Theo các quy định trên, Quyền SHCN được hiểu là “ quyền sở hữu cá nhân, pháp nhân đối với sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá, là quyền sở hữu tên gọi
Trang 1Khóa luận tốt nghiệp
Một số biện pháp chủ yếu nhằm khai thác và bảo vệ quyền SHCN liên quan đến thương mại Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế
Trang 2MỤC LỤC
Chương I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN SHCN 3
3.1 Chủ thể của quyền SHCN 8 3.1 Nội dung của quyền SHCN 8
II Quyền SHCN trong các quy định của WTO và một số điều ước
quốc tế quan trọng 10
2.1 Hiệp ước Madrid (1891) về sự kiểm soát quốc tế dấu hiệu giả
mạo của nguồn hàng 12 2.2 Hiệp ước Lisbon về sự bảo vệ tên gọi xuất xứ hàng hoá và
đăng ký quốc tế của nó 12 2.3 Hiệp ước Hague (1925) về việc đăng ký kiểu dáng công nghiệp quốc tế 13 2.4 Hiệp ước Strasbourg về phân loại sáng chế thế giới (IPC) 14 2.5 Hiệp ước Nice (1957) về phân loại quốc tế về nhãn hàng hoá
và dịch vụ cho mục đích đăng ký nhãn hiệu 14 2.6 Hiệp ước Locarno (1968) về phân loại quốc tế
kiểu dáng công nghiệp 15
III Những vấn đề về xác lập, khai thác và bảo vệ quyền SHCN
Chương II THỰC TRẠNG VIỆC XÁC LẬP, KHAI THÁC VÀ BẢO VỆ
25
Trang 3I Thủ tục xác lập quyền SHCN 25
1.1 Đối với các đơn yêu cầu bảo hộ SHCN trong nước 25 1.2 Đối với các đơn yêu cầu bảo hộ SHCN quốc tế có nguồn gốc
Việt Nam 26
2 Thủ tục xác lập quyền SHCN tại các nước trên thế giới 27
3 Thủ tục xác lập quyền SHCN theo các Điều ước quốc tế 29
II THỰC TRẠNG KHAI THÁC QUYỀN SHCN Ở NƯỚC TA
30
1.1 Thực trạng về xác lập quyền SHCN 31 1.2 Thực trạng về khai thác quyền SHCN 35 1.3 Thực trạng về xâm phạm quyền SHCN 40
2 Vai trò của các cơ quan quản lý về SHCN trong việc xử lý vi phạm
2.1 Đặc điểm của hệ thống thực thi quyền SHCN 46 2.2 Hiệu quả của các cơ quan hành chính trong việc thực thi quyền SHCN 48
2.3 Vai trò của các cơ quan quản lý SHCN với các biện pháp nhằm đảm bảo thực thi quyền SHCN, chống lại hành vi làm hàng giả 49
III THỰC TRẠNG BẢO HỘ QUYỀN SHCN 54
2 Thực tiễn thực thi bảo hộ quyền SHCN của Hải quan Việt Nam 56
2.2 Những vấn đề phát sinh 59
3 Đấu tranh chống hang giả và vi phạm quyền SHCN trong những
4 Hoạt động của một số công ty trong lĩnh vực SHCN 61
4.1 Công ty sở hữu trí tuệ INVENCO 62 4.2 Phạm và liên doanh (Pham & Associates) 63
Chương III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO
HIỆU QUẢ VIỆC KHAI THÁC VÀ BẢO VỆ QUYỀN SHCN 66
I CÁC GIẢI PHÁP NHẰM KHAI THÁC QUYỀN SHCN 66
1 Sử dụng trước sáng chế, giải pháp hữu ích và kiểu dáng công nghiệp66
Trang 43 Khai thác quyền SHCN thông qua hình thức hợp tác đầu tư chuyển
4 Đẩy mạnh các hoạt động hỗ trợ chuyển giao quyền SHCN trong
II CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG VAI TRÒ CỦA CHỦ VĂN BẰNG BẢO HỘ 68
1.Sự tham gia tích cực của chủ văn bằng bảo hộ trong việc bảo hộ
III CÁC GIẢI PHÁP NHẰM BẢO VỆ QUYỀN SHCN 73
1 Nâng cao năng lực nhận thức bao gồm các giải pháp sau 73
1.1.Doanh nghiệp cần nắm vững những hành vi bị coi là vi phạm
1.2.Doanh nghiệp cần biết xác định yếu tố vi phạm để tố cáo hoặc
2 Nâng cao năng lực hành vi gồm các giải pháp sau 77
2.1 Doanh nghiệp thương mại cần chủ động đăng ký bảo hộ quyền
Trang 52.4 Sửa đổi bổ sung một số quy định khác 84
3 Tăng cường công tác giáo dục, phổ biến pháp luật 85
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
Trước việc hàng loạt thương hiệu nổi tiếng của chúng ta như Vinataba, nước mắm Phú Quốc, kẹo dừa Bến Tre, cà phê Trung Nguyên bị đánh cắp, bị nhái và bị chiếm dụng gây ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả kinh doanh, một trong những vấn đề mà các doanh nghiệp Việt Nam cần quan tâm là vấn đề sở hữu công nghiệp (SHCN) nói riêng và sở hữu trí tuệ nói chung trong giao thương trên thị trường quốc tế Như chúng ta đã biết, xu hướng tăng tỉ trọng SHCN trong sản xuất công nghiệp, dịch vụ và thương mại là xu hướng mang tính thời đại và tỉ trọng trí tuệ trong các sản phẩm công nghiệp đã trở thành một nhân tố quan trọng quyết định sự thành bại của các doanh nghiệp Chính điều này đã thúc đẩy sự cạnh tranh trong lĩnh vực nghiên cứu và sử dụng các thành quả sáng tạo trí tuệ, kích thích khuynh hướng tự phát giảm chi phí kinh doanh nhằm tối đa hoá khả năng cạnh tranh của sản phẩm Trên thực tế, nhiều doanh nghiệp đã không từ bỏ những thủ đoạn thiếu trung thực để đạt được điều đó Tình trạng này đã và đang diễn ra nghiêm trọng tới mức ngay cả những sản phẩm phức tạp cũng không tránh khỏi bị làm giả Thiệt hại đối với các nhà đầu tư rất lớn Tuy nhiên, bản thân các doanh nghiệp bị thiệt hại không thể tự mình chống lại một cách có hiệu quả các hoạt động xâm hại, do
đó đòi hỏi pháp luật phải thực hiện các biện pháp hữu hiệu để tránh tình trạng này Điều này dẫn đến việc hình thành các quy định pháp luật về vấn đề SHCN Cho đến nay, ngoài các điều ước quốc tế về bảo hộ quyền SHCN, mỗi nước đều có hệ thống pháp luật riêng của mình về vấn đề này và việc bảo hộ quyền SHCN đã trở thành điều kiện bắt buộc đối với tất cả các quốc gia muốn tham gia vào hoạt động thương mại quốc tế
Từ những năm 80, Việt Nam đã bắt đầu chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế trị trường Đặc biệt để tham gia vào quá
Trang 7trình hội nhập kinh tế thế giới, việc hoàn thiện môi trường pháp lý về SHCN
đã trở thành một nhu cầu cấp bách Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề quyền SHCN đồng thời mong muốn nâng cao nhận thức của mình về vấn đề này, em đã chọn nghiên cứu đề tài:” Một số biện pháp chủ yếu nhằm khai thác
và bảo vệ quyền SHCN liên quan đến thương mại Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế” Việc nghiên cứu đề tài cơ bản dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam (Bộ luật dân sự và các văn bản hướng dẫn, cụ thể hoá) và các điều ước quốc tế về SHCN: Hiệp định TRIPS, Công ước Paris, Công ước Berne, Công ước Rome, Hiệp ước IPIC Đề tài bao gồm:
Phần mở đầu
Chương 1: Một số vấn đề chung về quyền SHCN
Chương 2: Thực trạng việc xác lập, khai thác và bảo vệ quyền SHCN
Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả việc khai thác và bảo vệ quyền SHCN
Kết luận
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Thạc sỹ Đào Thu Giang (Khoa QTKD), người đã tận tình giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện luận văn này Em xin cảm ơn Bộ Thương Mại, Cục Sở Hữu Trí tuệ, Viện Nghiên Cứu Thương Mại, Thư viện Quốc gia, Công ty INVENCO, PHAM
&Associates đã tạo điều kiện cho em tiếp cận với những thông tin cập nhật liên quan đến đề tài Em cũng xin cảm ơn các thầy giáo, cô giáo và các bạn trường ĐH Ngoại Thương đã tạo điều kiện và giúp đỡ em trong việc thu thập tài liệu và hoàn thành đề tài này
Do trình độ và thời gian hạn chế, luận văn chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Vì vậy em mong nhận được sự góp ý, phê bình của các thầy cô và các bạn
Trang 8Sinh viên
Đỗ Quyết Thắng
