1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ths báo chí học tổ chức sản xuất chương trình phát thanh tiếng dân tộc trên đài phát thanh và truyền hình hà giang

118 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ths Báo Chí Học Tổ Chức Sản Xuất Chương Trình Phát Thanh Tiếng Dân Tộc Trên Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Hà Giang
Trường học Trường Đại Học Hà Giang
Chuyên ngành Báo Chí Học
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Giang
Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 612,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn đề tài Ngay từ khi Nước Việt nam dân chủ cộng hòa ra đời vào ngày 2/9/1945, Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất quan tâm đến vùng đồng bào dân tộc thiểu số và đặc biệt là vấn đề đại đoàn kết các dân tộc. Từ đó đến nay, Đảng, Nhà nước ta luôn coi trọng vấn đề đoàn kết dân tộc và chăm lo nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào các dân tộc thiểu số. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII tiếp tục nhấn mạnh: “Đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là động lực và nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo. Phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực, mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” làm điểm tương đồng; tôn trọng những điểm khác biệt không trái với lợi ích chung của quốc gia - dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước, tăng cường quan hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước, tạo sinh lực mới của khối đại đoàn kết toàn dân tộc”. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Giang lần thứ XVI cũng khẳng định: Thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về dân tộc tôn giáo; vận động quần chúng tín đồ, giáo dân tích cực tham gia vào các phong trào thi đua yêu nước của địa phương, nâng cao cảnh giác trước âm mưu, thủ đoạn tuyên truyền sai trái của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, nhân quyền để chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng và Nhà nước ta. 2 / 118 2 Giai đoạn hiện nay, các thế lực thù địch tiếp tục gia tăng các hoạt động "diễn biến hoà bình", tuyên truyền nhằm chống phá, chia rẽ khối đại đoàn kết các dân tộc trên địa bàn tỉnh Hà Giang. Tình hình tội phạm có yếu tố nước ngoài, vấn đề xuất hiện các tôn giáo lạ, không có tư cách pháp nhân hay vấn đề di cư tự do còn tiềm ẩn phức tạp. Đặc biệt, thời gian qua, các thế lực phản động trong và ngoài tỉnh, trong và ngoài nước đã tăng cường không ngừng thực hiện các thủ đoạn tuyên truyền xuyên tạc, bóp méo sự thật để kích động, lôi kéo, chia rẽ khối đoàn kết nhằm xây dựng Vương quốc Mông riêng biệt, kích động đối đầu giữa các dân tộc thiểu số Mông – Tày – Dao... Đáng lưu ý, do có cùng hệ ngôn ngữ nên các kênh Phát thanh bằng tiếng Mông, tiếng Dao đặt ở nước ngoài thường xuyên phát các chương trình có nội dung phản động, kích động, xuyên tạc sự thật vào khu vực đồng bào dân tộc trong tỉnh Hà Giang. Thực tế hiện nay cho thấy, khu vực đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Hà Giang hiện đang thiếu thông tin, trở thành khu vực tranh chấp thông tin và đó chính là điều các thế lực thù địch lợi dụng để chống phá, tuyên truyền các luận điệu sai trái. Nhiều đài phát thanh nước ngoài phát chương trình tiếng Việt như: Đài Châu Á Tự do (RFA), Đài VOA, BBC v.v... Đặc biệt là Đài Phát thanh Manila của Philippin có riêng chương trình tiếng dân tộc Mông phát thường xuyên nhằm xuyên tạc đường lối, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta. Tại nhiều tỉnh khu vực miền núi phía Bắc đều có thể bắt được sóng để nghe chương trình của đài này. Những vấn đề cấp thiết trên đã đặt ra nhiệm vụ phải làm tốt công tác thông tin tuyên truyền, chủ động đấu tranh trực diện và quyết liệt đối với âm mưu của các thế lực thù địch trên lĩnh vực thông tin, tư tưởng. Hà Giang là tỉnh miền núi thuộc khu vực giữa Đông Bắc và Tây Bắc, phía đông giáp tỉnh Cao Bằng, phía tây giáp tỉnh Yên Bái và Lào Cai, phía

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Ngay từ khi Nước Việt nam dân chủ cộng hòa ra đời vào ngày2/9/1945, Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất quan tâm đếnvùng đồng bào dân tộc thiểu số và đặc biệt là vấn đề đại đoàn kết các dân tộc

Từ đó đến nay, Đảng, Nhà nước ta luôn coi trọng vấn đề đoàn kết dân tộc vàchăm lo nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào các dân tộcthiểu số

Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII tiếp tục nhấn mạnh:

“Đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam,

là động lực và nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Tăngcường khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp côngnhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo Phát huymạnh mẽ mọi nguồn lực, mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân để xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc; lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độclập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,văn minh” làm điểm tương đồng; tôn trọng những điểm khác biệt không tráivới lợi ích chung của quốc gia - dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyềnthống yêu nước, nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người ViệtNam ở trong và ngoài nước, tăng cường quan hệ mật thiết giữa nhân dân vớiĐảng, Nhà nước, tạo sinh lực mới của khối đại đoàn kết toàn dân tộc”

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Giang lần thứ XVI cũng khẳngđịnh: Thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về dân tộc tôn giáo; vận độngquần chúng tín đồ, giáo dân tích cực tham gia vào các phong trào thi đua yêunước của địa phương, nâng cao cảnh giác trước âm mưu, thủ đoạn tuyêntruyền sai trái của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, nhânquyền để chống phá sự nghiệp cách mạng của Đảng và Nhà nước ta

Trang 2

Giai đoạn hiện nay, các thế lực thù địch tiếp tục gia tăng các hoạt động

"diễn biến hoà bình", tuyên truyền nhằm chống phá, chia rẽ khối đại đoàn kếtcác dân tộc trên địa bàn tỉnh Hà Giang Tình hình tội phạm có yếu tố nướcngoài, vấn đề xuất hiện các tôn giáo lạ, không có tư cách pháp nhân hay vấn

đề di cư tự do còn tiềm ẩn phức tạp Đặc biệt, thời gian qua, các thế lực phảnđộng trong và ngoài tỉnh, trong và ngoài nước đã tăng cường không ngừngthực hiện các thủ đoạn tuyên truyền xuyên tạc, bóp méo sự thật để kích động,lôi kéo, chia rẽ khối đoàn kết nhằm xây dựng Vương quốc Mông riêng biệt,kích động đối đầu giữa các dân tộc thiểu số Mông – Tày – Dao… Đáng lưu ý,

do có cùng hệ ngôn ngữ nên các kênh Phát thanh bằng tiếng Mông, tiếng Daođặt ở nước ngoài thường xuyên phát các chương trình có nội dung phản động,kích động, xuyên tạc sự thật vào khu vực đồng bào dân tộc trong tỉnh HàGiang Thực tế hiện nay cho thấy, khu vực đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh HàGiang hiện đang thiếu thông tin, trở thành khu vực tranh chấp thông tin và đóchính là điều các thế lực thù địch lợi dụng để chống phá, tuyên truyền các luậnđiệu sai trái Nhiều đài phát thanh nước ngoài phát chương trình tiếng Việt như:Đài Châu Á Tự do (RFA), Đài VOA, BBC v.v Đặc biệt là Đài Phát thanhManila của Philippin có riêng chương trình tiếng dân tộc Mông phát thườngxuyên nhằm xuyên tạc đường lối, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta.Tại nhiều tỉnh khu vực miền núi phía Bắc đều có thể bắt được sóng để nghechương trình của đài này

Những vấn đề cấp thiết trên đã đặt ra nhiệm vụ phải làm tốt công tácthông tin tuyên truyền, chủ động đấu tranh trực diện và quyết liệt đối với âmmưu của các thế lực thù địch trên lĩnh vực thông tin, tư tưởng

Hà Giang là tỉnh miền núi thuộc khu vực giữa Đông Bắc và Tây Bắc,phía đông giáp tỉnh Cao Bằng, phía tây giáp tỉnh Yên Bái và Lào Cai, phíanam giáp tỉnh Tuyên Quang, phía bắc giáp nước Cộng hòa Nhân dân Trung

Trang 3

Hoa Hà Giang ở vị trí tột Bắc của tổ quốc có tổng diện tích trên 7.914 km2,dân số hiện nay là 771.200 người với 19 dân tộc cùng sinh sống Trong đó,

có ba dân tộc chiếm tỷ lệ lớn hơn cả là: Dân tộc Mông chiếm: 32,0%, Dântộc Tày chiếm 23,3 %, Dân tộc Dao chiếm 15,1 % còn lại là thuộc các dântộc khác

Hiện nay, công tác thông tin, tuyên truyền luôn được Đảng bộ, Chínhquyền tỉnh quan tâm, diện tích phủ sóng các chương trình phát thanh truyềnhình của Đài PT-TH tỉnh Hà Giang đã đạt 100% diện tích toàn tỉnh Tuynhiên, thực tế cho thấy, các chương trình cả phát thanh và truyền hình chưa cónhiều đổi mới về nội dung hay hình thức thể hiện Chưa thực sự là kênh thôngtin hữu hiệu đối với nhân dân các dân tộc trong tỉnh trên các lĩnh vực thôngtin thời sự, chính trị, kinh tế xã hội lẫn văn hóa, giải trí…

Riêng với chương trình Phát thanh tiếng dân tộc trên Đài Phát thanh vàTruyền hình Hà Giang còn nhiều hạn chế, thiếu tính chuyên nghiệp, thiếu vàyếu cả về nguồn kinh phí tổ chức sản xuất cũng như nguồn nhân lực có chấtlượng Vì vậy, hiệu quả của các chương trình chưa cao, chưa đáp ứng đượcyêu cầu thông tin thời sự, giải trí của đồng bào vùng dân tộc thiểu số Do đó,

