền, sông Hậu 2.202
Trang 30cả nước đạt gần 5triệu tấn, bình quân đầu người 60kg/năm Nhưng so với bình quân chung của thế giới 1999 là 90kg/năm thì mức bình quân đầu người nước
ta còn thấp Tuy nhiên năng suất nhiêu loại rau (như bắp cải, dưa hấu, cà chua…) của vùng truyền thống vẫn cao
Ví dụ: Bắp cải 40 –60 tấn/ha, cà chua 20 –40 tấn/ha…
Năm 2000 diện tích rau cả nước đạt 420 ngàn ha, sản lượng đạt 6,2 triệu tấn, năng suất bình quân khoảng 9 tấn/ ha Đến năm 2002 diện tích rau cả nước đã tăng đáng kể, so với diện tích rau của năm 1996 thì năm 2002 tăng lên 37,41 %, sản lượng tăng lên là 54,8 % Năm 2002 so với năm 1996 sản xuất rau quả của ta tăng cả về diện tích lẫn sản lượng
Bảng 2.2 : Diện tích, sản lượng rau giai đoạn 1996 -2002
Năm Diện tích(1000 ha) Sản lượng(1000 tấn)
Trang 312001 434,26 6495,82
Nguồn: Số liệu thống kế Nông lâm nghiệp thuỷ sản VN và số liệu của Bộ Thương mại
Cũng như các loại quả, rau có mặt ở hầu khắp các tỉnh, thành phố, với quy mô, chủng loại khác nhau Trải qua quá trình sản xuất lâu dài, đã hình thành những vùng rau chuyên doanh với những kinh nghiệm truyền thống, trong các điều kiện sinh thái khác nhau Sản xuất rau chủ yếu tập trung ở vùng đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu long, vùng Đông Nam Bộ và Đà Lạt
Trong 7 vùng sinh thái nông nghiệp, đồng bằng sông Hồng có diện tích trồng rau cao nhất ( 83 ngàn ha ) tiếp đến là Đồng bằng sông Cửu Long diện tích hơn 77 ngàn ha
Sản xuất rau được qui thành hai vùng rau chính: Vùng rau chuyên canh ven thành phố, thị xã, khu công nghiệp lớn, diện tích chiếm khoảng 35%, tổng diện tích đất trồng rau nhưng cho sản lượng 37% sản lượng rau toàn quốc Vùng rau luân canh với cây lương thực và cây công nghiệp dài ngày với trên 65% tổng diện tích và 63% sản lượng rau toàn quốc Ngoài ra, rau còn được trồng tại vườn của các hộ gia đình, diện tích vườn bình quân 1 hộ khoảng 36
m2 Lượng rau sản xuất tính bình quân đầu người đạt 65 kg Rau của nước ta phong phú về chủng loại, gồm 70 loại cây chủ yếu Đặc biệt vùng đồng bằng sông Hồng có rau vụ Đông là một trong những lợi thế của Việt Nam so với một số nước trên thế giới Các loại rau chủ yếu gồm cải bắp, su hào, cà chua, dưa chuột, ớt cay, nấm, khoai tây Nhưng mặt khác sản xuất rau quả của ta cũng vẫn còn tồn tại những nhược điểm sau:
- Sản xuất rau quả của ta chưa thoát khỏi tình trạng sản xuất tự phát, phân tán theo tập quán và kinh nghiệm lâu đời Đặc biệt ở phía Bắc ruộng đất
Trang 32chia nhỏ theo từng hộ nông dân, vốn ít nên càng manh mún Thiếu các vùng rau quả được qui hoạch tập trung có tỷ suất hàng hoá cao phục vụ nhu cầu xuất khẩu Do vậy, rất khó khăn khi tổ chức thu gom phục vụ chế biến, xuất khẩu, khó khăn khi áp dụng khoa học tiên tiến vào sản xuất Công tác khuyến nông trong lĩnh vực trồng rau quả còn nặng về phong trào, chưa phổ cập yêu cầu hiện nay là sản xuất hàng hoá cho xuất khẩu tươi và nguyên liệu cho các nhà máy chế biến xuất khẩu