Trang 9CHƯƠNG I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN SHCN
i KHÁI NIỆM VỀ SHCN
1 Khái niệm về SHCN theo quan điểm quốc tế
Theo hiệp định về những khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ của WTO (Hiệp định TRIPS), quyền sở hữu trí tuệ bao gồm Quyền SHCN và Quyền tác giả
Hiện nay, trong các Hiệp định thương mại được kí kết giữa các nước,
quyền sở hữu trí tuệ được định nghĩa như sau: Quyền sở hữu trí tuệ bao gồm
quyền tác giả và quyền liên quan, nhãn hiệu hàng hoá, sáng chế, thiết kế bố trí (topography) mạch tích hợp, tín hiệu vệ tinh mang chương trình đã được
mã hoá, thông tin bí mật (bí mật thương mại), kiểu dáng công nghiệp và quyền đối với giống thực vật
Do đó, SHCN là sở hữu các đối tượng sáng chế (invention), mẫu hữu ích (utility model), kiểu dáng công nghiệp (industrial design), nhãn hiệu hàng hoá/ nhãn hiệu dịch vụ (trade mark), tên thương mại và thương hiệu (trade names), chỉ dẫn nguồn gốc và tên gọi xuất xứ hàng hoá (indication of source), bảo hộ chống cạnh tranh không lành mạnh (unfair competition), thiết kế mạch tích hợp (integrated circuit), bí mật thương mại (trade secret)
Theo cách hiểu thông dụng hiện nay, quyền sở hữu trí tuệ được coi là bao gồm quyền SHCN, quyền tác giả và quyền liên quan (đến quyền tác giả) Do
đó có thể hiểu quyền “SHCN” trong hiệp định là bao gồm các quyền đối với các đối tượng sau:
- Sáng chế và giải pháp hữu ích:
Trang 10Sáng chế: là giải pháp kỹ thuật mới so với trình độ kỹ thuật trên thế giới, có trình độ sáng tạo, có khả năng áp dụng trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội.(Đ782 Bộ Luật dân sự-BLDS)
Mẫu hữu ích (giải pháp hữu ích): là giải pháp kỹ thuật mới so với trình
độ kỹ thuật trên thế giới có khả năng áp dụng trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội.(Đ783 Bộ luật dân sự)
Như vậy sáng chế và giải pháp hữu ích phải có tính mới so với trình độ
kỹ thuật trên thế giới Tính mới ở đây được hiểu là cho tới lúc nộp đơn xin bảo
hộ, chưa có ai sử dụng nó một cách rõ ràng hay đã công bố Chúng phải có khả năng áp dụng trong các lĩnh vực kinh tế-xã hội Đây là điểm khác so với phát minh khoa học Ngoài ra, sáng chế phải có trình độ sáng tạo tức là phải là một tiến bộ về kỹ thuật so với trình độ chung của thế giới
Trước đây giải pháp hữu ích được quy định là có tính mới so với trình
độ Việt Nam Quy định này có nhược điểm là không khuyến khích sáng tạo và nhập khẩu các giải pháp kỹ thuật tiên tiến
- Nhãn hiệu hàng hoá:
Nhãn hiệu hàng hoá: là những dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá hay dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau Nhãn hiệu hàng hoá là thuật ngữ dùng để chỉ: nhãn hiệu hàng hóa được gắn vào sản phẩm, bao bì sản phẩm và nhãn hiệu dịch vụ được gắn vào phương tiện dịch vụ Dấu hiệu dùng làm nhãn hiệu hàng hoá có thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp các yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc
(Đ785 BLDS)
Thực chất nhãn hiệu hàng hoá không phải là kết quả của một hoạt động trí tuệ, nó chỉ là những dấu hiệu có sẵn trong tài sản chung của cộng đồng, chưa được cá nhân, pháp nhân chọn để đánh dấu hàng hoá, dịch vụ của mình
Trang 11Tuy vậy, việc sử dụng nó - đại diện cho uy tín cá nhân, pháp nhân – tạo nên giá trị kinh tế, thương mại Như vậy nó là biểu trưng cho năng lực và thành tích của một cơ sở sản xuất, kinh doanh về một loại hàng hoá hay dịch vụ
- Kiểu dáng công nghiệp:
Kiểu dáng công nghiệp: là hình dáng bên ngoài của sản phẩm được thể hiện bởi đường nét, hình khối, màu sắc, hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, có tính mới đối với thế giới và có thể dùng làm mẫu để chế tạo sản phẩm công nghiệp
+ Tên gọi xuất xứ hàng hoá:
Tên gọi xuất xứ hàng hoá: là tên địa lý của nước, địa phương dùng để chỉ xuất xứ sản phẩm từ nước, địa phương đó với điều kiện sản phẩm đó phải
có tính chất, chất lượng đặc thù dựa trên điều kiện địa lý độc đáo và ưu việt bao gồm yếu tố tự nhiên, con người hay kết hợp hai yếu tố trên.(Đ786 BLDS)
Tên gọi xuất xứ hàng hoá được xem như một đối tượng đặc biệt của SHCN được pháp luật bảo hộ Tên gọi xuất xứ hàng hoá không phải là nhãn hiệu thương mại Tên gọi xuất xứ hàng hoá được gắn với những mặt hàng có tính chất đặc thù xuất phát từ các yếu tố độc đáo của địa lý, con người địa phương mà tên gọi xuất xứ chỉ dẫn
+ Các đối tượng SHCN khác theo quy đinh của pháp luật
Trang 12Thực chất đây là quy định để ngỏ, các đối tượng này hiện nay chưa được pháp luật quy định cụ thể Các nước thường bảo hộ các đối tượng thể hiện năng lực, uy tín của doanh nghiệp như tên thương mại, biểu tượng, bí mật kinh doanh
+ Các đối tượng không được Nhà nước bảo hộ:
Nhà nước không bảo hộ các đối tượng SHCN trái với lợi ích xã hội, trật
tự công cộng, nguyên tắc nhân đạo và các đối tượng khác mà pháp luật về SHCN quy định không được bảo hộ (Đ787 BLDS)
Một số đối tượng hiện nay không đựơc bảo hộ như thiết kế bố trí vi mạch điện tử, giống thực vật, phương pháp chẩn đoán bệnh, phòng bệnh, chữa bệnh (Khoản 4, Điều 4 Nghị định 63) Việc không bảo hộ phương pháp chữa bệnh là vì nhằm mục đích nhân đạo
2 Khái niệm về SHCN theo quan điểm Việt Nam
Lần đầu tiên ở nước ta, Bộ luật dân sự ngày 28 tháng 10 năm 1995 đã có một phần (phần VI-quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ) gồm 51 điều về sở hữu trí tuệ Như vậy, quyền sở hữu trí tuệ được Nhà nước thừa nhận như một loại quyền dân sự tương tự như quyền sở hữu tài sản Do nhu cầu xây dựng pháp luật rất lớn nhằm thực hiện chương trình các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS) nên Quốc hội uỷ quyền cho Chính phủ quy định cụ thể về “các đối tượng khác” không được đề cập đến trong Bộ luật dân sự Theo nguyên tắc đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định 63/CP ngày 24/10/1996 quy định chi tiết về SHCN
Pháp luật về SHCN của Việt Nam chủ yếu bao gồm các văn bản sau đây:
Các văn bản luật:
(i) Bộ luật Dân sự năm 1995 (Một chương, 26 điều)
(ii) Bộ luật hình sự năm 2000 (2 điều)
Trang 13 Các văn bản hướng dẫn, giải thích luật:
(iii) Nghị định 63/CP (24/10/1996) được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định
06/2001/NĐ-CP (01/02/2001) quy định chi tiết về SHCN
(iv) Nghị định 12/1999/NĐ-CP (06/03/1999) về xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực SHCN
(v) Nghị định 54/2000/NĐ-CP (03/10/2000) về bảo hộ quyền SHCN đối
với bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại và bảo hộ quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến SHCN
(vi) Một số thông tư hướng dẫn thi hành các Nghị định nói trên của các Bộ,
Ngành (chẳng hạn: Thông tư số 3055/TT-SHCN ngày 31/12/1996 của
Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường; Thông tư số 23/TT-TCT ngày 09/05/1997 của Bộ Tài chính về phí, lệ phí SHCN; Thông tư số 825/2000/TT-BKHCNMT ngày 03/05/2000 của Bộ Khoa học Công nghệ Môi trường hướng dẫn thi hành Nghị định 12/1999/NĐ-CP ) Ngoài các văn bản nói trên, vấn đề SHCN cũng được đề cập đến trong
