1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn " Thực trạng và một số giải pháp nhằm đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu quế của Việt Nam " pdf

162 675 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng và một số giải pháp nhằm đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu quế của Việt Nam
Tác giả Chưa rõ danh sách tác giả
Trường học Trường Đại Học Nông Lâm, Đại Học Thái Nguyên
Chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 162
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong các loại cây lâm sản thì cây quế được biết đến như một loại cây đặc sản của vùng nhiệt đới và từ lâu cây quế đã trở thành một trong những mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam.. Giá cả c

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Thực trạng và một số giải pháp nhằm đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu quế của

Việt Nam

Trang 2

MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ MẶT HÀNG QUẾ VÀ THỊ TRƯỜNG QUẾ TRÊN THẾ GIỚI 4

I Đặc điểm mặt hàng quế 4

Vài nét về cây quế và sản phẩm quế 4

Các giống quế chính ở Việt Nam 9

Các sản phẩm chính của cây quế 11

3.1 Vỏ quế 11

3.2 Gỗ và tinh dầu quế 12

II Tình hình cung cầu sản phẩm quế trên thị trường thế giới vài năm gần đây 13

1 Nhu cầu về sản phẩm quế trên thế giới 14

2 Tình hình cung cấp mặt hàng quế trên thế giới hiện nay 17

3 Giá cả mặt hàng quế trên thế giới 18

4 Dự báo triển vọng thị trường quế trên thế giới 19

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU QUẾ CỦA VIỆT NAM 20

I Thực trạng sản xuất quế ở Việt Nam 20

1 Những thuận lợi và khó khăn trong ngành sản xuất quế 20

1.1 Những thuận lợi 20

1.1.1 Điều kiện khí hậu và đất đai: 20

1.1.2 Lợi thế kinh nghiệm sản xuất 22

1.1.3 Lợi thế về lao động 24

1.2 Một số khó khăn trong ngành sản xuất quế 26

2 Thực trạng sản xuất quế ở Việt Nam 28

2.1 Các vùng trồng quế chính ở nước ta 28

2.1.1 Vùng quế Yên Bái 28

2.1.2 Vùng quế Quảng Ninh 29

2.1.3 Vùng quế Thanh Hoá, Nghệ An 30

2.1.4 Vùng quế Quảng Nam, Quảng Ngãi 31

2.2 Diện tích và sản lượng 32

2.3 Kĩ thuật lâm sinh và gây trồng quế 35

2.3.1 Kĩ thuật về giống 35

2.3.2 Kĩ thuật trồng quế 39

2.3.4 Khai thác và chế biến vỏ quế 41

2.3.5 Kĩ thuật chế biến vỏ quế 43

2.4 Chất lượng quế Việt Nam 44

II Tình hình xuất khẩu quế của Việt Nam những năm qua 46

Trang 3

1 Những thuận lợi và khó khăn trong xuất khẩu quế 46

1.1 Những thuận lợi 46

1.2 Những khó khăn 48

2 Khối lượng và kim ngạch 49

3 Giá cả và thị trường xuất khẩu 51

3.1 Giá cả 51

3.2 Thị trường 55

III Một số đánh giá về công tác sản xuất và xuất khẩu quế 59

1 Một số đánh giá về công tác sản xuất và xuất khẩu quế của Việt Nam những năm qua 59

1.1 Đánh giá về công tác sản xuất 59

1.2 Đánh giá về công tác xuất khẩu 61

1.3 Một số tồn tại hạn chế 63

2 Hiệu quả kinh tế của việc sản xuất và xuất khẩu quế thời gian qua 65

2.1 Hiệu quả trực tiếp 65

2.2 Hiệu quả gián tiếp 68

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM ĐẨY MẠNH SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU QUẾ CỦA VIỆT NAM 71

I Định hướng sản xuất và xuất khẩu sản phẩm quế giai đoạn từ nay đến năm 2010 71

1 Qui hoạch vùng và đổi mới phương thức trồng quế 71

2 Định hướng về sản phẩm 73

3 Định hướng về thị trường 74

II Một số giải pháp và kiến nghị 75

1 Biện pháp và kiến nghị đối với sản xuất 76

1.1 Tổ chức lại sản xuất theo hướng kinh tế trang trại, qui hoạch vùng sản xuất quế tập trung 75

1.2 Xây dựng cơ sở vật chất, hạ tầng các vùng trồng quế 76

1.3 Chính sách tài chính 77

1.4 Đẩy mạnh nghiên cứu, áp dụng khoa học công nghệ và đào tạo lao động trong ngành sản xuất quế 78

1.5 Tăng cường khâu quản lý thu gom quế xuất khẩu 80

2 Biện pháp đối với xuất khẩu 81

2.1 Biện pháp tín dụng, Bảo hiểm 81

2.2 Biện pháp về thị trường và xúc tiến thương mại 82

KẾT LUẬN 85

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

Trong các loại cây lâm sản thì cây quế được biết đến như một loại cây đặc sản của vùng nhiệt đới và từ lâu cây quế đã trở thành một trong những mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam Trong thời phong kiến, cây quế là một mặt hàng không thể thiếu trong các loại lễ vật mà các vua chúa phong kiến Việt Nam mang đi tiến cống các vua chúa phương Bắc Ngày nay, qua hàng chục năm, nhất là từ khi Việt Nam tiến hành cải cách mở cửa thì cây quế Việt Nam đã trở nên rất nổi tiếng trên thế giới Giá cả của nó lại cao hơn hẳn các loại nông sản khác và đặc biệt khi nhu cầu về quế và sản phẩm quế trên thế giới hiện nay tăng cao thì quế trở thành một mặt hàng được giá, mặt khác khả năng sản xuất lại có hạn nên cây quế nhiều khi có giá độc quyền Đây chính là một lợi thế rất lớn của Việt Nam

Trên thế giới chỉ có một số nước như Trung Quốc, Việt Nam, Srilanca, Seichelles, ấn Độ, Indonesia, Nhật Bản mới có điều kiện tự nhiên thuận lợi để sản xuất cây quế Do đó giá cả mặt hàng quế rất cao và vì vậy mà hiệu quả của ngành sản xuất quế cao hơn rất nhiều so với sản xuất nông nghiệp Cây quế Việt Nam có điều kiện thuận lợi để phát triển nhưng ngành sản xuất quế hiện nay còn quá nhỏ

bé và vẫn còn trong tình trạng lạc hậu, lao động trong ngành trồng quế chủ yếu là các hộ đồng bào dân tộc ít người, chưa có đầu tư lớn vì vậy năng suất và chất lượng chưa cao nên chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu Ngành xuất khẩu quế của Việt Nam còn quá nhỏ bé so với tiềm năng và chỉ dừng lại ở xuất khẩu sản phẩm thô nên kim ngạch còn rất khiêm tốn trong tổng kim ngạch xuất khẩu và so với các sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp khác

Từ khi nước ta tiến hành cải cách mở cửa đến nay, nền kinh tế đã có những chuyển biến mạnh mẽ Khoảng cách thu nhập giữa nông thôn và thành thị, giữa đồng bằng và miền núi ngày càng xa Đời sống nhân dân đồng bào các dân tộc miền núi còn gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn Để giải quyết tình trạng này, Đảng và nhà nước ta đã và đang tìm mọi cách để đưa các phương thức sản xuất mới áp dụng vào các vùng khó khăn, đưa cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp để bà con

Trang 5

nhân dân các dân tộc có thể thoát nghèo Một trong những cây trồng có thể giúp họ xoá đói, giảm nghèo chính là cây quế, đặc biệt là đối với bà con dân tộc các vùng Tiên Yên, Ba Chẽ (Quảng Ninh), Văn Yên, Văn Chấn, Trấn Yên (Yên Bái), Lang Chánh, Thường Xuân (Thanh Hoá), Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp (Nghệ An), Trà My (Quảng Nam), Trà Bồng (Quảng Ngãi) nơi mà cây quế rất thích hợp với điều kiện tự nhiên

Với lí do đó, tác giả đã chọn đề tài “ Thực trạng và một số giải pháp nhằm đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu quế của Việt Nam “ để viết Khoá luận tốt

nghiệp (KLTN) trường Đại học Ngoại Thương của mình

Mục đích của KLTN này nhằm nghiên cứu tình hình sản xuất và xuất khẩu mặt hàng quế của Việt Nam từ đó rút ra các giải pháp và một số kiến nghị đối với Nhà nước, các Ban, ngành, địa phương và các nhà sản xuất quế để có thể đưa ngành sản xuất và xuất khẩu quế phát triển hơn nữa

Đối tượng nghiên cứu của công trình này là các sản phẩm từ cây quế nhưng tập trung chủ yếu vào mặt hàng chính là vỏ quế Phạm vi nghiên cứu của KLTN được giới hạn từ năm 1990 trở về đây và việc nghiên cứu chủ yếu tập trung vào bốn vùng sản xuất quế chính ở nước ta là Yên Bái, Quảng Ninh, Thanh Hoá- Nghệ

An và Quảng Nam- Quảng Ngãi

Để hoàn thành KLTN, tác giả đã sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp phân tích, tổng hợp trên cơ sở những thông tin thu thập được cùng các phương pháp thống kê, so sánh để nghiên cứu những yêu cầu

mà đề tài đặt ra Với một thời gian không dài và việc thu thập tài liệu còn gặp nhiều hạn chế nên KLTN này không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo, các bạn sinh viên để Khoá Luận được hoàn thiện hơn

Nội dung của Khoá Luận Tốt Nghiệp bao gồm 3 chương sau:

Chương 1: Giới thiệu về mặt hàng quế và thị trường quế trên thế giới

Chương 2: Thực trạng sản xuất và xuất khẩu quế của Việt Nam

Trang 6

Vài nét về cây quế và sản phẩm quế

Trang 7

Cây quế tên khoa học là Cinnamomum Cassia BL thuộc họ long não Lauraceae Tên tiếng anh là Cinnamon, tên thông thường là cây quế, ở Việt Nam, nhân dân ta gọi với tên gọi khác nhau theo từng địa phương như Quế Thanh, Quế Quỳ, Quế Quảng, Quế Yên Bái, Quế Bì, Mạy quế

Cây quế là loài cây thân gỗ, sống lâu năm, cây trưởng thành có thể cao trên

15 mét, đường kính thân cây có thể đạt 1,3 m Quế có lá đơn mọc cách hay gần đối

lá, có ba gân gốc kéo dài đến tận đầu lá và nổi rõ ở mặt dưới của lá, các gân bên gần như song song, mặt trên lá xanh bóng, mặt dưới lá xanh đậm Quế lá to trưởng thành dài từ 18-20 cm, quế lá nhỏ từ 6-8 cm, cuống lá dài khoảng 1 cm Quế có tán

lá hình trứng, thường xanh quanh năm, thân cây tròn đều, vỏ cây màu xám và hơi nứt rạn theo chiều dọc Các bộ phận của cây quế như vỏ, lá, hoa, gỗ, rễ đều có chứa tinh dầu, trong đó vỏ cây có chứa nhiều tinh dầu nhất Tinh dầu quế có màu vàng, thành phần chủ yếu là Aldehyt Cinamic chiếm khoảng 70-90% Cây quế sinh trưởng đến 8 hoặc 10 tuổi thì ra hoa, hoa quế mọc ở nách lá đầu cành, hoa ra thành từng chùm, hoa nhỏ bằng nửa hạt gạo, màu trắng hay phớt vàng.Quế ra hoa vào tháng 4, 5 và quả chín vào tháng 1, 2 năm sau Quả quế chưa chín có màu xanh, khi chín chuyển màu tím than, mỗi quả chứa một hạt hình bầu dục, một kg hạt chứa khoảng 2500-3000 hạt Quế có bộ rễ phát triển mạnh, rễ cọc cắm sâu vào lòng đất, rễ bàng đan rộng và đan chéo vào nhau, vì vậy cây quế có khả năng sống tốt ở những vùng đồi núi dốc Cây quế lúc nhỏ ưa bóng râm, khi lớn thì cần nhiều ánh sáng và khi trưởng thành thì hoàn toàn chịu sáng Tinh dầu quế có vị cay, thơm, ngọt nên rất được ưa chuộng

Quế là một loại cây có yêu cầu tương đối đặc biệt về điều kiện tự nhiên và phát triển được ở một số nơi nhất định ở miền nhiệt đới, nắng lắm, mưa nhiều, độ

