Để tồn tại và phát triển, để đứng vững trong một thế giới đầy biến động và luôn thay đổi, tự bản thân nó, chủ nghĩa xã hội cũng phải cải cách và đổi mới thường xuyên theo tiến trình vận
Trang 1TIỂU LUẬN MÔN: HỆ THỐNG QUAN ĐIỂM ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG CỘNG
SẢN VIỆT NAM
Đề tài:
PHÂN TÍCH TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN CỦA SỰ NGHIỆP
ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN NAY
Trang 2Câu hỏi: Phân tích tính tất yếu khách quan của sự nghiệp đổi mới
ở Việt Nam từ 1986 đến nay.
Bài làm
Trước hết, chúng ta cần phải khẳng định rằng, theo quy luật tiến hoá của lịch sử, mọi chế độ xã hội chỉ có thể tồn tại, phát triển và tự bảo vệ được mình khi nó thường xuyên tiến hành những cải cách và đổi mới cần thiết Bởi mọi chế độ xã hội sinh ra ngay từ đầu đã không phải trong một thể hình hoàn chỉnh, mà nó phải trải qua quá trình vận động, phát triển lâu dài, phải trải qua những sự biến đổi lịch sử Chủ nghĩa tư bản của thế kỷ XVI-XVII hoàn toàn không phải là chủ nghĩa tư bản của thế kỷ XX-XXI Để đạt được trình độ văn minh, hiện đại như ngày nay, chủ nghĩa tư bản đã phải trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau, phải hứng chịu nhiều cuộc khủng hoảng về kinh tế
- xã hội, phải tiến hành nhiều cuộc cải cách, điều chỉnh về đường lối, chính sách và chiến lược phát triển Chủ nghĩa xã hội cũng không phải là trường hợp ngoại lệ của lôgíc này Để tồn tại và phát triển, để đứng vững trong một thế giới đầy biến động và luôn thay đổi, tự bản thân nó, chủ nghĩa xã hội cũng phải cải cách và đổi mới thường xuyên theo tiến trình vận động và phát triển hiện thực của lịch sử Chỉ có trên cơ sở tự đổi mới thường xuyên, chủ nghĩa
xã hội hiện thực mới có khả năng tìm ra động lực phát triển của chính nó và vạch ra con đường phát triển tiếp theo cho mình
Bản thân chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, như các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin quan niệm, “không phải là một xã hội hoàn chỉnh ngay một lúc”, “không phải là một trạng thái cần phải sáng tạo ra, không phải
là một lý tưởng mà hiện thực phải khuôn theo” mà là “một quá trình”, một
“cuộc vận động” lịch sử hiện thực, “chủ nghĩa cộng sản là một phong trào hiện thức”, “một phong trào hết sức thực tế, theo đuổi những mục đích thực tế bằng những phương tiện thực tế” Xã hội xã hội chủ nghĩa “không phải là cái
gì đó nhất thành bất biến, mà cũng như mọi chế độ xã hội khác, nó cần phải
Trang 3được xem xét như một xã hội được thay đổi và cải tạo thường xuyên” Với tư cách đó, chủ nghĩa xã hội không cam chịu bất kỳ một sự đình trệ nào dù là tạm thời và luôn luôn đòi hỏi phải cải cách, đổi mới để vận động và phát triển
Đó là đòi hỏi tất yếu, xuất phát từ lôgíc nội tại của tiến trình phát triển lịch sử
Vì vậy, cải cách và đổi mới đối với chủ nghĩa ch luôn luôn là một tất yếu, một đòi hỏi bên trong của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhằm khắc phục
và phòng ngừa các nguy cơ khủng hoảng có thẻ xảy ra trong quá trình phát triển Đâu cũng là vấn đề mang tính quy luật nhằm làm cho chủ nghĩa xã hội thoát khỏi sự trì trệ, lỗi thời để trở nên năng động và phát triển hơn
Với Việt Nam, quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ một nước thuộc địa nửa phong kiến, với một nền sản xuất thấp kém, chưa qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, chúng ta phải giải quyết cùng một lúc nhiều yêu cầu: phát triển sản xuất, công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, xây dựng nền sản xuất hiện đại, xây dựng đời sống văn hoá - tinh thần tiên tiến và nâng cao mức sống cho nhân dân lao động,… Cùng với việc khắc phục những hậu quả của một chế độ kinh tế - xã hội kém phát triển và những hậu quả nặng nề của chiến tranh, chúng ta còn phải đối phó với những âm