đã làm giảm hiệu quả của một kênh thông tin, truyền thông quan trọng vớiđồng bào dân tộc thiểu số

Thực trạng trên đã đặt ra yêu cầu cần thiết phải có sự thay đổi một cáchkhoa học và hợp lý Tập trung cải tiến trong kết cấu, nội dung chương trìnhphát thanh tiếng dân tộc để nâng cao hiệu quả tuyên truyền với vùng đồng bàodân tộc là mục tiêu Đài Phát thanh truyền hình Hà Giang hiện nay đanghướng tới Để làm được điều này, hoạt động tổ chức sản xuất chương trìnhphát thanh tiếng dân tộc là một yếu tố quan trọng hàng đầu Đánh giá, khảosát, nhận diện được những thành công cũng như hạn chế của quy trình tổ chứcsản xuất các chương trình phát thanh tiếng dân tộc trên Đài PT-TH Hà Giang

Trang 4

đang thực hiện, từ đó, nêu và đề xuất các giải pháp tổ chức sản xuất khả thi,

hiệu quả hơn Đó chính là lý do để tác giả chọn thực hiện đề tài “ Tổ chức sản

xuất Chương trình Phát thanh tiếng dân tộc trên Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Giang ”

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trong những năm qua, vấn đề thông tin tuyên truyền bằng tiếng dân tộc

và tuyên truyền bằng tiếng dân tộc trên sóng phát thanh có nhiều công trìnhnghiên cứu và tìm hiểu, nhưng ở mỗi góc độ nghiên cứu, mỗi nhà khoa học lại

có cách nhìn và tiếp cận vấn đề khác nhau Có thể kể ra một số công trìnhnghiên cứu tiêu biểu sau:

+ Về các cuốn sách có nội dung liên quan đã xuất bản:

Các cuốn sách về lý luận, công trình nghiên cứu của các tác giả bao

gồm: “Cơ sở lý luận báo chí”, NXB Lao động, 2013 của P.GS TS Nguyễn Văn Dững; “Lý luận báo phát thanh”, NXB Văn hóa thông tin Hà Nội, 2003 của Đức Dũng; “Sách Báo phát thanh, lý thuyết và kỹ năng cơ bản”, NXB

Chính trị - Hành chánh Hà Nội, năm 2013 của TS.Đinh Thị Thu Hằng Cáccông trình này hệ thống cụ thể về đặc trưng của báo phát thanh, công chúngphát thanh, các phương tiện tác động của báo phát thanh, viết và biên tập chobáo phát thanh; các thể loại của báo phát thanh, nhất là nêu ra một quy trình

cơ bản trong tổ chức sản xuất chương trình phát thanh

Tập bài giảng về truyền thông chuyên biệt của PGS.TS Vũ Quang Hàogiúp nhận diện, phân tích xu hướng phát triển của truyền thông chuyên biệt vànhận dạng bước đầu đối tượng truyền thông chuyên, đặc biệt là tâm lý tiếpnhận thông tin, cách thức chuyển tải thông tin phù hợp và hiệu quả nhất chođối tượng truyền thông chuyên biệt

Tác giả Phan Kim Loan, Khoa báo chí, Trường cao đẳng Phát thanh

-Truyền hình II chủ trì đề tài nghiên cứu “Sự đổi mới loại hình phát thanh của

một số Đài cấp tỉnh ở phía Nam (từ năm 1986 đến 2010) Đề tài này ghi nhận

Trang 5

khá đầy đủ diện mạo chung của Báo phát thanh phía Nam cũng như nhữngthay đổi phù hợp xu hướng phát thanh hiện đại đang diễn ra.

+ Các Khóa luận, Luận văn có liên quan đến đề tài:

Đối với phát thanh tiếng dân tộc thiểu số, cách đây nhiều năm cũng đã

có nhiều tác giả tiến hành các đề tài nghiên cứu, đáng chú ý có các đề tài sau:

La Vũ Quang (1993): Một số vấn đề về tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệuquả thông tin tuyên truyền với đối tượng là đồng bào dân tộc thiểu số ở buổi phátthanh đại gia đình các dân tộc Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp Đại học Ở khóaluận này, tác giả đã khảo sát và nêu những giải pháp để nâng cao chất lượng,hiệu quả tuyên truyền thông qua một chương trình cụ thể của Đài TNVN

Giàng Seo Pùa (1994): Những bước đi ban đầu của chương trình phátthanh tiếng Mông (Đài tiếng nói Việt Nam), tiềm năng và xu hướng pháttriển, Khóa luận tốt nghiệp Đại học Qua công trình này, tác giả đã khảo sátđánh giá quá trình hình thành, thực trạng sản xuất của chương trình Phátthanh tiếng Mông của Đài TNVN và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng,thời lượng của chương trình chuyên biệt này

Nghiên cứu về chương trình phát thanh tiếng Khmer có Đề tài khoa học

“Nâng cao chất lượng chương trình phát thanh tiếng Khmer Nam bộ” (2004)

của Tô Ngọc Trân và những người tham gia Nguyễn Thị Minh Hạnh, TrầnThị Hiếu Đề tài giúp hình dung được lược sử về sự ra đời, quá trình phục vụcách mạng và phát triển của phát thanh tiếng Khmer Nam bộ Đồng thờitham khảo được cái nhìn của những người trực tiếp sản xuất chương trìnhphát thanh tiếng Khmer về các yêu cầu phải đảm bảo của chương trình nhằmđáp ứng nhu cầu của công chúng

Đặng Thị Huệ, Ban Phát thanh tiếng dân tộc, Đài TNVN, có đề tài

“Nâng cao chất lượng và hiệu quả tuyên truyền vấn đề dân tộc thiểu số trên sóng phát thanh quốc gia” (2005) Đối tượng của đề tài là các chương trình

Trang 6

phát thanh tiếng Mông, Ba na, Ê đê, Thái, Cơ Ho…, đề xuất các giải phápnâng cao chất lượng chương trình.

Qua đề tài “Phát thanh tiếng Dân tộc với nhiệm vụ bảo tồn và phát huy

bản sắc văn hóa dân tộc” Ban Phát thanh tiếng dân tộc, Đài TNVN (2006),

Đặng Thị Huệ đã nghiên cứu vấn đề bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộctrong 3 chương trình phổ thông và 8 chương trình tiếng dân tộc của Đài TNVN

Kim Ngọc Anh, Ban tổ chức cán bộ, Đài TNVN với đề tài “Các giải

pháp phát triển nguồn nhân lực làm phát thanh tiếng dân tộc ở nước ta hiện nay” (2007) với đối tượng nghiên cứu là nguồn nhân lực trực tiếp sản xuất

các chương trình phát thanh tiếng dân tộc thiểu số

Cơ quan thường trú Đài TNVN tại các khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên,

Miền Trung đã lần lượt chủ trì các đề tài: “Nâng cao chất lượng chương trình

phát thanh tiếng Thái” (2009), “Nâng cao chất lương chương trình phát thanh tiếng Ê đê” (2010), “Nâng cao chất lượng chương trình phát thanh tiếng Cơ tu” (2010) Các đề tài này giới hạn phạm vi nghiên cứu một chương

trình phát thanh cụ thể, đối tượng cụ thể và đề xuất giải pháp nâng cao chấtlượng chương trình

Tác giả Thạch Tùng Linh, Đài PT-TH Sóc Trăng với đề tài “Nâng caochất lượng chương trình tiếng Khmer của các Đài PT-TH tỉnh ở khu vựcĐồng bằng Sông Cửu Long” (2010), đã khảo sát tại Đài PT-TH tỉnh SócTrăng, Cà Mau, Trà Vinh và đề cập đến một phần thực trạng và đưa ra cácgiải pháp, khuyến nghị

Đề tài “Nâng cao chất lượng tuyên truyền các vấn đề dân tộc của Đài

TNVN trong giai đoạn hiện nay”, Hệ phát thanh Dân tộc, Đài TNVN thực

hiện (2011), đề cập thực tế chất lượng nội dung và các yêu cầu thực hiện côngtác tuyên truyền vấn đề dân tộc trong giai đoạn hiện nay của Đài TNVN

Về các đề tài truyền hình cho đồng bào dân tộc thiểu số cũng có một sốcông trình nghiên cứu như:

Trang 7

Đề tài “Thông tin về dân tộc miền núi trên VTV1 - Đài Truyền hìnhViệt Nam” (2001) của Nguyễn Xuân An Việt, khảo sát chương trình về đề tàidân tộc và miền núi trong giai đoạn từ 1991 – 2001, đề xuất các giải phápnâng cao chất lượng và hiệu quả thông tin về dân tộc, miền núi của ĐàiTruyền hình Việt Nam.

Luận án Thạc sỹ của Phạm Ngọc Bách về “Chương trình dân tộc vàmiền núi trên sóng VTV1 - Đài Truyền hình Việt Nam” (2005), đưa ra cácgiải pháp nâng cao chất lượng chương trình trên cơ sở khảo sát từ tháng1/2004 đến tháng 6/2005

Luận văn “Vấn đề công chúng truyền thông chuyên biệt (khảo sát công

chúng Hà Nội)” (2011) của Vũ Thị Ngọc Thu, chuyên ngành Báo chí học,

học viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia HàNội đề cập cách thức tìm hiểu nhu cầu, vai trò của công chúng truyền hìnhchuyên biệt

Trần Thị Trang (2014): Bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộctrên sóng Phát thanh – truyền hình Luận văn Thạc sỹ Báo chí Tác giả đã nghiêncứu khảo sát chương trình phát thanh, truyền hình của 3 tỉnh: Hà Giang, TuyênQuang, Sơn La để đánh giá và đề xuất giải pháp tăng cường tuyên truyền, nângcao nhận thức về bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, hạn chế yếu tố vănhóa ngoại lai, không phù hợp trong các chương trình phát thanh, truyền hình củacác Đài PT-TH : Hà Giang, Tuyên Quang, Sơn La hiện nay

Lê Thế Biên (2015): Hiệu quả tuyên truyền về biến đổi khí hậu trênsóng phát thanh của Đài PTTH Hà Giang Luận văn Thạc sỹ Báo chí Tácgiả đã khảo sát, đánh giá về hoạt động tuyên truyền, biến đổi khí hậu trênsóng phát thanh của Đài PT-TH Hà Giang từ tháng 1/2014 đến tháng 6 năm

2015 Trên cơ sở đó, nêu giải pháp nâng cao chất lượng, hình thức tuyên

Trang 8

truyền về biến đổi khí hậu đối với địa phương có đặc thù tự nhiên khắcnghiệt như Hà Giang.