ẩm cao vv Cây quế phát triển thích hợp trên loại đất mùn xốp, thoáng nước, có độ dốc 10-200, cây ưa mát với nhiệt độ trung bình 20-250 C Do vậy trên thế giới chỉ

có một số nước mới có điều kiện thuận lợi để cho cây quế phát triển như Việt Nam, Trung quốc, Indonesia, Ấn Độ, Srilanca, Nhật Bản, Nga Song ở những nơi

Trang 8

vv Gỗ quế có thể dùng để chế tạo các đồ dùng như bàn ghế, tủ, đồ mỹ nghệ, cành

lá có thể dùng làm củi đốt Tuy nhiên vỏ quế lại là bộ phận có giá trị nhất vì tinh dầu quế được chưng cất chủ yếu từ vỏ cây

Cây quế ngoài thành phần chủ yếu là Andehyt Cinnamic, còn chứa nhiều chất khác như ơgenola, saprola, fuaurola vv các chất này có công dụng trong một

số lĩnh vực như y học để làm thuốc chữa bệnh, trong công nghiệp chế biến hàng tiêu dùng Ngày nay, người ta thường tách lấy andehyt từ cây quế rồi chuyển hóa thành những chất thơm có giá trị khác Trong công nghiệp thực phẩm quế được dùng làm gia vị để chế biến bánh kẹo, chất định hương, trong công nghiệp hàng tiêu dùng, quế được dùng làm nguyên liệu chế biến xà phòng, nước hoa, dầu chải, phấn sáp vv Nhiều nơi trên thế giới, người ta đã biết dùng quế làm gia vị thực phẩm cách đây hàng trăm năm, ngày nay, quế, hồ tiêu, sa nhân, đinh hương, gừng đã trở thành một tập đoàn gia vị có giá trị phù hợp với khẩu vị của nhiều nước trên thế giới Đặc biệt hơn nữa, khi y học hiện đại phát triển, người ta lại phát hiện

ra nhiều công dụng chữa bệnh của cây quế

Theo Đông y, cây quế có vị cay, tính đại nhiệt, vị đắng, thơm và ngọt, có tác dụng bổ mật, thông huyết mạch, dùng để chữa chứng chân tay co quắp, đau bụng

do khí lạnh, chữa phong hàn, viêm khớp, hư tâm tỳ, mạch chạy nhỏ, bệnh dịch tả cấp tính Từ xa xưa, nhân dân ta đã biết dùng vỏ của cây quế mài vào nước đun sôi để nguội rồi uống sẽ chữa được các bệnh về tiêu hoá, hô hấp, kích thích sự tuần hoàn của máu, lưu thông huyết mạch, làm cho cơ thể ấm lên… Quế có tính năng chống lại giá lạnh, có tính sát trùng nên nó được nhân dân ta coi là một trong bốn loại thuốc quí bao gồm: Sâm, Nhung, Quế, Phụ Trong đời sống hàng ngày, quế được dùng để khử bớt mùi tanh của cá, làm cho món ăn thơm ngon, hấp dẫn hơn,

Trang 9

kích thích được tiêu hoá Ngoài ra quế còn được dùng để sản xuất bánh kẹo, rượu như bánh quế, kẹo quế, rượu quế… Quế còn được sử dụng làm hương vị, bột quế được trộn với các vật liệu khác sau đó đem làm hương khi đốt lên có mùi thơm dễ chịu, được sử dụng trong các đền chùa, đình miếu ở các nước Châu Á nơi có phong tục thờ cúng tổ tiên và theo đạo Khổng, đạo Hồi Gần đây, nhiều địa phương còn sử dụng gỗ quế, vỏ quế để làm ra các sản phẩm thủ công mỹ nghệ như bộ khay, ấm, chén, đĩa bằng gỗ quế; vỏ quế được dùng để sản xuất các tấm lót giày, làm dép đi trong nhà Hiện nay các sản phẩm này đang rất được ưa chuộng Riêng mặt hàng dép đi trong nhà có tẩm bột quế đã được xuất khẩu đi một số nước như Hàn Quốc, Nhật Bản…

Nhiều nơi trên thế giới gọi cây quế là cây “chữa bách bệnh” Từ hàng ngàn năm qua, cây quế đã được nhân dân ta dùng làm thuốc chữa bệnh, và Quế Chi trở thành một vị thuốc không thể thiếu được trong các hiệu thuốc đông y, trong các toa thuốc Chính vì quế có nhiều tính năng công dụng như vậy nên từ lâu nó đã trở thành một loại hàng hoá được buôn bán ở khắp nơi trên thế giới

Một trong những tính chất đặc trưng của cây quế là làm tăng khả năng chống lạnh của cơ thể người và động vật nên quế rất được ưa chuộng ở xứ lạnh Quế không chỉ được dùng làm gia vị cho con người mà nó còn được sử dụng để làm thức ăn cho gia súc Ở một số nước có ngành chăn nuôi phát triển, người ta còn dùng các loại quế kém phẩm chất hay các sản phẩm phụ của quế pha trộn với các loại thức ăn khác để sản xuất thức ăn tổng hợp nhằm kích thích tiêu hoá và phòng bệnh cho gia súc đặc biệt là vào mùa đông

Tuy nhiên công dụng của cây quế có được khai thác triệt để hay không lại phụ thuộc vào trình độ sản xuất của công nghệ chế biến và trình độ thâm canh và điều kiện thổ nhưỡng, qui trình khai thác, bảo quản, chế biến cũng ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng mặt hàng này

Ở Việt Nam, nhân dân ta đã có tập quán trồng quế từ lâu đời và người trồng chủ yếu là bà con các dân tộc ít người ở các vùng miền núi Yên Bái, Quảng Ninh,

Trang 10

Hi vọng rằng cây quế trồng trên đất thử nghiệm sẽ cho kết quả tốt để nhân dân có thể nhân rộng ra trồng ở nhiều nơi

Quế thường được gieo trồng vào tháng 1, 2 âm lịch khi mà điều kiện thời tiết rất phù hợp cho cây con phát triển Trong 2 đến 3 năm đầu, người trồng tiến hành tỉa thưa và trồng dặm để đảm bảo cho mật độ trồng không quá 3000 cây/ha Thời gian 5 năm đầu cần chú ý chăm sóc cây, che nắng cho cây con vì khi còn non cây

ưa bóng râm, khi cây đã trưởng thành thì không phải chăm sóc nhiều Sau khi trồng được khoảng 10 năm thì cây quế có thể cho thu hoạch Việc thu hoạch được tiến hành trong hai vụ, từ tháng 2 tới tháng 4 và từ tháng 9 tới tháng 11 Thời kì này hàm lượng tinh dầu tập trung nhiều nhất trong vỏ quế

Khi cây quế đến tuổi cho khai thác, người trồng sẽ tiến hành thu hoạch Việc thu hoạch có thể được tiến hành bằng cách chặt hạ cả cây xuống, sau đó chặt hết các cành lá rồi tiến hành bóc vỏ hoặc người ta không chặt cây mà chỉ khai thác một phần vỏ để cây quế có thể được khai thác nhiều lần Việc khai thác một phần vỏ được tiến hành bằng cách người ta không chặt cây quế mà chỉ bóc tách một phần

vỏ quế Khi bóc vỏ người ta không bóc hết phần biểu bì ở trong cùng để sau một thời gian nó sẽ tự tái sinh thành lớp vỏ mới Sau khi khai thác được khoảng 1 năm thì cây quế lại có thể cho khai thác lần tiếp theo Cách khai thác này mới được nhân dân áp dụng gần đây và trong quá trình khai thác đòi hỏi người trồng quế phải rất khéo tay và có nhiều kinh nghiệm thì mới tiến hành được

Từ lâu, nhân dân ta đã có kinh nghiệm trồng và chế biến các sản phẩm quế Cây quế có thể dùng làm thuốc bổ, thuốc chữa bệnh, dùng làm hương liệu, thực phẩm Quế Việt Nam nổi tiếng từ thời Bắc thuộc, khi đó quế được mệnh danh là

Trang 11

“Giao Chỉ ngọc quế” và luôn là vật phẩm dùng vào việc tiến cống cho các vua chúa phương Bắc Ngày nay, do nhu cầu về sản phẩm quế ở trong nước và trên thế giới ngày một tăng thì các vùng trồng quế ở nước ta ngày càng được mở rộng để đáp ứng nhu cầu đó Trên thế giới có nhiều loại quế nhưng quế Việt Nam vẫn được coi là một loại quế quí, vẫn được các nước nhập khẩu đánh giá cao về chất lượng

Ở Việt Nam, quế được xuất khẩu dưới dạng thô là vỏ quế còn cành, lá thì được chưng cất thành tinh dầu sau đó dùng để sản xuất các loại dược phẩm như cao sao vàng, làm hương liệu cho ngành công nghiệp thực phẩm, hàng tiêu dùng

Như vậy, mặt hàng quế có rất nhiều công dụng trong cuộc sống đời thường nên nó ngày càng được đánh giá cao và sử dụng phổ biến không chỉ ở thị trường Việt Nam mà cả trên thế giới

Các giống quế chính ở Việt Nam

Trên thế giới phổ biến có hai loại quế chính, thứ nhất là quế Trung Quốc (Cinnamomum cassia BL) và thứ hai là quế Srilanca (Cinnamomum zeylacium) Ở Việt Nam ngoài hai loại quế trên còn có quế Thanh (Cinamomum loureiri ness) thường trồng ở Thanh Hoá, Nghệ An, ngoài ra còn có một số quế địa phương như quế Nghĩa Lộ, Yên Bái Như vậy ở nước ta có khoảng 10 loại quế trong đó đa phần là quế quí

Loại quế Cinamomum cassia BL còn gọi là quế Đơn thân cao từ 12-17m,

lá quế mọc cách, dai, sáng bóng và nhẵn ở mặt trên, có một lớp lông mịn ở mặt dưới lá Gân lá nhỏ, mọc ngang song song, hoa mọc thành chùm Quả hình bầu dục đựng trong đấu nguyên hoặc hơi chia thuỳ Loại quế này thường được trồng ở các tỉnh Quảng Ninh, Yên Bái và Quảng Nam, sản phẩm chủ yếu dùng làm gia vị và thực phẩm Quế Đơn có thể nói là một loại quế tốt nhất, một loại quế đặc sản, các nước thường đặt mua với giá rất cao để dùng làm dược liệu chữa bệnh và làm thuốc bổ Tuy nhiên mùi vị của loại quế này thì lại khác nhau nếu được trồng ở nơi khác nhau Nếu trồng ở Yên Bái thì nó có mùi cay dịu còn trồng ở Quảng Ninh hay Quảng Nam thì có mùi cay đậm Trung bình một cây quế trồng ở Yên Bái khi 10 năm tuổi thì có đường kính từ 15-20cm cho thu hoạch từ 15-30kg vỏ tươi ( 8-15 kg

Trang 12

vỏ khô) 0,3- 0,5 m3 gỗ, 1,2 ste củi và 30 kg lá có thể chưng cất được 0,21 kg tinh dầu

Giống quế Thanh hay còn có tên là quế Quỳ cây thường cao từ 12-20m,

cành non vuông chẵn Lá cây gần như bầu dục, thuôn lại ở hai đầu, gần như mọc đối mũi nhọn ba gân rõ Hoa quế hợp thành chùm, quả hình trứng, khi non có màu lục, khi chín có màu nâu tím và sáng bóng Quả đựng trong đấu có bao hoa tồn tại dưới quả, thuỳ cắt cụt gần đỉnh Đây là loại quế có giá trị dược liệu rất cao, nhân dân ta thường dùng để chữa một số bệnh như đau bụng, cảm lạnh và để bồi bổ sức khoẻ Trước đây chúng ta không xuất khẩu loại quế này do diện tích trồng rất nhỏ, chủ yếu là các hộ gia đình và được tiêu dùng trong nước Nhưng hiện nay do nhận thấy đây là một loại quế quý và do nhu cầu trên thế giới tăng cao nên chúng

ta đã bắt đầu nhân rộng và xuất khẩu loại quế này Quế Thanh có thân cây cao, nếu trồng được 15-20 năm thì sẽ có đường kính 20-30 cm, cho 30-50 kg vỏ tươi ( 15-

