TRONG KHI ĐÓ, MỐI QUAN HỆ HỢP TÁC KINH TẾ ASEAN - TRUNG QUỐC NGÀY CÀNG PHÁT TRIỂN, VIỆC TRUNG QUỐC GIA NHẬP WTO, NHỮNG GẦN GŨI VỀ ĐỊA LÝ VÀ VĂN HOÁ GIỮA ASEAN VÀ TRUNG QUỐC, THÌ SỰ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
*****
® ¹ i h ä c n g o ¹ i t h ¬ n g
h µ n é i
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
KHU VỰC MẬU DỊCH TỰ DO ASEAN -
TRUNG QUỐC VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP
THÚC ĐẨY HỘI NHẬP CỦA VIỆT NAM
Trang 2MỤC LỤC
Lời nói đầu 2
Chương 1: Quá trình hình thành khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc (ACFTA) 9
1.1 Những nhân tố thúc đẩy sự hình thành ACFTA 9
1.1.1 Sự phát triển mạnh mẽ của các khu vực mậu dịch tự do (FTA) trên toàn cầu 9
1.1.2 Sức mạnh kinh tế mới của Trung Quốc và sự hấp dẫn của khu vực kinh tế năng động ASEAN .22
1.1.3 Những thành tựu hợp tác giữa ASEAN và Trung Quốc 28
1.2 Sự hình thành ACFTA 35
1.2.1 Các mốc thời gian chính 35
1.2.2 Nội dung cam kết 36
Chương 2: Tác động của khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc tới các quốc gia thành viên 56
2.1 Cơ hội 56
2.1.1 Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong dài hạn 56
2.1.2 Tạo ra vị thế mới về chính trị trong các vòng thương lượng, đàm phán đa phương toàn cầu 88
2.1.3 Tạo ra môi trường hoà bình, ổn định và hợp tác 89
2.2 Thách thức 95
2.2.1 Loại hình tổ chức của ACFTA 95
2.2.2 Tình trạng phân hóa hai cực 95
2.2.3 Cạnh tranh 96
2.2.4 Yếu tố chính trị 119
Chương 3: Việt Nam và ACFTA 127
3.1 Quan hệ hợp tác song phương Việt Nam - Trung Quốc 127
3.1.1 Hợp tác chính trị, ngoại giao 128
Trang 33.1.2 Hợp tác thương mại 128
3.1.3 Hợp tác đầu tư 131
3.2 Tác động của ACFTA đối với Việt Nam .132
3.2.1 Cơ hội đối với Việt Nam khi tham gia ACFTA 132
3.2.2 Thách thức đối với Việt Nam khi tham gia ACFTA 145
3.3 Một số giải pháp thúc đẩy hội nhập của Việt Nam vào ACFTA 150
3.3.1 Chuyên môn hoá sản xuất và chế biến những mặt hàng xuất khẩu mà Việt Nam có năng lực cạnh tranh hơn so với Trung Quốc 150
3.3.2 Thúc đẩy cải cách kinh tế, tăng cường tự do hoá thương mại và xúc tiến đầu tư 153
3.3.3 Tăng cường công tác xúc tiến thương mại 155
3.3.4 Phát huy lợi thế về vị trí địa lý để nâng cao kim ngạch thương mại song phương, trở thành đầu cầu và cửa ngõ của Trung Quốc ở thị trường ASEAN 157
3.3.5 Tiến hành đàm phán với Trung Quốc để được hưởng các điều kiện ưu đãi hơn trong việc mở cửa thị trường và thực hiện nguyên tắc tối huệ quốc cũng như trong việc cung cấp hỗ trợ kinh tế kỹ thuật 159
3.3.6 Thu hẹp khoảng cách phát triển giữa Việt Nam và các nước ASEAN khác 160
3.3.7 Tích cực hợp tác với với các nước trong khối ASEAN để đi đến nhất thể hoá thị trường khu vực nhằm cạnh tranh với thị trường Trung Quốc .161
Kết luận 166
Danh mục tài liệu tham khảo 168
Chú thích: 168
Tài liệu tham khảo khác 170
Phụ lục 172
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
TRONG NHỮNG NĂM 1990, TỐC ĐỘ TOÀN
CẦU HOÁ VÀ KHU VỰC HOÁ KINH TẾ ĐÃ
NHANH CHÓNG TRỞ THÀNH MỘT HIỆN
TƯỢNG GÂY RA SỰ LO NGẠI RỘNG RÃI
TRONG NỀN KINH TẾ THẾ GIỚI ĐÂY LÀ
TỚI NHỮNG MỐI QUAN HỆ GẦN GŨI HƠN
GIỮA TẤT CẢ CÁC NƯỚC VÀ KHU VỰC
CŨNG NHƯ SỰ PHỤ THUỘC LẪN NHAU VÀ
CẠNH TRANH LỚN HƠN TRÊN QUY MÔ
TOÀN CẦU VÌ VẬY, LIỆU MỘT NƯỚC CÓ
THỂ DUY TRÌ ĐƯỢC TĂNG TRƯỞNG KINH
TẾ LIÊN TỤC VÀ LÀNH MẠNH HAY KHÔNG
ĐƯỢC QUYẾT ĐỊNH BỞI VIỆC NƯỚC NÀY
CÓ THỂ ĐỐI PHÓ LẠI VỚI XU HƯỚNG
PHÁT TRIỂN KINH TẾ THẾ GIỚI ĐÚNG LÚC
VÀ ĐIỀU CHỈNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA
MÌNH
TRONG BỐI CẢNH SỰ PHỤ THUỘC KINH
TẾ LẪN NHAU NGÀY CÀNG SÂU SẮC Ở
TẦM KHU VỰC VÀ TOÀN CẦU VÀ VIỆC
CÁC NƯỚC ASEAN ĐÃ GẦN THỰC HIỆN
XONG KHU VỰC MẬU DỊCH TỰ DO ASEAN
Trang 5(AFTA), CÂU HỎI ĐẶT RA LÀ LIỆU ASEAN
SẼ ĐI THEO ĐỊNH HƯỚNG HỘI NHẬP KHU
VỰC NÀO SAU AFTA TRONG KHI ĐÓ, MỐI
QUAN HỆ HỢP TÁC KINH TẾ ASEAN -
TRUNG QUỐC NGÀY CÀNG PHÁT TRIỂN,
VIỆC TRUNG QUỐC GIA NHẬP WTO,
NHỮNG GẦN GŨI VỀ ĐỊA LÝ VÀ VĂN HOÁ
GIỮA ASEAN VÀ TRUNG QUỐC, THÌ SỰ
LỰA CHỌN THIẾT LẬP MỘT KHU VỰC
MẬU DỊCH TỰ DO GIỮA ASEAN VÀ TRUNG
QUỐC – ACFTA (ASEAN – CHINA FREE
TRADE AREA) CÓ THỂ LÀ MỘT CÂU TRẢ
LỜI VỀ MỘT TRONG NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG
HỢP TÁC PHÁT TRIỂN KINH TẾ TIẾP THEO
CỦA ASEAN
THẬT VẬY, ASEAN VÀ TRUNG QUỐC LÀ
NHỮNG NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN VÀ
ĐANG Ở NHỮNG GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN
KINH TẾ KHÁC NHAU SONG CÙNG ĐANG
PHẢI ĐỐI MẶT VỚI NHỮNG CƠ HỘI VÀ
THÁCH THỨC TRONG MỘT THẾ GIỚI
ĐANG THAY ĐỔI NHANH CHÓNG VIỆC
THÀNH LẬP MỘT HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI
TỰ DO VÀ TĂNG CƯỜNG QUAN HỆ SONG
PHƯƠNG LÀ MỘT QUYẾT ĐỊNH SÁNG
SUỐT CỦA HAI BÊN TRONG QUÁ TRÌNH
THEO ĐUỔI NHỮNG CƠ HỘI PHÁT TRIỂN
Trang 6MỚI TRONG BỐI CẢNH KINH TẾ TOÀN
CẦU TĂNG TRƯỞNG CHẬM LẠI VÀ NHIỀU
NĂM SUY THOÁI CỦA CƯỜNG QUỐC KINH
TẾ KHU VỰC NHẬT BẢN, KHU VỰC MẬU
DỊCH TỰ DO ASEAN - TRUNG QUỐC SẼ
ĐẶC BIỆT CÓ LỢI ĐỐI VỚI TIỀM NĂNG
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA HAI BÊN
HƠN NỮA, ĐIỀU NÀY SẼ TẠO RA MỘT CƠ
CHẾ QUAN TRỌNG NHẰM BẢO ĐẢM SỰ ỔN
ĐỊNH KINH TẾ Ở KHU VỰC VÀ CHO PHÉP
ASEAN VÀ TRUNG QUỐC CÓ TIẾNG NÓI
LỚN HƠN TRONG CÁC VẤN ĐỀ THƯƠNG
MẠI QUỐC TẾ BÊN CẠNH NHỮNG CƠ HỘI
ĐÓ, VIỆC THIẾT LẬP KHU VỰC MẬU DỊCH
TỰ DO ASEAN - TRUNG QUỐC TRONG
VÒNG 10 NĂM TỚI CHẮC CHẮN SẼ TẠO RA
NHIỀU THÁCH THỨC LỚN ĐỐI VỚI CÁC
NƯỚC THAM GIA, ĐẶC BIỆT ĐỐI VỚI CÁC
THÀNH VIÊN MỚI CỦA ASEAN TRONG ĐÓ
CÓ VIỆT NAM CHÍNH VÌ VẬY, VIỆC
NGHIÊN CỨU NHỮNG CƠ HỘI VÀ THÁCH
THỨC CỦA KHU VỰC MẬU DỊCH TỰ DO
ASEAN - TRUNG QUỐC LÀ MỘT TRONG
NHỮNG VẤN ĐỀ CÓ TÍNH THỜI SỰ VÀ CÓ
Ý NGHĨA THIẾT THỰC TRONG BỐI CẢNH
HIỆN NAY ĐỂ CÓ THỂ GIÚP CÁC NƯỚC
THÀNH VIÊN, NHẤT LÀ VIỆT NAM, CÓ THỂ
Trang 7CHUẨN BỊ ĐẦY ĐỦ ĐỂ THAM GIA CÓ HIỆU
QUẢ VÀO KHU VỰC MẬU DỊCH TỰ DO
NÀY
DO VẬY, EM MẠNH DẠN CHỌN ĐỀ TÀI
"KHU VỰC MẬU DỊCH TỰ DO ASEAN -
TRUNG QUỐC VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC
ĐẨY HỘI NHẬP CỦA VIỆT NAM” VỚI MONG
MUỐN ĐỀ TÀI NÀY SẼ GÓP PHẦN LÀM
SÁNG TỎ NHỮNG MẢNG SÁNG TỐI CỦA
BỨC TRANH KINH TẾ CÁC NƯỚC ASEAN
NÓI CHUNG VÀ VIỆT NAM NÓI RIÊNG
TRONG BỐI CẢNH MỘT KHU VỰC MẬU
DỊCH TỰ DO ĐƯỢC THIẾT LẬP GIỮA
ASEAN VÀ TRUNG QUỐC, TỪ ĐÓ GIÚP
VIỆT NAM HỘI NHẬP THÀNH CÔNG VÀO
KHU VỰC NÀY
KHOÁ LUẬN SỬ DỤNG KẾT HỢP MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU BAO GỒM PHƯƠNG PHÁP LÝ LUẬN BIỆN
CHỨNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TÀI LIỆU, CÓ SỰ TỔNG HỢP, PHÂN TÍCH VÀ SO SÁNH, NHẰM LÀM SÁNG TỎ VẤN
ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU
BỐ CỤC CỦA KHOÁ LUẬN, NGOÀI LỜI NÓI
ĐẦU, KẾT LUẬN, DANH MỤC TÀI LIỆU THAM
KHẢO VÀ PHỤ LỤC, BAO GỒM 3 CHƯƠNG
CHÍNH:
THÚC ĐẨY SỰ RA ĐỜI CỦA KHU VỰC MẬU
DỊCH TỰ DO ASEAN - TRUNG QUỐC VÀ
TÓM TẮT QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH KHU
VỰC NÀY, ĐỒNG THỜI KHÁI QUÁT HOÁ
NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN NHẤT CỦA
Trang 8HIỆP ĐỊNH KHUNG VỀ HỢP TÁC KINH TẾ
TOÀN DIỆN ASEAN - TRUNG QUỐC
(FAACCEC)
CHƯƠNG 2 ĐI SÂU PHÂN TÍCH NHỮNG CƠ
HỘI VÀ THÁCH THỨC NÓI CHUNG CỦA
KHU VỰC MẬU DỊCH TỰ DO ASEAN -
TRUNG QUỐC ĐỐI VỚI CÁC NƯỚC THÀNH
VIÊN
TRUNG VÀO NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA KHU
VỰC MẬU DỊCH TỰ DO ASEAN - TRUNG
QUỐC ĐỐI VỚI VIỆT NAM, TỪ ĐÓ ĐƯA RA
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỂ THÚC ĐẨY SỰ HỘI
NHẬP CỦA VIỆT NAM VÀO KHU VỰC MẬU
DỊCH TỰ DO NÀY
DỰA TRÊN CƠ SỞ NGHIÊN CỨU TÀI LIỆU VÀ TIẾN HÀNH TỔNG HỢP, PHÂN TÍCH, SO SÁNH, KHOÁ LUẬN ĐÃ CÓ NHỮNG
CỐ GẮNG NHẤT ĐỊNH NHẰM ĐƯA RA MỘT CÁI NHÌN TỔNG QUAN VỀ NHỮNG CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI CÁC
NƯỚC THÀNH VIÊN, ĐẶC BIỆT LÀ ĐỐI VỚI VIỆT NAM, MỘT KHI KHU VỰC MẬU DỊCH TỰ DO ASEAN - TRUNG QUỐC
ĐƯỢC THÀNH LẬP, TỪ ĐÓ ĐƯA RA MỘT SỐ ĐỀ XUẤT ĐỂ TĂNG CƯỜNG SỰ HỘI NHẬP CỦA VIỆT NAM VÀO KHU VỰC
MẬU DỊCH TỰ DO NÀY
TUY VẬY, DO TÍNH MỚI MẺ CỦA ĐỀ TÀI CŨNG NHƯ NHỮNG HẠN CHẾ VỀ THỜI GIAN, KIẾN THỨC VÀ TÀI LIỆU NGHIÊN
CỨU, KHOÁ LUẬN KHÔNG THỂ TRÁNH KHỎI NHỮNG THIẾU SÓT EM RẤT MONG NHẬN ĐƯỢC Ý KIẾN ĐÓNG GÓP CỦA
CỦA CÁC THẦY CÔ VÀ CÁC BẠN QUA ĐÂY, EM XIN GỬI LỜI CẢM ƠN CHÂN THÀNH ĐẾN CÔ GIÁO, TIẾN SĨ VŨ THỊ KIM
OANH, ĐÃ HƯỚNG DẪN VÀ CHỈ BẢO TẬN TÌNH CHO EM TRONG SUỐT THỜI GIAN THỰC HIỆN KHOÁ LUẬN EM CŨNG
XIN GỬI LỜI CẢM ƠN ĐẾN CÁC CÔ, CHÚ VÀ ANH, CHỊ ĐANG CÔNG TÁC TẠI VỤ HỢP TÁC KINH TẾ ĐA PHƯƠNG (BỘ
NGOẠI GIAO), TRUNG TÂM THÔNG TIN BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ, TRUNG TÂM THÔNG TIN TƯ LIỆU THUỘC VIỆN
NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ KINH TẾ TRUNG ƯƠNG (CIEM), VÀ TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TRUNG QUỐC ĐÃ GIÚP ĐỠ EM
HOÀN THÀNH KHOÁ LUẬN NÀY
HÀ NỘI, THÁNG 12/ 2003
SINH VIÊN
ĐINH THỊ VIỆT THU
Trang 9CHƯƠNG 1: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH KHU