mưu, thủ đoạn chống phá của kẻ thù (chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế) để bảo vệ độc lập, chủ quyền của quốc gia dân tộc Mặt khác, tình hình quốc tế cũng có những diễn biến phức tạp và thay đổi sâu sắc, tác động mạnh mẽ đến kinh tế đất nước Điều đó đòi hỏi chúng ta phải có sự đổi mới trong nhận thức và trong hoạt động thực tiễn Trước hết là sự đổi mới tư duy về lợi ích dân tộc, về quan hệ quốc tế, về an ninh và sự phát triển của khu vực và quốc tế, về vai trò của phát triển kinh tế trong xây dựng sức mạnh tổng hợp của quốc gia và nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế Các nước đều coi chiến lược mở cửa
ra bên ngoài là một trong những động lực thúc đẩy sự phát triển Trong khi
đó, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở các nước xã hội chủ nghĩa đã phạm phải nhiều sai lầm và bộc lộ nhiều bất cập Từ đầu thập kỷ 80, các nước
Trang 4xã hội chủ nghĩa đã phải đứng trước một cuộc khủng hoảng về nhiều mặt Để thoát ra khỏi tình trạng khủng hoảng, các nước xã hội chủ nghĩa đã phải tiến hành cải cách, cải tổ, đổi mới để tìm cho đất nước mình một phương thức phát triển; những nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp đều chuyển sang kinh tế thị trường, mở cửa, hội nhập kinh tế Tình hình này đã tác động lớn đến quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, ảnh hưởng trực tiếp đến vấn đề lựa chọn con đường phát triển của đất nước
Trên thực tế, trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước theo mô hình của Liên Xô và Đông Âu, chúng ta đã phạm phải những sai lầm nghiêm trọng, đã không xuất phát từ thực tiễn, không tôn trọng và hành động theo các quy luật khách quan Chúng ta chưa có sự nhận thức một cách đầy đủ và đúng đắn học thuyết Mác – Lênin về chủ nghĩa xã hội, về thời kỳ quá độ; sao chép một cách máy móc mô hình bao cấp thời kỳ chiến tranh khi nó đã trở nên không còn phù hợp, quan niệm một cách đơn giản về con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội mà không thấy hết những khó khăn, thử thách, tính phức tạp
và sự lâu dài của quá trình đó Sau năm 1975, Đảng ta đã mắc sai lầm: chủ quan trong việc đánh giá tình hình đất nước, không thấy hết những khó khăn của một đất nước bị tàn phá nặng nề sau chiến tranh Từ đó, đã dẫn đến tư tưởng nóng vội, muốn có ngay chủ nghĩa xã hội; đã đề ra các chủ trương, chính sách, mục tiêu không phù hợp với tình hình đất nước Chúng ta đã vội vàng xoá bỏ các thành phần kinh tế khi chúng vẫn còn có khả năng phát triển,
đã phủ nhận sản xuất hàng hoá và cơ chế thị trường, duy trì quá lâu cơ chế quản lý tập trung, quan liêu bao cấp, đầu tư quá mức cho công nghiệp nặng, buông lỏng công tác xây dựng Đảng… Xem xét những khuyết điểm, sai lầm
đó, Đảng ta đã nhận định đó là những sai lầm mang tính chất chủ quan, duy ý chí, không xuất phát từ thực tiễn, không tôn trọng các quy luật khách quan Vì không nhận thức đầy đủ tính tất yếu của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là phải trải qua các bước quá độ trung gian, quá
Trang 5độ với những hình thức và biện pháp chuẩn bị cần thiết, nên chúng ta đã đề ra những mục tiêu, nhiệm vụ quá cao, không tương ứng với những điều kiện vật chất hiện có để thực hiện nó Chúng ta đã không xuất phát từ thực trạng thấp kém của nền kinh tế để lựa chọn các giải pháp phát triển phù hợp; đã coi nhẹ vai trò của các động lực, như khuyến khích lợi ích kinh tế, coi trọng vai trò cá nhân và lợi ích của người lao động, v.v Và do vậy, chúng ra đã không khuyến khích được tính tích cực của quần chúng nhân dân, đồng thời dung túng cho thói lười biếng và vô trách nhiệm trong lao động, sản xuất