- Giống rau quả của ta chậm đổi mới, tình trạng giống thoái hoá, điển hình là các loại quả có múi như bưởi Đoan Hùng, cam Vinh Việc chọn giống chủ yếu dựa vào kinh nghiệm Tình trạng trên đã hạn chế chất lượng và năng
suất sản phẩm
2.1.3 Chế biến và bảo quản rau quả
2.1.3.1 Hệ thống bảo quản rau quả
Phần lớn rau quả được sử dụng dưới dạng tươi, trong khi đặc tính của sản phẩm rau quả là thu hoạch theo mùa vụ, thời gian thu hoạch ngắn, khả năng vận chuyển và bảo quản khó khăn Vì vậy, công nghệ bảo quản rau quả tươi là hết sức quan trọng Nhưng đến nay kỹ thuật bảo quản rau quả tươi mới dừng ở mức sử dụng kinh nghiệm cổ truyền, thủ công là chính, chưa có thiết bị lựa chọn và xử lý quả tươi trước khi xuất khẩu Do công tác bảo quản không tốt nên chi phí cho một đơn vị sản phẩm rau quả xuất khẩu thường vượt định mức cho phép Cũng do chưa có công nghệ và phương tiện thích hợp để bảo quản sau thu hoạch nên tỷ lệ hư hỏng cao, ước tính có đến 25-30% rau quả bị bỏ đi Chỉ tính riêng các nhà máy đồ hộp ở phía Bắc, trong số hàng chục ngàn tấn nguyên liệu đưa vào chế biến, lượng nguyên liệu thối hỏng do bảo quản và vận chuyển lên tới hàng chục phần trăm Một số loại quả như nhãn, vải thiều, chuối đã được sấy khô để kéo dài thời gian bảo quản, nhưng không giữ được hương vị thơm ngon tự nhiên ban đầu Mặt khác, trong quá trình xuất khẩu,
Trang 33mặc dù rau quả của Việt Nam chưa đủ tiêu chuẩn xuất khẩu nhưng có không ít doanh nghiệp xuẩt khẩu của ta làm ăn tuỳ tiện, chỉ chạy theo lợi nhuận trước mắt, đã tẩm ướp những hoá chất độc hại, hoặc pha trộn đủ loại vi trùng gây nên những bệnh tật hiểm ngèo, thậm chí gây tử vong cho những người sử dụng Một thí dụ điển hình đó là cách đây không lâu ngườii ta phải một phen hoảng vía khi khám phá ra nhiều thực phẩm, rau quả nhập cảng từ Việt Nam được ướp bằng một loại hoá chất thường vẫn được dùng để ướp xác chết, để giữ cho các loại thực phẩm đó có vẻ tươi tốt Nỗi khủng khiếp của giới tiêu thụ các loại thực phẩm vừa kể chưa kịp nguôi ngoai thì mới đây người ta lại phải giật mình thon thót trước những báo động về phẩm chất thực phẩm nhập cảng từ Việt Nam của cơ Quan Lương Thực và Dược Liệu Hoa Kỳ (FDA) Qua những cập nhật trên trang thông tin điện tử (website) của cơ quan này, người ta thấy liên tiếp trong 3 tháng cuối năm vừa qua, tháng nào cũng có nhiều mặt hàng thực phẩm xuất phát từ Việt Nam như hải sản, rau quả, nước hộp hoặc là hư thối thiếu vệ sinh, hoặc là không đóng gói bao bì đúng tiêu chuẩn mà tất cả đều nguy hại cho sức khoẻ của người tiêu dùng Điều đáng lưu ý là, theo hồ sơ của cơ quan Lương Thực và Dược Liệu Hoa Kỳ, số lượng các mặt hàng thực phẩm của Việt Nam bị các cơ quan kiểm phẩm tịch thu đã không giảm, mà ngày càng gia tăng theo thời gian Chỉ trong 3 tháng cuối năm 2001 đã có mấy trăm lô thực phẩm đủ loại như vừa nêu bị tịch thu Trên đây chỉ là một trong nhiều thí dụ điển hình về thực trạng rau quả xuất khẩu của Việt Nam Qua đó có thể thấy rằng những hạn chế trong công tác bảo quản rau quả là một trong những yếu tố cản trở hoạt động xuất khẩu rau quả phát triển