một số văn bản pháp luật khác có liên quan, chẳng hạn: (i) Pháp lệnh xử lý
vi phạm hành chính (1995); (ii) Luật thương mại (1997); (iii) Luật khuyến khích đầu tư trong nước (1998); (iv) Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (2000); (v) Luật khoa học và công nghệ (2000); Nghị định 45/1998/NĐ-CP quy định chi tiết về chuyển giao công nghệ
Đến nay, Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia các Điều ước quốc tế sau đây
về SHCN
- Công ước Paris (1883-1979) về bảo hộ quyền SHCN
- Thoả ước Madrid (1891-1979) về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hoá
- Hiệp ước hợp tác Bằng sáng chế-PCT (1970)
Trang 14Theo các quy định trên, Quyền SHCN được hiểu là “ quyền sở hữu cá nhân, pháp nhân đối với sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá, là quyền sở hữu tên gọi xuất xứ hàng hóa và quyền sở hữu đối với các sản phẩm SHCN được chỉ rõ gồm sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá, tên gọi xuất xứ hàng hoá và các đối tượng khác”
3 Quan hệ pháp luật về quyền SHCN
3.1 Chủ thể của quyền SHCN
- Tác giả:
Tác giả và đồng tác giả là người, những người đã tạo ra các sản phẩm trí tuệ được thể hiện dưới dạng là sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp (Đ779 BLDS)
Tác giả là người sáng tạo và là chủ thể cuả quan hệ pháp luật về quyền SHCN Sự sáng tạo của tác giả được chứng minh bằng chính nội dung khoa học của đối tượng SHCN mà tác giả đã sáng tạo ra
- Chủ sở hữu các đối tượng SHCN :
Chủ sở hữu các đối tượng SHCN là các cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc chuyển giao văn bằng bảo hộ sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá và các đối tượng SHCN khác (Đ 794 BLDS)
- Người có quyền sử dụng tên gọi xuất xứ hàng hoá :
Cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp văn bằng bảo hộ tên gọi xuất xứ hàng hoá là người có quyền sử dụng hợp pháp tên gọi xuất xứ hàng hoá đó (Đ795 BLDS)
3.2 Nội dung quyền SHCN
Quyền của tác giả sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp
Trang 15Tác giả, đồng tác giả sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp
có các quyền: Ghi tên vào văn bằng bảo hộ sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp và các tài liệu khoa học khác; nhận thù lao khi sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp được sử dụng nếu không có thoả thuận khác với chủ sở hữu; yêu cầu toà án và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý các hành vi vi phạm quyền tác giả của mình; nhận giải thưởng đối với sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp mà mình là tác giả (Đ800 BLDS)
Quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu các đối tượng SHCN
- Quyền của chủ sở hữu các đối tượng SHCN
Chủ sở hữu sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá có độc quyền sử dụng; chuyển giao quyền sử dụng đối tượng SHCN cho người khác, và yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu của mình phải chấm dứt hành vi xâm phạm
và bồi thường thiệt hại (Đ796 BLDS)
- Nghĩa vụ của chủ sở hữu các đối tượng SHCN
Chủ sở hữu sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, có nghĩa vụ: trả thù lao cho tác giả trong trường hợp tác giả không đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm nếu chủ sở hữu và tác giả không có thoả thuận khác; nộp lệ phí duy trì hiệu lực của văn bằng bảo hộ; sử dụng hoặc chuyển giao quyền sử dụng đối tượng SHCN theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Đ798 BLDS)
Quyền của người có quyền sử dụng tên gọi xuất xứ hàng hoá
Người có quyền sử dụng tên gọi xuất xứ được sử dụng tên gọi xuất xứ cho các sản phẩm của mình; yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền buộc người sử
Trang 16dụng bất hợp pháp tên gọi xuất xứ phải chấm dứt hành vi và bồi thường thiệt hại
Quyền sử dụng tên gọi xuất xứ không được chuyển giao cho người khác bằng bất cứ hình thức nào (Đ797 BLDS)
II QUYỀN SHCN TRONG CÁC QUY ĐỊNH CỦA WTO VÀ CÁC
ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ QUAN TRỌNG
1 WTO và TRIPS:
Tổ chức thương mại thế giới (WTO) được thành lập ngày 1/1/1995, kế tục và mở rộng phạm vi điều tiết thương mại quốc tế của tổ chức tiền thân là Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT)
Quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại là một nội dung cơ bản trong hoạt động của WTO, được điều tiết bởi một trong ba hội đồng là Hội đồng về các khía cạnh liên quan đến thương mại cuả quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS) trên cơ sở tuân thủ yêu cầu cơ bản của Hiệp định về những vấn đề liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (Hiệp định TRIPS)
Hiệp định TRIPS đạt được tại vòng đàm phán Uruguay, bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/1/1995 Cho đến nay, đây là Hiệp định đa phương tổng thể nhất
về lĩnh vực sở hữu trí tuệ Các thành viên có thể, không bị bắt buộc, áp dụng trong luật của mình về việc bảo hộ cao hơn so với yêu cầu của Hiệp định, miễn là không trái với các quy định của Hiệp định
Hiệp định gồm 7 phần, 73 điều Phần I là các điều khoản chung và các nguyên tắc cơ bản (Điều 1-8) Phần này dẫn chiếu đến việc áp dụng các điều ước quốc tế của các thành viên: Công ước Paris (1967), Công ước Berne
Trang 17(1971), Công ước Rome, Hiệp ước IPIC như thể tất cả các thành viên của WTO đều là thành viên của các công, hiệp ước đó
Đặc biệt phần này quy định áp dụng hai nguyên tắc cơ bản của WTO:
- Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (NT-Điều 3): Mỗi thành viên phải chấp nhận cho các công dân của các thành viên khác sự đối xử không kém phần thuận lợi hơn so với sự đối xử mà thành viên đó dành cho công dân của nước mình trông việc bảo hộ quyền SHCN
- Nguyên tắc tối huệ quốc (MFN-Điều 4): Đối với việc bảo hộ sở hữu trí tuệ, bất kỳ một sự ưu tiên, chiếu cố, đặc quyền hoặc miễn trừ nào được một thành viên giành cho công dân của bất kỳ thành viên nào khác cũng phải được dành cho công dân của tất cả các thành viên khác ngay lập tức và vô điều kiện
Tuy nhiên các nguyên tắc này cũng có những ngoại lệ, các thành viên thể dựa vào đó để miễn trừ tuân thủ quy định của Hiệp định
Hiệp định cũng nêu ra các tiêu chuẩn liên quan đến khả năng đạt được sở hữu trí tuệ, các quyền được cấp, các yêu cầu bảo hộ, thời hạn bảo hộ, các ngoại lệ và các yêu cầu cụ thể đối với từng đối tượng sở hữu trí tuệ, và các quy định cụ thể việc áp dụng các công ứơc, hiệp ước đã được đề cập Trong
đó, các bên phải tuân thủ các quy định độc lập của công ước Berne (1971) Đối với việc bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng và chống lại hành vi sử dụng nhãn hiệu hàng hoá trùng hoặc tương tự, thời hạn bảo hộ là 7 năm tính từ ngày nộp đơn (Việt Nam là 10 năm) và có thể gia hạn liên tiếp thời gian như vậy (Mục 2-Phần II) Còn đối với sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp thì các thành viên của Hiệp định phải tuân thủ các quy định độc lập của Công ước Paris (Mục 2, 4, 5-Phần II) Hiệp định cũng đưa ra các quy định về bảo hộ thông tin bí mật để chống cạnh tranh không lành mạnh (Mục 7-Phần II)