Điều này cho thấy, đến thời điểm hiện tại đã có nhiều công trình nghiêncứu có liên quan đến báo chí, truyền thông và truyền thông đại chúng bằngtiếng dân tộc, ngôn ngữ dân tộc ở cả Báo in, Phát thanh và truyền hình Mỗitác giả, mỗi một công trình nghiên cứu đã đề cập rõ ràng tới những khía cạnhkhác nhau của lĩnh vực báo chí, tuyên truyền và truyền thông bằng tiếng dântộc với những góc nhìn, những gợi mở, đề xuất sát với thực tiễn tuyên truyền,truyền thông bằng tiếng dân tộc nói nói riêng

Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu riêng trong lĩnh vực tuyên truyềnthông tin thời sự bằng tiếng dân tộc trên sóng phát thanh còn khá khiêm tốn.Địa bàn nghiên cứu của các công trình nghiên cứu trước đều tập trung ở tầmkhu vực và chưa có công trình nghiên cứu nào chuyên sâu đề cập đến chươngtrình phát thanh tiếng dân tộc phát trên sóng phát thanh của Đài PT-TH tỉnh

Hà Giang, chủ yếu là về nâng cao chất lượng chương trình mà chưa đề cậpsâu đến quy trình, cách thức tổ chức sản xuất chương trình phát thanh tiếngdân tộc Đây chính là điểm khác biệt quan trọng nhất và cũng là nhiệm vụ

xuyên suốt của đề tài nghiên cứu mà tôi lựa chọn là: “Tổ chức sản xuất

Chương trình Phát thanh tiếng dân tộc trên Đài Phát thanh và Truyền hình

Hà Giang”, thời gian khảo sát từ tháng 6/2015 đến tháng 6/2016.

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn về tổ chức sản xuấtchương trình phát thanh tiếng dân tộc của Đài Phát thanh - truyền hình HàGiang, luận văn chỉ ra thực trạng còn tồn tại, những hạn chế trong công tác tổchức sản xuất, biên - phiên dịch và phát sóng hiện nay Từ đó đề xuất giảipháp nhằm cải tiến quy trình, hình thức tổ chức sản xuất chương trình phát

Trang 9

thanh tiếng dân tộc, góp phần tăng cường vai trò tác động của chương trìnhphát thanh tiếng dân tộc trong việc tuyên truyền nâng cao nhận thức cho đồngbào các dân tộc thiểu số ở tỉnh Hà Giang.

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Từ mục đích trên, luận văn thực hiện những nhiệm vụ cụ thể sau:

Phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn về tổ chức sản xuất cácchương trình phát thanh tiếng dân tộc của Đài PT-TH Hà Giang hiện nay để

có đánh giá khách quan, chính xác cũng như có hướng đề xuất khoa học nhằmtăng cường hiệu quả tuyên truyền đối với đồng bào các dân tộc thiểu số trênđịa bàn tỉnh

Làm rõ những thuận lợi và khó khăn trong tổ chức sản xuất, biên dịch,phiên dịch và phát sóng các chương trình phát thanh tiếng dân tộc ở Đài Phátthanh - truyền hình Hà Giang hiện nay

Khảo sát hoạt động tổ chức sản xuất chương trình phát thanh tiếng dântộc ở Đài Phát thanh - truyền hình Hà Giang từ tháng 6/2015 đến tháng6/2016 Tập trung chú trọng đến hoạt động sản xuất tin, bài, biên dịch và thu

âm, phát sóng các chương trình phát thanh tiếng dân tộc

Nhận diện một số vấn đề còn vướng mắc, tồn tại trong quá trình tổchức sản xuất chương trình phát thanh tiếng dân tộc của Đài PT-TH HàGiang; đưa ra các nhóm giải pháp nhằm cải tiến tổ chức sản xuất chương trìnhphát thanh tiếng dân tộc trên Đài PT-TH Hà Giang trong thời gian tới

4 Đối tương và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Tác giả tập trung vào đối tượng nghiên cứu là hoạt động tổ chức sảnxuất chương trình phát thanh tiếng dân tộc trên Đài PT-TH Hà Giang Cụthể là tổ chức sản xuất các chương trình phát thanh tiếng Mông, tiếng Tày,tiếng Dao

Trang 10

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Hoạt động, quy trình tổ chức sản xuất chương trình phát thanh tiếngMông, tiếng Tày, tiếng Dao trên Đài PT-TH Hà Giang trong thời gian từtháng 6 năm 2015 đến tháng 6 năm 2016

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Đề tài dựa trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lenin, tư tưởng

Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng, về công tác tuyên truyền và văn hóatruyền thống các dân tộc thiểu số Những quan điểm, đường lối, chủ trươngcủa Đảng và Nhà nước về hình thức, cách thức tuyên truyền hiện nay đối vớiđồng bào các dân tộc thiểu số

Hệ thống lý luận báo chí - truyền thông và cơ sở lý luận báo chí cũnggóp phần quan trọng trong việc nghiên cứu lý luận trong thực hiện đề tài

Đề tài cũng dựa vào lý thuyết, đặc điểm, bản sắc văn hóa và trình độdân trí của đồng bào các dân tộc Mông, Tày, Dao để nghiên cứu đánh giá về

tổ chức sản xuất chương trình phát thanh tiếng dân tộc

Việc nghiên cứu lý luận có vai trò quan trọng trong việc cung cấpnhững lý thuyết cơ bản, khái niệm cần thiết để làm nền tảng cho việc khảo sátthực tiễn được cụ thể hơn, phù hợp với thực tiễn

5.2 Phương pháp nghiên cứu.

Các phương pháp cụ thể được áp dụng trong đề tài là:

Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Thông qua việc tìm kiếm và tập hợp

tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau, tác giả làm rõ các khái niệm liên quan đến

đề tài, khẳng định vai trò của chương trình phát thanh tiếng dân tộc đối vớithính giả là đồng bào các dân tộc Mông, Tày, Dao trên địa bàn tỉnh Hà Giang.Đồng thời, làm rõ mộ số vấn đề về lĩnh vực dân tộc, văn hóa dân tộc và bảnsắc văn hóa dân tộc cũng như các yêu cầu, điều kiện để tổ chức sản xuấtchương trình phát thanh tiếng dân tộc đạt hiệu quả

Trang 11

Phương pháp quan sát thực tế: Nhằm nắm bắt, kiểm chứng qui trình,

cách thức tổ chức sản xuất chương trình phát thanh tiếng dân tộc trên Đài

PT-TH Hà Giang thông qua các hoạt động của ê kíp thực hiện hằng ngày Trên cơ

sở đó, luận văn sẽ có những đánh giá cụ thể về thành công, hạn chế trong quátrình thực hiện

Phương pháp phân tích: Tác giả sử dụng phương pháp này để phân tích

về tổ chức sản xuất chương trình phát thanh tiếng dân tộc ở Đài PT-TH HàGiang hiện nay Trong đó, tập trung chỉ rõ quy trình và công tác biên phiêndịch Từ đó, rút ra những đánh giá cụ thể về tổ chức sản xuất, đồng thời, đềxuất những nhóm giải pháp để cải tiến tổ chức sản xuất chương trình phátthanh tiếng dân tộc ở Đài PT-TH Hà Giang

Phương pháp phỏng vấn sâu: Tác giả sử dụng phương pháp này để

phỏng vấn các nhóm đối tượng sau:

+ Nhóm đối tượng thuộc lĩnh vực quản lý báo chí ( 03 người): Đánh giáhiệu quả tuyên truyền của các chương trình phát thanh tiếng dân tộc của ĐàiPT-TH Hà Giang trong thời gian qua Quan điểm, chính sách, sự hỗ trợ vàđịnh hướng phát triển chương trình phát thanh tiếng dân tộc trên Đài PT-TH

Hà Giang trong thời gian tiếp theo

+ Nhóm đối tượng là phóng viên, biên dịch viên, kĩ thuật viên củaTrung tâm sản xuất chương trình phát thanh – truyền hình tiếng dân tộc trựctiếp tham gia hoạt động tổ chức sản xuất chương trình phát thanh tiếng dântộc (03 người): Tìm hiểu hoạt động cụ thể của từng bộ phận tham gia tổ chứcsản xuất, lấy ý kiến đánh giá, chia sẻ kinh nghiệm cũng như các ý kiến, ýtưởng liên quan đến tổ chức sản xuất chương trình phát thanh tiếng dân tộc ởĐài PT-TH Hà Giang

+ Nhóm đối tượng là công chúng, thính giả người dân tộc (03 người):Tìm hiểu về thói quen nghe đài, khả năng, mức độ tiếp nhận thông tin qua các

Trang 12

chương trình phát thanh tiếng dân tộc Những ý kiến nhận xét phản hồi, đánhgiá và mong muốn đối với việc tổ chức sản xuất các chương trình phát thanhtiếng dân tộc của Đài PT-TH Hà Giang.