2.1.3.2 Hệ thống chế biến rau quả
Hiện nay cả nước có 22 nhà máy chế biến rau quả xuất khẩu, với tổng công suất 100.000 tấn/năm, trong đó 12 nhà máy do Tổng công ty Rau quả
Trang 34Việt Nam quản lý Ngoài ra còn có 52 đơn vị sản xuất, chế biến, kinh doanh xuất khẩu rau quả tại các tỉnh, thành phố có qui mô nhỏ
Các nhà máy chế biến rau quả của Tổng công ty Rau quả Việt Nam có tổng công suất thiết kế 70 ngàn tấn/năm và 5 nhà máy đông lạnh có tổng công suất thiết kế 25 ngàn tấn/năm Tổng công ty quản lý 11 nhà máy đồ hộp và một nhà máy đông lạnh Tổng công suất thiết kế 50 ngàn tấn/năm
Hầu hết máy móc, thiết bị của các nhà máy chế biến rau quả đều nhập từ các nước XHCN (cũ) như Nga, Đức, Bungari, Ba Lan, Hungari, đã sử dụng trên 30 năm, máy móc thiết bị và công nghệ đã quá cũ kỹ, lạc hậu do vậy sản phẩm không đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước
Các nhà máy và thiết bị phụ trợ như bao bì carton, hộp sắt kho trữ cũng nằm trong tình trạng như các nhà máy chế biến
Các nhà máy chế biến, những năm cao đã sản xuất và xuất khẩu được trên
30 ngàn tấn đồ hộp rau quả, 20 ngàn tấn dứa đông lạnh và 2 ngàn tấn purê quả Từ năm 1990, sau khi mất thị trường truyền thống, rau quả được xuất sang thị trường châu Á và Tây Âu nhưng mới ở mức thăm dò, giới thiệu Do vậy, hiện nay các nhà máy chỉ sử dụng được 30-40% công suất và hiệu quả kinh tế còn thấp Ngoài hệ thống nhà máy chế biến nêu trên, những năm gần đây còn có các công ty TNHH và công ty tư nhân xây dựng xí nghiệp và xưởng thủ công chế biến chuối, long nhãn, tương ớt, cà chua, vải đạt hàng chục ngàn tấn sản phẩm xuất khẩu các loại Vài năm gần đây, hệ thống lò sấy thủ công chế biến vải, nhãn xuất khẩu sang Trung Quốc bước đầu phát triển ở vùng nhãn đồng bằng sông Cửu long và các tỉnh có nhiều vải nhãn ở đồng bằng sông Hồng Hiện nay, cả nước có hàng trăm lò sấy nhãn, tập trung chủ yếu ở đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long tiêu thụ khoảng 70% sản lượng nhãn tươi trong vùng Công nghiệp chế biến tại các hộ gia đình mới xuất hiện nhưng chưa phát triển, chủ yếu là sơ chế dưa chuột
Trang 35Gần đây theo chủ trương của Chính phủ tập trung đầu tư vào công nghiệp chế biến nông lâm sản, đã có thêm một số nhà máy mới TCT rau quả Việt Nam có 2 nhà máy liên doanh với nước ngoài là Nhà máy chế biến nước giải khát DONA NEW TOWER (20.000 tấn/năm) và Nhà máy Bao bì hộp sắt TOVECO (60 triệu hộp/năm) đã đi vào hoạt động có hiệu quả, được thị trường trong nước và quốc tế chấp nhận
Nhìn chung, công nghiệp chế biến rau quả của ta còn nhỏ bé so với tiềm năng sản xuất rau quả, sức cạnh tranh còn thấp, chủng loại sản phẩm chưa nhiều, giá thành cao, chưa đáp ứng được yêu cầu thị trường ngày càng cao cả
ở trong nước và xuất khẩu Mặt khác, do vốn đầu tư lớn lại phải cân đối giữa nguyên liệu và thị trường nên công tác đầu tư đổi mới thiết bị, công nghệ trong chế biến rau quả còn nhiều hạn chế
2.1.4 Thực trạng xuất khẩu rau quả