VỰC MẬU DỊCH TỰ DO ASEAN - TRUNG QUỐC
(ACFTA)
1.1 Những nhân tố thúc đẩy sự hình thành ACFTA
1.1.1 Sự phát triển mạnh mẽ của các khu vực mậu dịch tự do (FTA) trên toàn cầu
NỀN KINH TẾ THẾ GIỚI ĐÃ TRẢI QUA SỰ
BIẾN ĐỔI CHƯA TỪNG THẤY TRONG NỬA
CUỐI NHỮNG NĂM 1990 ĐẶC BIỆT, CÁC
HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TẬP ĐOÀN ĐÃ
ĐƯỢC TOÀN CẦU HOÁ MẠNH MẼ THÔNG
QUA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
(FDI), SỰ SÁP NHẬP VÀ MUA LẠI (M&AS)
XUYÊN BIÊN GIỚI VÀ THÔNG QUA CÁC
KÊNH GIAO DỊCH QUỐC TẾ KHÁC NHAU
CÙNG VỚI CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG
NGHỆ THÔNG TIN, LUẬT CHƠI MỚI VỀ
CẠNH TRANH ĐÃ ĐƯỢC THIẾT LẬP Ở CÁC
LĨNH VỰC NHƯ KIỂM SOÁT QUẢN LÝ,
QUẢN LÝ CÔNG NGHỆ, NỘI ĐỊA HOÁ VÀ
MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC HÃNG, TÌM KIẾM
CÁC NGUỒN LỰC BÊN NGOÀI VÀ SỬ DỤNG
CÁC CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
Trang 10MỤC ĐÍCH VÀ NỘI DUNG CỦA CÁC THOẢ
THUẬN THƯƠNG MẠI ƯU ĐÃI (PTA) CŨNG
ĐÃ THAY ĐỔI MẠNH MẼ TRONG QUÁ
TRÌNH HÌNH THÀNH KHU VỰC MẬU DỊCH
TỰ DO BẮC MỸ (NAFTA) VÀ LIÊN MINH
CHÂU ÂU (EU) VÀO NỬA ĐẦU NHỮNG NĂM
1990, CUỘC THẢO LUẬN KINH TẾ VỀ
NHỮNG QUAN ĐIỂM THUẬN VÀ CHỐNG
PTA PHẦN LỚN CHỈ GIỚI HẠN Ở NHỮNG
ĐÁNH GIÁ MANG TÍNH LÝ THUYẾT VÀ
CHIÊM NGHIỆM VỀ SỨC SÁNG TẠO
THƯƠNG MẠI CỦA J VINER [1] VÀ CÁC
TÁC ĐỘNG MÉO MÓ CỦA THƯƠNG MẠI
TUY NHIÊN, KHÔNG KHÍ XUNG QUANH Ý
TƯỞNG CHỦ NGHĨA KHU VỰC ĐÃ THAY
ĐỔI MẠNH MẼ VÀO NỬA CUỐI NHỮNG
NĂM 1990
MỘT ĐỐI TÁC TÍCH CỰC LÀ EU SAU KHI
HOÀN THÀNH SỰ HỘI NHẬP SÂU SẮC GIỮA
CÁC NƯỚC THÀNH VIÊN, EU BẮT ĐẦU
ĐÀM PHÁN MỘT LOẠT KHU VỰC MẬU
Trang 11DỊCH TỰ DO (FTA – FREE TRADE AREA)
VỚI MỘT SỐ THÀNH VIÊN CỦA HỘI ĐỒNG
THƯƠNG MẠI TỰ DO CHÂU ÂU (EFTA), VỚI
CÁC NƯỚC ĐÔNG ÂU VÀ CÁC NƯỚC VEN
ĐỊA TRUNG HẢI CÁC ĐỐI TÁC TÍCH CỰC
KHÁC LÀ NHỮNG NƯỚC TƯƠNG ĐỐI NHỎ
BAO GỒM MEHICO, CHILE VÀ SINGAPORE NHỮNG NƯỚC NÀY ĐÃ ĐÀM
PHÁN VÀ KÝ KẾT MỘT SỐ FTA VỚI CẢ
NHỮNG NƯỚC TRONG KHU VỰC CŨNG
NHƯ NHỮNG NƯỚC CÁCH XA VỀ ĐỊA LÝ
BỊ KÍCH THÍCH BỞI CÁC BƯỚC PHÁT
TRIỂN NÀY, TRONG SUỐT NHỮNG NĂM 80,
MỸ ĐÃ TÍCH CỰC THEO ĐUỔI KHẢ NĂNG
THÀNH LẬP KHU VỰC MẬU DỊCH TỰ DO
VỚI CÁC NƯỚC KHÁC Ở KHU VỰC CHÂU Á
- THÁI BÌNH DƯƠNG BƯỚC ĐI ĐẦU TIÊN
CỦA NƯỚC NÀY LÀ VIỆC ĐƯA RA ĐỀ NGHỊ
THÀNH LẬP KHU VỰC MẬU DỊCH TỰ DO
VỚI AUSTRALIA NĂM 1987, MIKE
MANSFIELD - ĐẠI SỨ MỸ TẠI NHẬT BẢN
Trang 12ĐÃ ĐƯA RA ĐỀ NGHỊ NGHIÊN CỨU KHẢ
NĂNG THÀNH LẬP KHU VỰC MẬU DỊCH
TỰ DO MỸ – NHẬT BẢN NĂM 1989, BÁO
CÁO CUỐI CÙNG VỀ “SÁNG KIẾN ASEAN –
MỸ” ĐÃ ĐƯỢC CÙNG NGHIÊN CỨU VÀ
ĐƯA RA KÊU GỌI THÀNH LẬP KHU VỰC
MẬU DỊCH TỰ DO GIỮA ASEAN VÀ MỸ
GẦN ĐÂY HƠN, NĂM 1997, MỸ ĐÃ ĐƯA RA
ĐỀ NGHỊ THÀNH LẬP KHU VỰC MẬU DỊCH
TỰ DO P5 (PACIFIC 5 – NHÓM 5 NƯỚC Ở
THÁI BÌNH DƯƠNG, BAO GỒM AUSTRALIA,
CHILE, NEW ZEALAND, SINGAPORE VÀ
MỸ) SANG ĐẾN NĂM 2002, QUÁ TRÌNH
THÀNH LẬP CÁC KHU VỰC MẬU DỊCH TỰ
DO ĐÃ ĐƯỢC MỸ ĐẨY MẠNH NGOÀI
NHỮNG FTA VỚI MEHICO, CANADA,
JORDAN VÀ ISRAEL, TRONG NĂM 2003, MỸ
ĐÃ KÝ FTA VỚI SINGAPORE, CHILE VÀ
CÁC HIỆP ĐỊNH KHUNG VỀ THƯƠNG MẠI
VÀ ĐẦU TƯ VỚI THÁI LAN, PHILIPPINES
VÀ INDONESIA ĐẦU THÁNG 6/ 2003, MỸ
Trang 13CŨNG BẮT ĐẦU THƯƠNG THẢO ĐỂ KÝ FTA VỚI LIÊN HIỆP QUAN THUẾ MIỀN NAM
CHÂU PHI (GỒM CÁC NƯỚC NAM PHI,
BOSWANA, LESOTHO, NAMIBIA VÀ
SWAZILAND) NGOÀI RA, MỸ CŨNG ĐANG
XEM XÉT KHẢ NĂNG KÝ KẾT FTA VỚI
COLOMBIA VÀ BAHRAIN (XEM BẢNG 1)
BẢNG 1: CÁC KHU MẬU DỊCH TỰ DO LỚN CỦA 1 SỐ NƯỚC
THUỘC KHỐI TAM
GIÁC PHÍA BẮC
(EL SALVADOR, HONDURAS, NICARAGOA), DOMINICA, NICARAGOA, COSTA RICA, BOLIVIA, G3
CANADA, MEHICO, TRUNG MỸ (COSTA RICA,
EL SALVADOR, HONDURAS, GUATAMELA, NICARAGOA), VENEZUELA, COLUMBIA, EQUDOR, MERCOSUR, PERU, BOLIVIA
CANADA
VÀ MEHICO (NAFTA), ISRAEL, JORDAN
MALTA, CYPRUS, ANDORA, THỔ NHĨ
KỲ, THUỴ SỸ, LIECHTENSTEIN, IRELAND, NORWAY, SÉC, HUNGARY,
BA LAN, SLOVAK, RUMANIA, BULGARIA, LITHUANIA, ESTONIA, LATVIA, FAEROES, SLOVENIA, MEHICO, CHILE, PALESTINE, TUNISIA, ISRAEL, JORDAN
Trang 14CÁC KHU MẬU DỊCH TỰ DO ĐANG ĐÀM PHÁN HAY CÓ KẾ HOẠCH BẮT ĐẦU ĐÀM
CHILE, FTAA, SINGAPORE
MERCOSUR, CÁC NƯỚC KHỐI ANDEAN
(BOLIVIA, COLUMBIA, PERU, VENEZUELA)
CÁC KHU MẬU DỊCH TỰ DO ĐANG Ở GIAI ĐOẠN ĐỀ XUẤT
NHẬT, SINGAPORE, PACIFIC 5
PACIFIC 5
NGUỒN: BỘ KINH TẾ, THƯƠNG MẠI VÀ CÔNG NGHIỆP NHẬT BẢN (METI), 2001,
HTTP://WWW.METI.GO.JP/POLICY/TRADE-POLICY/EPA/HTML
THEO SÁCH TRẮNG VỀ THƯƠNG MẠI
QUỐC TẾ CỦA JETRO (TỔ CHỨC XÚC TIẾN
THƯƠNG MẠI NHẬT BẢN), CHO ĐẾN
THÁNG 5/ 2003 ĐÃ CÓ KHOẢNG 250 HIỆP
ĐỊNH MẬU DỊCH TỰ DO (FTA) SONG
PHƯƠNG VÀ KHU VỰC ĐÃ ĐƯỢC THÔNG
BÁO CHO GATT/ WTO, TRONG ĐÓ CÓ 130
HIỆP ĐỊNH ĐƯỢC THÔNG BÁO SAU THÁNG
1/ 1995 KHOẢNG TRÊN 170 FTA ĐANG CÓ
HIỆU LỰC VÀ 70 FTA KHÁC ĐÃ CÓ HIỆU
LỰC MẶC DÙ CHƯA ĐƯỢC THÔNG BÁO
CHO WTO DỰ KIẾN ĐẾN CUỐI NĂM 2005,
Trang 15ĐỊNH MẬU DỊCH TỰ DO SONG PHƯƠNG VÀ
KHU VỰC ĐÃ TRỞ NÊN PHỔ BIẾN, VÀ NGHI
NGẠI RẰNG XU THẾ NÀY CÓ THỂ PHÁ VỠ
CÁC HOẠT ĐỘNG ĐA PHƯƠNG TRONG
KHUÔN KHỔ WTO [3]
Ở KHU VỰC ĐÔNG Á, TÍNH ĐẾN THÁNG 12/
2002 CHỈ CÓ 4 KHU VỰC NHƯ VẬY ĐƯỢC
KÝ KẾT (THAM KHẢO PHỤ LỤC 1), NHƯNG
ĐIỀU CẦN NÓI LÀ XU HƯỚNG NÀY MỚI
CHỈ XUẤT HIỆN Ở ĐÔNG Á TỪ NĂM 1999
VÀO CUỐI NĂM 1998, HÀN QUỐC ĐÃ ĐỀ
NGHỊ NHẬT BẢN NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG
THÀNH LẬP KHU VỰC MẬU DỊCH TỰ DO
GIỮA HAI NƯỚC THÁNG 9/ 1999,
SINGAPORE ĐÃ NHẤT TRÍ VỚI NEW
ZEALAND VỀ VIỆC BẮT ĐẦU ĐÀM PHÁN
Trang 16THÀNH LẬP KHU VỰC MẬU DỊCH TỰ DO,
NƯỚC NÀY CŨNG ĐƯA RA ĐỀ NGHỊ
TƯƠNG TỰ ĐỐI VỚI CÁC NƯỚC CHILE,
MEHICO VÀ HÀN QUỐC THÁNG 10 NĂM
ĐÓ, SINGAPORE ĐÃ ĐƯA RA ĐỀ NGHỊ
THIẾT LẬP QUAN HỆ GIỮA KHU VỰC MẬU
DỊCH TỰ DO ASEAN (AFTA) VỚI HIỆP ĐỊNH
QUAN HỆ KINH TẾ GẦN GŨI HƠN GIỮA
AUSTRALIA VÀ NEW ZEALAND (CER)
THÁNG 11 NĂM ĐÓ, SINGAPORE BẮT ĐẦU
VÀ ĐI TIÊN PHONG LÀ SINGAPORE KHI
NƯỚC NÀY ĐƯA RA SÁNG KIẾN ĐÀM PHÁN
VÀ NGHIÊN CỨU VỀ KHU VỰC MẬU DỊCH
TỰ DO VỚI MỘT LOẠT CÁC NƯỚC KHÁC
TRONG KHU VỰC KHÁI NIỆM VỀ KHU
Trang 17VỰC MẬU DỊCH TỰ DO ĐẠI ĐÔNG Á
(EAFTA) ĐÃ ĐƯỢC ĐƯA RA THẢO LUẬN
TẠI HỘI NGHỊ THƯỢNG ĐỈNH ASEAN + 3
TỔ CHỨC VÀO THÁNG 12/ 2000 VÀ CÁC
NƯỚC ĐÃ ĐI ĐẾN NHẤT TRÍ THÀNH LẬP
MỘT NHÓM NGHIÊN CỨU VỀ VẤN ĐỀ NÀY
NĂM 2001, SINGAPORE VÀ NEW ZEALAND
ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC THOẢ THUẬN VÀ ĐÓ LÀ
KHU VỰC MẬU DỊCH TỰ DO ĐẦU TIÊN Ở
ĐÔNG Á PHÙ HỢP VỚI ĐIỀU 24 CỦA HIỆP
ĐỊNH CHUNG VỀ THUẾ QUAN VÀ MẬU
DỊCH (GATT) THÁNG 11 NĂM ĐÓ, ASEAN
VÀ TRUNG QUỐC ĐÃ ĐI ĐẾN THOẢ THUẬN
VỀ NGUYÊN TẮC ĐỐI VỚI VIỆC THÀNH
LẬP 1 KHU VỰC MẬU DỊCH TỰ DO GIỮA
CÁC NƯỚC ASEAN VÀ TRUNG QUỐC
TRONG VÒNG 10 NĂM
LÝ DO KHIẾN CHO HÀNG LOẠT FTA NÓI TRÊN ĐƯỢC KÝ KẾT LÀ BỞI LẼ THỰC TẾ ĐÃ CHO THẤY, Ở MỘT MỨC ĐỘ
NHẤT ĐỊNH, NGUỒN LỢI MÀ FTA MANG LẠI CHO CÁC QUỐC GIA LÀ RẤT LỚN:
THỨ NHẤT, VỀ PHẠM VI ĐIỀU CHỈNH, CÁC FTA GẦN NHƯ BAO GỒM TOÀN BỘ CÁC LĨNH VỰC TRONG QUAN HỆ KINH
TẾ THƯƠNG MẠI GIỮA CÁC THÀNH VIÊN: KHÔNG CHỈ THƯƠNG MẠI HÀNG HOÁ, THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ, CÁC BIỆN
PHÁP ĐẦU TƯ LIÊN QUAN ĐẾN THƯƠNG MẠI, … MÀ CẢ CÁC VẤN ĐỀ KHÁC NHƯ DU LỊCH, THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ,
DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ, PHÁT THANH TRUYỀN HÌNH … (THAM KHẢO PHỤ LỤC 2) VỚI PHẠM VI BAO QUÁT
RỘNG NHƯ VẬY, FTA SẼ ĐEM LẠI NHIỀU LỢI ÍCH NHƯ MỞ RỘNG THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU, TẠO CÔNG ĂN VIỆC LÀM,
XÚC TIẾN ĐẦU TƯ VÀ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ, TĂNG CƯỜNG ĐÀM PHÁN ĐỐI VỚI MỘT NƯỚC THỨ BA HƠN THẾ
NỮA, TỰ DO THƯƠNG MẠI THÔNG QUA FTA SẼ CÀNG LÀM TĂNG SỨC CẠNH TRANH CỦA CÁC NHÀ XUẤT KHẨU VÀ
CÁC TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI CỦA CÁC NƯỚC THÀNH VIÊN, TẠO ĐIỀU KIỆN CHO HỌ DỄ DÀNG THÀNH CÔNG TRONG
CÁC VÒNG ĐÀM PHÁN ĐA PHƯƠNG VỚI Ý NGHĨA NHƯ VẬY, FTA CHÍNH LÀ CÁNH CỬA ĐỂ MỘT NƯỚC HỘI NHẬP
Trang 18THƯƠNG MẠI VỚI THẾ GIỚI, KHỞI ĐẦU CHO QUÁ TRÌNH TỰ DO HOÁ CẠNH TRANH, TỪ ĐÓ CÁC NƯỚC CÓ NHIỀU CƠ
HỘI ĐỂ LỰA CHỌN ĐỐI TÁC THÍCH HỢP
THỨ HAI, MỨC ĐỘ ĐIỀU CHỈNH CỦA CÁC FTA SÂU RỘNG HƠN RẤT NHIỀU SO VỚI WTO, VỚI NHỮNG ƯU ĐÃI CAO
NHẤT, TẠO ĐIỀU KIỆN THUẬN LỢI TIẾN TỚI TỰ DO HOÁ TỐI ĐA VÀ TRIỆT TIÊU HOÀN TOÀN NHỮNG TRỞ NGẠI ĐỐI
VỚI THƯƠNG MẠI HÀNG HOÁ, DỊCH VỤ, ĐẦU TƯ, ĐẶC BIỆT LÀ VẤN ĐỀ TRIỆT TIÊU THUẾ SUẤT NHẬP KHẨU XUỐNG
0% VÀ CÁC ƯU ĐÃI MỞ CỬA THỊ TRƯỜNG ĐẦU TƯ NGOÀI RA, BẢN CHẤT CỦA CÁC FTA KHÔNG CHỈ ĐƠN THUẦN LÀ
VIỆC TỰ DO HOÁ THƯƠNG MẠI, MÀ CÒN BAO GỒM CẢ VIỆC HỢP TÁC TRONG TẤT CẢ CÁC LĨNH VỰC NGOÀI THƯƠNG
MẠI, VÍ DỤ: HỢP TÁC TRONG LĨNH VỰC PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC, HỢP TÁC TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN CÔNG
NGHỆ THÔNG TIN, ĐƠN GIẢN HOÁ THỦ TỤC HẢI QUAN, XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI VÀ ĐẦU TƯ, HỖ TRỢ CÁC DOANH
NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ, … NÓI CÁCH KHÁC, DO HẦU HẾT CÁC FTA, ĐẶC BIỆT LÀ NHỮNG FTA MỚI ĐƯỢC KÝ KẾT GẦN