6 Cái mới của luận văn

Thực tế hiện nay cho thấy, việc tổ chức sản xuất chương trình phát thanhtiếng dân tộc trên Đài Phát thanh – truyền hình Hà Giang còn nhiều vấn đềtồn tại, hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu của thính giả là đồng bào các dântộc: Mông, Tày, Dao trên địa bàn

Trong quá trình nghiên cứu về quy trình sản xuất chương trình phát thanhtiếng dân tộc của Đài Phát thanh truyền hình Hà Giang, tác giả luận văn sẽ đisâu tìm hiểu các vấn đề: Việc bố trí nhân sự, phân công công việc, việc sửdụng nguyên liệu cho chương trình phát thanh tiếng dân tộc; sản phẩm có kếtcấu, chất lượng ra sao…

Trên cơ sở đó, điểm mới của luận văn là chỉ ra những giải pháp chungcũng như giải pháp cụ thể để cải tiến sản xuất chương trình phát thanh tiếngdân tộc trên Đài Phát thanh – truyền hình Hà Giang

7 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn

7 1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn khái quát và đưa ra cái nhìn, đánh giá tổng thể về tổ chức sảnxuất chương trình phát thanh tiếng dân tộc trong gia đoạn hiện nay Kết quảnghiên cứu của đề tài sẽ bổ sung một phần lý thuyết về tổ chức sản xuấtchương trình phát thanh nói chung, tổ chức sản xuất chương trình phát thanhtiếng dân tộc nói riêng Qua đó, luận văn cũng chỉ rõ vai trò, tầm quan trọngcủa chương trình phát thanh tiếng dân tộc trong tổng thể hoạt động tuyêntruyền và truyền thông hiện nay Điều này có ý nghĩa lớn về việc hoạch địnhchiến lược, kế hoạch tuyên truyền của các Đài PT-TH địa phương đối vớicông tác thông tin, tuyên truyền bằng tiếng dân tộc Đặc biệt là việc phát huy

Trang 13

vai trò của sóng phát thanh, hệ thống truyền thanh cơ sở trong việc tuyêntruyền về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nướcđến được sâu rộng với đồng bào các dân tộc Đồng thời, cũng từng bướcchuyển tải, nâng cao nhận thức và hiểu biết cho đồng bào về văn hóa, thôngtin, nâng cao đời sống tinh thần cũng như góp phần vào quá trình phát triểnkinh tế xã hội, xóa đói giảm nghèo tại vùng đồng bào dân tộc sinh sống.Những nhóm giải pháp chung và giải pháp cụ thể của luận văn sẽ góp phầnthực hiện tốt công tác thông tin, tuyên truyền bằng tiếng dân tộc trên sóngphát thanh Qua đó, góp phần quan trọng trong việc giao lưu văn hóa, nhânrộng những mô hình hay, điển hình tiên tiến và chia sẻ cách làm sáng tạotrong cộng đồng

Với bản thân tác giả luận văn, quá trình hoàn thành nghiên cứu này là

sự vận dụng hệ thống lý luận báo chí – truyền thông đã được tiếp thu trong cảkhóa học để nghiên cứu một vấn đề cụ thể Đó cũng là quá trình tự hoàn thiệnthêm về phương diện lý thuyết và các vấn đề thực tiễn đang đặt ra ở cơ sở, từ

Trang 14

đó tạo cơ sở nền tảng cho hoạt động tuyên truyền của tác giả luận văn sau nàytại địa phương

8 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,phần nội dung của luận văn gồm 03 chương, 8 tiết

Chương 1: Cơ sở lý luận về tổ chức sản xuất chương trình phát thanhtiếng dân tộc

Chương 2: Thực trạng sản xuất chương trình phát thanh tiếng dân tộctrên Đài Phát thanh - Truyền hình Hà Giang

Chương 3: Một số vấn đề đặt ra và giải pháp cải tiến quy trình tổ chứcsản xuất chương trình phát thanh tiếng dân tộc trên Đài Phát thanh - Truyềnhình Hà Giang

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH PHÁT THANH TIẾNG DÂN TỘC

1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài

1.1.1 Tổ chức sản xuất và chương trình phát thanh

Tổ chức là hoạt động sắp xếp một cách có hệ thống những người đượcnhóm lại với nhau nhằm để đạt được những mục đích nhất định Công tác tổchức bao hàm hai nội dung cơ bản là Tổ chức cơ cấu (tổ chức cơ cấu quản lý

và tổ chức cơ cấu sản xuất kinh doanh) và Tổ chức quá trình ( tổ chức quátrình quản trị và tổ chức quá trình chuẩn bị cho sản xuất sản phẩm)

Mỗi tổ chức đều hình thành trên một cấu trúc nhất định nào đó và cùnghoạt động để đạt được mục đích mà từng cá thể, cá nhân đơn lẻ không thểthực hiện được Như vậy, có thể thấy, sự khác biệt về mục đích chính là yếu

tố phân biệt giữa tổ chức này với tổ chức khác

Như vậy, các tổ chức là những tập hợp bao gồm nhiều cá thể, nhiềuthành viên và rõ ràng, những thành viên này sẽ đưa ra các quyết định và xácđịnh mục đích hướng đến Và chính các thành viên này cũng sẽ thực hiệnhàng loạt hành động, hành vi để hiện thực hóa các mục tiêu, mục đích đã đề

ra theo sự phân công công việc và phân công nhiệm vụ

Từ những điều trên, có thể khẳng định, tổ chức sản xuất là sự bố trí cáccông đoạn, các khâu trong một quá trình khép kín từ đầu đến cuối để đạt mụctiêu, mục đích sản xuất đã đề ra

Do đó, mục tiêu của hoạt động tổ chức sản xuất là sự bố trí các côngđoạn, các khâu nhằm đạt hiệu quả cao hơn, tận dụng, huy động tối đa cácnguồn lực vật chất vào sản xuất, giảm chi phí sản xuất một đơn vị đầu ra tớimức thấp nhất, rút ngắn thời gian sản xuất sản phẩm hoặc cung cấp dịch

vụ Do đó quyết định lựa chọn tổ chức sản xuất theo dây chuyền, tổ chức sản

Trang 16

xuất theo nhóm hay tổ chức sản xuất đơn chiếc là tuỳ thuộc vào quy mô sảnxuất, trình độ nguồn nhân lực, chủng loại hay kết cấu của sản phẩm.

Có nhiều tài liệu của nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra các khái niệm về

phát thanh khác nhau Trong cuốn Truyền thông đại chúng, Tạ Ngọc Tấn (chủ

biên) thì chương trình phát thanh là sự tổ chức các tin tức, bài vở, tài liệucùng các chất liệu khác trong phát thanh theo thời lượng nhất định, mục đích

nhất quán và nhằm vào đối tượng công chúng cụ thể.“Thông thường một

chương trình phát thanh mở đầu bằng nhạc hiệu và kết thúc bằng lời chào tạm biệt Ngay sau nhạc hiệu là lời xướng của phát thanh viên, chỉ ra tên hoặc đặc trưng của chương trình” [19,tr117-118].

Ths Vũ Thúy Bình trong cuốn Báo phát thanh cho rằng: “Chương trình

phát thanh là sự liên kết, sắp xếp hợp lý tin, bài, bảng tư liệu âm nhạc trong một thời lượng nhất định được mở đầu bằng nhạc hiệu, kết thúc với lời chào tạm biệt nhằm đáp ứng yêu cầu tuyên truyền của cơ quan báo phát thanh, đồng thời mang lại hiệu quả cao nhất đối với người nghe.”

Theo PGS.TS Đức Dũng, “Chương trình phát thanh là sự sắp xếp một

cách hợp lý các thành phần tin, bài, băng âm thanh trong một chỉnh thể với khoảng thời gian xác định nhằm đáp ứng nhiệm vụ tuyên truyền của cơ quan phát thanh và mang lại hiệu quả cao nhất đối với người nghe” [9, tr 103].

Theo TS Đinh Thị Thu Hằng, “Chương trình phát thanh là một chỉnh

thể trong đó các thành phần tin bài, âm nhạc, lời dẫn…được bố trí, sắp xếp một cách hợp lý trong một khoảng thời gian xác định nhằm đáp ứng nhiệm vụ của cơ quan truyền thông và mang lại hiệu quả cao nhất đối với người nghe”.

[14, tr 153]

Từ các quan niệm, khái niệm nêu trên, tác giả luận văn cho rằng

“Chương trình phát thanh là một chỉnh thể âm thanh hay một tập hợp lời đọc

các tin bài, bản nhạc, nhạc hiệu… được sắp xếp theo một trật tự chủ quan, có

Trang 17

ý đồ rõ ràng, có nội dung phù hợp theo định hướng, đáp ứng yêu cầu tuyên truyền của cơ quan truyền thông,có thời lượng xác định, phát sóng trong một khoảng thời gian cố định, nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cho thính giả.