20 kg vỏ khô) , 0,3-0,5 m3 gỗ và khoảng 50 kg lá chưng cất được 0,28-0,35 kg tinh dầu

Giống quế Srilanca mà nhân dân ta thường gọi với tên khác là quế Quan có

thân cao khoảng 20-25 m, cành non vuông, có lông ngắn và rải rác Lá quế Quan mọc đối, dài và có hình bầu dục, nhẵn bóng và hơi nhọn ở gốc, tù ở đầu hoa Hoa

mọc thành chùm, quả mọc hình bầu dục, trong đấu có ba hoa tồn tại, thuỳ cắt gọt ở

giữa Loại quế này thích ứng rộng nên được trồng ở các tỉnh như Thanh Hoá, Nghệ

An, Vũng Tàu và Tây Ninh So với hai loại quế trên thì loại quế này không được thị trường thế giới ưa chuộng vì đây là loại quế thân nhỏ, hàm lượng tinh dầu ít và kém năng suất

Ngoài các giống quế trên, nước ta còn có một số giống quế khác mọc tự nhiên ở các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Lào Cai, Hà Giang, Hoà Bình như quế Nâu hay quế đỏ ( Cinamomum tetregomum Chev), quế Rành ( Cinamomum caryophyllus Moore), quế Lợn ( Cinamomum iners Reinw) các loại quế này thường sống lâu năm trong rừng rậm và có giá trị dược liệu cao

Trang 13

Từ trước đến nay, chúng ta không chỉ khai thác quế trồng để xuất khẩu mà con khai thác cả quế rừng tự nhiên Việc khai thác quế tự nhiên một cách bừa bãi đã làm cho nguồn lợi này ngày một cạn kiệt Vì vậy chúng ta cần phải bảo vệ nguồn quế rừng tự nhiên không chỉ nhằm mục đích khai thác nguồn lợi mà còn để bảo vệ môi trường tự nhiên, bảo vệ nguồn gen quý Lợi thế về cây quế của nước ta là rất lớn Do đó chúng ta cần phải phát huy lợi thế này để đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu mặt hàng quế

Các sản phẩm chính của cây quế

Tuy cây quế là một loại thực vật sống lâu năm nhưng sản phẩm chính của cây quế không phải là gỗ như những loại cây khác mà lại là vỏ quế Từ trước tới nay khi nói tới quế thì người ta thường nghĩ ngay tới vỏ quế Tuy nhiên sản xuất quế không chỉ lấy mỗi vỏ mà cành và lá của nó cũng có thể dùng để ép lấy tinh dầu Từ lâu nay chúng ta chỉ chủ yếu xuất khẩu vỏ quế thô mà chưa chú ý xuất khẩu tinh dầu quế mặc dù đây là một loại sản phẩm có giá trị xuất khẩu cao Xuất khẩu tinh dầu chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ trong tổng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng quế bởi vì công nghệ chưng cất tinh dầu quế của ta vẫn còn rất lạc hậu Ngoài hai sản phẩm chính trên, gỗ quế cũng được dùng nhiều trong ngành công nghiệp và thủ công nghiệp khác

3.1 Vỏ quế

Đối với ngành sản xuất quế thì khai thác vỏ là chủ yếu Như đã nói ở phần trên, vỏ quế tập trung rất nhiều Andehyt cinamic Do vậy đánh giá năng suất hay chất lượng của sản phẩm quế người ta dựa vào vỏ cây Cũng giống như các ngành sản xuất lâm nghiệp khác, sản xuất quế có đặc điểm diễn ra trong thời gian dài Thông thường sản xuất quế diễn ra trong khoảng thời gian từ 10- 15 năm Các điều kiện tự nhiên như đất đai, khí hậu, độ ẩm, ánh sáng, lượng mưa… sẽ quyết định tới năng suất và chất lượng quế Tuy nhiên nếu được chăm sóc tốt chất lượng của quế cũng sẽ được cải thiện Trung bình một cây quế có tuổi từ 10- 15 năm thường có

Trang 14

3.2 Gỗ và tinh dầu quế

Đối với ngành sản xuất quế, ngoài khai thác vỏ quế là chủ yếu thì người ta còn thu hoạch được gỗ, còn các phần còn lại như lá, cành, rễ quế thì có thể dùng để chưng cất tinh dầu Cây quế nếu được trồng với mật độ thích hợp và được chăm sóc tốt thì có thể cho thu hoạch sản lượng vỏ rất cao, một lượng gỗ tương đối lớn

có chất lượng tốt Mỗi cây quế sau khi thu hoạch vỏ thì còn lại hàng chục kg lá, cành và rễ Phần này đem đi chưng cất lấy tinh dầu Tinh dầu quế tuy chiếm một tỷ trọng nhỏ nhưng giá trị và công dụng của nó không phải là nhỏ Tinh dầu quế sau khi được chưng cất sẽ dùng làm nguyên liệu đầu vào cho ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, công nghiệp dược và mỹ phẩm Mỗi một hec ta quế sau khi thu hoạch, lột vỏ đi sẽ còn lại từ 8- 10 m3 gỗ, cho từ 5-8 ste củi Gỗ quế có nhiều giá trị sử dụng như các loại cây khác, có thể dùng gỗ quế để làm cốp pha xây dựng, đóng đồ mộc, làm gỗ trụ hầm mỏ… Gỗ quế được đánh giá là có chất lượng tốt như các lạo gỗ khác là bồ đề, mỡ, bạch đàn Tuy nhiên điều đặc biệt là trong gỗ quế có một lượng tinh dầu nên không bị mối mọt Thân cây lại thẳng đều và cứng Vì vậy dùng gỗ quế vào làm trụ hầm mỏ rất bền

Bên cạnh đó gỗ quế lại có mùi thơm nên hiện nay ở một số địa phương như

ở Trà Bồng tỉnh Quảng Nam, người dân đã dùng gỗ quế để sản xuất hàng thủ công

Trang 15

mỹ nghệ Việc làm này vừa mang lại thu nhập cho nhân dân, vừa tận dụng được phụ phẩm của cây quế và lại còn góp phần bảo tồn ngành nghề truyền thống của cha ông Do đó đối với ngành sản xuất quế bên cạnh việc khai thác vỏ quế thì việc khai thác gỗ quế cũng là một hướng đi cần được các ngành, các cấp quan tâm trong vấn đề giải quyết yêu cầu về gỗ cho công nghiệp hầm mỏ, làm hàng thủ công mỹ nghệ để tránh tình trạng chặt phá rừng bừa bãi

Mặc dù cây quế phải 10 năm mới cho thu hoạch nhưng không phải trong thời gian cây quế sinh trưởng người trồng không khai thác được gì từ cây quế Trong thời gian chăm sóc cây quế, người trồng có thể chặt những cành con ở gần gốc để lấy lá, cành, thu hoạch những mầm non tập trung lại để chưng cất tinh dầu

Ở các tỉnh Quảng Ninh và Quảng Nam mỗi năm một ha quế có thể cho một lượng cành lá chưng cất được một lượng tinh dầu vào khoảng 30-60 kg, ở Yên Bái là 50

kg Ngoài ra các cành nhỏ, mầm non cũng có thể cho thu hoạch khoảng 20-30 kg tinh dầu một năm Tiềm năng về tinh dầu của Việt Nam là tương đối lớn, nhu cầu

về tinh dầu quế trên thế giới ngày một tăng do sự tăng trưởng của ngành công nghiệp hàng tiêu dùng Tuy nhiên nước ta mới chỉ xuất khẩu một lượng tinh dầu không đáng kể Bên cạnh đó công nghệ ép tinh dầu của nước ta hiện nay còn thô sơ

và lạc hậu nên tỷ lệ hao hụt khá cao và chất lượng tinh dầu được ép từ những loại máy móc này chưa cao nên đa số chưa phù hợp với yêu cầu của các nước nhập khẩu

THẾ GIỚI VÀI NĂM GẦN ĐÂY

Sản phẩm quế ở nước ta là mặt hàng được buôn bán từ lâu đời Sự hình thành thị trường quế từ nhỏ lẻ đến rộng lớn như hiện nay là do nhu cầu về sản phẩm quế ngày một tăng trên thị trường thế giới Do cây quế chỉ thích hợp ở một số nơi trên thế giới nên tình hình buôn bán mặt hàng này trên thế giới ngày một sôi động Những năm gần đây, trong các mặt hàng gia vị xuất khẩu thì chỉ có mặt hàng quế

là có xu hướng tăng còn các mặt hàng khác như hồ tiêu, gừng, tỏi hay ớt quả thì

Trang 16

có xu hướng chững lại hoặc có tăng nhưng tăng chậm Từ trước đến nay, chỉ có những nước trồng quế mới có lợi thế xuất khẩu quế, mà những nước như thế không

có nhiều trên thế giới Chính vì vậy mà nhiều khi giá mặt hàng quế trở thành giá

“độc quyền” của một số nước Ở các nước này nhu cầu tiêu dùng thường không lớn lắm mà chủ yếu tập trung cho xuất khẩu bên cạnh đó nhu cầu về mặt hàng quế cho sản xuất và tiêu dùng ở một số nước lại luôn tăng và rất ổn định nên tình hình buôn bán quế và các sản phẩm quế trên thế giới hiện nay rất có triển vọng

5 Nhu cầu về sản phẩm quế trên thế giới

Từ hàng ngàn năm qua, quế đã là một mặt hàng luôn luôn được ưa chuộng và được buôn bán trên thị trường thế giới theo con đường tơ lụa, gia vị từ Đông sang Tây Ngày nay, do sự phát triển mạnh mẽ của các ngành sản xuất hàng tiêu dùng như công nghiệp mỹ phẩm, công nghiệp thực phẩm, công nghiệp dược phẩm nên mặt hàng quế ngày càng được sử dụng rộng rãi Theo tài liệu Plantation Crops, trên thế giới hiện nay, Mỹ là nước tiêu thụ nhiều nhất mặt hàng quế Mỗi năm nước này cần nhập một lượng khoảng 25 đến 30 ngàn tấn quế nhưng do khả năng xuất khẩu của các nước sản xuất có hạn nên chỉ đáp ứng được khoảng 15.000 tấn Các nước tiếp theo là Nhật Bản với nhu cầu 10.000 tấn/năm, Mêhicô cần 3000 tấn/năm, Đức khoảng 1500 tấn/năm Nga là một nước có nhu cầu lớn nhưng mỗi năm chỉ nhập khẩu khoảng 1000 tấn Ấn Độ là một thị trường với trên 1 tỷ dân, sức tiêu thụ quế

và các sản phẩm có nguồn gốc từ quế cũng rất lớn Đây là những thị trường đầy tiềm năng của các nước xuất khẩu quế như nước ta

Sau đây là một số nước có nhu cầu cao về sản phẩm quế trên thế giới:

Bảng 1: Nhu cầu và lượng nhập khẩu bình quân/năm mặt hàng quế giai

Trang 17

Nguồn: Plantation Crops

Qua bảng số liệu trên ta thấy nhu cầu về mặt hàng quế trên thế giới là rất lớn Các nước có nhu cầu cao là những nước có ngành công nghiệp thực phẩm, mỹ phẩm và hàng tiêu dùng rất phát triển Tuy nhiên trên thực tế số lượng quế xuất khẩu vẫn chưa đủ đáp ứng nhu cầu của các nước Có những nước chỉ nhập khẩu được một lượng quế rất nhỏ so với nhu cầu trong nước Số lượng quế nhập khẩu chỉ bằng 1/3 hay 1/4 nhu cầu thậm chí là 1/15 hay 1/20 như Ấn Độ hay Nga Những năm qua, đa số các nước không nhập đủ lượng quế cần thiết phục vụ nhu cầu tiêu thụ ngày một tăng của các ngành sản xuất trong nước Trong khi đó nhu cầu về tiêu thụ mặt hàng quế lại ngày một tăng Theo dự báo của các chuyên gia thuộc Hiệp hội gia vị thế giới thì nhu cầu quế trên thế giới từ nay đến năm 2010 mỗi năm tăng 5% Đây quả thực là một vấn đề nan giải của các nước nhập khẩu quế Đối với các mặt hàng khác thì có thể sản xuất thay thế được nhưng riêng mặt hàng quế thì không phải nước nào muốn là có thể tự sản xuất ra được Bởi vì ngành sản xuất quế là một ngành sản xuất đặc thù riêng có của một số nước có điều kiện thuận lợi Muốn đáp ứng đủ nhu cầu về mặt hàng quế thì chỉ có thể dựa vào các nước sản xuất ra nó mà thôi