ĐÂY, ĐÃ ĐA DẠNG HOÁ NỘI DUNG BÊN CẠNH NỘI DUNG LOẠI BỎ THUẾ QUAN VÀ TỰ DO HOÁ KHU VỰC DỊCH VỤ
NÊN MỖI KHI CON ĐƯỜNG ĐA PHƯƠNG BỊ TẮC NGHẼN HAY CẢN TRỞ, CÁC NƯỚC LIỀN TÌM ĐẾN NHỮNG DÀN XẾP
SONG PHƯƠNG HAY KHU VỰC
TUY NHIÊN, NÓI NHƯ VẬY KHÔNG CÓ NGHĨA LÀ CÁC FTA LUÔN ĐI NGƯỢC LẠI VỚI TIẾN TRÌNH CỦA CÁC VÒNG ĐÀM
PHÁN ĐA PHƯƠNG, BỞI CHO ĐẾN NAY VẪN CHƯA CÓ NGHIÊN CỨU NÀO CHỨNG MINH ĐƯỢC CÁC KHU VỰC MẬU
DỊCH TỰ DO HỖ TRỢ HAY NGĂN CẢN TỰ DO HOÁ THƯƠNG MẠI TRÊN PHẠM VI TOÀN CẦU NHƯNG CÓ THỂ THẤY
THÀNH VIÊN CỦA HAI KHỐI MẬU DỊCH TỰ DO LỚN NHẤT LÀ EU VÀ NAFTA ĐỀU LÀ THÀNH VIÊN CỦA WTO MÀ
NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA TỔ CHỨC NÀY LÀ TỐI HUỆ QUỐC (KHÔNG PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ) ĐƯỢC NÊU RÕ Ở ĐIỀU
KHOẢN I, NÊN KHẢ NĂNG CÁC FTA NGĂN CẢN TIẾN TRÌNH TỰ DO HOÁ TOÀN CẦU LÀ KHÓ XẢY RA
THẬT VẬY, TUY GATT VÀ WTO ĐỀ CAO NGUYÊN TẮC KHÔNG PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ TRONG NGOẠI THƯƠNG NHƯNG
VẪN CÓ NHỮNG ĐIỀU KHOẢN CỤ THỂ CHO PHÉP CÁC THÀNH VIÊN THAM GIA FTA, VỚI ĐIỀU KIỆN PHẢI THÔNG BÁO
VỀ NHỮNG FTA ĐÓ ĐIỀU 24 CỦA GATT QUY ĐỊNH VỀ VIỆC THÀNH LẬP VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA FTA VÀ LIÊN HIỆP THUẾ
QUAN ĐỐI VỚI TRAO ĐỔI HÀNG HOÁ ĐIỀU 5 CỦA GATS (HIỆP ĐỊNH CHUNG VỀ THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ) CHO PHÉP
LẬP CÁC FTA VỀ TRAO ĐỔI DỊCH VỤ NGOÀI RA CÒN CÓ MỘT ĐIỀU KHOẢN ĐẶC BIỆT CHO PHÉP KÝ KẾT FTA VỀ TRAO
ĐỔI HÀNG HOÁ GIỮA CÁC THÀNH VIÊN LÀ NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN CÁC QUY ĐỊNH NÀY CÓ THỂ KHÔNG BẮT BUỘC
TRONG CÁC VỤ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP NHƯNG CÓ TÁC DỤNG NHƯ LÀ NGUYÊN TẮC ỨNG XỬ Ở MỘT CHỪNG MỰC
NÀO ĐÓ TUY NHIÊN, CÒN VƯỢT XA PHẠM VI CỦA NHỮNG ĐIỀU KHOẢN NÀY LÀ VIỆC KHÔNG TỒN TẠI BẤT KỲ MỘT
QUY ĐỊNH CHÍNH SÁCH NÀO KHÁC ĐƯỢC QUỐC TẾ THỪA NHẬN VÌ THẾ, CÁC THOẢ THUẬN KHU VỰC CÓ THỂ CHỨA
ĐỰNG HẦU HẾT CÁC VẤN ĐỀ VƯỢT XA THƯƠNG MẠI HÀNG HOÁ VÀ DỊCH VỤ NÓI CÁCH KHÁC, Ở MỘT MỨC ĐỘ
NHẤT ĐỊNH, CÁC FTA CÓ TÍNH BỔ SUNG CHO WTO TRONG VIỆC TỰ DO HOÁ THƯƠNG MẠI CHÍNH VÌ VẬY, GIỚI HỌC
GIẢ NHẬT CHO RẰNG CÁC FTA NÊN THEO MÔ HÌNH WTO – CỘNG, NGHĨA LÀ BAO GỒM NHIỀU LĨNH VỰC HƠN VÀ MỨC
ĐỘ SÂU RỘNG HƠN TẠI HỘI NGHỊ THÁCH THỨC VÀ CƠ HỘI ĐỐI VỚI VIỆC HỢP TÁC KHU VỰC APEC NGÀY 16/ 5/ 2003
TẠI TOKYO (NHẬT BẢN), ĐẠI SỨ SINGAPORE TẠI NHẬT BẢN CŨNG NÊU RÕ: “TỰ DO HOÁ THƯƠNG MẠI THEO WTO
KHÔNG CÓ ĐƯỢC NHIỀU BƯỚC TIẾN TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY DO WTO CÓ QUÁ NHIỀU THÀNH VIÊN TRONG BỐI
CẢNH NHƯ VẬY, CÁC HIỆP ĐỊNH TỰ DO KHU VỰC VÀ SONG PHƯƠNG SẼ LÀ CƠ CHẾ BỔ SUNG TỐT CHO TIẾN TRÌNH ĐA
PHƯƠNG” [3] NHƯ VẬY, FTA LÀ CÁCH TIẾP CẬN TỐT THỨ NHÌ ĐỐI VỚI TỰ DO HOÁ MẬU DỊCH NHƯNG LÀ GIẢI PHÁP
KHẢ THI NHẤT TRONG MỘT THẾ GIỚI ĐA DẠNG TUY NHIÊN, FTA CHỈ TRỞ THÀNH NHỮNG VIÊN ĐÁ LÁT ĐƯỜNG CHO
TOÀN CẦU HOÁ KHI NÓ PHẢI ĐẢM BẢO RẰNG ẢNH HƯỞNG DO THƯƠNG MẠI TĂNG LÊN (TRADE CREATION) LỚN HƠN
ẢNH HƯỞNG DO THƯƠNG MẠI GIẢM ĐI (TRADE DIVERSION) [1] ĐẾN KHI ĐÓ, FTA SẼ CÓ THỂ TRỞ THÀNH MỘT ĐÒN
BẨY THÚC ĐẨY CHỦ NGHĨA ĐA PHƯƠNG VÀ TỰ DO THƯƠNG MẠI TOÀN CẦU VÀ CUỐI CÙNG, CHỦ NGHĨA KHU VỰC
MỚI SẼ ĐI VÀO LIÊN KẾT KINH TẾ THEO CHIỀU SÂU
MỘT ĐIỂM LỢI NỮA CỦA FTA LÀ TRONG
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH MẠNG LƯỚI
CÁC FTA, MỐI LIÊN HỆ VỚI ĐẦU TƯ TRỰC
TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) VÀ CẢI CÁCH
KINH TẾ TRONG NƯỚC ĐÃ ĐẶC BIỆT
ĐƯỢC CHÚ TRỌNG CÁC FTA ĐƯỢC XEM
Trang 19NHƯ LÀ CÁC CÔNG CỤ CHÍNH SÁCH ĐỂ
GIỚI HẠN HAY THÚC ĐẨY CẢI CÁCH
TRONG NƯỚC CŨNG NHƯ THU HÚT FDI
HƠN LÀ TRÔNG CHỜ CÓ ĐƯỢC CÁC TÁC
ĐỘNG TRỰC TIẾP TO LỚN CỦA GIẢM
THUẾ QUAN TRÊN THỰC TẾ, MEHICO ĐÃ
ĐƯỢC HƯỞNG NHỮNG TÁC ĐỘNG TÍCH
CỰC RÕ RÀNG CỦA NAFTA ĐỐI VỚI CẢ
VIỆC THU HÚT FDI VÀ VIỆC GIỚI HẠN CẢI
CÁCH CƠ CẤU TRONG NƯỚC CÁC NƯỚC
ĐÔNG ÂU ĐÃ CỐ GẮNG GIỚI HẠN QUÁ
TRÌNH CHUYỂN ĐỔI MẠNH MẼ CÁC HỆ
THỐNG KINH TẾ CỦA HỌ VÀ MỘT SỐ
NƯỚC TRONG SỐ HỌ ĐÃ RẤT THÀNH
CÔNG TRONG VIỆC THU HÚT FDI
THÊM VÀO NỮA, CÁC NƯỚC ĐÃ BẮT ĐẦU CẢM NHẬN ĐƯỢC RẰNG
CÁI GIÁ CỦA VIỆC KHÔNG PHẢI LÀ THÀNH VIÊN CỦA BẤT KỲ THOẢ
THUẬN KHU VỰC NÀO LÀ CÓ THẬT GIÁ Ở ĐÂY GỒM SỰ MẤT ĐI THẾ
ĐÀM PHÁN TRONG CÁC CUỘC ĐÀM PHÁN ĐA PHƯƠNG, BỎ LỠ CÁC CƠ
HỘI HƯỞNG LỢI TỪ BÊN NGOÀI VÀ SỰ CHẬM TRỄ NÓI CHUNG TRONG
VIỆC SỬ DỤNG HIỆU QUẢ LÀN SÓNG TOÀN CẦU HOÁ MEHICO, CHILE
VÀ SINGAPORE MUỐN RẰNG HỌ TRỞ THÀNH TRUNG TÂM MẠNG LƯỚI
FTA VÀ HƯỞNG LỢI ÍCH CỦA SỰ KẾT NỐI MỘT NƯỚC TRUNG TÂM CÓ
CÁC LỢI THẾ TIỀM NĂNG ĐỐI VỚI CÁC NƯỚC KHÁC Ở ĐẦU BÊN KIA
TRONG VIỆC HÌNH THÀNH CÁC LUỒNG THƯƠNG MẠI VÀ MẠNG LƯỚI
Trang 20SẢN XUẤT THÔNG QUA FDI MỘT TÀI SẢN QUAN TRỌNG CỦA CÁC THOẢ
THUẬN FTA TRONG BỐI CẢNH NÀY LÀ MỘT NƯỚC (VÍ DỤ MEHICO) CÓ
THỂ KÝ KẾT MỘT FTA MỚI (VÍ DỤ VỚI EU) MÀ KHÔNG CẦN THAY ĐỔI
BẤT CỨ THOẢ THUẬN FTA CŨ NÀO (VÍ DỤ NAFTA)
NÓI TÓM LẠI, CHÍNH DO NHỮNG LỢI ĐIỂM KỂ TRÊN MÀ VIỆC MỞ
RỘNG LIÊN KẾT, THIẾT LẬP CÁC KHU VỰC MẬU DỊCH TỰ DO ĐÃ TRỞ
THÀNH HƯỚNG ĐI ĐƯỢC CÁC NƯỚC CHÚ TRỌNG NHẰM KHAI THÁC TỐT
NHẤT LỢI THẾ SO SÁNH CỦA TỪNG QUỐC GIA, TẠO RA SÂN CHƠI HẤP
DẪN ĐẦY TIỀM NĂNG ĐÁP ỨNG LỢI ÍCH CỦA TẤT CẢ CÁC BÊN CÓ LIÊN
QUAN
TUY VẬY, CÁC FTA CŨNG ĐẶT RA 1 SỐ VẤN ĐỀ ĐÁNG QUAN
TÂM:
THỨ NHẤT, CÁC CHÍNH PHỦ HIỆN THEO
ĐUỔI FTA NHƯ LÀ 1 CÔNG CỤ TRONG
CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI GỒM NHIỀU
TẦNG NẤC ĐAN XEN NHAU, GỒM CẢ SONG
PHƯƠNG, KHU VỰC VÀ ĐA PHƯƠNG ĐỐI
VỚI TỪNG CHÍNH PHỦ, CHÍNH SÁCH NÀY
ĐÒI HỎI RẤT NHIỀU NGUỒN LỰC, KỂ CẢ
CON NGƯỜI VÀ VẬT CHẤT, DO ĐÓ CÓ THỂ
TRỞ THÀNH GÁNH NẶNG, NHẤT LÀ ĐỐI
VỚI CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN; CÒN
ĐỐI VỚI WTO, QUÁ NHIỀU FTA MÀ KHÔNG
CÓ SỰ ĐIỀU PHỐI THOẢ ĐÁNG THÌ ĐIỀU
NÀY CÓ THỂ ĐE DỌA SẼ LÀM ĐỔ VỠ TIẾN
TRÌNH DOHA CHÍNH VÌ VẬY, TỔNG GIÁM
ĐỐC WTO, TIẾN SĨ SAPUCHAI PANITCHPAKDHI, ĐÃ PHẢI THỪA NHẬN
RẰNG: “FTA LÀ CON DAO HAI LƯỠI VÀ LÀ
Trang 21NGUYÊN NHÂN LÀM CHẬM TIẾN TRÌNH
TOÀN CẦU HOÁ” [4]
THỨ HAI, HẦU NHƯ TẤT CẢ CÁC FTA HÌNH THÀNH TRONG THỜI
GIAN GẦN ĐÂY ĐỀU CÓ NỘI DUNG TOÀN DIỆN, KHÔNG CHỈ GIẢI QUYẾT
CÁC RÀO CẢN TẠI BIÊN GIỚI QUỐC GIA NHƯ CÁC FTA TRUYỀN THỐNG
MÀ CÒN BAO TRÙM CÁC LĨNH VỰC DỊCH VỤ VÀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ, ĐẶC
BIỆT CẢ ĐẦU TƯ VÀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ, … LÀ NHỮNG LĨNH VỰC
CHƯA CÓ QUY ĐỊNH QUỐC TẾ CHUNG CÂU HỎI ĐẶT RA LÀ LIỆU CÁC
CAM KẾT MANG TÍNH RÀNG BUỘC TRONG NHỮNG LĨNH VỰC MỚI ĐÓ
CÓ THẬT SỰ PHÙ HỢP VÀ THUẬN LỢI, HAY TRÊN THỰC TẾ CHÚNG LẠI
ĐẶT RA NHỮNG RÀO CẢN MỚI CHO CÁC NƯỚC BÊN NGOÀI VÀ TÁC
ĐỘNG TIÊU CỰC ĐẾN TIẾN TRÌNH ĐÀM PHÁN ĐA PHƯƠNG VỀ CÁC LĨNH
VỰC NÀY NGOÀI RA, CÒN PHẢI KỂ ĐẾN NHỮNG VẤN ĐỀ TRUYỀN
THỐNG ĐẶT RA CHO FTA NÓI CHUNG, NHẤT LÀ VỀ KHẢ NĂNG TÁC
ĐỘNG GIẢM BỚT THƯƠNG MẠI CỦA CÁC NƯỚC KHÔNG THAM GIA FTA
THỨ BA, NHIỀU NƯỚC THAM GIA FTA DƯỜNG NHƯ CHỈ NHẰM
MỤC ĐÍCH TỰ VỆ ĐỂ TRÁNH BỊ GẠT RA NGOÀI, CHỨ HOÀN TOÀN
KHÔNG THEO 1 CHIẾN LƯỢC BÀI BẢN, KHIẾN TÌNH HÌNH FTA NÓI
CHUNG TRÊN THẾ GIỚI NGÀY CÀNG PHỨC TẠP, ĐẶC BIỆT TẠI ĐÔNG Á
NHẬT BẢN VÀ MALAYSIA CÁCH ĐÂY KHÔNG LÂU CÒN RẤT BÀNG
QUAN, GIỜ ĐÃ TRỞ THÀNH NHỮNG NƯỚC RÁO RIẾT TÌM KIẾM FTA
SONG PHƯƠNG, CHỦ YẾU VÌ LO NGẠI CÁC NƯỚC KHÁC CÓ FTA SẼ
CHIẾM MẤT THỊ TRƯỜNG TRUYỀN THỐNG CỦA HỌ
THỨ TƯ, MẶC DÙ CÁC FTA SONG PHƯƠNG NHÌN CHUNG ĐỀU
MANG TÍNH MỞ CỬA HƠN SO VỚI WTO, SONG VẪN KHÔNG GIẢI QUYẾT
ĐƯỢC NHỮNG LĨNH VỰC HOẶC NHỮNG NGÀNH HÀNG NHẠY CẢM CỦA
TỪNG NƯỚC NÔNG – LÂM – NGƯ NGHIỆP CỦA NHẬT BẢN LÀ 1 THÍ DỤ
RÕ RỆT NHẤT NHẬT BẢN ĐÃ CHỌN SINGAPORE LÀM ĐỐI TÁC ĐÀM
PHÁN FTA ĐẦU TIÊN VÌ QUỐC ĐẢO ĐÔNG NAM Á NÀY HẦU NHƯ KHÔNG
XUẤT KHẨU CÁC SẢN PHẨM NÔNG NGHIỆP, VẬY MÀ XUẤT KHẨU CÁ
VÀNG (GOLD FISH) CỦA SINGAPORE VẪN LÀ MỘT VẤN ĐỀ LỚN TRONG
TIẾN TRÌNH ĐÀM PHÁN GIỮA 2 NƯỚC LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ NÀY,
Trang 22THIẾT KẾ SAO CHO PHÙ HỢP VỚI ĐIỀU KIỆN CỤ THỂ CỦA HAI NƯỚC
LIÊN QUAN, CHO NÊN CHÚNG RẤT KHÓ CÓ THỂ MỞ CHO CÁC NƯỚC
KHÁC CÙNG THAM GIA, TRỪ KHI LÀ PHẢI XÂY DỰNG MỘT HIỆP ĐỊNH
MỚI
THỨ NĂM, LIÊN QUAN ĐẾN THƯƠNG MẠI HÀNG HOÁ LÀ LĨNH VỰC
QUAN TRỌNG NHẤT SONG HẦU HẾT CÁC FTA QUY ĐỊNH VỀ XUẤT XỨ
TRONG CÁC HIỆP ĐỊNH THƯỜNG RẤT KHÁC NHAU NẾU MỘT NƯỚC
THAM GIA NHIỀU FTA SONG PHƯƠNG, MÀ QUY TẮC XUẤT XỨ CỦA MỘT
LOẠI HÀNG HOÁ NÀO ĐÓ LẠI KHÁC NHAU TRONG TỪNG HIỆP ĐỊNH, THÌ
DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU MẶT HÀNG ĐÓ CHẮC CHẮN SẼ GẶP NHIỀU
KHÓ KHĂN; VỀ PHÍA CHÍNH PHỦ, CƠ QUAN HẢI QUAN CŨNG SẼ VẤT VẢ
NÓI TÓM LẠI, LỢI ÍCH CỦA CÁC FTA, NGAY CẢ TRONG NGẮN HẠN, LUÔN GẮN LIỀN VỚI THƯƠNG MẠI VÀ ĐẦU TƯ DO
ĐÓ, CHỪNG NÀO LƯỢNG VIỆC LÀM DO ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠO RA CÒN BÙ ĐƯỢC CHO NHỮNG MẤT MÁT CỦA CÁC
NGÀNH CÔNG NGHIỆP KHÔNG CẠNH TRANH ĐƯỢC VỚI HÀNG NHẬP KHẨU THÌ THAM GIA FTA VẪN CÓ THỂ CÓ ÍCH
CHO TOÀN XÃ HỘI
1.1.2 Sức mạnh kinh tế mới của Trung Quốc và sự hấp dẫn của khu vực kinh tế
năng động ASEAN