Trang 18Về việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ, các thành viên phải quy định thủ tục và các biện pháp bảo hộ đảm bảo công bằng và hợp lý, không phức tạp và tốn kém một cách không cần thiết và các chế tài phạt thích đáng để ngăn chặn các hành vi xâm phạm
Để đạt được và duy trì các quyền sở hữu trí tuệ và các thủ tục liên quan theo yêu cầu của các bên có liên quan hiệp định cũng quy định các thủ tục cần thiết trong phần IV (Điều 62) Các bên có thể quy định trình tự, thủ tục hợp lý
là điều kiện để đạt được hoặc duy trì các quyền sở hữu trí tuệ Các quyết định hành chính cuối cùng theo bất kỳ thủ tục nào đều có thể bị xem xét lại tại cơ quan xét xử hoặc cơ quan tương đương
Các quy định về ngăn ngừa, giải quyết tranh chấp và các quy định về các điều khoản chuyển tiếp được nêu rõ trong Phần V và Phần VI của Hiệp định Phần cuối cùng quy định về việc thành lập Hội đồng TRIPS để điều hành Hiệp định Phần này còn quy định về hợp tác quốc tế chống buôn bán quốc tế hàng hoá xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và các quy định về bảo hộ đối tượng đang tồn tại, xem xét lại Hiệp định, bảo lưu ngoại lệ về an ninh (Phần VII)
2 Một số điều ước quốc tế quan trọng:
2.1.Hiệp ước Madrid (1891) về sự kiểm soát quốc tế dấu hiệu giả mạo của nguồn hàng:
Hiệp ước ký kết năm 1891, sửa đổi năm 1911 tại Washington, năm
1925 tại Hague, năm 1934 tại London, năm 1958 tại Lisbon, và năm 1967 tại Stockholm Hiệp ước mở với các quốc gia thuộc công ước Paris
Hiệp ước quy định cấm mua bán, thể hiện, biểu lộ bất cứ loại hàng nào trong
tự nhiên mà lừa đảo công chúng về nguồn gốc hàng hoá, quy định các trường hợp phải bị tịch thu, xử lý trách nhiệm của các quốc gia ký kết với các vi phạm
Trang 192.2 Hiệp ước Lisbon về sự bảo vệ tên gọi xuất xứ hàng hoá và đăng ký
quốc tế của nó:
Hiệp ước được ký kết năm 1958, sửa đổi tại Stockholm năm 1967,
1979 Hiệp ước mở với các thành viên của Công ước Paris
Mục đích của Hiệp ước là bảo vệ quốc tế tên gọi xuất xứ hàng hoá đó là tên gọi địa lý của quốc gia, vùng lãnh thổ, địa phương nào đó mà sản phẩm bắt nguồn từ đó, phẩm chất và đặc điểm của sản phẩm được hình thành bởi tên gọi xuất xứ hàng hoá như vậy được đăng ký bởi Văn phòng quốc tế của WIPO ở Geneva theo yêu cầu của các quan chức có thẩm quyền của quốc gia ký kết Phòng quốc tế thông báo sự đăng ký với các quốc gia có ký kết khác, trừ trường hợp quốc gia có ký kết trong vòng một năm có công bố (tuyên bố), nó không thể đảm bảo sự bảo vệ tên gọi xuất xứ hàng hoá được đăng ký quốc tế
Nội dung chủ yếu của Hiệp ước quy định:
Việc đăng ký kiểu dáng công nghiệp quốc tế có thể được làm tại Văn phòng quốc tế của WIPO hoặc trực tiếp thông qua văn phòng sở hữu công nghiệp quốc gia của nước ký kết nếu như luật pháp cho phép Luật trong nước của bất cứ nước nào có thể yêu cầu sự đăng ký quốc tế được làm không qua văn phòng quốc gia của nó (Bỉ, Luých xăm bua, Hà Lan yêu cầu rằng việc đăng ký quốc tế của quốc gia họ được làm thông qua Văn phòng kiểu dáng
Trang 20công nghiệp Benelux) Việc đăng ký quốc tế có chỉ định tại mỗi một quốc gia
có ký kết bởi người nộp đơn, sẽ có hiệu lực tương tự như các hình thức được yêu cầu bởi luật trong nước Việc đăng ký quốc tế có thể kéo dài hiệu lực của
nó với nước ký kết được chỉ định bởi người nộp đơn (hoặc văn phòng kiểu dáng Benelux nếu được chỉ định) Có thể từ chối sự bảo vệ trong vòng 6 tháng
kể từ ngày nhận được công bố của việc đăng ký quốc tế
Số lượng việc đăng ký quốc tế và làm mới có hiệu lực theo Hiệp ước Hague năm 1980 là 2,392 và năm 1994 là 5,446 Cuối năm 1980, 17100 việc đăng ký có hiệu lực, cuối năm 1994 số lương tương ứng là 24,000
2.4 Hiệp ước Strasbourg về phân loại sáng chế thế giới (IPC):
Hiệp ước này được ký kết năm 1971 Hiệp ước mở với các nước thành viên của Công ước Paris
Hiệp ước thiết lập một sự phân loại sáng chế thế giới (IPC) IPC chia kỹ thuật thành ba phần chính và xấp xỉ 67,000 phần phụ Mỗi phần phụ có một biểu tượng gồm các chữ số ả rập và các chữ cái Latin Biểu tượng thích hợp được phân phối bởi văn phòng quyền SHCN theo vùng hoặc quốc gia Để giữ IPC không bị tụt hậu, nó được sửa đổi 5 năm một lần
Mặc dù chỉ có 29 quốc gia là thành viên của Hiệp ước này, nhưng các văn phòng sáng chế (có hơn 70 quốc gia, 3 văn phòng thuộc vùng) và phòng quốc tế của WIPO theo Hiệp ước Hợp tác Patent (PCT) sử dụng IPC
2.5 Hiệp ước Nice (1957) về phân loại quốc tế về nhãn hàng hoá và dịch
vụ cho mục đích đăng ký nhãn hiệu:
Hiệp ước ký năm 1957, sửa đổi tại Stockholm năm 1967, tại Geneva năm 1977, 1979 Hiệp ước mở với các thành viên Công ước Paris
Trang 21Hiệp ước thiết lập một sự phân loại hàng hoá và dịch vụ cho các mục đích đăng ký nhãn hiệu hàng hoá và nhãn hiệu dịch vụ Sự phân chia được sử dụng trong việc đăng ký quốc tế tuân theo Hiệp ước Madrid hoặc được sử dụng trong việc đăng ký quốc gia của các nước ký kết
Sự phân chia bao gồm danh sách các loại: có 34 loại cho hàng hoá và 8 loại cho dịch vụ và một danh sách theo vần a, b, c hàng hoá và dịch vụ Sau đó bao gồm 11.000 khoản cả 2 loại danh sách theo từng ngày được sửa đổi và bổ sung bởi một hội đồng các chuyên gia trong đó có đại diện tất cả các nước ký kết
Mặc dù chỉ có 12 nước là thành viên của Hiệp ước Nice văn phòng nhãn hiệu của trên 100 nước trên thế giới cũng như Văn phòng quốc tế của WIPO, Văn phòng nhãn hiệu Penelux và tổ chức Quyền sở hữu kiến thức Châu Phi (OAPI) đều sử dụng phân loại này
2.6 Hiệp ước Locarno (1968) về phân loại quốc tế kiểu dáng công
cả các nước có hợp đồng thiết lập sự phân loại theo Hiệp ước, được giao phó nhiệm vụ sửa đổi định kỳ sự phân loại
III NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ XÁC LẬP, KHAI THÁC VÀ BẢO VỆ
QUYỀN SHCN Ở NƯỚC TA
1 Tầm quan trọng của việc xác lập, khai thác và bảo vệ quyền SHCN:
Trang 22Thực tế cho thấy quyền SHCN đóng một vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp Sở dĩ như vậy là vì:
Quyền SHCN là một tài sản có giá trị Giá trị này có được từ thế độc quyền trong khai thác thị trường về một sản phẩm hay một dịch vụ nào đó
Quyền SHCN tạo ưu thế cạnh tranh trên thị trường Doanh nghiệp sẽ đạt được và duy trì được lợi thế của mình trên thị trường thông qua việc bảo hộ các đối tượng SHCN, đặc biệt là các đối tượng có tính sáng tạo như sáng chế, giải pháp hữu ích và bí mật thương mại
Quyền SHCN bảo vệ uy tín doanh nghiệp trong kinh doanh thông qua việc bảo hộ các đối tượng có chức năng nhận dạng và phân biệt hàng hoá, dịch
vụ của doanh nghiệp trên thị trường