Bảng 2 Bảng các nước nhập khẩu quế chính

( Q: Lượng, tấn; V: Giá trị, nghìn USD)

Trang 18

Nguồn: COMTRADE, UNSO

Ngày nay, nhu cầu về mặt hàng quế trên thế giới tăng mạnh do có xu hướng dùng các loại dược phẩm bào chế từ các loại nguyên liệu có nguồn gốc tự nhiên thay cho các sản phẩm hoá học, trong khi đó khả năng sản xuất và sản lượng lại có hạn do cây quế chỉ trồng được ở một số nơi nhất định Điều này làm cho cầu vượt quá cung dẫn đến cây quế càng trở thành một thứ hàng “ độc”

Tuy nhiên lại có một nghịch lí là hầu hết các nước có nhu cầu cao về mặt hàng quế lại không nhập khẩu đủ Nguyên nhân là do khả năng sản xuất của các nước trồng quế bị hạn chế Đặc điểm của ngành này là thời gian sản xuất rất dài Từ khi trồng đến khi cho thu hoạch có thể kéo dài từ 10- 15 năm thậm chí còn lâu hơn nữa Do đó không thể ngay một lúc có thể cung cấp được một lượng quế lớn Việc

mở rộng qui mô sản xuất cũng gặp khó khăn do cây quế chỉ thích hợp với chất đất

ở một số vùng Thời gian quay vòng sản xuất cũng kéo dài và yêu cầu vốn đầu tư cũng cần rất lớn, trong khi đó các nước sản xuất quế đều là những nước đang phát triển nên khả năng đầu tư vốn cho ngành sản xuất quế cũng hạn chế Các nước này lại đang tập trung chủ yếu vốn vào ngành công nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng… nên phần nào cũng hạn chế đầu tư vào ngành trồng quế Bên cạnh đó, các vùng trồng quế lại nằm ở khu vực miền núi, đường sá đi lại không thuận tiện, phương thức canh tác lạc hậu, quá trình sản xuất gặp rất nhiều khó khăn nên khả năng mở rộng và phát triển sản xuất là rất hạn chế Mặt khác cũng chính do giá của mặt hàng quế rất cao nên nhiều khi các nước có nhu cầu rất cao nhưng lại không có khả

Trang 19

năng mua được, do đó mà tình hình cung cầu mới có hiện tượng mất cân bằng như thế

6 Tình hình cung cấp mặt hàng quế trên thế giới hiện nay

Trong những năm gần đây, khối lượng mặt hàng quế được buôn bán trên thế giới ngày một gia tăng, mỗi năm trên 50 ngàn tấn Những nước tiêu dùng quế chính lại là những nước không tự sản xuất được mặt hàng này do không có sự ưu đãi của thiên nhiên về đất đai lẫn khí hậu Do đó các nước này phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn cung cấp từ các nước sản xuất quế Các nước cung cấp chính trên thế giới là Srilanca, Indonesia, Trung Quốc và Việt Nam Nước xuất khẩu quế lớn nhất

là Srilanca với gần 45%, tiếp đến là Indonesia với khoảng 25% sau đó là Trung Quốc 12,7% và Việt Nam khoảng 6%

Bảng 3: Các nước xuất khẩu quế trên thế giới năm 2000

Tên nước xuất

khẩu

Số lượng (Kg)

Nguồn: ITC/UNCTAD/WTO “Global Spice market- Import 1996-2000”

7 Giá cả mặt hàng quế trên thế giới

Do mặt hàng quế là một loại lâm đặc sản nên giá cả của nó khá cao so với các mặt hàng khác Tính từ năm 1990 trở lại đây, giá mặt hàng này luôn tăng trên thị trường thế giới, năm tăng cao nhất là năm 1998 ở mức 2,69 USD/kg, nhưng từ đó đến nay giá lại biến động giảm theo xu thế chung của các mặt hàng nông- lâm sản

và hiện giá mặt hàng này chỉ đứng ở mức 1,39 USD/kg Tuy vậy đây vẫn là mức giá cao so với trước đây

Bảng 4: Giá mặt hàng quế trên thế giới một số năm qua

Trang 20

Tăng/giảm so với năm

trước

-18% +22,83% -37,17% -17,75% -4,3% -2,7%

Nguồn: ITC/UNCTAD/WTO “Global Spice market- Import 1996-2000”

Qua bảng trên ta thấy, giá quế một số năm qua có sự biến động mạnh mẽ Biểu hiện rõ nhất là từ năm 1997 đến năm 2000 Năm 1998 mức tăng so với năm 1997

là 22,83% nhưng đến năm 1999 lại giảm rất mạnh, gần 50% Từ năm 2000 đến nay giá quế giảm nhẹ không đến 5%

Mặt hàng quế là một loại đặc sản riêng có ở một số nước trên thế giới Tuy nhiên ngày nay giá cả của mặt hàng này không còn giữ được thế độc quyền như trước đây nữa Nguyên nhân là do các nước xuất khẩu quế đã đẩy mạnh sản xuất

và tiêu thụ mặt hàng này Mặt khác cũng ở các nước xuất khẩu quế có hiện tượng tranh giành khách hàng cả ở cấp quốc gia lẫn trong nội bộ các doanh nghiệp nên đã dẫn đến hiện tượng giá mặt hàng quế giảm trong những năm vừa qua Ngoài ra các nhà nhập khẩu nhiều khi o ép giá người bán bởi vì quế cũng là một mặt hàng nhạy cảm

8 Dự báo triển vọng thị trường quế trên thế giới

Theo dự báo của Hiệp hội gia vị thế giới thì đến năm 2005, lượng quế mà các nước có nhu cầu nhập khẩu sẽ ở vào khoảng 85.000 tấn đến 92.000 tấn Trong thời gian từ nay đến năm 2010, sức tiêu thụ quế trên thế giới dự đoán vẫn tiếp tục tăng lên, đó là do kết quả xu hướng sau đây:

- Ngành công nghiệp chế biến thực phẩm và ngành ăn uống công cộng sẽ tiếp tục phát triển nhanh ở cả những nước công nghiệp phát triển và các nước đang phát triển sẽ dẫn đến tăng nhu cầu tiêu thụ mặt hàng quế trên qui mô toàn thế giới Ngoài ra ở các nước phương Tây hiện nay có xu hướng dùng nhiều Đông dược trong đó có mặt hàng quế Do đặc điểm của cây quế có tác dụng chữa được nhiều bệnh, đặc biệt là các bệnh về mùa lạnh nên nó ngày càng được ưa dùng

Trang 21

- Quá trình toàn cầu hoá đang diễn ra rất mạnh mẽ hiện nay trên thế giới, trong

đó có hiện tượng di dân Dòng người Châu á nhất là người Trung Quốc di cư sang các nước phương Tây làm ăn sinh sống ngày một nhiều Họ mang theo phong tục dùng thực phẩm truyền thống, trong đó có sản phẩm quế Mặt khác

họ cũng thường dùng sản phẩm này để làm dược liệu Chính vì thế tương lai mặt hàng quế sẽ vẫn tiếp tục được buôn bán sôi động trên thế giới

- Ở các nước đang phát triển, dự đoán nhu cầu tiêu thụ quế sẽ tăng nhanh hơn ở các nước phát triển do ngành công nghiệp chế biến thực phẩm sẽ rất phát triển bởi sự tăng dân số, tăng thu nhập sẽ kích thích tiêu dùng các sản phẩm có sử dụng quế như mỹ phẩm, đồ uống

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG SẢN XUẤT VÀ XUẤT KHẨU QUẾ

CỦA VIỆT NAM

3 Những thuận lợi và khó khăn trong ngành sản xuất quế

1.1 Những thuận lợi

Đối với các ngành sản xuất nông- lâm nghiệp như sản xuất quế chẳng hạn thì điều kiện tự nhiên là một nhân tố rất quan trọng quyết định đến sản phẩm Việt Nam là một trong số ít nước được thiên nhiên ban tặng cho những điều kiện tự nhiên rất thuận lợi để cho cây quế phát triển Ngành sản xuất quế của Việt Nam có những thuận lợi chủ yếu sau đây:

Trang 22

1.1.1 Điều kiện khí hậu và đất đai:

Thứ nhất là về khí hậu: Khí hậu nước ta cơ bản là khí hậu nhiệt đới ẩm, ở

miền Bắc tuy có một mùa đông không lạnh lắm nên cây trồng có thể sinh trưởng xanh tốt quanh năm Việt Nam có lượng mưa và độ ẩm bình quân hàng năm rất cao, điều này rất phù hợp cho cây quế, một loài cây ưa ẩm phát triển Tính chất biến động mạnh mẽ cũng là một đặc trưng của khí hậu nhiệt đới ẩm ở nước ta Thể hiện rõ nhất là sự thay đổi khí hậu theo mùa trong năm và nhiệt độ trong ngày, trong vùng, sự biến động này nhiều khi trái ngược nhau Đây quả là một tài nguyên phong phú để phát triển nông lâm nghiệp theo hướng chuyên môn hoá kết hợp với phát triển tổng hợp, sản xuất hỗn giao nhiều loại cây có giá trị kinh tế trong đó có cây quế

Các vùng trồng quế ở nước ta như Yên Bái, Quảng Ninh, Thanh Hoá, Nghệ

An, Quảng Nam, Quảng Ngãi đều có khí hậu nhiệt đới ẩm thuận lợi cho cây quế phát triển Ở các vùng nói trên, nhiệt độ bình quân hàng năm đều cao hơn cả nước,

ví dụ Móng Cái, Tiên Yên 22,50 C, Thường Xuân 230 C, Nghệ An 23,90 C Bên cạnh đó tổng bức xạ mặt trời lớn, trung bình đạt từ 110- 120 kcal/cm/năm, điều này đảm bảo cho sự hình thành tinh dầu trong lá và cành của cây quế Một điều kiện thuận lợi khác là, lượng mưa bình quân của nước ta cũng rất cao, trung bình đạt 1500- 2000 mm/năm cùng với nhiệt độ cao như thế dẫn đến độ ẩm có thừa để cây quế có thể sinh trưởng tốt Như vậy với khí hậu nhiệt đới ẩm như Việt Nam là một trong số ít nước có khả năng trống cây quế Đây có thể nói là điều kiện thuận lợi nhất, một nhân tố quyết định đến chất lượng của cây quế

Thứ hai là đất đai:

Khả năng đất đai có thể cho cây quế sinh trưởng và phát triển ở nước ta rất lớn Theo thống kê của các cán bộ ngành kiểm lâm thì nước ta có khoảng 10 triệu héc ta đất đồi rừng trong đó đất có khả năng cho khai thác lâm nghiệp chiếm khoảng 90% Ở vùng đồi núi phía Đông Bắc và Tây Bắc có khoảng 1 triệu ha đất tốt có thể cho khái thác trồng cây lâm sản dài ngày như cây quế Ở vùng Đông Bắc

có khoảng gần 70 ngàn ha đất feralit màu vàng đỏ, có độ PH thích hợp để trồng

Trang 23

cây quế và được phân bố chủ yếu ở hai tỉnh Quảng Ninh và Lạng Sơn Ở Tây Bắc thì loại đất này có nhiều mùn hơn so với ở Đông Bắc và càng lên cao thì độ ẩm của đất càng tăng, tầng đất càng dày và có độ phì nhiêu càng cao Nhìn chung thì loại đất feralít có độ ẩm cao và nhiều mùn này thì thích hợp với nhiều loại cây không riêng gì cây quế Chính vì vậy mà những địa phương có loại đất này thì cây công nghiệp phát triển rất tốt và cho năng suất và chất lượng cao hơn hẳn các địa phương khác Chẳng hạn quế trồng ở Yên Bái, Nghệ An có năng suất và chất lượng thường cao hơn ở Quảng Ninh Nói chung ở miền Bắc nước ta diện tích có khả năng trồng quế khoảng 30.000 đến 40.000 ha

Đối với các tỉnh phía Nam, diện tích trồng quế ở các tỉnh từ Quảng Nam đến Kông Tum ước tính khoảng 20.000 ha Theo điều tra sơ bộ của ngành lâm nghiệp thì nước ta có khoảng từ 70.000- 80.000 ha đất có khả năng trồng quế và phân bổ chủ yếu ở các vùng sau:

- Vùng Đông Bắc 15.000 ha

- Vùng trung tâm ( dọc theo lưu vực sông Hồng và sông Đà): 30.000 ha

- Vùng khu IV cũ: 10.00 ha

- Duyên hải Trung Trung bộ: 20.000 ha

Đó là còn chưa kể đến các địa phương khác như khu vực Tây Nguyên có hàng nghìn ha đất đang trong giai đoạn thử nghiệm trồng quế

Như vậy nói về điều kiện tự nhiên: khí hậu và đất đai thì nước ta có điều kiện hết sức thuận lợi để phát triển ngành sản xuất quế Bên cạnh đó chúng ta cũng phải xem xét tới các yếu tố khác như giống cây trồng, vốn đầu tư, lao động, kĩ thuật chăm sóc… để có thể tận dụng tối đa các điều kiện tự nhiên

1.1.2 Lợi thế kinh nghiệm sản xuất

Quế là một loài cây đặc sản quí hiếm đã được trồng từ lâu đời ở Việt Nam việc sản xuất quế từ lâu đã trở thành tập quán của bà con các dân tộc ít người ở các tỉnh miền núi nước ta Trước thời kì đổi mới, việc sản xuất quế chủ yếu dựa vào phong tục tập quán và kinh nghiệm vốn có của cha ông để lại Từ năm 1990 trở lại đây,

Trang 24

tình hình kinh tế xã hội đã có nhiều thay đổi, ngành sản xuất quế cũng được trú trọng và từng bước được áp dụng khoa học kĩ thuật trong các khâu từ giống tới thu hoạch, chế biến Tuy nhiên về cơ bản ngành sản xuất quế ở nước ta vẫn dựa vào những kinh nghiệm quí báu của cha ông để lại

Qua hàng ngàn năm đúc kết kinh nghiệm, ngày nay việc trồng quế phải tuân thủ các bước sau:

Về trồng quế: cây quế phải được trồng với mật độ thích hợp để tạo ra một tán

che phủ đất thích hợp để giữ độ ẩm cho đất, nhất là khi cây quế con nhỏ cần nhiều nước Kinh nghiệm này mang lại kết quả là tỉ lệ cây sống cao, chất lượng cây tốt Trên thực tế hiện nay nhiều nơi áp dụng phương thức nông lâm kết hợp trong sản xuất quế, tức là người ta trồng cây công nghiệp dài ngày hoặc ngắn ngày như hoa màu lương thực như ngô, sắn …để tạo một tán che thích hợp cho cây quế khi còn non, vừa có tác dụng chống sói mòn vừa có tác dụng hạn chế cỏ dại, tăng độ mùn trong đất, cải tạo rừng trong những năm đầu khi rừng chưa phát tán Trong quá trình trồng xen như vậy người trồng vừa chăm sóc cây quế, vừa chăm sóc các cây công nghiệp khác, đây là một việc làm mang lại nhiều lợi ích thiết thực Kinh doanh theo phương thức nông- lâm kết hợp này cho thấy giá thành sản xuất một ha quế không tăng lên bao nhiêu nhưng hiệu quả lại tăng lên đáng kể, ngoài sản lượng quế còn thu được một lượng đáng kể các loại cây trồng khác Cũng nhờ phương thức này mà ở một số địa phương đã giải quyết được nhiều vấn đề trước mắt như lương thực trong thời kì giáp hạt

Về thu hoạch quế: thông thường ở nước ta quế được thu hoạch vào hai mùa, tuỳ

theo đặc điểm của từng vùng mà thời điểm khai thác khác nhau ở các tỉnh phía Bắc, quế thường được thu hoạch vào tháng 4- 5 hoặc tháng 9- 10 còn ở các tỉnh phía Nam vụ xuân thu hoạch vào tháng 1- 2 và vụ mùa thu hoạch vào tháng 7- 10 kinh nghiệm cho thấy thu hoạch vào thời kì này là lúc cây quế phát triển mạnh do lượng mưa nhiều nên có nhiều nhựa nên dễ bóc vỏ, ít bị hư hao Mặt khác thời gian này ánh sáng mặt trời chiếu nhiều nên tỷ lệ tinh dầu nhiều và tập trung lại trong vỏ cây

Trang 25

Cây quế có đặc điểm là càng được trồng lâu năm thì vỏ càng dày, tỉ lệ dầu càng cao, phẩm chất càng tốt Tuy nhiên sau khoảng 10 năm khi cây quế đã ở tuổi trưởng thành thì quá trình sinh trưởng sẽ chậm lại vì vậy không nên trồng cây quế trong thời gian quá lâu vì như vậy sẽ không mạng lại hiệu quả kinh tế cao Đối với loại quế dùng làm thuốc chữa bệnh thì theo kinh nghiệm của cha ông ta trồng càng lâu càng có giá trị cao Nhưng số lượng quế dùng vào mục đích này không lớn lắm

mà quế chủ yếu dùng vào mục đích làm gia vị thực phẩm và dùng trong công nghiệp mỹ phẩm Tuỳ theo nhu cầu kinh tế mà xác định tuổi khai thác cho thích hợp Nhìn chung, khi cây quế có đường kính khoảng 20 cm thì có thể thu hoạch được Nhưng ở độ tuổi này thì vỏ quế chỉ có thể dùng làm gia vị thực phẩm, dùng

để sản xuất hàng tiêu dùng Còn muốn dùng để làm dược liệu thì cần thời gian trồng lâu hơn Ngày nay nhu cầu về sản phẩm quế để sản xuất các mặt hàng tiêu dùng vẫn chiếm đa số

Như vậy tập quán sản xuất quế mà cha ông ta đã để lại có nhiều ưu điểm và đây

là một lợi thế cần được duy trì và sử dụng cho phù hợp với tình hình sản xuất và xuất khẩu hiện nay

1.1.3 Lợi thế về lao động

Hiện nay nước ta là một trong những nước có số dân đông trên thế giới, khoảng gần 80 triệu người, trong đó số người ở độ tuổi lao động chiếm khoảng hơn 40 triệu và hơn 70% lao động lại thuộc về ngành nông, lâm nghiệp Trình độ lao động phổ thông của nước ta ngày càng được nâng cao tay nghề, chất lượng Lao động nông, lâm nghiệp của nước ta rất phong phú cả về tốc độ tăng tự nhiên và tỉ suất huy động Đây là một lợi thế rất lớn, một khả năng vật chất tiềm tàng mà không phải bất cứ một quốc gia nào cũng có được Tuy nhiên những năm qua lợi thế này của Việt Nam vẫn chưa được khai thác một cách có hiệu quả Vì vậy trong thời gian tới việc khai thác nguồn nhân lực một cách tối ưu là việc làm cần thiết

Sau đây là bảng thống kê số liệu dân số lao động ở nước ta

Bảng 5: Số liệu thống kê dân số- lao động (Tính đến 1/7/2002)

Trang 26

Nguồn: Bộ Lao động-Thương binh và xã hội

Bảng 6: Số liệu thống kê dân số lao động theo trình độ- ngành nghề

(Tính đến 1/7/2002, đơn vị 1000 người)

Tốt nghiệp cấp 1 2.953,02

Tốt nghiệp cấp 2 12.232,73 Trình độ học vấn

Tốt nghiệp cấp 3 7.495,91

Không có chuyên môn 32.710,13

Từ sơ cấp trở nên 7.984,233 Trình độ chuyên môn kĩ thuật

Tốt nghiệp đại học 5.058,31

Nông, lâm, ngư nghiệp 40.694,36

Xây dựng, công nghiệp 24.689,27

Nhóm ngành của loại

công việc chính

Dịch vụ 6.157,06

Nguồn: Bộ Lao động- Thương binh và xã hội

Tuy nông dân Việt Nam chiếm một tỷ lệ lớn như vậy trong tổng dân số cả nước nhưng nhìn chung chất lượng lao động nước ta còn thấp so với các nước khác trên thế giới Tỷ lệ lao động không có chuyên môn kĩ thuật lại chiếm đa số với hơn

32 triệu người Đây quả là một trở ngại rất lớn đối với sự phát triển kinh tế nói chung và ngành sản xuất quế nói riêng Nhiều vùng ở nước ta chủ yếu trồng lúa chỉ được nhiều lắm là ba vụ một năm nên nhiều khi người nông dân không có công ăn việc làm trong những tháng nông nhàn

Một thực tế là ở nước ta hiện nay bình quân một lao động chỉ làm khoảng 200 ngày/năm Nơi nào có tổ chức sản xuất khá cũng chỉ đạt khoảng 250 ngày/năm Đặc điểm về nguồn lao động trên đây chỉ ra khả năng phát triển một số ngành mà quá trình sản xuất cần nhiều lao động và giá trị lao động đem lại rất cao như các ngành sản xuất rau quả, ngành sản xuất một số cây công nghiệp đặc sản xuất khẩu

mà điển hình là quế, hồi, kiến cánh đỏ… Lao động sống đối với ngành này trong

Trang 27

điều kiện hiện nay vẫn còn là những cơ sở vật chất có ý nghĩa quyết định Trong quan hệ với thị trường thế giới, những sản phẩm này thường có giá trị ngoại tệ cao Mặt khác, đặc điểm sản xuất nông, lâm nghiệp nói chung và sản xuất quế nói riêng, theo chiều sâu ngoài việc kết hợp sản xuất giữa hai ngành sản xuất nông và lâm nghiệp còn có điều kiện thâm canh khắc phục sự lạc hậu của cơ sở vật chất kĩ thuật còn nghèo nàn lạc hậu trong phạm vi nhất định, nhất là ở vùng đồi núi Hiện nay nguồn lao động tiềm tàng này còn để lãng phí, kể cả ở vùng đồi núi còn quá ít lao động Bên cạnh đó, điểm đáng chú ý hiện nay là phân bố lao động của nước ta còn chưa hợp lí, nguồn lao động ở các vùng miền núi còn quá ít so với khả năng sản xuất tiềm tàng rất rộng lớn của đất đai và tiềm năng kinh tế to lớn ở khu vực này Tốc độ tăng về dân số cũng như lao động chủ yếu tập trung ở vùng đồng bằng ven biển Trong khi đó việc mở rộng diện tích đất nông nghiệp, lâm nghiệp ở vùng đồi núi có ý nghĩa rất quan trọng cả về kinh tế lẫn quốc phòng lại không được chú ý đầu tư

Như vậy khả năng lao động ở nước ta rất dồi dào nhưng để phân bổ lại và huy động cũng như sử dụng được tiềm năng lao động đó để phát triển sản xuất các ngành cần nhiều lao động nói chung và ngành sản xuất quế nói riêng là một việc làm cần thiết Nhìn chung, nước ta ngoài những lợi thế về điều kiện tự nhiên, khí hậu đất đai thì lợi thế về nguồn lao động cũng là một nhân tố đáng kể để mở rộng phát triển ngành sản xuất quế

1.2 Một số khó khăn trong ngành sản xuất quế

Cây quế là một loại cây chỉ sống được ở một số nơi nhất định, chủ yếu là ở các vùng đồi núi ở các tỉnh phía Bắc và miền Trung Địa hình ở những nơi này chủ yếu

là đồi núi dốc, giao thông đi lại không thuận lợi Việc trồng và chăm sóc cây quế của bà con nông dân gặp rất nhiều khó khăn Bên cạnh đó, mặc dù các vùng, miền nói trên những năm qua đã được Đảng và nhà nước quan tâm đầu tư xây dựng đường sá, cầu cống nhưng giao thông ở các địa phương miền núi nói chung là còn gặp nhiều trắc trở Chính vì lí do này mà sản phẩm quế sau khi thu hoạch sẽ gặp khó khăn rất lớn trong khâu vận chuyển tiêu thụ Trước đây, việc trồng quế diễn ra

Trang 28

Kể từ khi tiến hành công cuộc Đổi mới đất nước, Đảng và Nhà nước ta có chủ trương khuyến khích đầu tư đặc biệt là lĩnh vực đầu tư nước ngoài vào các vùng sâu, vùng xa Tuy nhiên qua hơn 10 năm thực hiện luật đầu tư nước ngoài, các vùng này vẫn chưa thu hút được nhiều vốn đầu tư nước ngoài Việc đầu tư chủ yếu

do các doanh nghiệp nhà nước tiến hành nên số vốn đưa vào cũng khiêm tốn và hiệu quả sản xuất cũng chưa cao