Đây cũng là một trong những nhân tố quan trọng thúc đẩy sự hình thành của
Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc Tăng trưởng kinh tế đã từng là thành
tích đầy ấn tượng của Trung Quốc và phần lớn các nước ASEAN trong 3 thập kỷ vừa
qua Cả Trung Quốc và ASEAN đều theo đuổi chiến lược tăng trưởng hướng về xuất
khẩu và đã đạt được các tỷ lệ tăng trưởng cao hơn nhiều tỷ lệ trung bình của thế giới
Kể từ khi mở cửa ra bên ngoài, tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc đạt hơn
10% hàng năm Vào những năm 90, Trung Quốc tăng trưởng ở mức cao nhất trên thế
giới Tổng tiết kiệm nội địa và tổng đầu tư trong thập kỷ cuối đạt lần lượt hơn 40% và
34% GDP Thành tích trong khu vực đối ngoại cũng rất gây ấn tượng, xuất khẩu tăng
ở mức trung bình hàng năm hơn 15%, dự trữ quốc tế của Trung Quốc năm 1997 đạt
hơn mức nhập khẩu tương đương của 12 tháng Vốn nước ngoài chủ yếu là đầu tư trực
tiếp nước ngoài, đã tăng 275 lần trong giai đoạn từ năm 1983 đến 1986 [5] Thâm hụt
ngân sách và tỷ lệ lạm phát khá cao trong nửa đầu những năm 90 do sự thịnh vượng
kinh tế, đã dần hạ xuống từ năm 1996 Các yếu tố vĩ mô cơ bản (xem bảng 2), cùng
với việc không quy đổi của đồng tiền đã lý giải tại sao Trung Quốc không bị tác động
trực tiếp của khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực năm 1997 giống như các nước
châu Á khác
Trang 23Nguồn: J.Lim, “Tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc và hệ luỵ của nó đối với ASEAN” –
Báo cáo nghiên cứu của Hệ thống các trung tâm nghiên cứu APEC của Philippines
(PASCN), 2001
Từ bảng trên có thể thấy tốc độ tăng trưởng GDP của Trung Quốc tăng khá đều
qua các năm, bình quân đạt 7 – 8%/ năm, đặc biệt vào năm 1997 – 1998, trong khi các
nước Châu Á đang điêu đứng vì khủng hoảng thì Trung Quốc vẫn duy trì được tốc độ
tăng trưởng cao và ổn định Xuất khẩu và nhập khẩu đều có sự tăng trưởng theo
hướng cán cân thương mại ngày càng nghiêng về phía xuất khẩu Cùng với sự tăng
trưởng cao của GDP và ngoại thương, tốc độ lạm phát cũng được điều tiết khá hiệu
quả, giảm dần qua các năm, cho thấy chính sách quản lý vĩ mô của Trung Quốc rất
tốt Tính chung trong cả giai đoạn kể từ khi bắt đầu thực hiện chính sách cải cách và
mở cửa vào năm 1978 đến năm 2001, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của Trung
Quốc là 9.3%/ năm, và tăng trưởng thương mại đạt 15%/ năm Nói cách khác, trong
23 năm qua, GDP và ngoại thương của Trung Quốc đã tăng tương ứng 8 và 25 lần [6]
Dự trữ ngoại tệ năm 2001 vượt 250 tỷ USD, đứng thứ hai trên thế giới Cơ cấu ngành
nghề biến đổi nhanh: tỷ trọng nông nghiệp chỉ còn 15% trong GDP, dịch vụ đã lên tới
33.6%; dự trữ lương thực, dầu thô tăng đáng kể [7] Hiện nay, Trung Quốc đã trở
thành nền kinh tế lớn thứ 7 thế giới tính theo tỷ giá hối đoái chính thức, và lớn thứ 2
nếu tính theo sức mua [6] Nhờ kinh tế tăng trưởng nhanh, Trung Quốc đã giảm mạnh
được số người sống dưới ngưỡng nghèo đói Đồng thời, Trung Quốc đã không chỉ
phát triển được nền kinh tế của mình mà còn có nhiều đóng góp đối với các nền kinh
tế Châu Á Ví dụ, trong cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á 1997, Trung Quốc
đã không phá giá đồng NDT và do vậy đã giúp các nước bị ảnh hưởng của cuộc
khủng hoảng tránh được tình trạng phá giá để cạnh tranh, phần nào giúp các nước
nhanh chóng phục hồi sau khủng hoảng
Trang 24Bước sang năm 2002, một năm sau khi Trung Quốc chính thức gia nhập WTO, mặc dù bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều nhân tố bất lợi cho
sự phát triển nhưng nền kinh tế Trung Quốc vẫn có một năm đầy sức sống với những thay đổi tích cực của đầu tư, tiêu dùng và xuất khẩu
Nguồn: Cục Thống kê Trung Quốc (NBS) [8]
Từ biểu đồ trên có thể thấy, mức tăng trưởng kinh tế Trung Quốc năm 2002 đạt
8%, cao hơn so với mức dự báo đầu năm là 7% và mức tăng 7.3% của năm 2001 Đặc
điểm của sự tăng trưởng kinh tế Trung Quốc năm 2002 là mức tăng trưởng GDP theo
quý khá đều đặn: quý I tăng 7.6%; quý II tăng 8%; quý III tăng 8.1% Tổng GDP
trong cả năm đạt 10,000 tỷ NDT, tương đương 1,248 tỷ USD [8]
Cùng với sự tăng trưởng của GDP, kim ngạch ngoại thương của Trung Quốc
năm 2002 cũng tăng gấp khoảng 30 lần so với cách đây 24 năm, khi nước này bắt đầu
cải cách và mở cửa Năm 1978, kim ngạch ngoại thương của Trung Quốc đạt 20.6 tỷ
USD, đứng thứ 32 trong danh sách ngoại thương toàn cầu Năm 2001, với 509.8 tỷ
USD, Trung Quốc trở thành nước buôn bán lớn thứ 6 trên thế giới Sau một năm gia
nhập WTO, kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc năm 2002 tăng 22.3% so với năm
trước, đạt 325.57 tỷ USD, lần đầu tiên vượt ngưỡng 300 tỷ USD Tổng kim ngạch
ngoại thương năm 2002 đạt 620.79 tỷ USD, tăng 17.6%, xếp hàng thứ 5 thế giới;
trong đó thặng dư mậu dịch là 30.35 tỷ USD, tăng 34.6 %, mức cao nhất trong 4 năm
qua [9]
Thu hút vốn FDI tăng bình quân 14.2%/ năm, liên tục 9 năm liền đứng hàng
đầu các nước đang phát triển, đã có 400 trên tổng số 500 công ty hàng đầu thế giới đặt
cơ sở tại Trung Quốc [7] Trong những năm 1980, FDI vào Trung Quốc chỉ là 2 – 3 tỷ
Trang 25USD/ năm FDI chỉ bắt đầu tăng mạnh từ những năm 1992 – 1993, Trung Quốc trở
thành nước tiếp nhận FDI lớn nhất trong số các nước đang phát triển (tham khảo Phụ
lục 3) Năm 2002, đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 8.7%, lần đầu tiên vượt Mỹ, đạt
mức kỷ lục 52.7 tỷ USD, Trung Quốc trở thành nước tiếp nhận đầu tư trực tiếp nước
ngoài nhiều nhất thế giới Tính trung bình cả giai đoạn, Trung Quốc thu hút khoảng
45 tỷ USD vốn/ năm, đứng đầu trong các nước đang phát triển và đứng thứ hai thế
giới, chỉ sau Mỹ [6]
Sự tăng trưởng liên tục của xuất khẩu và đầu tư trực tiếp nước ngoài đã đem lại
cho Trung Quốc một nguồn dự trữ ngoại tệ dồi dào Tính đến cuối năm 2002, dự trữ
ngoại hối của Trung Quốc đạt 274 tỷ USD, tương đương tổng giá trị nhập khẩu của cả
nước trong 10 tháng, tăng xấp xỉ 30% so với mức 212.1 tỷ USD vào cuối năm 2001
[8] Tính trung bình trong thời gian 5 năm (1997 – 2002), dự trữ ngoại tệ của Trung
Quốc đã tăng 104.7%, từ 139.9 tỷ USD lên tới 286.4 tỷ USD, đưa nước này trở thành
nước có mức dự trữ ngoại tệ lớn thứ hai trên thế giới, sau Nhật Bản [10] Nguồn dữ
trữ ngoại tệ lớn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với một quốc gia đang phát triển
như Trung Quốc, nhất là trong thời điểm hiện nay, khi tỷ giá hối đoái của đồng NDT
trên thị trường thế giới rất thấp và không thể chuyển đổi thành vàng được
Bên cạnh đó, nợ nước ngoài của Trung Quốc tiếp tục giảm Tính đến cuối
tháng 6/ 2002, số dư nợ đứng ở mức 160 tỷ USD Số tiền gửi tiết kiệm của cư dân vào
cuối tháng 10/ 2002 đạt 9,200 tỷ NDT (tương đương 1,100 tỷ USD) Tiền gửi của cư
dân tăng do thu nhập tăng nhanh: mức GDP bình quân theo đầu người của Trung
Quốc tăng từ 787 USD năm 1999 lên 853 USD năm 2000 và đạt 961 USD năm 2002
(tăng 6%) [8]
Cùng với Trung Quốc, các nước ASEAN cũng bắt đầu thực hiện việc nới lỏng
chính sách và các biện pháp tự do hoá trong những năm 1990 ASEAN là tổ chức đầu
tiên tại Đông Á thực hiện các FTA khu vực, đầu tiên là dưới hình thức PTA rồi sau đó
là khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) để đáp lại các thách thức của các thị
trường đang được toàn cầu hoá nhanh chóng Tuy khá toàn diện hơn so với PTA, song
bản chất tự nguyện của AFTA tiếp tục gạt ra ngoài những khu vực nhạy cảm về chính
trị như nông nghiệp và ô tô Không có bước tiến hay mục tiêu cụ thể nào được đề ra
để đạt được ranh giới thời gian 15 năm của AFTA So với những FTA khu vực khác,
như thoả thuận dày hơn 1000 trang của NAFTA, AFTA chỉ có 15 trang Một số những
người chỉ trích ban đầu hoài nghi chủ trương “Nhất trí trước, đàm phán sau” (AFTA –
Trang 26Agree first, Talk after) sẽ có hiệu quả; chỉ có ít người hy vọng vào thành công của
AFTA
Tuy nhiên, trong thập kỷ qua, AFTA đã chứng tỏ rằng, tuy khởi đầu uể oải,
song nó đã có thể và sẵn sàng thích nghi với nền kinh tế thế giới đang thay đổi liên tục
cũng như những tình huống nội bộ AFTA trước tiên đã thay đổi tốc độ sau hai diễn
biến quan trọng bên ngoài: việc ký kết Thoả thuận chung về thuế quan và các vòng
đàm phán mậu dịch Uragoay năm 1993 và Tuyên bố Bogor năm 1994 về cam kết tự
do hoá thương mại và đầu tư của các nước thành viên APEC, lần lượt vào năm 2010
và 2020, cho các nền kinh tế phát triển và đang phát triển ASEAN đã đẩy nhanh mục
tiêu thành lập AFTA từ ngày 1/ 1/ 2005 sang ngày 1/ 1/ 2003 Sự thay đổi tiếp theo là
sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 1997 Bất chấp những động cơ chính trị
mạnh mẽ đòi đảo ngược tiến trình tự do hoá, năm 1998, tổ chức đang phải vất vả để
đối phó với hậu khủng hoảng về kinh tế này vẫn thông qua một loạt biện pháp táo bạo,