Trong những năm qua, phát triển xuất khẩu rau quả đã góp phần chuyển đổi cơ cấu cây trồng, chuyển đổi mùa vụ, tăng thêm giá trị sử dụng đất, tăng thêm thu nhập cho người kinh doanh xuất khẩu rau quả, trong đó có người trồng rau quả
2.1.4.1 Kim ngạch xuất khẩu
Liên tiếp trong 3 năm gần đây (1998-2000) xuất khẩu rau quả tăng trưởng luôn ở mức cao, bình quân 85%- dẫn đầu về mức tăng trưởng trong số 15 nhóm hàng xuất khẩu chủ lực của ta Nhưng đến năm 2002 xuất khẩu rau quả của Việt Nam chỉ đạt 200 triệu USD, giảm 39,4% so với 2001 Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu rau quả so với tổng kim ngạch xuất khẩu nông-lâm-thuỷ sản chiếm khoảng 1,4- 2,8 % là hết sức nhỏ bé trong khi kim ngạch xuất khẩu lại không ổn định Tính đến 8 tháng đầu năm 2003 kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam là 109 triệu USD, so với 8 tháng đầu năm 2002 giảm 27,8% Năm 2003 theo như kế hoạch đặt ra, tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả là 230
Trang 36triệu USD, so với năm 2002 chỉ đưa ra mức tăng trưởng là 15%, với một con
số rất khiêm tốn, theo thực tế đánh giá thì hiện nay xuất khẩu rau quả của Việt Nam mới chiếm tỷ trọng khoảng 3% đến 5% sản lượng hàng xuất khẩu hàng năm Nếu xét về số lượng thị trường thì hàng rau quả có nhiều nhất trong số thị trường ( trên 50 thị trường), song kim ngạch xuất khẩu rau quả của cả nước mới đạt trên 200 triệu USD
330
200
109 230
Rau qu¶ TriÖu USD
Nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam
Nhận xét chung cho thấy mặc dù có sự gia tăng bình quân hàng năm về kim ngạch xuất khẩu tương đối cao, song kim ngạch xuất khẩu rau quả đạt được chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có, giá trị kim ngạch đạt được cònthấp và chưa ổn định Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu rau quả so với tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản chiếm từ 3- 3,5% là hết sức khiêm tốn Ngành rau quả đang phấn đấu đến năm 2010 sẽ đạt kim ngạch xuất khẩu 1 tỷ USD Mấy năm gần đây, kim ngạch xuất khẩu rau quả liên tục tăng với tốc độ cao Tuy nhiên, lượng rau quả xuất khẩu hiện nay mới đạt khoảng 1% trong tổng sản lượng trên 4 triệu tấn hàng năm Tỷ trọng xuất khẩu mặt hàng này mới chiếm khoảng từ 1,4 đến 2,8% kim ngạch xuất khẩu nông lâm thuỷ sản cả nước Vậy đâu là rào cản hành trình "xuất ngoại" của rau quả Việt Nam? Theo đánh giá
Trang 37của Bộ thương mại, hiện nay tuy mặt hàng rau quả xuất khẩu tương đối phong phú nhưng chưa hình thành được mặt hàng chủ lực với khối lượng lớn Việt Nam hiện chưa có quy hoạch tổng thể đồng bộ từ giống, chăm sóc, chế biến bảo quản sản phẩm Các doanh nghiệp Việt Nam chưa chủ động tìm kiếm khách hàng, không chú trọng đầu tư cho chế biến Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đưa ra con số thất thoát sau thu hoạch của mặt hàng rau quả hiện nay là khoảng 20-25% Theo Trung tâm thông tin Bộ thương mại, hiện nay cả nước có khoảng trên 60 đơn vị chế biến rau quả Ngoài ra còn có một