Việc sản xuất của bà con các dân tộc hiện nay chủ yếu dựa vào kinh nghiệm truyền thống của cha ông để lại, điều này vừa là một lợi thế lại vừa là một trở ngại đối với ngành sản xuất quế ở nước ta Việc áp dụng khoa học kĩ thuật vào ngành sản xuất quế hầu như chưa được trú trọng nhiều do đó năng suất và chất lượng sản phẩm quế còn chưa được nâng cao Hao hụt sau khi thu hoạch chiếm một tỉ lệ cao trong khối lượng sản phẩm sau thu hoạch Chúng ta cần phải đào tạo nhiều cán bộ lâm nghiệp có chuyên môn tốt để tăng cường cho các địa phương miền núi nhất là những nơi trồng cây đặc sản như cây quế

2 Thực trạng sản xuất quế ở Việt Nam

2.1 Các vùng trồng quế chính ở nước ta

Trang 29

Ở nước ta, cây quế tự nhiên thường mọc hỗn giao trong rừng tự nhiên nhiệt đới

ẩm từ Bắc vào Nam Tuy nhiên ngày nay quế tự nhiên không còn nhiều do sự khai thác bừa bãi của con người mà thay vào đó là cây quế đã được thuần hoá trở thành cây trồng Từ lâu, nước ta đã hình thành bốn vùng trồng quế chính và mỗi vùng có những sắc thái riêng về tự nhiên, về dân tộc Các vùng trồng quế chính đó là:

2.1.1 Vùng quế Yên Bái

Ở tỉnh Yên Bái, cây quế được trồng tập trung ở các huyện Văn Yên, Văn Chấn, Trấn Yên Trong đó các khu vực tập trung quế là Đại Sơn, Châu Quế, Phong Dụ, Xuân Tầm Các địa phương trên có diện tích và sản lượng quế chiếm khoảng trên 70% của cả vùng Sinh sống trên vùng quế Yên Bái chủ yếu là đồng bào dân tộc Dao có nghề trồng quế từ lâu đời Đặc điểm của vùng quế Yên Bái là vùng rừng núi bị chia cắt, hiểm trở nằm ở phía Đông và Đông nam của dãy Hoàng Liên Sơn,

có độ cao tuyệt đối khoảng 300- 700 m so với mực nước biển, khu vực này có nhiệt độ trung bình năm là 22,70 C, lượng mưa bình quân năm trên 1500 mm, độ

ẩm bình quân là 84% Đất đai phát triển trên đá sa thạch, có tầng đất dày, ẩm, nhiều mùn và thoát nước Đây là vùng quế có diện tích và sản lượng vỏ quế cao nhất cả nước

Vùng quế Yên Bái có diện tích khoảng 20.000 ha và sản xuất chủ yếu là loại quế Đơn có chất lượng cao hơn so với quế đơn sản xuất ở các vùng khác Theo điều tra của các chuyên gia, vùng này có khoảng hơn 2 vạn ha có khả năng trồng được quế Diện tích đất này không chỉ nằm ở khu vực có điều kiện thuận lợi về khí hậu thời tiết mà đất đai khá phì nhiêu nên cây quế phát triển rất tốt Tuy nhiên vùng này cũng có những mặt hạn chế, đó là địa hình đồi núi phức tạp, độ dốc lớn

và bị chia cắt nên giao thông nội tỉnh đi lại rất khó khăn Việc vận chuyển quế sau khi thu hoạch từ các khu vực trồng quế đến các nơi tập trung không mấy thuận lợi Nhưng việc vận chuyển quế từ các nơi tập trung ở tỉnh đi các địa phương khác cũng có mặt thuận lợi do Yên Bái có quốc lộ 13, có tuyến đường sắt Lào Cai- Yên Bái- Hà Nội đi qua cùng với các tuyến đường nội tỉnh Cây quế trồng ở Yên Bái có năng suất và chất lượng cao hơn các vùng khác nên đáp ứng yêu cầu xuất khẩu

Trang 30

2.1.2 Vùng quế Quảng Ninh

Các huyện Hải Ninh, Hà Cối, Đầm Hà, Tiên Yên và Bình Liêu tỉnh Quảng Ninh là vùng đồi núi san sát nhau thuộc cánh cung Đông bắc kéo dài về phía biển Các dãy núi theo hình cánh cung Đông Bắc- Tây Nam là địa hình chắn gió vì vậy lượng mưa trong vùng rất cao, khoảng trên 2300 mm một năm, nhiệt độ bình quân năm là 230 C Vậy nên cây quế rất có điều kiện phát triển Quế được trồng trên các đồi núi cao khoảng 200- 400 m so với mực nước biển Quế là nguồn lợi đáng kể của các đồng bào Thanh Y, Thanh Phán sống ở trong vùng Các đồng bào dân tộc

ít người trên đã có truyền thống sản xuất quế từ lâu đời Sản phẩm chủ yếu là quế Đơn Nhiều năm qua, vùng quế Quảng Ninh đã cung cấp một lượng lớn quế hàng hoá phục vụ cho xuất khẩu Hình thức sản xuất quế chủ yếu là do quốc doanh, các lâm trường được thành lập từ hàng chục năm qua và các hộ dân được nhà nước giao đất giao rừng

Vùng quế Quảng Ninh là nơi có đất đai và khí hậu rất thuận lợi để phát triển cây quế Nếu như có sự đầu tư thích đáng khả năng có thể mở rộng qui mô sản xuất quế lên tới 6000 ha Vùng này lại có điều kiện thuận lợi khác là giao thông đi lại tương đối thuận lợi do địa hình đồi núi không cao lắm, quốc lộ 18 vừa mới được cải tạo và mở rộng, lại là một tỉnh có nhiều cảng biển như cảng Cửa Ông, cảng Hòn Gai, cảng nước sâu Cái Lân ( đang xây dựng)… Do đó việc vận chuyển sản phẩm quế đi các tỉnh khác và để xuất khẩu là không mấy khó khăn Tuy nhiên

do hiện nay diện tích không lớn và chất đất ở đây không cho chất lượng quế tốt

Trang 31

như ở Yên Bái nên Quảng Ninh mới chỉ mới sản xuất và xuất khẩu rất ít mặt hàng này Trong tương lai, cải tạo các giống quế và đưa các giống có năng suất, chất lượng cao như loại quế Đơn vào vùng quế này để tiến hành sản xuất đại trà là một việc làm đang được tỉnh Quảng Ninh quan tâm

2.1.3 Vùng quế Thanh Hoá, Nghệ An

Các huyện Thường Xuân, Ngọc Lặc (Thanh Hoá) Quế Phong, Quỳ Châu (Nghệ An) là một vùng liền giải nằm về phía Đông dãy Trường Sơn, có vĩ độ từ 190 đến

200 vĩ Bắc, Phía Tây thượng nguồn là các dãy núi cao khoảng 1500- 2000m án ngữ biên giới Việt Lào và thấp dần về phía Đông Vùng quế này bị kẹp giữa bởi hai lưu vực sông Chu và sông Hiến; có độ cao bình quân 300- 700 m chia cắt và đón gió Đông Nam nên lượng mưa trong vùng cũng rất cao trên 2000 mm/ năm; nhiệt độ bình quân 23,10 C, độ ẩm bình quân là 85% Thực vật trong vùng phong phú và đa dạng, có rất nhiều loại lâm sản ngoài gỗ có giá trị như song, mây, tre trúc và các loại cây thuốc nhưng đặc biệt quý giá vẫn là cây quế Tiêu biểu là hai loại quế Thanh và quế Quỳ Đây là hai loại rất tốt vì có hàm lượng và chất lượng cao nổi tiếng trong cả nước Người trồng quế chủ yếu là đồng bào các dân tộc Thái, Mường, Mán

Khả năng phát triển cây quế ở vùng này là rất lớn tuy nhiên hiện nay diện tích quế chỉ mới tập trung chủ yếu ở các huyện Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Quế Châu của Nghệ An và Thường Xuân, Ngọc Lặc, Lang Chánh của Thanh Hoá Nhu cầu về cây quế thanh để làm dược liệu là rất lớn nhưng khả năng sản xuất lại có hạn nên việc mở rộng diện tích quế ở vùng này là rất cần thiết

Theo điều tra khảo sát của các chuyên gia lâm nghiệp, vùng này có điều kiện khá thuận lợi: về địa chất, vùng này thuộc miền tự nhiên Tây Bắc, đất đai có độ dày và ẩm lớn, nhiều mùn, chất lượng đất tốt, khả năng trồng cây quế Đơn ở khu vực này là rất lớn Vì vậy việc đưa cây quế Đơn vào trông ở khu vực này để tạo vùng nguyên liệu phục vụ xuất khẩu là một việc làm cần thiết để nâng cao thu nhập của đồng bào các dân tộc ở đây Bên cạnh đó nguồn lao động dồi dào ở các đại phương trên cũng là một thuận lợi lớn để phát triển sản xuất quế

Trang 32

2.1.4 Vùng quế Quảng Nam, Quảng Ngãi

Ở vùng này, sản xuất quế tập trung chủ yếu ở các huyện Trà My của tỉnh Quảng Nam và Trà Bồng của tỉnh Quảng Ngãi, khu vực này nằm ở phía đông của dãy Trường Sơn, thượng nguồn phía Tây là đỉnh Ngọc Linh cao khoảng 1500 m và thấp dần về phía Đông Vùng quế Trà My, Trà Bồng có độ cao trung bình khoảng 400- 500 m; nhiệt độ bình quân hàng năm là 220 C, lượng mưa bình quân khá cao khoảng 2300 mm/năm, độ ẩm bình quân 85% Đất đai phát triển trên các loại đá

mẹ, đá sa thạch hoặc sa phiến thạch có tầng đất dày, ẩm và thoát nước, thành phần

cơ giới trung bình Quế là nguồn lợi và gắn bó với các đồng bào dân tộc Cà Tu, Cà Toong, Bo từ lâu đời nay Các xã như Trà Quân, Trà Hiệp, Trà Thuỷ (Trà Bồng), Trà Long, Trà Giác, Trà Mai (Trà My) là những địa phương có nhiều quế nhất Hiện nay vùng quế đã được mở rộng ra các địa phương khác như Quế Sơn, Phước Sơn, Sơn Tây và Sơn Hà

Ở khu vực này tổng diện tích có thể trồng quế lên tới hơn 10.000 ha Sản phẩm truyền thống vẫn là quế Đơn có chất lượng tốt không kém quế Đơn trồng ở Yên Bái, Quảng Ninh Khu vực này có điều kiện giao thông tương đối thuận lợi, có đường 1 và đường Hồ Chí Minh đi qua, lại gần biển (khu vực miền Trung có các cảng như Đà Nẵng, Sa Huỳnh, …) nên việc vận chuyển sản phẩm quế sau thu hoạch đi tiêu thụ là rất thuận lợi

Những năm qua, việc chế biến các sản phẩm có nguồn gốc từ cây quế chưa được chúng ta trú trọng lắm Do lượng quế sản xuất ra không nhiều lại bị phân tán

ở 4 khu vực khác nhau và việc xuất khẩu lại chủ yếu là vỏ quế thô nên công đoạn chế biến cũng đơn giản, dựa vào người trồng quế là chính Khi đến vụ thu hoạch, quế được lột vỏ theo những quy trình nhất định Trong công đoạn này, để có được những phiến quế phù hợp với tiêu chuẩn xuất khẩu, cán bộ thu mua phải hướng dẫn cho người sản xuất tiêu chuẩn về độ dài, chiều ngang của thanh quế để đạt được giá trị cao nhất Vỏ quế sau khi tách ra khỏi cây sẽ được phơi khô và bán cho

Trang 33

2.2 Diện tích và sản lượng

Theo con số thống kê năm 1999, ở nước ta, đất lâm nghiệp chiếm khoảng 24% diện tích đất cả nước (tức là khoảng 10.884,5 nghìn ha), trong đó diện tích trồng cây lâu năm chiếm 18% Hơn nữa theo thống kê của cục quản lý lâm nghiệp – Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, diện tích có khả năng trồng quế ở nước ta rất lớn (70.000 – 80.000 ha) trong khi diện tích sản xuất quế hiện nay chỉ khoảng 18 – 20 nghìn ha Điều này chứng tỏ nước ta có nhiều thuận lợi cho việc mở rộng diện tích và mở rộng quy mô sản xuất quế phục vụ cho nhu cầu xuất khẩu