trong đó có thoả thuận của 6 nước đầu tiên ký AFTA đẩy sớm lên một năm nhiều
khoản cắt giảm thuế quan trước đó đã được hoạch định vào năm 2003 Hơn nữa, 5
nước ASEAN gồm Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan cùng ký
kết Hiệp định công nghệ thông tin (ITA) và vì thế có kế hoạch giảm thuế MFN đối
với một số mặt hàng có sự tăng trưởng nhanh nhất trong tổng thương mại của họ Như
vậy, bức thông điệp của ASEAN gửi tới thế giới đầy quyết tâm và rõ ràng: họ muốn
thương mại tự do cả trong hoàn cảnh thuận lợi và khó khăn
Sự quyết tâm đó của ASEAN đã đem lại những kết quả đáng kể Mức thuế quan
trung bình giữa các nước ASEAN được giảm từ 111.4% năm 1993 xuống còn
3.2% năm 1998 [11] Tổng số vốn đầu tư nước ngoài ASEAN thu hút trong giai
đoạn này đạt 132 tỷ USD Đầu tư nước ngoài vào ASEAN năm 2000 đã tăng 30%
so với năm 1999, từ 21.8 tỷ USD lên 28.4 tỷ USD [12] (tham khảo thêm Phụ lục
3)
Cùng với triển vọng về đầu tư bước đầu được cải thiện, thương mại của ASEAN
năm 2000 cũng tăng 19.9% với tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 423.6 tỷ USD so với
353.3 tỷ USD của năm 1999; tổng kim ngạch nhập khẩu tăng 22.8%, đạt 360.1 tỷ
USD so với 293.1 tỷ USD của năm 1999 (xem bảng 3) Xuất khẩu trong nội bộ
ASEAN tăng 27%, đạt 97.8 tỷ USD năm 2000 [11]
Trang 27Bảng 3: Tổng giá trị ngoại thương của ASEAN (1999 – 2000)
Đơn vị: triệu USD
XUẤT KHẨU NHẬP KHẨU
Sự thay đổi Sự thay đổi Nước (*)
(*): Thiếu số liệu của Campuchia và Lào
Nguồn: Hội nghị lần thứ 15 của Hội đồng AFTA về Khu vực mậu dịch tự do ASEAN, tháng
9/ 2001 (bản tiếng anh), Ban thư ký ASEAN (www.aseansec.org)
Mặc dù năm 2000 thương mại của ASEAN tăng trưởng rất khả quan so với thời kỳ khủng hoảng năm 1997 song bước sang năm 2001, do
ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế ở Mỹ và EU cũng như sự suy thoái của cường quốc kinh tế khu vực Nhật Bản, xuất khẩu của ASEAN
năm 2001 giảm xuống còn 366.8 tỷ USD [13]
Năm 2002, mặc dù kinh tế thế giới phục hồi chậm chạp nhưng các nền kinh tế ASEAN vẫn đạt mức tăng trưởng khá cao Theo đánh giá
của Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), tăng trưởng kinh tế của toàn khu vực Đông Nam Á là 4.1%, tăng
khoảng 2 lần so với mức tăng 2% của năm 2001 và gần đạt mức tăng 4.6% của năm 2000 [8] (xem biểu đồ 2)
Cùng với sự tăng trưởng của GDP, năm 2002, tổng kim ngạch xuất khẩu của các nước ASEAN cũng tăng 2.9%, đạt trên 381 tỷ USD và
tổng kim ngạch nhập khẩu tăng 2.5%, đạt trên 325 tỷ USD Riêng quý I/ 2003, tổng xuất khẩu tăng gần 15.7% so với cùng kỳ năm 2002, đạt
86.76 tỷ USD [14]
Trang 28Biểu đồ 2: Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2002 của các nước ASEAN
Đơn vị: %
4.0
5.1 5.5 2.4
3.7
7.1 3.0 3.6
Nguồn: ADB; IMF World Economic Outlook, 2002
Thương mại nội khối ASEAN cũng có xu hướng tăng Tuy xuất khẩu nội khối
trong 3 quý đầu năm 2002 giảm 1.5% và nhập khẩu nội khối tăng 3% [13] song sự
tăng trưởng mạnh của thương mại nội khối trong quý 4 đã làm thay đổi cả diện mạo
của ngoại thương ASEAN năm 2002 Xuất khẩu nội khối trong cả năm tăng 2.2%, đạt
86.34 triệu USD và nhập khẩu nội khối tăng 8.1%, đạt 73.12 triệu USD [14]
Trong các đối tác thương mại của ASEAN, Mỹ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc (bao gồm cả Hồng Kông) và Hàn Quốc là các thị trường xuất
khẩu lớn nhất của ASEAN Về nhập khẩu thì Nhật Bản là nước nhập nhiều nhất từ ASEAN, sau đó đến Mỹ, EU, Trung Quốc (bao gồm cả
Hồng Kông) và Hàn Quốc Trong 3 quý đầu năm 2002, xuất khẩu của ASEAN sang Mỹ, EU và Nhật Bản giảm đi trong khi xuất khẩu sang
Trung Quốc và Hàn Quốc lại tăng lên rất cao, lần lượt là 18.7% và 3.3% [13], cho thấy vai trò của Trung Quốc nói riêng và Đông Á nói
chung đối với ngoại thương của ASEAN ngày càng được nâng cao
1.1.3 Những thành tựu hợp tác giữa ASEAN và Trung Quốc
1.1.3.1 Hợp tác về thương mại:
Trung Quốc coi việc củng cố quan hệ hợp tác thương mại và kinh tế là một
kênh quan trọng cho việc duy trì hoà bình và an ninh trong khu vực Do vậy,
Trung Quốc đã và đang tích cực tham gia vào tất cả các hình thức hợp tác kinh
tế khu vực và nỗ lực nhằm mở những hướng hợp tác khu vực mới với các nước
ASEAN Gần đây, ASEAN và Trung Quốc đã dành được tiến bộ đáng kể trong
việc thực hiện các chương trình hợp tác trên các lĩnh vực khác nhau, đặc biệt là
thương mại quốc tế, một động lực to lớn đối với sự phát triển kinh tế của cả hai
bên
Trang 29Nhập khẩu của Trung Quốc
từ ASEAN
Tổng Kim ngạch thương mại
Xuất khẩu sang ASEAN
Nhập khẩu
từ ASEAN
Thị phần của ASEAN trong thương mại của Trung Quốc
Thị phần của Trung Quốc trong thương mại của ASEAN
Nguồn: Tổng cục Hải quan Trung Quốc [16]
Bảng 4 cho thấy bình quân hàng năm từ năm 1995 đến nay, kim ngạch
ngoại thương của Trung Quốc và ASEAN tăng 15%/ năm Khối ASEAN đã trở
thành đối tác thương mại lớn thứ 5 của Trung Quốc (sau Nhật Bản, Mỹ, EU và
Hàn Quốc) (tham khảo thêm Phụ lục 4) và Trung Quốc đã trở thành thị trường
lớn thứ 6 của khối ASEAN [15] Vào năm 2000, thương mại giữa ASEAN và
Trung Quốc đạt con số kỷ lục là 39.5 tỷ USD, với tốc độ tăng trưởng là 45,3%
Sang năm 2001, trong bối cảnh kinh tế thế giới tăng trưởng chậm, thương
mại giữa hai bên vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng Thương mại song phương
tăng 5.3%, đạt 41.6 tỷ USD; trong đó xuất khẩu của Trung Quốc sang ASEAN
tăng từ 4.1 tỷ USD năm 1991 tới 18.4 tỷ USD năm 2001 và nhập khẩu của Trung
Quốc từ ASEAN tăng từ 3.8 tỷ USD lên 23.2 tỷ USD trong cùng thời gian đó [16]
(tham khảo thêm Phụ lục 5) Cùng với sự tăng trưởng của kim ngạch thương mại
song phương, cơ cấu thương mại giữa Trung Quốc và ASEAN đã được cải thiện
từng bước với tỷ trọng các sản phẩm mới và công nghệ cao tăng dần Năm 2001,
Trung Quốc đã xuất khẩu 4.7 tỷ USD sản phẩm công nghệ cao sang ASEAN và
nhập 797 triệu USD sản phẩm công nghệ cao từ ASEAN [15]
Trang 30Năm 2002, theo thống kê của Hải quan Trung Quốc, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Trung Quốc với ASEAN đã đạt 54.77 tỷ USD,
tăng 31.7% so với năm 2001, chiếm 8.8 % tổng kim ngạch ngoại thương của Trung Quốc (tỷ lệ này năm 1991 chỉ đạt 5.85%) [17] Cũng
trong năm này, Trung Quốc đã tuyên bố thi hành Kế hoạch giảm nợ cho Châu Á, theo đó sẽ giảm hoặc xoá nợ cho 6 nước Châu Á, trong đó
có Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam Điều này là minh chứng rõ ràng cho cơ sở và tiềm năng của sự hợp tác trong tương lai
Trong 6 tháng đầu năm 2003, theo số liệu thống kê của Bộ thương mại Trung Quốc (MOC) công bố ngày 17/ 8/ 2003, kim ngạch buôn bán
giữa ASEAN và Trung Quốc đạt 34.24 tỷ USD, tăng 45.3% so với cùng kỳ năm ngoái; trong đó xuất khẩu từ ASEAN sang Trung Quốc đạt
20.47 tỷ USD, tăng 55.5% và xuất khẩu của Trung Quốc sang ASEAN đạt 13.77 tỷ USD, tăng 32.4% Cũng theo dự kiến của MOC, kim
ngạch buôn bán ASEAN - Trung Quốc cả năm nay sẽ đạt hơn 70 tỷ USD [18]
1.1.3.2 Hợp tác về đầu tư:
i Đầu tư của ASEAN vào Trung Quốc:
Biểu đồ 3: Đầu tư của ASEAN vào Trung Quốc giai đoạn 1991 – 2001
Đơn vị: Tỷ USD
0.9 2.7
10.0 18.6 26.2 31.8 34.2
42.2 32.9 28.0 30.0
0.0 5.0 10.0 15.0 20.0 25.0 30.0 35.0 40.0 45.0
Tû
USD
91 92 93 94 95 96 97 98 99 00 01
N¨m
Nguồn: Bộ Ngoại thương và Hợp tác kinh tế Trung Quốc (MOFTEC) [16]
Từ biểu đồ 3 có thể thấy ASEAN là một nguồn quan trọng cung cấp FDI cho
Trung Quốc Từ năm 1991 đến 2000, đầu tư của ASEAN vào Trung Quốc tăng trung
bình 28%/ năm Năm 1991, đầu tư của ASEAN ở Trung Quốc chỉ là 90 triệu USD
trong khi con số này đạt 4.2 tỷ USD năm 1998 Do cuộc khủng hoảng kinh tế, đầu tư
của ASEAN ở Trung Quốc giảm xuống 3.3 tỷ USD và 2.8 tỷ USD vào năm 1999 và
2000 [16]
Nhờ vào sự phục hồi kinh tế, đầu tư của ASEAN ở Trung Quốc ngày một tăng Theo số liệu của Bộ Ngoại
thương và Hợp tác kinh tế Trung Quốc (MOFTEC), vào cuối năm 2001, tổng đầu tư của ASEAN vào Trung Quốc
bao gồm 17.972 dự án với giá trị cam kết là 53.5 tỷ USD (chiếm 7.2% tổng FDI vào Trung Quốc), và giá trị giải
ngân là 26.2 tỷ USD (6.1% tổng FDI của Trung Quốc) [16] (tham khảo Phụ lục 6) Tính đến cuối năm 2002,
các nước ASEAN đã có 19,731 dự án đầu tư tại Trung Quốc với tổng giá trị 58.09 tỷ USD [18]
Bảng 5: Đầu tư của từng nước ASEAN vào Trung Quốc
(tính đến cuối năm 2000)
Nước Số dự án Giá trị cam kết Giá trị thực hiện
Trang 31Nguồn: Bộ Ngoại thương và Hợp tác kinh tế Trung Quốc (MOFTEC) [16]
Bảng trên cho thấy trong số các nước ASEAN, Singapore là nước đầu tư vào Trung Quốc lớn nhất, chiếm tới gần 65% tổng FDI của cả
ASEAN vào Trung Quốc với số vốn FDI đạt 16.9 tỉ USD đến hết năm 2000, sau đó là Malaysia và Thái Lan nhưng số FDI của hai nước