Quyền SHCN có thể được xác định giá trị nhằm định giá tài sản doanh nghiệp, góp vốn liên doanh, góp vốn đầu tư mở rộng sản xuất, đầu tư nghiên cứu triển khai, tiếp nhận và chuyển giao công nghệ Giá trị của quyền SHCN phản ánh mức độ lợi nhuận tiềm năng của đối tượng bảo hộ nếu đem khai thác, sử dụng tại thời điểm và thị trường nhất định
Quyền SHCN bảo đảm thực hiện hiệu quả việc quảng cáo, hướng dẫn người tiêu dùng về hàng hoá dịch vụ
Quyền SHCN là biện pháp đảm bảo đầu tư quan trọng, kể cả đối với đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài
Quyền SHCN luôn gắn liền với chuyển giao công nghệ Khi một công nghệ được chuyển giao cho một bên khác, thì quyền SHCN cũng sẽ được chuyển giao cùng công nghệ đó
Việc bảo hộ quyền SHCN có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động xuất nhập khẩu nhằm bảo hộ cho các nhãn hiệu và bản quyền của các doanh nghiệp trong nước tại thị trường nước ngoài
Trang 23 Quyền SHCN có vai trò hết sức to lớn trong chiến lược phân phối sản phẩm Nó giúp tạo ra cho sản phẩm những khác biệt so với những mặt hàng cùng loại khác đồng thời hướng dẫn người tiêu dùng lựa chọn đúng sản phẩm
Đối tượng SHCN có thể được khai thác thương mại theo nhiều cách khác nhau, có thể thông qua việc trao đổi mua bán trực tiếp hoặc bằng cách đưa vào sản xuất và bán sản phẩm có chứa đối tượng được bảo hộ Theo đó giá trị của đối tượng SHCN được đưa vào giá thành của sản phẩm
Các phương thức tiến hành thương mại hoá phổ biến là chuyển nhượng, chuyển giao li-xăng, cấp phép sử dụng phương thức kinh doanh, liên doanh
và chuyển giao công nghệ
- Theo hình thức chuyển nhượng, đối tượng SHCN được chủ sở hữu bán cho người khác, có thể được bán độc lập hoặc bán kèm theo doanh nghiệp trong một số trường hợp
- Hình thức chuyển giao lisence là hình thức phổ biến nhất Trong chuyển giao lisence, chủ sở hữu đối tượng công nghiệp cấp cho người có nhu cầu khai thác đối tượng SHCN quyền sử dụng đối tượng đó trong một thời hạn, phạm vi lãnh thổ, phạm vi quyền và nghĩa vụ xác định
- Hình thức cấp phép sử dụng phương pháp kinh doanh là việc chủ sở hữu độc quyền phương pháp kinh doanh cho phép người khác sử dụng phương pháp kinh doanh đó nhằm mục đích thu lợi nhuận
- Hình thức liên doanh liên quan đến sự kết hợp với nhau của hai hay nhiều bên nhằm mục đích kinh doanh chung trên cơ sở cùng chia sẻ lợi nhuận và rủi
ro
Chuyển giao công nghệ là một phương thức phổ biến trong thương mại hoá công nghệ và các đối tượng SHCN
Trang 24Do đó, vấn đề xác lập, khai thác và bảo vệ quyền SHCN là vấn đề hết sức cấp thiết cần được các doanh nghiệp coi là chiến lược hàng đầu trước khi tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh
2 Xác lập, khai thác và bảo vệ quyền SHCN:
2.1 Xác lập quyền SHCN:
Quyền sở hữu đối với sáng chế, các giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá và quyền sử dụng tên gọi xuất xứ được xác lập theo văn bằng bảo hộ do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp (ở Việt Nam là Cục sở hữu công nghiệp, Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường)
Là thành viên của Công ước Paris, Việt Nam bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng không thông qua việc cấp văn bằng bảo hộ, điều này được áp dụng trực tiếp
mà không cần chuyển hoá thành luật trong nước
Thời hạn bảo hộ quyền SHCN là thời hạn hiệu lực của văn bằng bảo hộ,
có thể được gia hạn Theo khoản 9 Nghị định 63, các văn bằng bảo hộ có thời hạn hiệu lực như sau:
Sáng chế : 20 năm
Giải pháp hữu ích : 10 năm
Kiểu dáng công nghiệp : 5 năm (có thể gia hạn liên tiếp 2 lần, mỗi lần 5 năm) Nhãn hiệu hàng hoá : 10 năm (có thể gia hạn nhiều lần, mỗi lần 10 năm)
Văn bằng bảo hộ có hiệu lực từ ngày cấp, ngày bắt đầu tính thời hạn là ngày nộp đơn hợp lệ
2.2 Sử dụng hạn chế quyền SHCN:
Việc bảo hộ quyền SHCN đảm bảo cho chủ sở hữu có vị trí độc quyền
về sử dụng các đối tượng SHCN, nhằm bồi hoàn lại công sức của họ đã tìm và tạo ra giá trị của đối tượng SHCN đó Song cũng do vậy mà xuất hiện mâu thuẫn giữa quyền lợi cá nhân và nhu cầu sử dụng rộng rãi của xã hội Trong
Trang 25những trường hợp nhất định pháp luật giải quyết các mâu thuẫn trên, đặc biệt
để tránh sự lạm dụng quyền SHCN của chủ sở hữu
Quyền của người sử dụng trước:
Điều 801 BLDS quy định quyền của người đã sử dụng sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp trước khi văn bằng bảo hộ về đối tượng
đó được cấp cho một người khác Người sử dụng trước được tiếp tục sử dụng các đối tượng này nhưng không được mở rộng khối lượng, phạm vi áp dụng
và không được chuyển giao quyền sử dụng cho người khác
Hạn chế quyền SHCN vào mục đích chung:
Điều 802 BLDS quy định các trương hợp để cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định buộc chủ sở hữu đối tượng SHCN phải chuyển giao quyền sử dụng cho người khác để hài hoà lợi ích xã hội và lợi ích cá nhân
Sử dụng đối tượng SHCN không phải xin phép hay trả thù lao:
Điều 803 BLDS quy định các trường hợp sử dụng sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp không phải xin phép, không phải trả thù lao, trong đó đáng chú ý là sử dụng các đối tượng này không vì mục đích kinh doanh
2.3 Bảo vệ quyền SHCN:
Người nào sử dụng các đối tượng SHCN của người khác trong thời hạn bảo hộ mà không xin phép chủ sở hữu đối tượng SHCN thì bị coi là xâm phạm quyền SHCN trừ các trường hợp về hạn chế quyền SHCN (Đ894 BLDS)
Điều 804 và 805 BLDS quy định các hành vi xâm phạm quyền SHCN bao gồm:
- Sử dụng, nhập khẩu, quảng cáo, lưu thông sản phẩm được sản xuất, sản xuất sản phẩm theo sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ tại Việt Nam là sáng chế, giải pháp hữu ích
Trang 26- Sản xuất sản phẩm theo kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ tại Việt Nam, nhập khẩu, bán quảng cáo hoặc sử dụng các sản phẩm chế tạo theo kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ tại Việt Nam nhằm mục đích kinh doanh
- Gắn nhãn hiệu hàng hoá được bảo hộ tại Việt Nam của người khác hoặc nhãn hiệu tương tự lên bao bì, sản phẩm của mình, nhập khẩu, bán hoặc chào hàng các sản phẩm có gắn nhãn hiệu hàng hoá được bảo hộ tại Việt Nam trên thị trường Việt Nam
2.3.1 Bảo hộ sáng chế, giải pháp hữu ích và kiểu dáng công nghiệp:
Mục đích và ý nghĩa:
Bảo hộ sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp giữ một vai trò quan trọng đặc biệt đối với sự phát triển tiềm lực khoa học công nghệ cũng như đối với sự nghiệp công nghiệp hoá của một quốc gia, được thể hiện ở các mặt sau:
- Thúc đẩy hoạt động sáng tạo, đổi mới kỹ thuật sản xuất, khuyến khích cạnh tranh lành mạnh giữa các chủ thể trong nền kinh tế thị trường
Để tạo ra được một sản phẩm mới hoặc một phương pháp mới, thiết bị mới sản xuất các sản phẩm đã biết với năng suất chất lượng cao hơn, kiểu dáng đẹp hơn, đáp ứng thị thiếu của người tiêu dùng, đòi hỏi nhà sản xuất phải đầu tư nhiều thời gian công sức và tiền của, đồng thời chấp nhận rủi ro trong quá trình nghiên cứu triển khai