Sau đây là bảng thống kê diện tích sản xuất quế được phân theo ba vùng sản xuất quế chủ yếu: Yên Bái, Quảng Ninh và Quảng Nam qua các năm

Bảng 7: Diện tích trồng quế ở nước ta (đơn vị: héc ta)

Tổng diện tích 10.125 10.590 10.800 11260 11.400 11.700 12.000 Yên bái 5.000 5.260 5.500 5.700 5.700 5.800 5.850 Quảng Nam 3.020 3.130 3.160 3.260 3.300 3.500 3.600 Quảng Ninh 2.105 2.200 2.240 2.300 2.400 2.400 2.500

Nguồn: Tài liệu thống kê của Cục quản lý lâm nghiệp – Bộ Nông nghiệp và phát

triển nông thôn 1999 – 2000

Yên Bái là vùng sản xuất quế lớn chiếm 47,5% diện tích trồng của cả nước Đạt được điều này, một phần do Yên bái có điều kiện tự nhiên thích hợp, đồi núi nhiều, hơn nữa lại được sự quan tâm của chính quyền sở tại, coi sản xuất quế là ngành mũi nhọn trong tỉnh Từ lâu, tỉnh Yên Bái đã nhận thấy sản xuất quế cho giá trị xuất khẩu cao hơn nhiều loại cây trồng khác, lại được thiên nhiên ưu đãi cho điều kiện khí hậu, đất đai phù hợp với sản xuất quế nên những năm qua, Yên Bái đã không ngừng mở rộng diện tích trồng quế Do thời gian sản xuất dài, nên vùng này rất cần sự quan tâm hỗ trợ của chính quyền địa phương về vốn, giống để ngành sản xuất quế có thể và đi vào chuyên canh hoá Trong vài năm tới, diện tích quế của Yên Bái sẽ tăng nhanh phù hợp với tiềm năng về đất đai của tỉnh

Trang 34

Bên cạnh đó, quế trồng ở các vùng khác nhau, tuỳ thuộc vào số lượng cây trên một đơn vị diện tích và điều kiện thổ nhưỡng ở vùng Quảng Ninh, với mật độ 4.000 cây/ha, sau 8-9 năm sẽ thu được khoảng 10 – 12 tấn vỏ quế khô Một số vùng sản xuất quế ở Yên Bái, với mật độ gây trồng 2.500 cây/ha, sau 10 năm cho thu hoạch từ 20 đến 22 tấn Tại Quảng Nam - Đà Nẵng, quế được trồng trên đất đỏ Bazan màu mỡ với mật độ 1.500 cây/ha, sau

25 năm cho thu hoạch 28 – 30 tấn Như vậy xét về kinh doanh sản xuất vỏ là sản phẩm chủ yếu của ngành quế, thì năng suất trên đơn vị diện tích của cây quế trồng ở Quảng Nam đạt cao nhất sau đó là quế trồng ở Yên Bái rồi mới đến Quảng Ninh Song tính năng suất bình quân/ha/năm, chỉ tiêu năng suất cơ bản cho cây dài ngày thì quế trồng ở Yên Bái đạt năng suất cao nhất từ 2 đến 2,2 tấn/ha sau đó là quế trồng ở Quảng Nam 1,5-2 tấn /ha, Quảng Ninh chỉ đạt 1,2- 1,5 tấn/ha

Hơn 10 năm qua, sản lượng quế của cả nước đã không ngừng tăng lên Nếu năm 1990 sản lượng quế cả nước là 2300 tấn thì đến năm 2002, sản lượng đã tăng lên gấp gần 3 lần khoảng 6500 tấn

Bảng 8: Sản lượng quế Việt Nam giai đoạn 1990-2002 (đơn vị: tấn)

Năm 1990 1993 1994 1996 1997 1999 2000 2001 2002 Tổng sản

lượng

2300 2520 2700 3300 3670 3900 4500 6000 6500

Yên Bái 1100 1300 1400 1500 1750 1900 2200 2700 3200 Quảng Nam 740 760 780 900 1000 1100 1200 1500 1700 Quảng Ninh 460 500 520 700 910 1000 1200 1400 1600

Nguồn: Cục quản lí lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển

Nông thôn Qua bảng trên ta thấy, sản lượng quế của cả nước và của riêng các địa phương trồng quế không ngừng tăng Tăng nhanh nhất là tỉnh Yên Bái vì địa phương này rất quân tâm đầu tư phát triển sản xuất quế và lại là tỉnh có diện tích sản xuất quế lớn nhất cả nước Tuy cả nước có bốn vùng có khả năng sản xuất quế nhưng chỉ tính riêng các vùng quế Yên Bái, Quảng Nam và Quảng Ninh thì sản lượng quế đã chiếm trên 90% Có được kết quả như trên là nhờ vào hàng loạt các nhân tố Đó chính là nhờ chính sách và cơ chế quản lí mới, chủ trương xây dựng một nền kinh

tế nhiều thành phần của Đảng ta, chính sách giao quyền sử dụng đất ổn định và lâu dài cho người dân, các chính sách khuyến khích về thuế, chính sách hỗ trợ tín dụng… Các chính sách trên của Đảng và Nhà nước đã phát huy được tính ưu việt

Trang 35

Bảng 9: Năng suất quế tính theo tuổi

Tuổi cây ( năm) D 1,3 (cm) H (m) Trọng lượng vỏ khô (kg)

4,0 7,0 10,0 11,0

1,0 3,6 5,0 9,0

Nguồn: Hoàng Cầu, Hiện trạng và định hướng phát triển cây quế

Như vậy, qua bảng trên, chúng ta có thể thấy ở tuổi 15 thì cây quế cho năng suất cao và phù hợp nhất để khai thác Tuy nhiên tuỳ theo mục đích trồng mà xác định tuổi của cây quế cho thích hợp với chu kì kinh doanh

2.3 Kĩ thuật lâm sinh và gây trồng quế

Trang 36

ánh sáng trực tiếp mạnh thì hạt sẽ bị mất dầu và mất luôn khả năng nảy mầm Trong tự nhiên, hạt quế có thể phát tán nhờ vào các động vật như chim và các loài vật ăn hạt, hoặc có thể phát tán nhờ gió, hoặc rụng và mọc xung quanh gốc cây

mẹ

Đối với cây quế, có 3 cách sản xuất giống sau: sản xuất giống bằng hạt, sản xuất giống bằng chồi non và sản xuất giống bằng cành

 Sản xuất giống bằng hạt:

Việc sản xuất giống bằng hạt thường mất nhiều thời gian, khoảng 1,5 đến

2 năm tính cả thời gian gieo ươm hạt và chăm sóc cây con Việc sản xuất giống bằng hạt là một việc làm phức tạp, trải qua nhiều công đoạn, nhiều khâu chọn lọc theo yêu cầu kĩ thuật và kinh tế Tuy nhiên cách này có mặt lợi là cây giống

có sức sống mạnh và chất lượng cây tốt Bước đầu tiên là người ta phải chọn hạt giống quế, thông thường người ta chọn hạt ở những cây quế nhiều tuổi và thu hạt vào lúc quả chín Sau khi thu hạt thì phải bảo quản hạt cẩn thận tránh hao hụt và mất khả năng nảy mầm của hạt Bước thứ hai là chọn đất gieo ươm, gieo ươm cây quế cũng như gieo ươm nhiều loại cây lâm nghiệp khác, phải chọn đất thích hợp, đất phải là đất tốt, tơi xốp, pha cát, nhiều mùn Sau khi gieo hạt thì phải làm dàn tạo bóng râm cho cây non Trong quá trình cây con sinh trưởng phải có sự điều chỉnh ánh sáng cho thích hợp với cường độ tăng dần ánh sáng để cây con thích hợp từ từ với ánh sáng Trong suốt thời gian cây con sinh trưởng, người trồng phải sử dụng phân bón và thường xuyên chăm sóc cây con như tưới nước, làm cỏ, phòng chống sâu bệnh có hại

Hiện nay, việc áp dụng kĩ thuật ươm cây quế giống bằng bầu đã đem lại hiệu quả cao, rút ngắn thời gian ươm cây, cây giống sau khi gieo 1 năm thường đạt chiều cao trung bình 30 cm, có 10- 14 lá, đường kình cổ rễ 0,5- 0-7 cm và

có thể đem trồng đại trà được Trồng quế bằng cây con có bầu thường đạt tỷ lệ sống cao, chủ động thời vụ và cây trồng có khả năng phục hồi nhanh sau khi trồng ở một số địa phương xa trung tâm gieo trồng hoặc điều kiện đi lại khó khăn, đồng bào các dân tộc đã biết tận dụng những cây quế mọc tự nhiên ở trong rừng làm giống Cách làm này tuy khắc phục được một phần khó khăn về

Trang 37

giống nhưng không đảm bảo chất lượng cây trồng, thường hay có hiện tượng thoái hoá giống Vì vậy ở những nơi nhân dân gây trồng nhiều quế thì nhất thiết phải lập vườn ươm qui mô từ nhỏ đến lớn để gieo ươm quế với số lượng lớn sau đó cung cấp cho các hộ trồng quế ở một bản, một xã hoặc rộng hơn nữa

Sản xuất giống bằng hạt có ưu điểm là cây con nếu được chăm sóc tốt sẽ phát huy những ưu thế mới Nhưng lại phải đầu tư nhiều vốn, nhiều công chăm sóc và mất nhiều thời gian, phải dành đất lập vườn ươm, mua sắm dụng cụ lao động… Hiện nay ở một số địa phương sản xuất nhiều quế thì bà con đã lập các vườn ươm công nghiệp, tức là dùng máy móc từ khâu làm đất, làm bầu, cấy hạt, nhào trộn chất dinh dưỡng trong bầu, tưới nước, phun thuốc trừ sâu cho tới khâu vận chuyển Phương pháp này đem lại hiệu quả cao, không cần nhiều nhân công, giá thành đầu tư ban đầu có thể cao nhưng nếu tính về sản xuất lâu dài thì lại rất rẻ Cây giống sản xuất ra đạt yêu cầu, có thể kéo dài thời gian sản xuất trong năm, khắc phục một phần quan trọng tính chất thời vụ của ngành trồng quế Tuy nhiên việc áp dụng máy móc thiết bị hiện nay còn rất hạn chế do đặc điểm địa hình ở các địa phương trồng quế rất khó khăn Địa hình vườn ươm thường là sườn đồi dốc nên việc đưa máy móc vào sản xuất gặp nhiều bất lợi

 Sản xuất giống bằng chồi non

Sau khi thu hoạch vỏ và chặt cây quế sát gốc một thời gian thí các chồi non sẽ mọc xung quanh gốc Mỗi gốc thường có khoảng 3- 4 chồi Khi chồi non cao khoảng 50- 60 cm thì tiến hành tỉa bớt chỉ để lại mỗi gốc một đến hai chồi các xa nhau và tiếp tục chăm sóc để trở thành rừng quế Phương pháp sản xuất giống này có hiệu quả cao và có ưu thế hơn nhiều so với các phương pháp sản xuất khác phương pháp này không phải dành đất lập vườn ươm, mặt khác lại tiết kiệm được nhiều tiền vốn và lao động Có thể coi phương pháp này không cần mất chi phí để sản xuất giống Thời gian sản xuất giống bằng cách này thường ngắn hơn so với các cách khác do chồi non được thừa hưởng bộ rễ từ cây mẹ nên sức sống rất mạnh Trồng quế bằng chồi non thông thường chỉ mất khoảng 6- 7 năm là có thể khai thác trong khi sản xuất bằng phương pháp khác phải mất từ 8- 10 năm hoặc lâu hơn thế Phẩm chất của quế sản xuất bằng chồi

Trang 38

non cũng rất tốt, đủ khả năng xuất khẩu Tuy nhiên phương pháp này chỉ tiến hành được một kì, nếu kéo dài hơn thì sức sống của cây sẽ giảm sút dẫn đến phẩm chất quế sẽ kém