này vào Trung Quốc kém hơn nhiều so với Singapore Các nước ASEAN còn lại có kim ngạch đầu tư vào Trung Quốc còn nhỏ, đặc biệt là
đầu tư của Campuchia, Myanmar, Lào,Việt Nam và Brunei hầu như không đáng kể
Theo Bộ Thương mại Trung Quốc (MOC), trong thời gian từ đầu năm 2003 đến nay, một số nước thành viên ASEAN như Singapore,
Malaysia, Thái Lan, Indonesia và Philippines đã đầu tư vào 982 dự án ở Trung Quốc với tổng giá trị cam kết là 2.82 tỷ USD [18].
ii Đầu tư của Trung Quốc vào ASEAN:
Về phía Trung Quốc, mặc dù đầu tư của Trung Quốc vào ASEAN vẫn ở mức thấp, chỉ đạt 135.8 tỷ USD năm 1999, chiếm gần 1% tổng FDI
tại ASEAN (xem biểu đồ 4), nhưng đầu tư của Trung Quốc vào ASEAN trong những năm gần đây đã tăng nhanh với tốc độ trung bình
60%/ năm [19]
Biểu đồ 4: Tỷ lệ FDI từ Trung Quốc trong tổng FDI vào ASEAN
Đơn vị: %
Trang 32Nguồn: Statistics of Foreign Direct Investment in ASEAN (Extended Data Set); ASEAN
Secretariat; World Investment Report 2001
Theo số liệu của Bộ Ngoại thương và Hợp tác kinh tế Trung Quốc (MOFTEC), tổng đầu tư của Trung
Quốc vào ASEAN vào cuối năm 2001 bao gồm 740 dự án trị giá 1.1 tỷ USD [16] và tính đến tháng 9/ 2002, Trung
Quốc đã đầu tư vào 769 dự án ở các nước ASEAN với tổng giá trị 690 triệu USD [17] Trong thời gian 6 tháng đầu
năm 2003, Trung Quốc đã đầu tư vào 822 dự án của các nước ASEAN với tổng giá trị cam kết là 1.37 tỷ USD [18]
Trang 33Trong số các nước ASEAN, nước tiếp nhận đầu tư nhiều nhất từ Trung Quốc là Thái Lan (87.980 triệu
USD), sau đó đến Campuchia, Singapore và Indonesia (xem bảng 6) Đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam, Lào và
Philippines còn rất thấp so với các nước trong khu vực, đặc biệt là Philippines với 14.600 triệu USD; tuy vậy, nếu so
với tổng FDI vào mỗi nước thì FDI của Trung Quốc lại chiếm tỷ trọng khá cao
Bảng 6: Đầu tư của Trung Quốc vào từng nước ASEAN
(Tính đến cuối năm 2000)
Đơn vị: triệu USD
Nước Số dự án Tổng đầu tư Đầu tư từ
Trung Quốc Tổng 692 892.800 458.660
Nguồn: Bộ Ngoại thương và Hợp tác kinh tế Trung Quốc (MOFTEC) [16]
Theo đà phát triển của kinh tế, cùng với việc nâng cao năng lực kinh doanh của của các doanh nghiệp và sự hỗ trợ về tài chính tiền tệ và
chính sách của nhà nước Trung Quốc, sẽ ngày càng có nhiều doanh nghiệp Trung Quốc đầu tư ra bên ngoài Theo dự tính của Uỷ ban phát
triển mậu dịch Liên hợp quốc (UNCTAD), các doanh nghiệp Trung Quốc đã trở thành một trong những nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất
trong các nước đang phát triển Các nước ASEAN với vị trí địa lý láng giềng, với lịch sử và văn hoá gần gũi với Trung Quốc, chắc chắn sẽ
trở thành một trong những khu vực chủ yếu đón nhận đầu tư từ các doanh nghiệp Trung Quốc
1.1.3.3 Hợp tác Tiểu vùng Mekong
ASEAN và Trung Quốc đã và đang hợp tác chặt chẽ trong các chương trình và dự án phát triển Mekong trong các khuôn khổ khác nhau như
phát triển tiểu vùng Mekong mở rộng (GMS), Hợp tác phát triển lưu vực Mekong ASEAN (AMBDC) và Uỷ hội sông Mekong (MRC),
trong đó phát triển tiểu vùng Mekong mở rộng là nội dung hợp tác then chốt giữa Trung Quốc và ASEAN nhằm giúp các bên đối tác khai
thác những tiềm năng kinh tế đa dạng của mình và phát triển kinh tế - xã hội trên cơ sở bình đẳng, tin tưởng lẫn nhau và cùng có lợi
Trong 10 năm vừa qua, hợp tác kinh tế Tiểu vùng Mekong đã đạt được nhiều kết quả quan trọng Đã có gần 100 [15] dự án về cơ sở hạ tầng
được thực thi trong các lĩnh vực then chốt như giao thông, năng lượng, viễn thông, môi trường, du lịch, phát triển nhân lực, tạo điều kiện
thuận lợi cho việc thúc đẩy phát triển thương mại và đầu tư
Năm 2001, tại hội nghị bộ trưởng lần thứ 10, các nước Tiểu vùng Mekong đã thông qua chiến lược khung cho 10 năm tới của Chương trình
hợp tác kinh tế Tiểu vùng Mekong Các nhà lãnh đạo hợp tác kinh tế Tiểu vùng Mekong cũng đã xác nhận lại kế hoạch hành động chiến
l-ược bao gồm 11 chương trình chính trong các lĩnh vực như các hành lang giao thông chính, các mạng lưới viễn thông, các mạng lưới điện,
đầu tư, thương mại và du lịch
Tháng 11 năm 2002 đã diễn ra cuộc họp thượng đỉnh đầu tiên về việc tiếp tục phát triển hợp tác Tiểu vùng Mekong Tại cuộc họp này,
Trung Quốc đã trình bày báo cáo về việc tham gia của Trung Quốc vào việc phát triển lưu vực sông Mekong, trong đó nêu khái quát các kế
hoạch và dự án chủ yếu khai thác bồn địa Mekong của Trung Quốc Hợp tác tiểu vùng Mekong được đẩy mạnh sẽ có lợi cho các nước hữu
quan phát huy ưu thế riêng, thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển nhanh, có lợi cho tiến trình nhất thể hoá và rút ngắn khoảng cách giữa các
nước ASEAN, thúc đẩy kinh tế Đông Á tăng trưởng liên tục
Trang 341.1.3.4 Hợp tác tài chính tiền tệ:
Sau khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997, các nước trong khu vực đã đánh giá rất cao vai trò của hợp tác tài chính tiền tệ Trong khuôn
khổ 10 + 3 (ASEAN + Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc), Trung Quốc và các nước ASEAN đã tiến hành hàng loạt các biện pháp cụ thể
để tăng cường hợp tác
Trung Quốc đã tích cực thực hiện Sáng kiến Chiang - Mai và ký kết các hiệp định song biên về hoán đổi tiền với Thái Lan và Malaysia Từ
năm 2001, Chính phủ Trung Quốc đã tổ chức một số hội nghị mang tính kỹ thuật đối với các Ngân hàng Trung ương của các nước 10 + 3
tại Bắc Kinh và Thượng Hải
1.1.3.5 Nông nghiệp:
Trong các năm qua, hợp tác nông nghiệp Trung Quốc - ASEAN đã có những tiến triển tốt Nhiều lớp đào tạo, hội thảo và hội nghị về công
nghệ trong nông nghiệp và đào tạo cán bộ đã được tổ chức tại Trung Quốc và các nước ASEAN Ngày 2/ 11/ 2002, Bản ghi nhớ về nông
nghiệp Trung Quốc – ASEAN đã được ký kết Bản ghi nhớ đã tập trung vào hợp tác nông nghiệp trung hạn và dài hạn trong những lĩnh vực
như lúa lai, nghề cá và thủy sản, công nghệ sinh học, sản phẩm và máy nông nghiệp
1.1.3.6 Phát triển nguồn nhân lực
Phát triển nguồn nhân lực là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, tạo nền tảng cho hợp tác chung giữa ASEAN và Trung Quốc trong các lĩnh vực
khác Phát triển nguồn nhân lực sẽ đem lại sự hiểu biết sâu sắc hơn giữa ASEAN và Trung Quốc thông qua trao đổi và liên kết giữa các
chuyên gia, quan chức Năm 2001, Trung Quốc đưa ra đề nghị 14 dự án [20] hợp tác trong các lĩnh vực phát triển nguồn nhân lực Hầu hết
các dự án này đã bắt đầu được thực hiện và đã cho kết quả khả quan Năm 2002, Trung Quốc đưa ra tiếp 7 đề nghị nữa [20] Tất cả các đề
nghị này đã được thông qua tại cuộc gặp lần thứ 4 của Uỷ ban hợp tác chung ASEAN - Trung Quốc và hiện đang được thực hiện
1.1.3.7 Công nghệ thông tin và liên lạc (ICT)
Trong nền kinh tế tri thức, ICT đóng vai trò chủ đạo nhằm đảm bảo sản lượng cao giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ASEAN và Trung
Quốc cho rằng hợp tác trong lĩnh vực ICT cần được coi là một công cụ để rút ngắn khoảng cách phát triển kinh tế Một số dự án đã được
xây dựng nhằm thúc đẩy trao đổi thông tin về xây dựng viễn thông, luật lệ và quy định mạng, bảo mật thông tin Bên cạnh đó, Trung Quốc
luôn ủng hộ và tham gia vào chương trình phát triển ASEAN điện tử (e-ASEAN) Trong những năm tới, Trung Quốc sẽ tiếp tục tăng cường
hợp tác trong việc đào tạo công nghệ thông tin cho nguồn nhân lực của các nước ASEAN và tích cực tham gia vào việc phát triển những cơ
sở hạ tầng cần thiết để hỗ trợ cho công nghệ thông tin ở các nước ASEAN
1.1.3.8 Giao thông vận tải:
Năm 2001, tại một loạt các hội nghị thượng đỉnh ASEAN + 1, Cựu Thủ tướng Trung Quốc Chu Dung Cơ đã đề nghị thành lập một cơ chế
cho các cuộc gặp cấp bộ trưởng giao thông vận tải để tăng cường liên lạc và điều phối
Ngày 2/ 5/ 2002, Trung Quốc và ASEAN đã đạt được thỏa thuận về các điều kiện tham vấn cho sự hợp tác ASEAN – Trung Quốc nhằm cải
thiện giao thông đường bộ, đường biển và đường không cùng với cơ sở hạ tầng và dịch vụ có liên quan
Tháng 9/ 2002, tại cuộc gặp cấp bộ trưởng giao thông vận tải các nước ASEAN và Trung Quốc được tổ chức tại Jakarta, các bên đã đi đến
hiệp định về việc tăng cường hợp tác toàn diện trong các vấn đề liên quan tới vận tải đường bộ, đường thuỷ và hàng không Trung Quốc đã
cam kết đầu tư 5 triệu USD để nạo vét thượng nguồn sông Mekong, tài trợ cho 1/3 nguồn kinh phí xây dựng phần tại Lào của đường cao tốc
Côn Minh - Bangkok (tương đương với 30 triệu USD) [20] Ngoài ra, Trung Quốc còn hỗ trợ việc xây dựng tuyến đường sắt xuyên Á nối
giữa Côn Minh và Singapore
1.1.3.9 Du lịch:
Du lịch giữ vai trò quan trọng trong các nền kinh tế Đông Á Hiện nay thị trường du lịch Trung Quốc đang tăng trưởng nhanh nhất thế giới
Năm 1995, có 1.1 triệu du khách ASEAN thăm Trung Quốc; con số này đã tăng lên 1.8 triệu vào năm 2000 và 2 triệu vào năm 2002 [15]