Với một chỉnh thể được tổ chức, sắp xếp và bao gồm nhiều công đoạnnên hiển nhiên, chương trình phát thanh phải là một sản phẩm của một tậpthể, chứ không phải một sản phẩm mang cá nhân Với các công việc khácnhau, họ góp phần tạo nên các chương trình phát thanh theo một kế hoạch cósẵn hoặc đột xuất, hướng đến mục tiêu thông tin, tuyên truyền ngắn hạn và dàihạn Các chương trình phát thanh vừa thể hiện năng lực, vai trò, trách nhiệmcủa cơ quan báo chí, truyền thông vừa đáp ứng nhu cầu thông tin của côngchúng thính giả

Trong thực tế tuỳ theo tiêu chí phân loại, mỗi chương trình phát thanh

có đối tượng tác động riêng, có nội dung phản ánh cũng như phương thứchoạt động riêng nhưng có chung các đặc điểm sau:

- Thời lượng có tính ổn định và thời điểm có tính xác định: Thời lượngcủa chương trình giới hạn khoảng thời gian để truyền tải thông tin Thời điểmphát sóng có ý nghĩa mang lại sự tiếp nhận tiện lợi và góp phần tạo thói quentiếp nhận cho công chúng Việc xác định thời lượng, thời điểm phải căn cứvào thói quen, thị hiếu, đặc điểm sinh hoạt của nhóm công chúng mà chươngtrình hướng tới Vì vậy thời lượng và thời điểm phát sóng chương trình cótính ổn định, chỉ có thay đổi trong trường hợp đặc biệt nào đó

- Hướng đến một nhóm đối tượng nhất định: Việc hình thành cácchương trình phải luôn dựa trên nhu cầu của đối tượng, nhằm phục vụ mộtnhóm đối tượng Nhóm đối tượng đó có vai trò quyết định tới quá trình tổchức sản xuất một chương trình, quyết định nội dung và hình thức truyền tảithông điệp Chương trình phát thanh luôn mang tính đối tượng, thậm chí,nhiều chương trình còn thể hiện tính đối tượng ngay trong tên chương trình

Trang 18

- Phạm vi nội dung xác định Do tính đối tượng quy định nên phạm vinội dung chương trình cũng được giới hạn Phạm vi nội dung được quy định

ngay trong chức năng, nhiệm vụ của mỗi chương trình phát thanh, theo đó các

chương trình phát thanh tổ chức thông tin, định hướng có chiều sâu, có hiệuquả cho nhóm công chúng của mình

- Có cấu trúc tương đối ổn định Ngoài nhạc hiệu chương trình, lờichào, phần giới thiệu nội dung chính, phần chào kết thì các phần, mục,chuyên mục, trang trong chương trình phát thanh thường được duy trì nhằmtạo ra sự sáng tỏ, mạch lạc về nội dung đồng thời tạo thói quen tiếp nhận chothính giả

- Thường gắn một nhạc hiệu và một phong cách thể hiện Nhạc hiệuđược xem là gương mặt của chương trình, là cái đầu tiên phân biệt giữachương trình này với chương trình kia Nội dung một số chương trình phátsóng là khác nhau nhưng cùng chung một nhạc hiệu Những người xây dựngchương trình luôn cố gắng tìm một nhạc hiệu vừa phù hợp, vừa gây được ấntượng và tạo ra nét khác biệt cho chương trình Phong cách thể hiện chươngtrình cũng vậy, có những nét khác nhau có tính đối tượng và tính chất thôngtin quyết định nghe chương trình thời sự, người nghe cảm nhận được tínhchất quan trọng, quy thức Một trong những yếu tố tạo nên phong cách thểhiện chương trình chính là người dẫn, họ với vai trò giới thiệu, dẫn dắt, khâunối các phần nội dung, giáo tiếp với thính giả… đã để lại phong cách củamình lại và góp phần vào việc khẳng định phong cách của chương trình

Trong một chương trình phát thanh, bố cục chương trình rất quan trọng.Mục tiêu của chương trình phát thanh là thu hút, lôi cuốn thính giả bằngnhững thông tin mà nó đem đến cho họ Một chương trình phát thanh luôn cốgắng tạo ra bản sắc riêng ở giọng đọc, thể loại, ngôn ngữ, giọng điệu, đối

Trang 19

tượng tiếp nhận, đồng thời nó cũng hỗ trợ, phối hợp với các chương trình khácnhằm mục đích tăng cường sức tác động tới công chúng

Chương trình phát thanh nên được cấu trúc theo hướng linh hoạt, kết cấu

mở để có thể nhanh chóng cập nhật thông tin một cách chân thực, sống độngnhất Chương trình phát thanh hiện đại đang có xu hướng xóa nhòa ranh giớigiữa những người thực hiện với thính giả, ngày càng tăng tính chất gần gũi,tính tương tác hai chiều trực tiếp để tăng hiệu quả truyền thông Sự ra đời củaInternet cũng là một lợi thế để các chương trình phát thanh đến với thính giảhiệu quả hơn, tiện lợi hơn, vừa có thể nghe trực tiếp, vừa có khả năng nghe lạibất cứ lúc nào mà thính giả muốn

1.1.2 Tổ chức sản xuất chương trình phát thanh tiếng dân tộc

Hiện nay, Dân tộc là một khái niệm rất hay được sử dụng trên báo chítruyền thông, tuy nhiên, ở nhiều trường hợp khái niệm này được sử dụng theothói quen, không đúng với thực tế Để phân biệt các dân tộc, người ta căn cứvào ít nhất ba yếu tố “ tiếng nói”, “ chữ viết” và “lãnh thổ cư trú”, bên cạnh

đó, còn có các yếu tố khác như: tập quán sinh hoạt, bản sắc văn hóa, chế độhôn nhân – gia đình… Khái niệm dân tộc thiểu số hiện nay theo quan điểmcủa Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng HCM, xuất phát từ nguyên tắc bìnhđẳng dân tộc, thì khái niệm “dân tộc thiểu số” không mang ý nghĩa phân biệtđịa vị, trình độ phát triển của các dân tộc Tiêu chí để xác định thành phần dântộc nước ta là:

Trang 20

(Kinh) chiếm 86,2% dân số, được quan niệm là “dân tộc đa số”, 53 dân tộccòn lại, chiếm 13,8% dân số được quan niệm là “dân tộc thiểu số” Do lịch sửphát triển của mỗi dân tộc, cộng với điều kiện tự nhiên và địa bàn cư trú, trình

độ phát triển của các dân tộc thiểu số nói chung so với dân tộc đa số còn thấp,

sự phát triển giữa các dân tộc cũng không đồng đều Việc nhận thức và xácđịnh rõ khái niệm dân tộc là để thực hiện tốt hơn quá trình thông tin tuyêntruyền cho thính giả ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số hiện nay

Do đó, theo quan điểm của tác giả luận văn, chương trình phát thanhtiếng dân tộc về bản chất vẫn là một chương trình phát thanh với đầy đủcác đặc điểm của loại hình này nhưng có tính chuyên biệt, dành cho mộtnhóm đối tượng nhất định và được thể hiện bằng ngôn ngữ mẹ đẻ của nhómđối tượng chuyên biệt mà chương trình hướng đến ( tiếng Mông cho đồngbào dân tộc Mông, tiếng Tày cho đồng bào dân tộc Tày, tiếng Dao chođồng bào dân tộc Dao ) Điều này có nghĩa, khác biệt duy nhất củachương trình phát thanh tiếng dân tộc là ở ngôn ngữ thể hiện, chuyển tảithông tin đến với thính giả

Từ các khái niệm về tổ chức sản xuất và khái niệm về chương trình

phát thanh đã nêu ở phần trên, theo tác giả luận văn: “ Tổ chức sản xuất

chương trình phát thanh tiếng dân tộc chính là thực hiện quá trình phân công nhiệm vụ của các thành viên, điều hòa các quan hệ phối hợp hoạt động của các thành viên trong nhóm và quản lý tiến độ hoàn thành sản phẩm, ở đây là chương trình phát thanh tiếng dân tộc” Trong quá trình đó, để đảm bảo

chương trình hoàn thành về mặt thời gian, chất lượng, đảm bảo mục tiêu đề

ra, người làm tổ chức sản xuất phải lên kế hoạch và tiên đoán, trù liệu trướcnhững tình huống có thể xảy ra (trong phát thanh trực tiếp) để chuẩn bị kếhoạch, phương án tốt nhất

Trang 21

Như vậy, có thể thấy, ngoài việc đảm bảo những yếu tố của mộtchương trình phát thanh chuẩn thì chương trình phát thanh tiếng dân tộc cònphải đảm bảo các yêu cầu:

- Hướng tới 1 nhóm đối tượng công chúng nhất định: Việc hình thànhchương trình phải dựa trên nhu cầu của đối tượng, nhằm phục vụ một nhómđối tượng xác định Vì thế, với các chương trình phát thanh tiếng dân tộc,nhóm đối tượng xác định phải là đồng bào dân tộc thiểu số cho nên, việc xácđịnh trình độ, nhận thức, tâm lý tiếp nhận của công chúng cần được xác định

rõ, từ đó có phương án lên maket chương trình cho phù hợp

- Phạm vi xác định: Do tính đối tượng quy định nên phạm vi nội dungcủa chương trình cũng được giới hạn Phạm vi nội dung được quy định ngaytrong chức năng, nhiệm vụ của mỗi chương trình phát thanh, theo đó, cácchương trình phát thanh tổ chức thông tin, định hướng có chiều sâu, có hiệuquả cho nhóm công chúng của mình

- Kết cấu tương đối ổn định: Kết cấu của các Chương trình phát thanhtiếng dân tộc phải được xây dựng theo những khuôn mẫu chuẩn, trong đó quyđịnh phần tin, phần phóng sự, mục, chuyên mục sao cho phù hợp với tâm lýtiếp nhận của đồng bào dân tộc thiểu số, tạo ra sự sáng tỏ, mạch lạc về nộidung Bên cạnh đó, các chương trình phát thanh tiếng dân tộc đều phải đảmbảo thời lượng thích hợp, lịch phát sóng chuẩn, giờ phát sóng hợp lý với đặcđiểm sinh hoạt hằng ngày của đồng bào dân tộc để họ có thể dễ dàng tiếp cận,lắng nghe và tiếp nhận thông tin một cách hiệu quả nhất

Đối với tổ chức sản xuất chương trình phát thanh tiếng dân tộc hiệnnay, như đã phân tích và trình bày, thì không có sự khác biệt lớn so với tổchức sản xuất chương trình phát thanh

1.1.3 Văn hóa dân tộc và bản sắc văn hóa dân tộc

Đến nay, có nhiều khái nhiệm về văn hóa được đưa ra bởi các nhànghiên cứu về văn hóa, các tổ chức quốc tế liên quan đến văn hóa Mặc dù có

Trang 22

thể có những khác biệt nhất định song, về cơ bản là các khái niệm này mang

bản chất đồng nhất Do đó, xét một cách chung nhất thì: “Văn hóa là tổng thể

các hệ thống giá trị - cả giá trị vật chất và giá trị tinh thần do con người sáng tạo ra trong hoạt động thực tiễn và lịch sử xã hội của mình”

Suy ra, “ Văn hóa dân tộc là tổng thể các giá trị vật chất và giá trị tinh

thần của một dân tộc được tạo ra trong quá trình hoạt động thực tiễn và điều kiện lịch sử xã hội, quá trình phát triển của dân tộc đó”.