 Sản xuất giống bằng cành

Cây quế cũng có khả năng sinh sản vô tính bằng cách chiết cành, giâm hom giống như cách làm thông thường đối với cây cam, chanh…Người ta chọn lựa những cành lớn, thẳng, có triển vọng phát triển tốt và khi cắt đi không ảnh hưởng tới cây mẹ Thời gian sản xuất thường ngắn, chỉ khoảng 3- 5 tháng kể từ khi cành quế được đem chiết Khi chiết cành nên chon những cây khoẻ mạnh, sinh trưởng và phát triển tốt không bị sâu bệnh và không nên tiến hành quá nhiều lần đối với một cây, chỉ nên tiến hành chiết cây đến đời thứ hai Nếu làm đến đời thứ ba sẽ làm cho cây kém phẩm chất ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả kinh doanh

Trên đây là ba phương pháp sản xuất giống quế được áp dụng phổ biến trong ngành trồng quế ở cả 4 vùng sản xuất chính Tuy nhiên phương pháp sản xuất giống bằng hạt lại phổ biến hơn cả Dù chọn phương pháp nào để sản xuất giống thì cũng nên chọn cây mẹ khoẻ mạnh, phát triển tốt, không bị sâu bệnh, cây có hàm lượng tinh dầu cao trong vỏ thì cây giống mới tốt Đây chính là điều quan trọng nhất đối với khâu chọn giống như ông cha ta đã dạy: “tốt giống tốt má, tốt mạ tốt lúa” Có thể nói khâu chọn giống là một khâu khá quan trọng trong quá trình sản xuất quế, nó sẽ quyết định chất lượng vỏ quế khi thu hoạch

2.3.2 Kĩ thuật trồng quế

Sau khi đã ươm cây được một thời gian, cây con đạt yêu cầu thì người ta đem trồng đại trà trên đất rừng Trồng quế là một phong tục tập quán lâu đời của đồng bào các dân tộc Dao, Mường, Cà tu, Cà toong, Bu… ở nước ta Các vườn quế, rẫy quế được coi là tài sản quí giá của từng gia đình, ông bà, cha mẹ khi chết đi thường

để lại các vườn quế cho con cháu Có nơi sự giàu có thường được đo bằng diện tích các vườn quế Theo phong tục của một số dân tộc, khi con cái xây dựng gia đình riêng, ông bà cha mẹ thường chia đất, chia rẫy cho con cháu để họ trồng quế

Trang 39

Có nơi người dân thường tổ chức trồng quế vào đầu năm mới như một lễ hội và đây là một tập quán tốt Một năm thường có hai mùa trồng quế, mùa xuân vào các tháng 2 và 3, mùa thu vào các tháng 8,9 Tuỳ vào thời tiết của từng vùng mà bà con trồng quế vào thời gian khác nhau Ở Yên Bái, quế thường được trồng vào các tháng đầu xuân, các tỉnh miền trung trồng vào vụ thu khi đã có mua nhiều, đất ẩm, thời tiết dịu mát, tránh được gió nóng mùa hè

Quế thường được trồng trong vườn của các hộ gia đình, xung quanh làng bản, ở các khu công sở, trường học Quế được gây trồng trong vườn hộ gia đình được gọi

là vườn rừng quế Đặc điểm của loại hình trồng nầy là diện tích không lớn, chỉ khoảng 1 đến 2 ha mỗi hộ nhưng đất rừng được sử dụng có hiệu quả Hàng năm các hộ có sản phẩm quế để bán, đồng thời tiếp tục trồng bổ sung Quế được trồng thuần loại, có nhiều cỡ tuổi khác nhau từ nhỏ đến lớn Lao động để xây dựng vườn rừng chủ yếu huy động từ các hộ gia đình, vốn đầu tư cũng do các hộ này tự bỏ ra sau mỗi lần bán sản phẩm quế Chính nhờ cây quế mà hàng trăm hộ dân có tiền xây được nhà kiên cố, sắm được ti vi, xe máy và các thiết bị khác trong gia đình

Ưu điểm của loại hình trồng quế này là có thể huy động tối đa sức người, sức của trong những vùng trồng quế, tuy nhiên nhược điểm là vốn đầu tư không nhiều, lao động thiếu nên việc mở rộng diện tích gặp nhiều khó khăn nếu không có sự giúp

đỡ của các ngân hàng và tổ chức tín dụng khác

Quế cũng thường được trồng ở trên nương, rẫy, trên các sườn núi tạo thành các vùng quế tập trung có diện tích lớn, đặc biệt quế còn được trồng theo phương thức nông lâm kết hợp như đã trình bày ở phần trên Đây là loại hình trồng quế với qui

mô lớn và thường tạo thành các trang trại quế Diện tích của các trang trại này phụ thuộc vào đất đai mà Nhà nước giao cho cũng như lao động, tiền vốn của các hộ gia đình Hiện nay các hộ gia đình đã đầu tư bằng mọi nguồn vốn có thể có để thuê nhân công phát băng, đào hố, khai thác vỏ quế đã tạo công ăn việc làm cho hàng trăm lao động tại địa phương Gây trồng quế trên nương rẫy mở ra khả năng cung cấp sản phẩm nhiều, đồng thời ngăn chặn được hiện tượng phát nương, phá rừng, chống được sói mòn, bảo vệ môi trường Việc trồng quế trên nương rẫy cùng với trồng xen cây theo phương thức nông lâm kết hợp đã làm tăng thu nhập cho bà con

Trang 40

nông dân đặc biệt là trong thời kì cây quế còn bé Theo điều tra của các nhà nghiên cứu, những hộ áp dụng phương thức trồng quế này hàng năm có thu nhập rất cao khoảng từ 50 đến 100 triệu đồng một năm

Mật độ trồng quế phụ thuộc vào cường độ và mục đích kinh doanh ở những nơi có cường độ kinh doanh cao, có khả năng tận dụng hết các phụ phẩm trung gian, mật độ trồng có thể lên tời 10.000 cây/ha Ở những nơi có cường độ kinh doanh thấp, mật độ quế trồng có thể chỉ ở mức 3000 cây/ha

Trước khi tiến hành trồng quế, người ta phải đào hố, mỗi hố cách nhau từ 2- 3

m tuỳ theo mật độ trồng, mỗi hố rộng 0,25 m2, nên đào hố thẳng hàng để sau này tiện chăm sóc cây con Sau khi đào hố thì đổ mùn hoặc lá cây rụng xuống và bón phân trước Sau đó mới đem cây con trồng vào trong hố Nên trồng cây con bằng bầu thì cây sẽ có tỷ lệ sống cao

Trong thời gian từ 3- 4 năm đầu kể từ khi trồng quế phải tiến hành chăm sóc thường xuyên Nội dung của chăm sóc là tiến hành trồng bổ sung những cây con

đã chết và điều chỉnh ánh sáng cho thích hợp Loại bỏ các cây cỏ hoang dại lấn át cây trồng, nhổ những cây con yếu ớt, bị sâu bệnh… và tiến hành phòng trừ sâu bệnh cho rừng quế Khi rừng quế đã khép tán cần điều chỉnh mật độ thích hợp cho từng giai đoạn Công tác điều chỉnh rừng quế đảm bảo cho rừng quế đủ ánh sáng,

đủ không gian dinh dưỡng để sau này cây quế đạt được năng suất và chất lượng cao Tuỳ theo mật độ trồng, từ năm thứ 5 trở về sau có thể tiến hành chặt cành tỉa thưa, sản phẩm tỉa thưa có thể tận thu để chưng cất tinh dầu quế Cần tiên hành phòng chống bệnh hại cho quế không để các dịch hại như dịch sâu róm hại quế như đã từng xảy ra ở Quảng Nam gây thiệt hại rất lớn cho bà con các dân tộc

2.3.4 Khai thác và chế biến vỏ quế

Việc khai thác vỏ quế đã có từ lâu đời ở nước ta Từ khi còn thu hái tự nhiên cho đến khi biết trồng quế, nhân dân ta đã nhận biết và tích luỹ dần được những

Ngày đăng: 06/03/2014, 01:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Hà Quang Doãn, Chuyên viên chính vụ Âu Mỹ, Bộ Thương mại: Hàng gia vị- Tiềm năng, triển vọng, những hạn chế và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hàng gia vị- Tiềm năng, triển vọng, những hạn chế và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu
Tác giả: Hà Quang Doãn
Nhà XB: Bộ Thương mại
10. Niên giám thống kê 2001, Tổng cục thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê 2001
Nhà XB: Tổng cục thống kê
1. Viện nghiên cứu Thương mại, Bộ Thương mại: Báo cáo nghiên cứu thị trường gia vị 2003; Chính sách và chiến lược xuất khẩu gia vị của Việt Nam 2003 Khác
2. Phạm Anh Tuấn, Phát triển nghề trồng quế ở Việt Nam. NXB Nông Nghiệp 1982 Khác
4. Lê Trần Đức, Cây thuốc Việt Nam, NXB Nông nghiệp Khác
5. Võ văn Chi, Vũ Văn Chuyên, Lê Khả Kế, Phạm Nguyên Hồng, Ngô Tất Lợi, Thái Văn Trừng. Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam. NXB Khoa học 1971 Khác
6. Hoàng Cầu, Nguyễn Hữu Phước. Nghiên cứu kĩ thuật khai thác và sơ chế vỏ quế Khác
7. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Đề án phát triển vùng lâm đặc sản gắn với công nghiệp chế biến. Thời kì 1997- 2005 Khác
8. Cục lưu trữ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2000). Khả năng thực tế và tiêu thụ quế ở Việt Nam Khác
9. Hiệu quả kinh tế cây nông nghiệp, Viện Khoa học dài hạn, Uỷ ban Khoa học Nhà nước, Hà nội 1998 Khác
11. Công ty lâm đặc sản xuất khẩu, Dự án kinh doanh cây quế xuất khẩu, giai đoạn 1986-1995 Khác
12. Bùi Xuân Lưu, Giáo trình Kinh tế ngoại thương, NXB Giáo dục 2003 13. Vũ Hữu Tửu, Kĩ thuật nghiệp vụ ngoại thương, NXB Giáo dục 2002 14. Tạp chí Ngoại thương các năm 2000 đến 2003 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2 Bảng các nước nhập khẩu quế chính - Luận văn " Thực trạng và một số giải pháp nhằm đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu quế của Việt Nam " pdf
Bảng 2 Bảng các nước nhập khẩu quế chính (Trang 17)
Bảng 4: Giá mặt hàng quế trên thế giới một số năm qua - Luận văn " Thực trạng và một số giải pháp nhằm đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu quế của Việt Nam " pdf
Bảng 4 Giá mặt hàng quế trên thế giới một số năm qua (Trang 19)
Bảng 6: Số liệu thống kê dân số lao động theo trình độ- ngành nghề - Luận văn " Thực trạng và một số giải pháp nhằm đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu quế của Việt Nam " pdf
Bảng 6 Số liệu thống kê dân số lao động theo trình độ- ngành nghề (Trang 26)
Bảng 7: Diện tích trồng quế ở nước ta (đơn vị: héc ta) - Luận văn " Thực trạng và một số giải pháp nhằm đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu quế của Việt Nam " pdf
Bảng 7 Diện tích trồng quế ở nước ta (đơn vị: héc ta) (Trang 33)
Bảng 9: Năng suất quế tính theo tuổi - Luận văn " Thực trạng và một số giải pháp nhằm đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu quế của Việt Nam " pdf
Bảng 9 Năng suất quế tính theo tuổi (Trang 35)
Bảng 12: Xuất khẩu gia vị Việt Nam thời kì 1996- 2000 (đơn vị 1000 USD) - Luận văn " Thực trạng và một số giải pháp nhằm đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu quế của Việt Nam " pdf
Bảng 12 Xuất khẩu gia vị Việt Nam thời kì 1996- 2000 (đơn vị 1000 USD) (Trang 49)
Bảng 13: Giá vỏ quế thô trên thị trường thế giới giai đoạn 1996- 2002 - Luận văn " Thực trạng và một số giải pháp nhằm đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu quế của Việt Nam " pdf
Bảng 13 Giá vỏ quế thô trên thị trường thế giới giai đoạn 1996- 2002 (Trang 50)
Bảng 18: Dự kiến diện tích và sản lượng quế qui hoạch đến năm 2010 - Luận văn " Thực trạng và một số giải pháp nhằm đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu quế của Việt Nam " pdf
Bảng 18 Dự kiến diện tích và sản lượng quế qui hoạch đến năm 2010 (Trang 147)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w