Về phần mình, các nước ASEAN cũng trở thành những điểm đến của khách du lịch Trung Quốc với số lượng du khách ngày càng tăng mỗi
năm, từ 80 vạn du khách vào năm 1995 lên 2.3 triệu vào năm 2000 [21]
Trung Quốc đã có các Hiệp định hợp tác du lịch cấp chính phủ hoặc Bản ghi nhớ về hợp tác du lịch với nhiều nước ASEAN, trong đó có
Thái Lan, Singapore, Philippines, Việt Nam và Myanmar
Tháng 1 năm 2002, tại Yogyakarta (Indonesia) đã diễn ra cuộc họp đầu tiên giữa các bộ trưởng du lịch trong khuôn khổ 10+3 đánh dấu sự
khởi đầu chính thức của hợp tác du lịch trong khuôn khổ 10+3 Các nước ASEAN đã là những thành viên tích cực tại hội chợ du lịch quốc
Trang 351.1.3.10 Chính trị ngoại giao và an ninh
Về mặt chính trị ngoại giao và an ninh, các nước ASEAN và Trung Quốc đã có truyền thống hợp tác hữu nghị lâu đời Từ đầu những năm
90 đến nay, một số nước trong ASEAN đã lần lượt thiết lập, khôi phục hoặc bình thường hoá quan hệ ngoại giao với Trung Quốc, từ đó góp
phần mở đường hoặc khai thông cho quan hệ kinh tế và các quan hệ khác giữa hai bên phát triển toàn diện Giữa một số nước ASEAN và
Trung Quốc tuy vẫn còn tồn tại một số bất đồng về biên giới lãnh thổ, trong đó có vấn đề tranh chấp chủ quyền ở biển Đông, nhưng tại cuộc
gặp gỡ ở Phnompenh tháng 11/ 2002, lãnh đạo cao cấp hai bên đã ký Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC), nhằm tiến
tới xây dựng Bộ quy tắc ứng xử ở biển Đông (COC), mở đường cho một giải pháp cơ bản, lâu dài đối với các tranh chấp ở biển Đông
Ngoài ra, hai bên đã thông qua Tuyên bố chung ASEAN - Trung Quốc về hợp tác trong lĩnh vực an ninh phi truyền thống Gần đây nhất, tại
Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 9 diễn ra vào đầu tháng 10/ 2003 tại Bali (Indonesia), các nhà lãnh đạo ASEAN và Trung Quốc đã thông
qua Tuyên bố chung về đối tác chiến lược ASEAN - Trung Quốc vì hoà bình và thịnh vượng, đồng thời Trung Quốc cũng chính thức tham
gia Hiệp ước thân thiện và hợp tác ASEAN (TAC) Điều này một lần nữa khẳng định vài trò và uy tín ngày càng cao của ASEAN, mở ra
triển vọng biến Hiệp ước TAC thành Bộ quy tắc ứng xử giữa ASEAN và các nước ngoài khu vực TAC sẽ là cơ sở để giải quyết những vấn
đề còn tồn tại, đồng thời xây dựng và củng cố quan hệ hợp tác hữu nghị toàn diện giữa ASEAN và Trung Quốc Hơn thế nữa, những văn
kiện trên đánh dấu sự tín nhiệm về chính trị – an ninh giữa ASEAN và Trung Quốc đã phát triển tới một trình độ mới, tạo cơ sở và là điều
kiện đảm bảo quan trọng cho việc thành lập khu vực mậu dịch tự do nói riêng và cho việc bảo vệ hoà bình, ổn định ở khu vực nói chung
Nói tóm lại, hợp tác kinh tế ASEAN - Trung Quốc đã phát triển nhanh trong thập kỷ qua trên tất cả các lĩnh vực nhằm đạt được sự tăng
trưởng kinh tế bền vững có lợi cho cả hai bên Trong xu hướng toàn cầu hoá hiện nay, các thể chế thương mại khu vực đòi hỏi phải có sự
hợp tác kinh tế chặt chẽ hơn giữa các bên nhằm vượt qua thách thức và tận dụng các cơ hội Trong bối cảnh đó, ASEAN và Trung Quốc cần
quyết tâm đưa ra một khuôn khổ hợp tác kinh tế toàn diện và hướng về tương lai nhằm đặt ra nền tảng pháp lý cho các hoạt động hợp tác
kinh tế giữa hai bên, bao gồm một khu vực mậu dịch tự do Việc thiết lập Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc sẽ mang lại những
cơ hội to lớn và cả những thách thức Để bảo đảm thành công, ý chí chính trị là một yếu tố quyết định, do đó cần xây dựng một lộ trình và
kế hoạch hành động cụ thể để Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc sớm được thực hiện theo mong muốn của các nhà lãnh đạo
hai bên
1.2 Sự hình thành ACFTA
1.2.1 Các mốc thời gian chính
Đầu những năm 90 là giai đoạn hợp tác khu vực còn bị coi nhẹ nhưng trong nửa cuối thập kỷ đó, các nước đã chứng kiến những động thái
thể chế hoá các dàn xếp mậu dịch tự do thông qua các khu vực mậu dịch tự do song phương và thông qua các sáng kiến khác Nếu như
những năm đầu thập kỷ 90 là giai đoạn Mỹ tăng cường can dự vào khu vực này, thì nửa cuối thập kỷ chứng kiến việc tăng cường mở rộng
hợp tác khu vực thông qua nhóm ASEAN + 3 (10 nước ASEAN và Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc)
Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á đã làm các nước trong khu vực nhận thức sâu sắc hơn về tầm quan trọng của hợp tác kinh tế
trong khu vực Sự hợp tác về tiền tệ Châu Á và việc tổ chức các cuộc gặp 10 + 3 đã cho thấy, hợp tác kinh tế trong khu vực này đã trở thành
một vấn đề rất quan trọng Theo chương trình này, nhiều kế hoạch hợp tác kinh tế đã được đưa ra, như Khu vực mậu dịch tự do ASEAN -
Trung Quốc, Khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Ấn Độ, Khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Hàn Quốc, Khu vực mậu dịch tự do ASEAN –
Nhật Bản, Khu vực mậu dịch tự do giữa Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản, Khu vực mậu dịch tự do Đông Á, … Vấn dề quan trọng nhất
là việc các cường quốc kinh tế đã bắt đầu chú trọng đến phát triển hợp tác kinh tế khu vực Nhật Bản, nước luôn theo hướng hợp tác thương
mại đa phương, nay đã bắt đầu đàm phán với Hàn Quốc, Singapore và Mehico về các hiệp định thương mại song phương Từ năm 1999,
Trung Quốc cũng đã thay đổi thái độ trước đây của mình về hợp tác kinh tế khu vực Thực tế là Trung Quốc đã gia nhập Tổ chức thương
mại thế giới, tạo điều kiện để đưa hợp tác kinh tế khu vực lên mức cao hơn trên cơ sở thương mại tự do theo quy định của WTO
Mọi đề nghị về hợp tác kinh tế khu vực ở Đông Á đều có thể trở thành hiện thực, nhưng đồng thời những đề xuất này cũng vấp phải những
trở ngại nhất định Xét về mặt khả thi của các mối liên kết kinh tế khu vực, có khả năng nhất trong giai đoạn hiện nay là quan hệ hợp tác
giữa 10 nước ASEAN và Trung Quốc Sự thành công của mối hợp tác kinh tế 10 + 1 này có thể sẽ được phổ biến ra các nước khác trong
khu vực Đông Á và làm đối trọng với khối Liên hiệp Châu Âu (EU) đã được mở rộng và Khu vực mậu dịch tự do Châu Mỹ (FTAA)
Ý tưởng về việc thành lập một khu vực mậu dịch tự do giữa Trung Quốc và ASEAN xuất phát từ đề xuất của Cựu Thủ tướng Trung Quốc
Chu Dung Cơ tại Hội nghị thượng đỉnh không chính thức ASEAN lần thứ 4 tổ chức vào tháng 11/ 2000 Trong năm này, Trung Quốc còn
thoả thuận sẽ tăng cường hợp tác và đưa ra những hạng mục hợp tác cụ thể như khai thác sông Mekong, xây dựng tuyến đường sắt xuyên
Á…
Đến năm 2001, những thoả thuận này giữa Trung Quốc và ASEAN đã có những bước tiến mới Trung Quốc ủng hộ nỗ lực của ASEAN
thiết lập khu vực không có vũ khí hạt nhân, xem xét ký kết Hiệp định hợp tác hữu nghị Đông Nam Á, cam kết đầu tư 5 triệu USD để nạo
vét sông Mekong và tài trợ 1/3 chi phí xây dựng tuyến đường cao tốc Bankok - Côn Minh Đặc biệt, tại Hội nghị giữa những nhà lãnh đạo
ASEAN - Trung Quốc tổ chức vào ngày 6 /11/ 2001 tại Banda Seri Begawan (Brunei), các nhà lãnh đạo Trung Quốc và 10 nước ASEAN đã
đi đến nhất trí về việc thành lập Khu mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc (ACFTA) trong vòng 10 năm, đồng thời chính thức uỷ quyền
cho các bộ trưởng và quan chức của hai bên đàm phán về vấn đề này
Trang 36Từ sau khi đạt được thỏa thuận thành lập ACFTA, hai bên đã nỗ lực xúc tiến các công tác thúc đẩy tiến trình ra đời của ACFTA Các tổ
chức như Uỷ ban đàm phán thương mại ASEAN - Trung Quốc (TNC - Trade Negotiation Committee) và Hội đồng thương mại ASEAN -
Trung Quốc đã được thành lập Đồng thời các cuộc gặp giữa các nhà lãnh đạo hai bên để đàm phán về phát triển hợp tác kinh tế thương mại
đã diễn ra liên tục trong năm qua như: Cuộc gặp giữa các quan chức kinh tế cao cấp ASEAN - Trung Quốc (SEOM - Senior Economic
Officials Meeting) lần thứ 3 hồi tháng 5/ 2002 tại Bắc Kinh, Hội thảo quốc tế về hợp tác trong thương mại, đầu tư và phát triển ASEAN -
Trung Quốc diễn ra vào tháng 6 tại Côn Minh Trung Quốc, Diễn đàn về hợp tác ASEAN - Trung Quốc vào tháng 8 tại Kuala Lumpur
(Malaysia), Hội nghị bộ trưởng kinh tế ASEAN - Trung Quốc lần thứ nhất vào tháng 9 tại Brunei, cuộc gặp giữa các quan chức kinh tế cấp
cao của hai bên vào tháng 10 tại Singapore, … Bên cạnh đó, còn có rất nhiều các cuộc viếng thăm của các nhà lãnh đạo cũng như của các
nhóm khảo sát của hai bên đến cả Trung Quốc và ASEAN để tìm hiểu tình hình thị trường và tìm kiếm cơ hội hợp tác
Với những nỗ lực của cả hai bên, ngày 4/ 11/ 2002, tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 8 diễn ra ở thủ đô Phnompenh (Campuchia),
các nhà lãnh đạo ASEAN và Trung Quốc đã chính thức ký bản hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN - Trung Quốc
(Framework Agreement on Asean–China Comprehensive Economic Cooperation - FAACCEC), mở đường cho việc thiết lập Khu vực mậu