Trong khi đó, thuật ngữ bản sắc văn hóa thường được sử dụng gắnvới văn hóa và dân tộc Nói đến dân tộc là nói đến văn hóa, bản sắc vănhóa và nói đến văn hóa cũng là nói đến dân tộc, bản sắc dân tộc Như vậy,

có thể hiểu “Bản sắc văn hóa dân tộc là hệ thống các giá trị đặc trưng, bản

chất nhất của một nền văn hóa được hình thành, xác lập, tồn tại và phát triển trong lịch sử của một dân tộc và được biểu hiện thông qua các sắc thái văn hóa”.

Trong bản sắc văn hóa, các giá trị đặc trưng bản chất là cái trừu tượng,tiềm ẩn bên trong, có tính bền vững, còn các sắc thái là biểu hiện bên ngoàinên có tính tương đối cụ thể, bộc lộ và có sự biến đổi nhiều hơn Tuy nhiên,nếu chỉ nhận thức như trên thì khái niệm bản sắc văn hóa vẫn là một kháiniệm vô định, vì nói tới văn hóa là nói tới con người và nói đến những dân tộc

cụ thể, điều kiện lịch sử cụ thể đã sinh ra và nuôi dưỡng, duy trì, phát triểnvăn hóa Chính vì thế, chỉ khi tiếp cận đến bản sắc văn hóa của dân tộc thì ýnghĩa của nó mới có thể nhận thức được một cách trọn vẹn, đầy đủ

Nếu tiếp cận văn hóa theo nghĩa rộng nhất như đã nêu trên, bao hàmtoàn bộ những giá trị vật chất và giá trị tinh thần do con người sáng tạo ratrong lịch sử thì bản sắc văn hóa dân tộc là hệ thống các giá trị vật chất, tinhthần được dân tộc sáng tạo ra trong lịch sử, là những nét độc đáo rất riêng củadân tộc này với dân tộc khác, đây là dấu hiệu để phân biệt giữa các dân tộc

Trang 23

Xét về bản chất, bản sắc văn hóa dân tộc thể hiện tinh thần, linh hồn, cốt cách,bản lĩnh, truyền thống của dân tộc đó Đặc trưng của bản sắc văn hóa dân tộcbao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ phongtục tập quán, lối sống, sinh hoạt, tín ngưỡng cho đến kiến trúc, công trình xaydựng, các sản phẩm tinh vi, hiện đại về khao học công nghệ… Do đó, bản sắcvăn hóa dân tộc được xem là “thẻ căn cước”, là giấy thông hành của một dântộc trên phương diện ngoại giao cũng như trong quan hệ về kinh tế,xã hội.

Trong quá trình tồn tại và phát triển, bản sắc văn hóa là yếu tố mang lạisức mạnh dân tộc, tinh thần dân tộc để vượt qua những thử thách của lịch sử.Bản sắc văn hóa dân tộc là tổng thể những phẩm chất cao đẹp, tính cách,khuynh hướng cơ bản thuộc sức mạnh tiềm tàng và sức sáng tạo, lao động,chiến đấu của một dân tộc Giúp cho dân tộc đó được tính duy nhất, thốngnhất, nhất quán trong quá trình phát triển Bởi lẽ, mất văn hóa là mất tất cả.Chính vì vậy, gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc luôn và mãi là điều

vô cùng quan trọng đối với bất kỳ quốc gia nào trong quá trình phát triển

Văn hóa dân tộc Việt Nam bao gồm những giá trị bền vững, những tinhhoa được vun đắp qua hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước, tạothành những nét đặc sắc của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, con người ViệtNam Xét về bản chất, lịch sử dân tộc ta ngay từ thời dựng nước đã khôngngừng đấu tranh chống ngoại xâm để dành và giữ nền độc lập, tạo nên phẩmchất cao cả và thiêng liêng nhất của văn hóa dân tộc ta, đó là tinh thần yêunước, thương nòi Chủ nghĩa yêu nước của văn hóa dân tộc Việt Nam khôngchỉ biểu lộ ở lòng dũng cảm, đức hy sinh mà còn ở tinh thần đoàn kết, nhân

ái, yêu thương con người, ý thức bảo vệ nhân phẩm, giữ gìn đạo lý

Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, văn hóa Việt Nam đã vượt qua thế bịđộng để tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, làm giàu thêm bản sắc của mình.Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng cộng sản Việt Nam luôn coi trọng

Trang 24

mặt trận văn hóa mà cốt lõi của nó là bản sắc văn hóa dân tộc Nghị quyết hộinghị lần thứ 5 của Ban chấp hành TW khóa VIII đã đánh dấu bước phát triểnmới về đường lối văn hóa, văn nghệ của Đảng Với phương hướng chung của

sự nghiệp văn hóa nước ta là: “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam

tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng ngườitạo nên trên đất nước ta đời sống tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí cao…” Tinh thần Nghị quyết TW5 thực sự là động lực, nâng cao tinh thần

của nhân dân ta bước vào thế kỷ mới, làm cho văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là

động lực của sự phát triển của đất nước.Nghị quyết cũng chỉ rõ “Nền văn hóa

Việt Nam là nền văn hóa thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam”.

Đảng và Nhà nước ta luôn có những chủ trương, chính sách nhằm ưutiên, phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi với quan điểm chỉ đạoxuyên suốt: Các dân tộc trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam bình đẳng,đoàn kết, thương yêu, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ Tuy nhiên,khoảng cách chênh lệch về trình độ phát triển giữa vùng dân tộc thiểu số vàmiền núi với các khu vực khác trong cả nước đang ngày càng có xu hướng giatăng cách biệt, vùng miền núi và dân tộc thiểu số đang còn những khó khăn,thách thức rất lớn, trong đó văn hoá truyền thống các dân tộc thiểu số đangđặt ra vấn đề cần giải quyết hài hoà giữa bảo tồn và phát triển, giữa kinh tế vàvăn hoá

Bên cạnh đó, nhiều di sản văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu

số chưa được nghiên cứu, đánh giá một cách bài bản khoa học Do đó, đangđứng trước nguy cơ biến mất theo xu hướng hòa tan, hiện đại hoá hoặc do tácđộng mặt trái của cơ chế thị trường rất cần phải nhanh chóng được hướngdẫn, hỗ trợ để bảo tồn, phát huy trong cuộc sống đương đại

Trang 25

Những năm qua, thực hiện đề án “Bảo tồn, phát triển văn hóa các dân

tộc thiểu số Việt Nam đến năm 2020”, Đảng, Nhà nước, các cấp chính quyền

và ngành chức năng đã có những nhìn nhận, đánh giá về thực trạng còn tồn tạitrong việc bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu Trong đó, vấn đề đặcbiệt cấp bách đặt ra là bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số của không ítdân tộc ít người đang bị mai một nhanh chóng Thậm chí, có dân tộc khó cóthể tìm được các nét văn hóa đặc trưng Đó là kết quả của việc hội nhập vănhóa, toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế là một xu thế tất yếu, khách quan, vừa

là quá trình hợp tác để phát triển, vừa là quá trình đấu tranh bảo vệ lợi íchquốc gia Bản sắc văn hoá dân tộc là vấn đề trọng đại, sống còn của mỗi quốcgia Trong bối cảnh toàn cầu hoá, văn hoá là một lĩnh vực dễ bị tổn thương,trong đó bản sắc văn hoá, văn hoá truyền thống dễ bị tổn thương hơn cả, đặcbiệt là văn hoá các dân tộc thiểu số Xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa bảo vệbản sắc văn hoá dân tộc với tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hoá nhân loại sẽlàm phong phú cho văn hoá đất nước, thúc đẩy văn hoá phát triển bền vững

1.2 Vai trò của chương trình phát thanh tiếng dân tộc và quan điểm của Đảng, Nhà nước về công tác thông tin, tuyên truyền bằng tiếng dân tộc

Chương trình phát thanh tiếng dân tộc không chỉ có ý nghĩa mang thôngtin, giải trí đến với bà con dân tộc thiểu số mà còn góp phần tuyên truyền chủtrương, đường lối, các chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước Góp phầnđấu tranh chống lại các luận điệu tuyên truyền xuyên tạc của các thế lực thùđịch nhằm hòng chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc Do đó, để tuyên truyềnđược hiệu quả thì phải xác định rõ vai trò của chương trình phát thanh tiếngdân tộc cũng như quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác thông tin,tuyên truyền bằng tiếng dân tộc

Trang 26

1.2.1 Vai trò của chương trình phát thanh tiếng dân tộc

Công chúng ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo là đốitượng cần được cung cấp thông tin đầy đủ Nhóm công chúng tại những vùngnày tuy chiếm số lượng không lớn nhưng lại rất đặc biệt, có tính chuyên biệt.Mặt khác, họ sinh sống ở khu vực nhạy cảm về an ninh quốc phòng, đời sốngvật chất còn lạc hậu, đời sống tinh thần nghèo nàn, trình độ dân trí thấp Đó lànhững yếu tố mà các thế lực thù địch thường lợi dụng, tuyên truyền, dụ dỗ, lôikéo đồng bào… Vấn đề gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thiểu sốcũng đang là vấn đề bức thiết đặt ra cho nhiều địa phương Báo chí phải tìmtòi được cái hay cái đẹp trong văn hóa các dân tộc thiểu số, từ đó tiếp thuthông tin một cách có chọn lọc phù hợp với điều kiện dân tộc, từng bước làmgiàu vốn văn hóa cá nhân và vốn văn hóa các dân tộc theo khuynh hướng