Chính do những sai lầm đó, nên sau một thời gian dài tiến hành công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đất nước ta vẫn ở trong tình trạng đói nghèo, trì trệ và chậm phát triển Những giá trị tốt đẹp thể hiện mục tiêu, lý tưởng của chủ nghĩa xã hội chưa kịp định hình thì đất nước lại lâm vào khủng hoảng trầm trọng về kinh tế xã hội Bức tranh kinh tế, xã hội nước ta từ 1976
-1985 không mấy sáng sủa Sản xuất nông, công nghiệp trì trệ, nông dân bỏ ruộng, các tập đoàn sản xuất và hợp tác xã tan rã, mức sống của nhân dân giảm mạnh và gặp rất nhiều khó khăn Về mặt xã hội thật đáng lo ngại Niềm tin của người dân vào Đảng, vào chế độ giảm sút; tiêu cực xã hội phát triển mạnh, văn hoá, đạo đức, lối sống, giáo dục xuống cấp; kỷ cương, pháp luật bị
vi phạm Những dấu hiệu này chứa đựng nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa, làm gay gắt thêm những mâu thuẫn trong đời sống xã hội, đe doạ sự ổn định của chế độ ta
Vì lẽ đó, từ giữa thập kỷ 80, trong lòng xã hội Việt Nam đã chín muồi những yêu cầu bức xúc của một cuộc cách tân, đổi mới Đó chính là đòi hỏi khách quan từ thực tiễn cuộc sống, trước hết là từ tình hình kinh tế - xã hội của đất nước, sau đó là những ảnh hưởng tích cực dội vào từ bên ngoài theo
xu thế đổi mới của thế giới hiện đại Thực ra, tín hiệu của sự đổi mới đã được phát ra từ Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá (năm 1979) với Nghị quyết về những biện pháp cấp bách nhằm tháo gỡ những khó
Trang 6khăn về kinh tế, “làm cho sản xuất bung ra” Nhưng tình hình đất nước sau đó vẫn ở trong tình trạng khó khăn, khủng hoảng về kinh tế - xã hội Phải đến Đại hội VI, đường lối đổi mới mới thực sự mang ý nghĩa bước ngoặt Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đáp ứng được đòi hỏi khách quan của thực tiễn,
mở đầu cho sự nghiệp đổi mới đất nước, đặt cơ sở cho sự giải phóng mọi tiềm năng trong xã hội
Từ sự phân tích trên cho thấy, sự nghiệp đổi mới đất nước là một tất yếu khách quan, làm “yêu cầu bức thiết của sự nghiệp cách mạng, là vấn đề
có ý nghĩa sống còn” đối với chúng ta Bởi vì, nó là hiện thân của sự nghiệp giải phóng và phát triển: Đổi mới là để thoát ra khỏi tình trạng khủng hoảng,
để vượt qua những lạc hậu, những trở lực kìm hãm có trong những hạn chế, khuyết tật của mô hình cũ, mô hình mang nặng dấu ấn của sai lầm chủ quan, duy ý chí, để giải phóng và khai thác mọi tiềm năng phát triển của xã hội nhằm thực hiện chủ nghĩa xã hội đích thực: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Đổi mới không phải là từ bỏ chủ nghĩa xã hội, mà là nhận thức lại và khẳng định tính quy luật của quá trình đó, làm cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đi đúng với quy luật khách quan hơn, phù hợp hơn với những quy luật đã được nhận thức, với hoàn cảnh, điều kiện thực tế của đất nước, với đặc điểm và xu thế phát triển của thế giới đương đại
Công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam chịu
sự tác động trực tiếp của những nhân tố quốc tế và thời đại, của tình hình khu vực và thế giới Giữa lúc Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới, trên thế giới
đã diễn ra những biến đổi lớn lao Những biến đổi ấy vừa tác động trực tiếp đến cách mạng Việt Nam, vừa gợi ra những bài học kinh nghiệm quí báu
Trước hết, công cuộc cải cách kinh tế ở nước láng giềng Trung Quốc theo hướng kinh tế thị trường - mở cửa (diễn ra từ 1978) đã thu được những thành tựu
to lớn Với những thành tựu này, Đảng Cộng sản và nhân dân Trung Quốc tiếp tục công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc
Trang 7Thứ hai, sự không thành công của công cuộc cải tổ ở Liên Xô và Đông
Âu đã dẫn đến sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở những nước này Sự sụp đổ
đó để lại những bài học kinh nghiệm đắt giá, nhất là bài học về lựa chọn con đường, cách thức và phương pháp cải tổ, về giải quyết mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, giữa kinh tế và chính trị trong quá trình cải tổ