Trong bối cảnh đó việc bảo hộ sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp cho chủ Văn bằng bảo hộ trong một thời gian nhất định đủ để họ thu lợi nhuận, bù đắp các chi phí nghiên cứu, triển khai, phát triển và mở rộng sản xuất tăng thu nhập cho bản thân hoặc doanh nghiệp là biện pháp hữu hiệu nhất
để khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân đầu tư nghiên cứu, tạo ra và áp dụng các sáng chế, giải pháp hữu ích kiểu dáng công nghiệp vào sản xuất, tạo ra
Trang 27nhiều sản phẩm hoặc sản phẩm có chất lượng tốt hơn đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội
- Khi sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp được cấp văn bằng bảo hộ và công bố tức là chúng được bộc lộ công khai, xã hội có được những thông tin cần thiết về các đối tượng đã được bảo hộ Đây chính là yếu tố kích thích các tổ chức, cá nhân khác nghiên cứu tạo ra các giải pháp mới hơn, tránh tạo ra những kết quả mà người khác đã giải quyết, đã thuộc quyền sở hữu của người khác Mặt khác khi văn bằng bảo hộ hết hiệu lực thì sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp trở thành sở hữu chung của toàn xã hội, mọi tổ chức, cá nhân đều có quyền sử dụng nhờ đó
mà trình độ kỹ thuật sản xuất chung của xã hội được nâng cao, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển
- Bảo hộ sáng chế, giải pháp hữu ích và kiểu dáng công nghiệp góp phần thúc đẩy hoạt động đầu tư từ nước ngoài Các hãng, các công ty nước ngoài chỉ đầu tư vào một nước thì họ được đảm bảo chắc chắn rằng các sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp thể hiện trong máy móc, thiết bị, quy trình công nghệ của họ đưa vào nước nhận đầu tư, kể cả những sản phẩm mà họ liên doanh với một đối tác của nước đó sản xuất ra không bị người khác bắt chước chế tạo, tức là họ phải nhận được sự bảo hộ quyền SHCN đối với các đối tượng này Chính vì vậy mà các công ty nước ngoài đến Việt Nam tìm hiểu cơ hội đầu tư đều đi sâu vào tìm hiểu hệ thống pháp luật và tình hình bảo hộ sở hữu công nghiệp ở nước ta và tiến hành việc đăng ký bảo hộ các đối tượng SHCN trước khi thực hiện bất cứ một dự án đầu tư nào
Văn bằng bảo hộ:
Trang 28Nhà nước thực hiện việc bảo hộ quyền đối với sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp dưới hình thức cấp văn bằng bảo hộ tương ứng nhằm công nhận và bảo hộ quyền SHCN của người nộp đơn yêu cầu bảo hộ các đối tượng này Việc xác định ai có quyền nộp đơn có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo hộ quyền SHCN bởi lẽ người nộp đơn sẽ trở thành chủ Văn bằng bảo
hộ nếu như đối tượng bảo hộ đáp ứng các yêu cầu quy định Quyền nộp đơn xin cấp Văn bằng bảo hộ sáng chế, giải pháp hữu ích thuộc về tác giả, đồng tác giả hoặc người thừa kế hợp pháp của tác giả
Quyền của chủ văn bằng bảo hộ sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp:
Trong thời hạn hiệu lực của bằng độc quyền sáng chế, Bằng độc quyền giải pháp hữu ích, Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp, chủ văn bằng bảo
hộ được:
+ Độc quyền sử dụng sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp của mình, bao gồm việc độc quyền trong sản xuất, sử dụng, nhập khẩu, quảng cáo, lưu thông sản phẩm sản xuất theo sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp; độc quyền trong việc áp dụng các phương pháp đã được bảo hộ là sáng chế, giải pháp hữu ích
+ Chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp cho tổ chức, cá nhân khác thông qua hợp đồng chuyển giao SHCN quy định trong Nghị định 63 của Chính phủ
Nghĩa vụ của chủ Bằng độc quyền sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp:
+ Chủ văn bằng bảo hộ các sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp có ảnh hưởng đặc biệt đối với an ninh quốc phòng, bảo vệ sức khoẻ
Trang 29nhân dân và môi trường sinh thái có nghĩa vụ sử dụng sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu quốc gia và của xã hội + Trả tiền thù lao cho tác giả sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp theo quy định của Nghị định 63/CP của Chính phủ
+ Chủ văn bằng bảo hộ sáng chế, giải pháp hữu ích phải nộp lệ phí duy trì hiệu lực Văn bằng bảo hộ theo quy định của Thông tư số 23 TC/TCT của Bộ Tài Chính
2.3.2 Bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá, tên gọi xuất xứ hàng hoá:
Mục đích và ý nghĩa:
- Khuyến khích cạnh tranh lành mạnh giữa các cơ sở sản xuất, kinh doanh cùng một mặt hàng hoặc thực hiện cùng một loại dịch vụ bằng cách không ngừng nâng cao chất lượng hàng hoá, chất lượng dịch vụ Thông qua nhãn hiệu hàng hoá, tên gọi xuất xứ hàng hoá tạo uy tín và không ngừng nâng cao uy tín các mặt hàng mà mình sản xuất, kinh doanh hoặc các dịch vụ mà mình thực hiện
- Ngăn chặn tình trạng vi phạm quyền sở hữu nhãn hiệu hàng hóa của người khác, bảo vệ quyền lợi chính đáng của chủ nhãn hiệu hàng hoá, ngăn chặn việc sử dụng tên gọi xuất xứ hàng hoá tràn lan và mọi hành vi sản xuất hàng giả để thu lợi nhuận bất chính
- Đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng Thông qua nhãn hiệu hàng hoá, tên gọi xuất xứ hàng hoá người tiêu dùng có thể chọn cho mình những sản phẩm hoặc những dịch vụ mà mình ưa thích
Văn bằng bảo hộ:
- Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hoá
Nhà nước thực hiện việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá dưới hình thức cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hoá cho người nộp đơn Người được
Trang 30cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hoá được coi là chủ nhãn hiệu hàng hoá tương ứng
Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hoá có hiệu lực 10 năm tính từ ngày nộp đơn hợp lệ và có thể gia hạn liên tiếp nhiều lần, mỗi lần 10 năm kể
từ ngày kết thúc thời hạn trước
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng tên gọi xuất xứ hàng hoá
Giấy chứng nhận quyền sử dụng tên gọi xuất xứ hàng hoá do SHCN cấp cho người nộp đơn, có hiệu lực từ ngày cấp đến hết 10 năm kể từ ngày nộp đơn hợp lệ và có thể gia hạn nhiều lần liên tiếp, mỗi lần 10 năm
Quyền nộp đơn yêu cầu cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hoá, Giấy chứng nhận quyền sử dụng tên gọi xuất xứ hàng hoá
- Đối với nhãn hiệu hàng hóa
+ Cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ hợp pháp đều có quyền nộp Đơn yêu cầu cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hoá
+ Cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác tiến hành hoạt động thương mại hợp pháp có quyền nộp đơn yêu cầu Cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hoá cho sản phẩm mình đưa ra thị trường nhưng do người khác sản xuất với điều kiện người sản xuất không sử dụng nhãn hiệu hàng hoá đó cho sản phẩm tương ứng và không phản đối việc nộp đơn nói trên
- Đối với tên gọi xuất xứ hàng hoá
+ Cá nhân, pháp nhân hoặc chủ thể khác đang tiến hành sản xuất, kinh doanh sản phẩm có tính chất, chất lượng đặc thù tại nước, địa phương có tên địa lý đáp ứng các quy định của Nghị định 63/CP có quyền nộp đơn yêu cầu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng tên gọi xuất xứ hàng hoá cho sản phẩm của mình