“dân tộc – hiện đại – nhân văn”

Công tác thông tin, báo chí truyền thông nói chung và chương trìnhphát thanh tiếng dân tộc nói riêng cho đồng bào dân tộc thiểu số là đòi hỏi cấpthiết, cần đổi mới không ngừng, cung cấp thông tin một cách đầy đủ và thuyếtphục đối với đồng bào dân tộc thiểu số….Để đáp ứng những yếu tố trên, cần

sự quan tâm, đầu tư thích hợp của các cấp ủy, chính quyền cho việc nâng caochất lượng các hoạt động thông tin, tuyên truyền, bằng nhiều hình thức thểhiện Riêng với việc tuyên truyền tới đồng bào dân tộc thiểu số qua cácchương trình phát thanh tiếng dân tộc là nhằm đảm bảo các mục đích:

+ Tuyên truyền nâng cao nhận thức chính trị cho nhân dân, nhất làđồng bào các dân tộc thiểu số vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khókhăn Đây là những khu vực có thể coi vẫn là ở khu vực lõm thông tin, thiếuthông tin chính trị thời sự cũng như các thông tin về văn hóa, văn nghệ giảitrí Những năm qua, mặc dù Đảng, Nhà nước và chính phủ đã đặc biệt quantâm, có nhiều chương trình, dự án đưa thông tin đến với đồng bào nhưng có

Trang 27

thể nói vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của đồng bào Chính vì vậy, lợi dụngvấn đề thiếu thông tin chính thống, các thế lực thù địch đã lợi dụng để tuyêntruyền các tư tưởng thù địch, trái chiều gây mất đoàn kết, mất ổn định nội bộ

để phá hoại khối đại đoàn kết Việc tăng cường công tác thông tin tuyêntruyền chính trị, thời sự sẽ giúp đồng bào có thêm hiểu biết, nâng cao nhậnthức và ý thức trong việc xây dựng đời sống văn hóa mới, giữ gìn tinh thầnđoàn kết dân tộc và đấu tranh với các luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, kíchđộng thù địch

+ Tuyên truyền về đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội tại các địabàn vùng dân tộc thiểu số Hiện nay, cũng do nhận thức còn hạn chế, kẻ xấucũng không ngừng tuyên truyền lôi kéo, dụ dỗ, lừa gạt đồng bào là người dântộc thiểu số đi theo các tà đạo, tin vào các thế lực siêu nhiên, mê tín dị đoan…

từ đó có những hành vi vi phạm đạo đức, văn hóa, tín ngưỡng truyền thốngnhư: Đập bỏ bàn thờ, bát hương, không thờ cúng tổ tiên, không công nhậncha, mẹ v vv Bên cạnh đó, hiểu biết về mặt luật pháp của đồng bào cũngcòn nhiều hạn chế nên nhiều người đã vô tình có việc làm, hành vi vi phạmcác qui định của pháp luật dẫn đến hậu quả đáng tiếc Đặc biệt nổi cộm là cácvấn đề về an toàn giao thông, di dịch cư tự do, lao động tự do qua biên giớitrái phép, tranh chấp đất đai, nguồn nước… Thực tế cho thấy, chỉ có làm tốtcông tác thông tin tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho đồng bào các dân tộcthiểu số mới có thể giải quyết được triệt để vấn đề đảm bảo an ninh chính trị,trật tự an toàn xã hội trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số

+ Thông tin tuyên truyền nhằm góp phần bảo tồn, giữ gìn và phát huybản sắc văn hóa dân tộc, ngôn ngữ riêng của đồng bào các dân tộc thiểu số.Thực tế hiện nay, do quá trình phát triển kinh tế xã hội, đời sống hiện đại và

xu thế hội nhập, xâm lấn văn hóa đang đặt ra nhiều vấn đề cần quan tâm.Trong đó, vấn đề đặc biệt cấp bách đặt ra là bản sắc văn hóa cũng như ngôn

Trang 28

ngữ của các dân tộc thiểu số đã và đang bị mai một nhanh chóng, thậm chí códân tộc gần như đã mai một hoàn toàn các nét văn hóa và ngôn ngữ đặc trưngriêng Trong bối cảnh toàn cầu hoá, văn hoá là một lĩnh vực dễ bị tổn thương,trong đó bản sắc văn hoá, văn hoá truyền thống dễ bị tổn thương hơn cả, đặcbiệt là văn hoá các dân tộc thiểu số Do đó, các chương trình phát thanh tiếngdân tộc với lợi thế của mình, sẽ góp phần quan trọng trong việc quảng bá, bảotồn, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc, bảo tồn, gìn giữ ngôn ngữ của cácdân tộc thiểu số Tất nhiên, phải xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa bảo vệ bảnsắc văn hoá dân tộc với tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hoá nhân loại đểthúc đẩy nền văn hoá Việt Nam phát triển bền vững

+ Tuyên truyền, động viên cổ vũ quá trình phát triển kinh tế xã hội, xâydựng đời sống văn hóa, vật chất và tinh thần cho đồng bào các dân tộc thiểu

số Đặc biệt là các thông tin, chương trình về xóa đói giảm nghèo, xây dựngnông thôn mới, những mô hình hay, cách làm sáng tạo của đồng bào, gươngngười tốt việc tốt trong đời sống thường ngày Qua đó, cung cấp thông tin,kiến thức, góp phần hướng dẫn, khuyến khích đồng bào áp dụng khoa học kĩthuật, kinh nghiệm làm ăn để phát triển toàn diện kinh tế xã hội Đồng thời,nâng cao đời sống văn hóa, văn nghệ cho đồng bào các dân tộc thiểu số, đẩylùi các tai, tệ nạn xã hội, xóa bỏ mê tín dị đoan, các hủ tục, phong tục lạc hậu,không phù hợp với thuần phong mỹ tục của người Việt Nam nói chung, củađồng bào các dân tộc thiểu số nói riêng Thông qua công tác tuyên truyềnbằng chương trình tiếng dân tộc, thực hiện tốt quan điểm của Đảng và nhànước về toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, thực hiệnnếp sống văn hóa xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn hiện nay

1.2.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác thông tin, tuyên truyền bằng tiếng dân tộc

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói:" Đồng bào Kinh hay Thổ,

Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu

Trang 29

số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau ”

Với vai trò và vị trí quan trọng của mình trong công cuộc xây dựng đấtnước, công tác dân tộc được Đảng và Nhà nước ta hết sức chú ý Văn kiện đạihội lần thứ 8 của Đảng đã khẳng định:

“Vấn đề dân tộc có vị trí chiến lược lớn Thực hiện bình đẳng đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc trong sự nghiệp đổi mới công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước….bằng nhiều biện pháp tích cực và vững chắc, thực hiện cho được nội dung chủ yếu: Xóa đói giảm nghèo, ổn định và cải thiện đời sống, sức khỏe của đồng bào dân tộc, xóa được mù chữ, nâng cao dân trí, tôn trọng và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, xây dựng cơ sở chính trị, xây dựng đội ngũ cán bộ Đảng viên của các dân tộc các vùng, các cấp trong sạch và vững mạnh”.

Đến Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, vấn đề dân tộctiếp tục được khẳng định trong Nghị quyết:

“Đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là động lực và nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo Phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực, mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” làm điểm tương đồng; tôn trọng những điểm khác biệt không trái với lợi ích chung của quốc gia - dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước, tăng cường quan hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước, tạo sinh lực mới của khối đại đoàn kết toàn dân tộc”.

Nhờ sự quan tâm, đầu tư của Đảng và Nhà nước mà những năm gầnđây, các vùng dân tộc thiểu số đã có những bước tiến đáng kể, từng bước

Trang 30

thoát khỏi cuộc sống nghèo nàn, lạc hậu để tiếp cận với đời sống văn minhhiện đại, kinh tế phát triển, văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu sốđược tôn trọng, giữ gìn và phát huy

Quan điểm của Đảng về vấn đề dân tộc rất rõ ràng và nhất quán: Bìnhđẳng và đoàn kết các dân tộc, đưa miền núi tiến kịp miền xuôi, các dân tộcthiểu số tiến kịp dân tộc đa số, góp phần vào sự nghiệp mạng chung của cảnước Muốn thực hiện được chính sách ấy không thể thiếu lĩnh vực truyềnthông, nhất là thông tin tuyên truyền bằng tiếng dân tộc

Trong những năm qua, để cụ thể hóa quan điểm trên, Đảng và Nhànước, Chính phủ đã rất coi trọng, quan tâm đầu tư phát triển thông tin truyềnthông bằng tiếng dân tộc ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số Cụ thể như việctăng cường mở rộng đưa thông tin về cơ sở, cung cấp miễn phí báo, tạp chí,máy thu thanh, máy thu hình cho đồng bào Xây dựng, củng cố hệ thốngthông tin về tình hình dân tộc và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc Đặcbiệt, những năm gần đây đã phát triển thêm các kênh thông tin chuyên biệtcho đồng bào dân tộc thiểu số, tăng cường và nâng cao chất lượng sử dụngngôn ngữ, văn hóa dân tộc thiểu số trên các phương tiện thông tin đại chúng.Mục tiêu lớn nhất là thực hiện quyền bình đẳng, đoàn kết, tương trợ cùng pháttriển giữa các dân tộc trong sự nghiệp đổi mới và xây dựng đất nước Đểnhững chính sách này đi vào cuộc sống, công tác thông tin tuyên truyền luônđược xác định đóng vai trò quan trọng