dịch tự do ASEAN - Trung Quốc (ACFTA) trong 10 năm tới Đây là một sự kiện quan trọng, đánh dấu bước phát triển mới của quan hệ
ASEAN - Trung Quốc trong thế kỷ này
Ý nghĩa của Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN - Trung Quốc
Trước đây, không phải không có những lo ngại về ý tưởng thành lập khối kinh tế chung giữa Trung Quốc và các quốc gia Đông Nam Á vốn
có xu hướng cạnh tranh hơn là hợp tác, thậm chí còn có ý kiến cho rằng sự trỗi dậy của nền kinh tế Trung Quốc, với tỷ lệ tăng trưởng liên
tục đạt khoảng 7% [5], sẽ gây nên mối đe dọa đối với ASEAN Trong bối cảnh đó, theo thông lệ, người ta trông đợi rằng ASEAN sẽ dựng
lên những rào cản tự vệ để chống lại hàng hóa của Trung Quốc và triển khai các biện pháp bảo hộ mậu dịch để đánh bật sự thách thức của
Trung Quốc Tất nhiên, đấy là một giải pháp Nhưng ASEAN đã chọn giải pháp khác, mang tính thách thức hơn, đó là gần gũi hơn và mở
cửa nền kinh tế của tổ chức này với Trung Quốc trên cơ sở có đi có lại Hơn nữa, sau cuộc khủng hoảng 1997, e sợ bị gạt ra ngoài lề công
cuộc toàn cầu hoá, ASEAN đã và đang nỗ lực phấn đấu trở thành khu vực kinh tế năng động nhất thế giới Thêm vào đó, Trung Quốc đưa ra
những ưu tiên nhất định – hứa hẹn mở cửa thị trường trước các nước ASEAN, đồng thời ưu đãi các nước kém phát triển trong khối gồm
Việt Nam, Lào, Campuchia và Myanmar Thế là ASEAN chấp thuận: “Trung Quốc đã có thiện chí, chúng tôi cũng đáp lại” [22] – Noordin
Azhari, phụ trách hợp tác kinh tế trong Ban thư ký ASEAN đã phát biểu như vậy Tại cuộc hội thảo “Quan hệ đối tác kinh tế giữa ASEAN,
Nhật Bản và Trung Quốc” tổ chức vào cuối tháng 3/ 2002 tại Singapore, Giáo sư Tommy Koh, giám đốc Viện nghiên cứu chính sách của
Singapore cũng nhận định: “Trung Quốc đã đưa ra đề nghị thành lập Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc Đây là một động thái
rất thông minh của Trung Quốc và ASEAN đã hành động đúng khi chấp nhận đề nghị này của Trung Quốc Trung Quốc sẽ không coi
ASEAN là một cỗ máy thân phương tây, tức là mang tính thù địch với những lợi ích của Trung Quốc Ngược lại, Trung Quốc coi ASEAN là
một người bạn và một Đông Nam Á thật sự mang tính bản địa có trách nhiệm với vận mệnh của mình” [23]
Như vậy, Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN - Trung Quốc ra đời đã đáp ứng nhu cầu trước mắt và lâu dài của ASEAN
và Trung Quốc Hiện nay, trong bối cảnh suy giảm của nền kinh tế thế giới, đặc biệt là kinh tế Mỹ, các nước ASEAN nhận thấy rằng đã đến
lúc họ không thể chỉ dựa vào xuất khẩu sang thị trường Mỹ mà cần phải khai thác thị trường mới để phát triển kinh tế Từ trước đến nay,
Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của hầu hết các nước Đông Nam Á Kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ luôn chiếm tỷ trọng lớn trong GDP
của các nước ASEAN nên khi kinh tế Mỹ giảm sút thì nền kinh tế của các nước này cũng bị suy thoái, trong khi đó Trung Quốc vẫn giữ tốc
độ tăng trưởng kinh tế đáng khâm phục Vì vậy, các nước Đông Nam Á không những cần điều chỉnh chính sách kinh tế mà còn cần tìm một
thị trường mới để không bị quá phụ thuộc vào nền kinh tế Mỹ Hiệp định Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc chính là giải pháp
cho vấn đề trên Hơn nữa, ASEAN và Trung Quốc là những nước đang phát triển và đang ở những giai đoạn phát triển kinh tế khác nhau
nhưng đang cùng phải đối mặt với những cơ hội và thách thức của xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá kinh tế một cách mạnh mẽ của thế kỷ
21 này Các khu vực chính trên toàn cầu đều đã thiết lập các Khu vực mậu dịch tự do như Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ, Liên minh
Châu Âu Quan trọng hơn, Khu vực mậu dịch tự do đã trở thành phương thức hội nhập quốc tế song song với toàn cầu hoá Vì vậy, các
nước Đông Nam Á cũng cần có một giải pháp để đảm bảo lợi ích khu vực cũng như tránh tác động của sự suy giảm kinh tế toàn cầu Do đó,
việc thành lập một hiệp định mậu dịch tự do giữa hai bên và tăng cường quan hệ song phương lúc này là một quyết định sáng suốt của
ASEAN và Trung Quốc trong quá trình theo đuổi những cơ hội phát triển mới
1.2.2 Nội dung cam kết
Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện giữa ASEAN và Trung Quốc kí ngày 4/ 11/ 2002 gồm tổng cộng 16 điều và 4 phụ lục kèm
theo Nội dung chính của hiệp định được chia làm 3 phần: Phần 1 (từ điều 3 đến điều 6) đề cập đến thương mại hàng hoá, thương mại dịch
vụ, đầu tư và chương trình thu hoạch sớm; Phần 2 (điều 7) là về hợp tác kinh tế trên các lĩnh vực khác; Phần 3 (từ điều 8 đến điều 16) cũng
là phần cuối cùng gồm các quy định về khung thời gian của các chương trình hợp tác, về chế độ đãi ngộ MFN, các ngoại lệ chung, cơ chế
giải quyết tranh chấp, kế hoạch đàm phán và một số điều khoản khác liên quan đến sự sửa đổi, hiệu lực … của Hiệp định
Trang 371.2.2.1 Mục tiêu của Hiệp định:
Trung Quốc;
ii Xúc tiến thương mại hàng hoá, dịch vụ, cũng như cơ chế đầu tư thông thoáng, rõ
ràng;
iii Khai thác các lĩnh vực mới và thiết lập các biện pháp thích hợp cho hợp tác kinh
tế chặt chẽ hơn giữa các bên;
iv Tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế có hiệu quả hơn của các nước thành viên mới
của ASEAN và tạo điều kiện thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các bên
1.2.2.2 Các biện pháp hợp tác kinh tế:
i Tích cực loại bỏ thuế và hàng rào phi thuế đối với hầu hết thương mại hàng hoá;
ii Tiến tới tự do hoá thương mại dịch vụ về cơ bản tất cả các lĩnh vực;
iii Thiết lập một cơ chế đầu tư cạnh tranh và cởi mở để tạo thuận lợi và thúc đẩy
đầu tư trong khuôn khổ FTA;
iv Áp dụng các ứng xử đặc biệt, khác biệt và linh hoạt cho các nước thành viên mới
của ASEAN;
của lĩnh vực hàng hoá, dịch vụ và đầu tư, dựa trên nguyên tắc có đi có lại và
cùng có lợi;
vi Thiết lập các biện pháp tạo thuận lợi đầu tư và thương mại có hiệu quả, bao gồm
nhưng không hạn chế việc đơn giản hoá thủ tục hải quan và các thoả thuận công
nhận lẫn nhau;
vii Mở rộng hợp tác kinh tế ra các lĩnh vực khác có thể đồng thuận được của cả hai
bên ASEAN và Trung Quốc, mà sẽ bổ sung vào việc làm sâu sắc thêm liên kết
đầu tư và thương mại giữa ASEAN và Trung Quốc, hình thành nên các chương
trình hành động để thực hiện các lĩnh vực hợp tác;
viii Thiết lập các cơ chế thích hợp nhằm mục đích thực hiện có hiệu quả hiệp định
này
Trang 381.2.2.3 Các chương trình hoạt động
i THƯƠNG MẠI HÀNG HOÁ
BÊN CẠNH CHƯƠNG TRÌNH THU HOẠCH SỚM, CÁC BÊN ĐỒNG Ý SẼ TIẾN HÀNH ĐÀM PHÁN LOẠI BỎ THUẾ QUAN VÀ
DỠ BỎ CÁC QUY ĐỊNH KHÁC HẠN CHẾ THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI HẦU HẾT THƯƠNG MẠI HÀNG HOÁ GIỮA CÁC BÊN
(NGOẠI TRỪ CÁC MẶT HÀNG CẦN THIẾT PHÙ HỢP VỚI QUY ĐỊNH CỦA ĐIỀU 24 (8) (B) CỦA HIỆP ĐỊNH CHUNG VỀ
THƯƠNG MẠI VÀ THUẾ QUAN CỦA WTO)
CÁC MẶT HÀNG THUỘC CHƯƠNG TRÌNH CẮT GIẢM THUẾ VÀ LOẠI BỎ THUẾ QUAN THEO ĐIỀU KHOẢN NÀY SẼ BAO
GỒM CÁC MẶT HÀNG KHÔNG THAM GIA CHƯƠNG TRÌNH THU HOẠCH SỚM VÀ SẼ ĐƯỢC PHÂN CHIA THEO 2 DANH
MỤC:
DANH MỤC MẶT HÀNG THÔNG THƯỜNG
(NT - NORMAL TRACK): NHỮNG MẶT HÀNG
ĐƯỢC LIỆT KÊ TRONG DANH MỤC NÀY SẼ
CÓ THUẾ SUẤT MFN ÁP DỤNG TƯƠNG ỨNG BỊ CẮT GIẢM DẦN HOẶC LOẠI BỎ PHÙ HỢP VỚI LỊCH TRÌNH VÀ MỨC THUẾ SUẤT (SẼ ĐƯỢC CÁC BÊN CÙNG THOẢ THUẬN) TRONG SUỐT THỜI GIAN TỪ 01/ 01/ 2005 ĐẾN 2010 ĐỐI VỚI ASEAN 6 (BAO GỒM BRUNEY, INDONESIA, MALAYSIA, PHILIPPINES, SINGAPORE VÀ THÁI LAN)
VÀ TRUNG QUỐC; TỪ 01/ 01/ 2005 ĐẾN 2015 VỚI NGƯỠNG THUẾ SUẤT KHỞI ĐIỂM CAO HƠN VÀ BƯỚC CẮT GIẢM KHÁC ĐỐI VỚI CÁC THÀNH VIÊN MỚI CỦA ASEAN (BAO GỒM VIỆT NAM, LÀO, CAMPUCHIA VÀ
Trang 39MYANMAR) ĐỐI VỚI NHỮNG DÒNG THUẾ
ĐÃ ĐƯỢC CẮT GIẢM NHƯNG CHƯA CẮT GIẢM XUỐNG 0% TRONG GIAI ĐOẠN KỂ TRÊN, THUẾ SUẤT CỦA NHỮNG MẶT HÀNG ĐÓ SẼ ĐƯỢC LOẠI BỎ TÍCH CỰC TRONG PHẠM VI THỜI GIAN DO CÁC BÊN THOẢ THUẬN
DANH MỤC MẶT HÀNG NHẠY CẢM (ST –
SENSITIVE TRACK): NHỮNG MẶT HÀNG
ĐƯỢC LIỆT KÊ TRONG DANH MỤC ST SẼ
CÓ THUẾ SUẤT MFN ÁP DỤNG TƯƠNG ỨNG BỊ CẮT GIẢM PHÙ HỢP VỚI THUẾ SUẤT CUỐI CÙNG VÀO NGÀY CUỐI CÙNG HOÀN THÀNH CẮT GIẢM DO CÁC BÊN THOẢ THUẬN; VÀ NẾU CÓ THỂ ÁP DỤNG ĐƯỢC, SẼ TIẾN TỚI LOẠI BỎ THUẾ TRONG PHẠM VI THỜI GIAN DO CÁC BÊN THOẢ THUẬN
ii THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ:
Trang 40ĐỂ TĂNG CƯỜNG MỞ RỘNG THƯƠNG MẠI
CƠ BẢN LOẠI BỎ CÁC ĐỐI XỬ PHÂN
BIỆT GIỮA CÁC BÊN VÀ NGHIÊM CẤM TẠO RA CÁC BIỆN PHÁP PHÂN BIỆT ĐỐI
XỬ MỚI LIÊN QUAN TỚI THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ GIỮA CÁC BÊN, NGOẠI TRỪ CÁC BIỆN PHÁP ĐƯỢC PHÉP THEO ĐIỀU KHOẢN V(1)(B) CỦA HIỆP ĐỊNH CHUNG VỀ THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ (GATS) CỦA WTO;
PHÁT TRIỂN THEO CHIỀU SÂU VÀ MỞ
RỘNG PHẠM VI TỰ DO HOÁ THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ THEO HƯỚNG CÁC NƯỚC ASEAN
VÀ TRUNG QUỐC CAM KẾT TRONG KHUÔN KHỔ GATS;