Trang 31+ Cá nhân, pháp nhân nước ngoài đang là chủ văn bằng bảo hộ tên gọi xuất xứ hàng hoá do nước ngoài cấp có quyền nộp đơn yêu cầu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng tên gọi xuất xứ hàng hoá đó để sử dụng cho sản phẩm của mình trên thị trường Việt Nam
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG VIỆC XÁC LẬP, KHAI THÁC VÀ BẢO VỆ
QUYỀN SHCN TẠI VIỆT NAM
I THỦ TỤC XÁC LẬP QUYỀN SHCN
1 Thủ tục xác lập quyền SHCN tại Việt Nam
1.1 Đối với các đơn yêu cầu bảo hộ SHCN trong nước:
Khi nhận được Đơn yêu cầu bảo hộ SHCN, Cục SHCN có nhiệm vụ:
- Kiểm tra lại danh mục các tài liệu ghi trong tờ khai
Trang 32- Ghi nhận những sai khác giữa danh mục tài liệu ghi trong tờ khai và số tài liệu thực có trong Đơn
- Sơ bộ kiểm tra Đơn để kết luận có tiếp nhận Đơn hay không
- Đóng dấu xác nhận ngày Đơn đến, số Đơn và có ghi kết quả kiểm tra danh mục tài liệu, có họ tên, chữ ký của cán bộ nhận Đơn
Sau khi kiểm tra sơ bộ, Đơn có thể không được tiếp nhận do các lỗi sau: thiếu một trong các tài liệu bắt buộc phải có (tuỳ theo đối tượng được yêu cầu bảo hộ); hình thức bảo hộ (loại Văn bằng bảo hộ yêu cầu được cấp) không phù hợp với đối tượng SHCN nêu trong Đơn; hoặc tờ khai không có chữ ký hoặc
bị tẩy xoá, sửa chữa nghiêm trọng, Cục SHCN gửi phải thông báo cho người nộp Đơn lý do không tiếp nhận Đơn
Sau khi tiếp nhận Đơn, một bộ tài liệu cần thiết được tách ra để lưu giữ tình trạng ban đầu của Đơn (gọi là “Bộ hồ sơ” của Đơn); các tài liệu còn lại gộp thành bộ tài liệu dùng để xét nghiệm
Sau đó Đơn được xét nghiệm hình thức nhằm kiểm tra xem Đơn có đáp ứng đầy đủ các điều kiện không để xác định ngày nộp Đơn hợp lệ và ngày ưu tiên
Trong trường hợp Đơn còn có những thiếu sót về mặt hình thức (Đơn được làm bằng ngôn ngữ khác ngoài tiếng Việt ) hay cần bổ sung tài liệu (thiếu bản mô tả tóm tắt ), Cục SHCN sẽ gửi cho người nộp Đơn thông báo kết quả xét nghiệm hình thức Đơn, trong đó nêu rõ tên, địa chỉ người nộp Đơn, tên tổ chức Đại diện SHCN (nếu Đơn được nộp thông qua tổ chức đó), ngày Đơn đến Cục SHCN, tên đối tượng nêu trong Đơn, các thiếu sót cần phải sửa chữa
và ấn định thời gian để người nộp Đơn sửa chữa thiếu sót Nếu các thiếu sót
đó không được sửa chữa trong thời hạn đã định thì Đơn được coi là không hợp
lệ
Trang 33Mọi Đơn sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp đã được chấp nhận hợp lệ về hình thức đều được Cục SHCN công bố trên Công báo SHCN, gồm tất cả các thông tin về Đơn hợp lệ ghi trong thông báo nhận Đơn, tóm tắt sáng chế, giải pháp hữu ích có kèm theo hình vẽ nếu cần, một hoặc một số hình vẽ, ảnh chụp kiểu dáng công nghiệp kèm theo thời hạn quy định sau:
- Đơn sáng chế, giải pháp hữu ích được công bố trong tháng thứ 19 kể từ ngày ưu tiên
- Đơn quốc tế và Đơn kiểu dáng công nghiệp được công bố trong tháng thứ
2 tính từ ngày chấp nhận Đơn hợp lệ
Ngoài ra người nộp Đơn có thể yêu cầu công bố sớm, trong trường hợp đó Đơn sẽ được công bố trong thời hạn 1 tháng tính từ ngày Cục SHCN nhận được yêu cầu công bố sớm hoặc theo thời hạn muộn hơn ghi trong yêu cầu
1.2 Đối với các đơn yêu cầu bảo hộ SHCN quốc tế có nguồn gốc Việt
Nam:
Về cơ bản, thủ tục xác lập quyền SHCN của các Đơn yêu cầu bảo hộ quyền SHCN quốc tế tại Việt Nam phải phù hợp với công ước Paris về quyền SHCN, Hiệp ước hợp tác Patent và Thoả ước Madrid về đăng ký nhãn hiệu hàng hoá quốc tế
Đối với đơn quốc tế về sáng chế và giải pháp hữu ích, Đơn đăng ký quốc
tế nhãn hiệu, cơ quan có thẩm quyền nhận Đơn quốc tế tại Việt Nam là Cục SHCN, Cục SHCN có trách nhiệm:
- Nhận Đơn quốc tế nguồn gốc Việt Nam
- Thu lệ phí và chuyển các khoản lệ phí tương ứng cho Văn phòng quốc tế
và Cơ quan tra cứu quốc tế theo quy định của hiệp ước
- Kiểm tra và xử lý Đơn quốc tế nguồn gốc Việt Nam theo quy định của Hiệp ước
Trang 34- Xác định đối tượng xin bảo hộ
- Gửi một bản (Bản hồ sơ) của Đơn quốc tế có nguồn gốc Việt Nam cho Văn phòng quốc tế và một bản (Bản tra cứu) cho cơ quan tra cứu quốc tế
Đối với các Đơn quốc tế có nguồn gốc Việt Nam, ngôn ngữ hợp lệ là tiếng Anh và tiếng Nga, và các cơ quan tra cứu quốc tế và các cơ quan xét nghiệm
sơ bộ quốc tế có thẩm quyền là các cơ quan Patent của Ôxtrâylia, Aó, Liên bang Nga, Thuỵ Điển và cơ quan Patent của Châu Âu Nếu trong Đơn quốc tế
có chỉ định Việt Nam thì Cục SHCN sẽ là cơ quan được chỉ định, còn nếu trong Đơn có yêu cầu xét nghiệm sơ bộ quốc tế có chọn Việt Nam thì Cục SHCN sẽ là cơ quan được chọn
Đối với Đơn đăng ký quốc tế nhãn hiệu có nguồn gốc Việt Nam ra nước ngoài theo Thoả ước Madrid, ngôn ngữ hợp lệ là tiếng Pháp Đơn được nộp cho Văn phòng quốc tế thông qua Cục SHCN Sau khi nhận được thông báo của Văn phòng quốc tế về Đơn đăng ký quốc tế nhãn hiệu có chỉ định Việt Nam, Cục SHCN tiến hành xét nghiệm nội dung Đơn đó như đối với Đơn nhãn hiệu nộp trực tiếp cho Cục SHCN Nhãn hiệu được chấp nhận bảo hộ tại Việt Nam theo thoả ước Madrid được công bố trên Công báo SHCN Phạm vi (khối lượng) bảo hộ được xác nhận theo nội dung đăng ký nhãn hiệu đó do Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) ghi nhận và được Cục SHCN xác nhận
2 Thủ tục xác lập quyền SHCN tại các nước trên thế giới:
Hiện nay trên thế giới, mỗi nước có quy định khác nhau về quy trình cấp bằng sáng chế Xét tính chất của quy trình, chúng ta có thể chia thành hai loại: Loại thứ nhất là những nước chỉ đăng bạ Đơn xin cấp bằng sáng chế (có thể có qua bước kiểm tra hình thức); Loại thứ hai là những nước có tra cứu, xét nghiệm phát minh theo yêu cầu của các bên thứ ba, người tiêu dùng-công
Trang 35chúng-và người nộp Đơn trước khi cấp bằng sáng chế để đảm bảo sáng chế sẽ
có hiệu lực khi được cấp
Trong hệ thống Patent của các nước thuộc nhóm thứ nhất, thường có một văn phòng chịu trách nhiệm thực hiện việc kiểm tra các Đơn đăng ký xem đã
đủ các tài liệu bằng văn bản theo quy định hay không, hình thức đăng ký có phù hợp hay không, sau đó người nộp Đơn sẽ được cấp bằng sáng chế Tại một số nước khác, đơn được tra cứu tài liệu và kết quả tra cứu sẽ được công
bố Quyết định cấp bằng sáng chế và ngày cấp được công bố trên báo trung ương hoặc công báo
Hệ thống Patent của các nước thuộc nhóm thứ hai cũng khác nhau Tại một
số nước như Mỹ, việc tra cứu và xét nghiệm được thực hiện đồng thời Đơn được tra cứu thông qua bộ tài liệu Patent thế giới, các văn bản, báo chí kết hợp với các dữ liệu thương mại Đơn được tiến hành xét nghiệm ngay trên cơ
sở tham khảo kết quả tra cứu trước đó Việc xét nghiệm chủ yếu nhằm tìm ra phát minh đã được công bố chưa và có đáp ứng được các yêu cầu cần thiết về tính mới, không hiển nhiên và hữu ích (hoặc ứng dụng công nghiệp) không Còn hệ thống Patent của một số nước Châu Âu, việc tra cứu và xét nghiệm là hai quá trình riêng biệt được thực hiện độc lập với nhau Chẳng hạn như ở Anh, đơn nhanh chóng được tra cứu và kết quả được thông báo cho người đăng ký, lúc này người đăng ký có thể rút đơn, nếu không đơn đăng ký sẽ được công bố, cùng với kết quả tra cứu 18 tháng sau ngày ưu tiên Trong vòng