số lò thủ công của tư nhân chế biến dạng muối, sấy để xuất khẩu chủ yếu theo đường tiểu ngạch sang Trung Quốc Thế nhưng, điều đáng nói là hầu hết thiết
bị máy móc và công nghệ chế biếnlạc hậu, cộng với một loạt chi phí đầu vào khá cao nên đẩy giá thành sản phẩm lên mức khó có thể cạnh tranh Hiện nay chi phí đầu vào chiếm từ 30% đến 40% trong giá vốn sản phẩm đồ hộp Chi phí lưu thông, vận chuyển, bảo quản, chế biến xuất khẩu rau quả hiện khá cao, tương đương, thậm chí lớn hơn giá trị sản phẩm Điều này làm tăng giá vốn sản phẩm xuất khẩu, khó cạnh tranh trên một thị trường
Chưa hết, mặc dù được tiếng là xứ sở nhiệt đới rau quả quanh năm, thế nhưng rau quả Việt Nam thường theo thời vụ, những năm gần đây ở một số nơi đã sản xuất được rau quả trái vụ, nhưng thường không đảm bảo tiêu chuẩn chế biến hay nói cách khác là "thừa giả tạo" Chính vì vậy, có những thời điểm thu hoạch một số loại trái cây chín rộ ở ngoài vườn, các nhà máy không chịu thu mua chế biến, hỏng, lại bán tháo, nhưng cũng có lúc các nhà máy lại trong cảnh đói nguyên liệu Nghịch lý trên đang biểu hiện rõ nhất ở mặt hàng dứa cô đặc Với giá thành dứa cô đặc ngày càng tăng cao ở một số thị trường trên thế giới, một số địa phương và doanh nghiệp đã tập trung xây dựng nhà máy chế biến dứa cô đặc kết hợp với vùng nguyên liệu tại chỗ Từ cuối năm
2001 đến nay, mặt hàng dứa cô đặc đang có xu hướng thay thế dần mặt hàng
Trang 38nước dứa, thị trường có nhu cầu lớn, giá xuất khẩu đã tăng từ 650 đến 700 USD/tấn, năm 2002 lên 1.000 đến 1.150 USD/tấn hiện nay Thế nhưng khi nhà máy đi vào hoạt động thì lại không đủ dứa để chế biến do nông dân vốn quen với loại dứa Qeen, trong khi dứa chế biến lại là Cayen, đó là chưa kể hợp đồng giữa nông dân và doanh nghiệp thường rơi vào cảnh "ông chẳng bà chuộc", chưa có sự gắn kết chặt chẽ Điều này khiến doanh nghiệp sản xuất lúng túng, bị động và cơ hội xuất khẩu bị bỏ qua
2.1.4.2 Thị trường xuất khẩu rau quả
Mặt hàng rau quả của Việt Nam đã có mặt ở thị trường 50 nước trên thế giới, trong đó chủ yếu là thị trường châu Á(55%-năm 2002)(1), Tây Bắc Âu (17%), Mỹ (7%) Các thị trường Nga và Đông Âu mới được phục hồi và thị trường truyền thống như Trung Quốc, Úc, Nhật Bản, Hàn quốc, Xingapo nhưng sản lượng nhỏ và không ổn định Tuy nhiên chúng ta chưa đáp ứng được nhu cầu về rau quả cho thị trường thế giới, mặt hàng này mới chỉ chiếm khoảng 10-15% kim ngạch xuất khẩu hoa quả Hiện mới xuất khẩu được cải bắp, hành tỏi, khoai tây, một số rau gia vị theo đường hàng không Một số loại quả như xoài, vú sữa, chôm chôm, măng cụt, thanh long rất được ưa chuộng ở châu Âu, Mỹ, nhưng sản phẩm trái cây của ta chưa đáp ứng được những đòi hỏi gắt gao về chất lượng, về vệ sinh thức phẩm do họ đề ra Thị trường xuất khẩu rau quả trong 2 năm gần đây được mở rộng so với trước Các mặt hàng rau quả và gia vị của ta hiện đã có mặt ở gần 50 nước và lãnh thổ trên khắp các châu lục của thế giới, trong đó chủ yếu là thị trường châu Á