Thứ ba, thành công của các nước “công nghiệp mới” ở khu vực Đông
Á với chiến lược phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá “rút ngắn” vừa dựa vào nội lực, vừa mở cửa thị trường, hội nhập quốc tế, đẩy mạnh xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài Đây là một giải pháp phát triển mang ý nghĩa chiến lược quan trọng, là một kinh nghiệm cho sự lựa chọn phương thức phát triển mới của chúng ta, bởi Việt Nam và các nước Đông Á vốn xuất phát từ những nước nông nghiệp, có sự tương đồng về các điều kiện văn hoá – xã hội Á Đông
Thứ tư, xu hướng hợp tác và hội nhập quốc tế ngày càng được mở rộng và tăng cường, toàn cầu hoá kinh tế ngày càng trở thành một xu thế khách quan Bối cảnh mới đó đã buộc các quốc gia phải định hướng lại tư duy về vấn đề phát triển, trong đó phát triển kinh tế trở thành mục tiêu hàng đầu Các nước đều có xu hướng đẩy nhanh quá trình mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế
Toàn bộ tình hình trên đây, ở trong nước cũng như ở bên ngoài, đã tác động đến nước ta về cả hai phương diện Một mặt, đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục công cuộc đổi mới, trước hế là đổi mới tư duy kinh tế, tiếp tục giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh mới Mặt khác, nó tạo ra nhiều cơ hội và điều kiện cho công cuộc đổi mới diễn ra thuận lợi hơn Nhận thức được
sự thay đổi của tình hình và tính tất yếu của quá trình đổi mới, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (1991) đã khẳng định Việt Nam tiếp tục phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đại hội đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Cương lĩnh đã xác định mô
Trang 8hình chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta xây dựng với sáu đặc trưng cơ bản, hướng đến mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh” Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (1996), lần thứ IX (2001) tiếp tục khẳng định công cuộc đổi mới, khẳng định tính nhất quán của “con đường
đi lên của nước ta là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế
độ tư bản chủ nghĩa” Xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa nhằm tạo ra sự biến đổi về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực là
sự nghiệp rất khó khăn, phức tạp và do vậy, tất phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất quá độ
Như vậy, đổi mới không phải là mục đích tự thân mà là cách thức, phương tiện để xác lập sự ổn định mới nhằm làm cho đất nước ta vững bước trên con đường dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Chúng ta càng nhận thức đầy đủ và sâu sắc tính tất yếu của quá trình đổi mới
- điều này phụ thuộc phần lớn vào ý chí, ý thức, khả năng phê phán trên quan điểm biện chứng và phương pháp sáng tạo của chúng ta đối với thực hiện - thì càng có nhiều khả năng đưa tư tưởng đổi mới giữ vững định hướng, có nội dung toàn diện, có tính chất nhất quán Từ đường lối đổi mới đến hành động đổi mới và đổi mới có kết quả là cả một quá trình lâu dài, đầy những tìm tòi
và thử nghiệm, trải qua nhiều khó khăn, phức tạp Ở đây, nhận thức đúng đắn
là cần thiết nhưng chưa đủ Tầm vóc và tính chất của sự nghiệp cách mạng này đòi hỏi những nỗ lực to lớn và sự sáng tạo phi thường trong hoạt động thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta Với
ý nghĩa đó, đổi mới thực sự đánh dấu bước ngoặt trong sự nghiệp xây dựng đất nước ta theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Những đặc trưng cơ bản của công cuộc đổi mới ở Việt Nam là: Đổi mới được tiến hành theo định hướng xã hội chủ nghĩa; đổi mới toàn diện nhưng có trọng tâm, trọng điểm, được tiến hành một cách tuần tự, từng bước;
Trang 9đổi mới kinh tế gắn liền với đổi mới hệ thống chính trị; đổi mới để phát triển trong ổn định; đổi mới gắn liền với mở cửa với thế giới bên ngoài Triển vọng của công cuộc đổi mới ở Việt Nam là tốt đẹp, bởi nó được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xuất phát từ thực tiễn xã hội Việt Nam và luôn gắn kết thực tiễn với khái quát lý luận