6 tháng kể từ ngày công bố, người đăng ký có thể yêu cầu xét nghiệm đơn toàn diện Việc xét nghiệm có thể bao gồm cả việc trao đổi giữa Văn phòng Patent và người nộp đơn Trong quá trình xét nghiệm, người nộp đơn được phép sửa chữa sai sót của đơn được phát hiện trong quá trình xét nghiệm Phát minh có thể được cấp bằng sáng chế 3 hoặc 4 năm kể từ ngày ưu tiên Quá
Trang 36trình đăng ký bằng sáng chế diễn ra như sau: khi nộp đơn, bộ hồ sơ xin cấp bằng sáng chế bao gồm các tài liệu như: yêu cầu cấp bằng sáng chế, phí thủ tục 12 tháng kể từ ngày ưu tiên, người nộp đơn có thể nộp yêu cầu về quyền của người được cấp bằng, yêu cầu tra cứu, nộp phí và bản tóm tắt Sau đó đơn
sẽ được tiến hành tra cứu Sau 18 tháng kể từ ngày ưu tiên, đơn đăng ký được công bố cùng với báo cáo tra cứu 24 tháng kể từ ngày ưu tiên, người nộp đơn
có quyền yêu cầu xét nghiệm, nếu có và nộp phí xét nghiệm Sau khi đã quyết định nộp phí xét nghiệm, các cơ quan hữu quan sẽ tiến hành xét nghiệm đơn
54 tháng kể từ ngày ưu tiên, quyết định cấp bằng sẽ được công bố
3 Thủ tục xác lập quyền SHCN theo các Điều ước quốc tế:
Hầu hết các hệ thống Patent đều mang tính lãnh thổ quốc gia, tức là các bằng sáng chế cấp chỉ được sử dụng trong lãnh thổ quốc gia đã cấp bằng sáng chế đó Tuy nhiên hiện nay đã xuất hiện các hệ thống Patent khu vực Trong
hệ thống Patent khu vực có một văn phòng để đại diện cho các nước trong khu vực Hệ thống Patent được sử dụng rộng rãi nhất là Tổ chức Patent Châu Âu (EPO), văn phòng của tổ chức này được đặt tại Munich, Đức, phục vụ 17 nước
và hàng năm giải quyết khoảng 70.000 đơn
Ngoài tổ chức Patent Châu Âu, còn có các văn phòng khu vực khác như Tổ chức sở hữu trí tuệ Châu Phi và Tổ chức SHCN khu vực Châu Phi Cả hai tổ chức này đều hoạt động nhân danh nhóm các nước Châu Phi
Để bằng sáng chế có hiệu lực tại nhiều nước mà không cần phải thành lập
hệ thống Patent khu vực, văn phòng của nước này công nhận công việc của văn phòng nước khác bằng cách đăng bạ lại bằng sáng chế do văn phòng khác cấp hoặc yêu cầu cung cấp bằng chứng chứng tỏ một bằng sáng chế tương tự
đã được cấp ở nơi khác
Trang 37Ngoài và có hiệu lực cao hơn hệ thống bằng sáng chế khu vực và quốc gia còn có Hiệp ước hợp tác Patent mà hiện nay đã có đến 57 thành viên Điểm thuận lợi khi đăng ký bằng sáng chế qua Hiệp ước này là một đơn đăng ký có thể được nộp qua một trong những văn phòng quốc gia có chức năng như là văn phòng nhận đơn, và có thể được xử lý bằng một ngôn ngữ, qua một quy trình về mặt thủ tục Đơn qua tra cứu do cơ quan tra cứu quốc tế thực hiện Sau đó, đơn vào giai đoạn quốc gia hoặc giai đoạn khu vực tại nước được chỉ định - và có thể chỉ định đến 57 nước- hoặc 20 tháng kể từ ngày ưu tiên hoặc
30 tháng kể từ ngày ưu tiên có yêu cầu xét nghiệm quốc tế sơ bộ, văn phòng sáng chế cho ý kiến về khả năng cấp bằng sáng chế Do đó người nộp đơn có nhiều thời gian xem xét lại và nghiên cứu trước khi trả phí và thực hiện công việc dịch thuật để vào hệ thống Patent quốc gia
Đối với nhãn hiệu hàng hoá, ngoài luật quốc gia của mỗi nước, hiện nay đã
có Thoả ước Madrid về đăng ký nhãn hiệu hàng hoá quốc tế điều chỉnh Theo Thoả ước này, quy trình đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hoá và dịch vụ được nộp cho cơ quan nhà nước với chức năng là cơ quan nhận đơn Sau đó đơn được chuyển cho Văn phòng quốc tế của Thoả ước Nếu nhãn hiệu hàng hoá quốc tế đáp ứng được đầy đủ điều kiện về tính mới, có tên riêng, có dấu hiệu riêng và không có tính chất lừa dối thì nhãn hiệu được công nhận được bảo hộ
ở các nước nộp đơn Trong trường hợp có yêu cầu văn phòng quốc tế có thể thực hiện công việc tra cứu quốc tế, nếu kết quả tốt thì nhãn hiệu bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày đăng ký
II THỰC TRẠNG KHAI THÁC QUYỀN SHCN Ở NƯỚC TA
1 Thực trạng:
Để nghiên cứu thực trạng khai thác quyền SHCN ở nước ta hiện nay, chúng ta lần lượt đi vào xem xét thực trạng của việc xác lập quyền SHCN, sau
Trang 38đó là thực trạng về khai thác quyền này và cuối cùng là thực trạng bảo hộ quyền đó
1.1 Thực trạng về xác lập quyền SHCN:
Việc xác lập quyền SHCN ở nước ta hiện nay đang dần được các doanh nghiệp chú trọng Song điều đáng nói là trong số các đơn xin đăng ký xác lập quyền SHCN, theo số liệu dưới đây của Cục SHCN, thì chiếm phần lớn vẫn là các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam
1.1.1 Đối với sáng chế:
Bảng 1 Số đơn đăng ký sáng chế
Trong đó Năm Tổng số đơn
Số đơn của người Việt Nam Số đơn của người ngoài
Trong đó Năm Tổng số
bằng Cấp cho người Việt Nam Cấp cho người nước ngoài
Từ bảng trên ta thấy từ năm 1996 đến năm 2001, số sáng chế được cấp
là 2301 văn bằng (trong tổng số 7660 đơn nộp), chiếm 30% số đơn được nộp tại Cục SHCN Theo số liệu về số bằng sáng chế được cấp từ năm 1996 lại
Trang 39đây cũng cho thấy, tổng số bằng sáng chế tăng lên rất nhanh chóng Tuy nhiên, một thực tế là, số bằng sáng chế của người Việt Nam còn quá thấp, năm thấp nhất là không có sáng chế, còn năm cao nhất cũng chỉ là 13 sáng chế Trong khi đó số bằng sáng chế của người nước ngoài được cấp tại Việt Nam tăng lên rất nhanh, năm 1996 là 58 thì đến năm 2001 con số này đã lên tới
776 Các sáng chế được cấp chủ yếu tập trung vào lĩnh vực khoa học công nghệ như các quy trình công nghệ, lĩnh vực vật lý, hoá học, luyện kim, điện, xây dựng, các lĩnh vực khác chỉ chiếm khoảng 30% tổng số bằng sáng chế được cấp
1.1.2 Đối với giải pháp hữu ích:
Số bằng độc quyền về giải pháp hữu ích tính từ năm 1996 đến năm 2001
là 115, chiếm 29,5% tổng số đơn đăng ký, trong đó số bằng cấp cho người Việt Nam tăng đều theo các năm, tuy nhiên vẫn ít hơn số bằng cấp cho người nước ngoài Điều đó được thể hiện rõ trong bảng sau:
Bảng 3: Số đơn đăng ký giải pháp hữu ích
Trong đó Năm Tổng số đơn
Đơn của người Việt Nam Đơn của người nước ngoài
Trong đó Năm Tổng số
bằng Cấp cho người Việt Nam Cấp cho người nước ngoài
Trang 401999 18 6 12
(Nguồn: Cục SHCN, năm 2002) 1.1.3 Đối với kiểu dáng công nghiệp:
Trong bảng 5 dưới đây ta thấy, tổng số đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp tăng giảm thất thường Năm 1996 là 1647 đơn đăng ký, nhưng sau đó lại giảm dần và đến năm 2001 chi còn lại 1052 đơn Từ năm 1996 đến hết năm
2001, tổng số đơn đăng ký là 7151 đơn, trong đó của người Việt Nam là 6244 (chiếm 87,3%), của người nước ngoài là 912 (chiếm 12,7%) Tuy nhiên, một điểm đáng lưu ý là số đơn của người nước ngoài liên tục tăng, từ 131 năm
1996 lên đến 242 năm 2001, trong khi đó của người Việt Nam lại có xu hướng giảm dần
Bảng 5: Số đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp
Trong đó Năm Tổng số đơn
Đơn của người Việt Nam Đơn của người nước ngoài
Trong đó Năm Tổng số
bằng Cấp cho người Việt Nam Cấp cho người nước ngoài