và Tây Bắc Âu, Mỹ Thị trường Nga và Đông Âu tuy được khôi phục đối với một số chủng loại của nhóm hàng này nhưng còn chiếm tỷ trọng nhỏ trong kim ngạch xuất khẩu rau quả của ta (năm 1999 chỉ chiếm tỷ trọng 1,18% tức
là 1,25/104,2 triệu USD) Thị trường khu vực Tây Nam Á - Phi Châu cũng chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này (về rau quả
Trang 39năm 1999 chỉ có 1,22/104,2 triệu USD, tức là 1,16%0) Một số thị trường có mức tăng trưởng nhanh về kim ngạch xuất khẩu rau quả những năm gần đây ( 1996-2002) là: Thị trường Trung Quốc, Nhật Bản, Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan
Biểu đồ 3: Cơ cấu thị trường xuất khẩu rau quả của Việt Nam năm 2002
Tû lÖ (%)
NhËt B¶n 21%
Mü
17%
Singapore 9%
§µi Loan 8%
§øc 7%
Anh 6%
Ph¸p 4%
Hµn Quèc 4%
Trung Quèc 13%
australia 11%
Bảng 2.3: Kim ngạch xuất khẩu sang thị trường châu Á
Đơn vị tính: USD
Tên nước
GTXK Tỷ trọng(%) GTXK Tỷ trọng(%) GTXK Tỷ trọng(%) Nhật Bản 3170051 18.86 1349630 8.95 2087489 16.95 Trung
Quốc 3668031 21.82 2693821 17.86 804596 6.53 Hồng Kông 534336 3.18 412223 2.73 1668267 13.54 Hàn Quốc 1230421 7.32 2404812 15.95 607102 4.93 Singapore 1595369 9.49 3553342 23.56 2477963 20.12 Đài Loan 2084838 12.40 1058321 7.02 1162202 9.44 Malayxia 524156 3.12 717040 4.75 297198 2.41 Inđônêxia 257243 1.53 755666 5.01 145891 1.18 Thái Lan 1390091 8.27 87861 0.58 152424 1.24 Lào 2356125 14.02 2047784 13.58 2913846 23.66 Tổng cộng 16810661 100.00 15080500 100.00 12316978 100.00
Trang 40Nguồn: Báo cáo SX-KD của Tổng công ty rau quả Việt Nam
Một số thị trường xuất khẩu rau quả của Việt Nam
Thị trường Trung Quốc : là thị trường rộng lớn với 1.400 triệu dân Đặc
biệt các tỉnh phía Nam Trung Quốc nơi có chung trên 1.400 km đường biên kéo dài từ phía Đông đến phía Tây, tiếp giáp với 6 tỉnh của Việt Nam Hiện nay, mặc dù xuất khẩu rau quả của Trung Quốc lớn gấp 10 lần nhập khẩu, nhưng hoạt động xuất khẩu rau quả của Việt Nam sang Trung Quốc trong những năm gần đây gia tăng đáng kể(giá trị kim ngạch xuất khẩu năm 2002 so với năm 1996 tăng 135,2 triệu USD, tương đương 643,8%), do Việt Nam có một số lợi thế sau:
Trung Quốc rất gần Việt Nam, giảm chi phí vận chuyển và tăng lượng xuất khẩu rau quả tươi dễ hỏng
Thị trường Trung Quốc rất lớn và đang phát triển Dân số đông và tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh tạo ra nguồn cầu lớn đối với các sản phẩm không thiết yếu như chăn nuôi và rau quả
Hiện nay, yêu cầu của lục địa Trung Quốc về an toàn và chất lượng thực phẩm nhập khẩu không cao như các nước nhập khẩu chính khác như Nhật Bản, Đài Loan, Hồng Kông, Singapore
Quan hệ giữa hai nước đang bước vào thời kỳ bình thường hoá và mở cửa, giao lưu kinh tế giữa hai nước sau nhiều năm bị đóng cửa nay đang có những chuyển biến tích cực
Cả hai nước đều đang thực hiện các biện pháp tăng cường thương mại, mặc dù áp lực bảo hộ đôi khi cũng gây ra hạn chế thương mại nhất định.( (4) Tạp chí ngành rau quả Việt Nam-trang 6.6 chương xuất khẩu rau quả)
Bảng 2.4: Kim ngạch xuất khẩu rau quả của nước ta
sang thị trường Trung Quốc
Đơn vị : Triệu USD