Việt Nam chính thức bước vào sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước và tiến hành như một cuộc cách mạng thực sự chỉ bắt đầu từ năm 1986 Nhưng trước đó, Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam đã có nhiều chủ trương, chính sách phát triển kinh tế mang tính chất đổi mới Những đổi mới này vừa đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn, vừa là những bước tìm tòi, thử nghiệm con đường phát triển của Việt Nam Mặc dù, ngay từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (năm 1960), Đảng Cộng sản Việt Nam đã chú trọng đến vấn đề phát triển kinh tế và xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội Nhưng lúc đó và cả sau này, khi cả nước đi vào xây dựng chủ nghĩa xã hội thì vấn đề phát triển kinh tế của Việt Nam có nội dung cốt lõi là thực hiện công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa và trên cơ sở đó, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội Chủ trương này là phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam lúc đó nhưng càng về sau, nhất là khi cả nước đi vào xây dựng chủ nghĩa xã hội thì nó càng bộc lộ sự yếu kém trong nhận thức và vận dụng một cách sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào từng giai đoạn phát triển cụ thể của cách mạng Việt Nam Đó là vấn
đề nông nghiệp, nông dân khi đất nước chuyển giai đoạn nhưng trên thực tế lại không được coi trọng, không nhìn thấy tầm chiến lược của nó trong sự phát triển nền kinh tế - xã hội ở một nước sản xuất nông nghiệp Sự kéo dài chủ trương đó, hơn nữa lại có những sai lầm trong thực hiện đã làm cho nền kinh tế Việt Nam thực sự rơi vào một cuộc khủng hoảng Vì vậy, công cuộc đổi mới của Việt Nam có xuất phát điểm trước hết từ chính yêu cầu phát triển nội tại của đất nước Nó được bắt nguồn từ nhu cầu thực tiễn phát triển đất
Trang 10nước, từ tâm tư, nguyện vọng của nhân dân lao động, từ kinh nghiệm sáng tạo của một số cơ sở, địa phương
Trên cơ sở nhận thức lại chủ nghĩa xã hội và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam đã tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa từ năm 1986 Đến nay, sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam đã tiến hành được trên 30 năm Qua mỗi giai đoạn đổi mới (5, 10, 15, 20 năm), Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam luôn có sự tổng kết cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn nhằm rút ra những bài học và kinh nghiệm cho những giai đoạn phát triển tiếp theo Có thể nói, con đường đổi mới ở Việt Nam vừa thể hiện sự trung thành, vừa là sự tìm tòi và vận dụng một cách sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng chủ nghĩa xã hội
Sau hơn 30 năm đổi mới, Việt Nam đạt được những thành tựu to lớn và
có ý nghĩa lịch sử
Việt Nam đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài nhiều năm, khắc phục được nạn lạm phát có lúc trên 700% (năm 1986) xuống mức lạm phát 12% (năm 1995) và từ đó đến nay lạm phát chỉ còn một con số; khắc phục được nạn thiếu lương thực trước đây và hiện nay kinh tế phát triển liên tục, đặc biệt là sản xuất lương thực, Việt Nam trở thành một nước xuất khẩu gạo thứ hai, thứ ba trên thế giới
Hiện nay Việt Nam đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhằm mục tiêu đến năm 2020, Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Cùng với tăng trưởng kinh tế, trong thời kỳ đổi mới, Việt Nam đã chú ý đến việc thực hiện chính sách công bằng xã hội, xóa đói giảm nghèo Nhờ đó, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện một bước đáng kể Tính riêng trong 5 năm (1993-1998), thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam đã tăng 2,45 lần