Công tác tuyên truyền ở vùng dân tộc miền núi là cơ sở để đạt nhữngthắng lợi trên các mặt công tác khác, với vai trò không chỉ đặt nền móng màcòn mở đường cho mọi hoạt động, công tác ở vùng dân tộc và miền núi

Tuy nhiên, để đảm bảo được hiệu quả của công tác tuyên truyền thìhình thức, phương thức tuyên truyền phải phù hợp với nhận thức, trình độ dântrí, khả năng tiếp nhận thông tin của đồng bào là người dân tộc thiểu số

Trang 31

Trong đó, một trong những giải pháp quan trọng chính là việc thực hiện tuyêntruyền bằng chính ngôn ngữ của đồng bào dân tộc thiểu số trên sóng phátthanh, truyền hình ở các cơ quan thông tấn, báo chí trung ương và địaphương Sự ra đời Hệ phát thanh tiếng dân tộc VOV4 của Đài TNVN, kênhtruyền hình dân tộc VTV5 của Đài THVN và các chương trình phát thanhtruyền hình tiếng dân tộc của nhiều đài PT-TH địa phương trên cả nước chính

là minh chứng cho sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và Chính phủ về côngtác thông tin, tuyên truyền bằng tiếng dân tộc cho vùng đồng bào dân tộcthiểu số Điều đó đã thể hiện được vị trí, vai trò và tầm quan trọng của côngtác tuyên truyền bằng tiếng dân tộc trong công tác thông tin, tuyên truyền.Trên cơ sở đó, tiếp tục thực hiện có hiệu quả việc phủ sóng phát thanh, truyềnhình đi đôi với nâng cao chất lượng các chương trình phát thanh, truyền hìnhbằng tiếng dân tộc thiểu số trong vùng đồng bào dân tộc giai đoạn hiện nay

1.3 Yêu cầu, điều kiện tổ chức sản xuất chương trình phát thanh tiếng dân tộc đạt hiệu quả

1.3.1 Yêu cầu tổ chức sản xuất chương trình phát thanh tiếng dân tộc

Như đã khẳng định ở phần đầu của luận văn, chương trình phát thanh

tiếng dân tộc là một chương trình phát thanh chuyên biệt Do đó, quá trình,

qui trình thực hiện tổ chức sản xuất chương trình phát thanh nói chung,chương trình phát thanh tiếng dân tộc nói riêng có thể có sự khác nhau nhấtđịnh Tuy nhiên, theo tác giả luận văn, để thực hiện tổ chức sản xuất chươngtrình phát thanh tiếng dân tộc hiệu quả vẫn phải đảm bảo các yêu cầu sau đây:

1.3.1.1 Xác định nội dung chương trình, kế hoạch tuyên truyền cụ thể

Việc xác định chiến lược truyền thông, kế hoạch tuyên truyền là yêucầu quan trọng hàng đầu để tổ chức sản xuất chương trình phát thanh tiếngdân tộc có hiệu quả Nó chính là một hành lang để quá trình truyền thông,tuyên truyền cho đồng bào các dân tộc thiểu số không đi chệch hướng Đồng

Trang 32

thời, nó cũng chính là việc xác định được mục tiêu mà chương trình phátthanh tiếng dân tộc muốn đạt được Tùy theo thực tế và điều kiện cụ thể của

cơ quan báo chí mà tiến hành xây dựng chiến lược truyền thông, có thể làchiến lược ngắn hạn, trung hạn hay dài hạn, có thể ở diện rộng, có thể ở diệnhẹp Từ chiến lược truyền thông, tiếp tục xây dựng các kế hoạch tuyên truyền

ở góc độ cụ thể hơn, là kế hoạch theo từng chương trình, từng ngày, từngtháng, từng năm…hoặc theo từng sự kiện đơn lẻ, theo chuỗi sự kiện diễn ratrong thời gian dài

Việc xác định nội dung, kế hoạch tuyên truyền cụ thể, dài hạn thường

là do Ban Giám đốc, Ban Biên tập của các cơ quan báo chí thực hiện Cònviệc xây dựng kế hoạch tuyên truyền dựa trên nội dung đó là do bộ phận phụtrách, người phụ trách hoặc Trưởng phòng, Trưởng ban Dân tộc…thực hiện

Điều này sẽ đảm bảo việc tổ chức sản xuất chương trình phát thanhtiếng dân tộc theo đúng trọng tâm, nội dung, yêu cầu đã được xác định Mỗichương trình sẽ có mục tiêu cụ thể, gắn với đời sống chính trị xã hội, an ninhquốc phòng, kinh tế, môi trường, văn hóa, giáo dục…và thường là các sựkiện, hiện tượng đang được người dân và cộng đồng quan tâm, chú ý

Qua nghiên cứu thực tế và quá trình hoạt động báo chí tại địa phương,tác giả luận văn nhận thấy: Việc xây dựng kế hoạch truyền thông và xây dựng

kế hoạch tuyên truyền cụ thể có ý nghĩa rất quan trọng Xác định rõ ràng, cụthể mục tiêu, nội dung của chương trình phát thanh tiếng dân tộc sẽ tạo sựthống nhất và bám sát với thực tế đang diễn ra tại địa phương Cụ thể, đó làcác sự kiện, hiện tượng, chuỗi sự kiện liên quan mật thiết đến các chủ trương,chính sách, chương trình của Đảng và nhà nước, của địa phương liên quanđến đời sống tinh thần, vật chất, hoạt động sinh hoạt sản xuất của đồng bàocác dân tộc Mông, Tày, Dao… Đây là những nội dung, thông tin tác động

Trang 33

trực tiếp đến đồng bào, nói cách khác, nó gắn với lợi ích của đồng bào dân tộcthiểu số nên sẽ được quan tâm, chú ý

Việc xây dựng kế hoạch truyền thông, kế hoạch tuyên truyền cũng phảichú ý đến đặc điểm tiếp nhận thông tin của đồng bào dân tộc Từ đó, trongquá trình tổ chức sản xuất chương trình phát thanh tiếng dân tộc phải có hìnhthức, cách thức lồng ghép, đan xen giữa các nội dung thông tin có tính thời

sự, chính trị, pháp luật với các thông tin, nội dung mang tính giải trí, văn hóavăn nghệ một cách hợp lý

1.3.1.2 Lập kế hoạch thực hiện tin bài, phân công nhiệm vụ cho người tham gia tổ chức sản xuất chương trình phát thanh tiếng dân tộc

Đây là yếu tố quan trọng, bởi để thực hiện tổ chức sản xuất chươngtrình thì phải có nguyên liệu, tức là tin, bài…và có sự tham gia của các thànhviên được phân công nhiệm vụ cụ thể, theo từng công đoạn để quá trình sảnxuất chương trình được liền mạch, khép kín thông suốt Mọi thành viên đềuthực hiện theo kế hoạch và có sự phối hợp chặt chẽ

Với chương trình phát thanh tiếng dân tộc, phải có sự điều tiết, dunghòa, đan xen trong việc xây dụng kết cấu chuong trình (vỏ chương trình) mộtcách hợp lý Đó là sự đan xen giữa tin tức với bài, phóng sự, chuyên mục vớithời lượng hợp lý để thính giả là đồng bào dân tộc có khả năng tiếp nhận hiệuquả nhất những thông tin chuyển tải qua chương trình

Thực tế, một chương trình phát thanh tiếng dân tộc luôn sử dụng cácthể loại tin tiếng băng, tin có tiếng động hiện trường, phóng sự, chuyên trang,chuyên mục theo kết cấu của từng chương trình phát thanh tiếng dân tộc phátsóng cụ thể Tuy nhiên với điều kiện dân trí, trình độ tiếp nhận còn có hạn chếnhất định, chương trình phát thanh tiếng dân tộc nên có nhiều mục, tin tứcphải thật sự ngắn gọn, dễ hiểu, đa dạng, mỗi chương trình cũng chỉ nên có 1 -

2 bài có thời lượng dài, từ 5 phút trở lên

Trang 34

1.3.1.3 Lên kịch bản và biên tập chương trình

Lên kịch bản là khâu quan trọng trong quá trình tổ chức sản xuấtchương trình phát thanh nói chung, chương trình phát thanh tiếng dân tộc nóiriêng Ở nhiều đài địa phương, trong đó có Đài PT-TH Hà Giang, khâu nàyđược gọi là thiết kế lịch phát sóng Có 2 loại lịch phát sóng được thiết kế:Lịch ngày và lịch chi tiết

- Người thực hiện ( hoặc Phòng chuyên môn thực hiện)

Kịch bản chi tiết là kịch bản dành cho người dẫn tại phòng thu hoặc

dẫn trực tiếp tại hiện trường Từ lịch phát sóng, công tác biên tập sẽ lên khung

chương trình theo đúng cấu trúc, thời lượng quy định sẵn và sắp xếp tin bài từnhiều nguồn khác nhau ( tin , bài do phóng viên thực hiện, tin bài trao đổi, tinbài khai thác trên báo…) theo một trình tự nhất định và lên vỏ chương trìnhphát sóng Bình thường, biên tập viên sẽ lựa chọn những thông tin mang tínhthời sự và thiết thực để biên tập lại sao cho ngắn gọn, hấp dẫn; cấu trúc tácphẩm rõ ràng, dễ hiểu; âm thanh trong tác phẩm có sự hài hòa, sinh động, lờinói rõ ràng, tiếng động phải hợp lý

Trên cơ sở đó, bản thân Biên tập viên, Phát thanh viên hoặc người dẫnchương trình sẽ viết lời dẫn xâu chuỗi tin/bài thành một chương trình Khibiên tập và viết lời dẫn cho từng tin, bài hay cho cả một chương trình ( ví dụchương trình phát thanh tiếng dân tộc làm trực tiếp tại hiện trường) đều cầnhết sức lưu ý những yêu cầu nêu trên bởi đặc điểm của thính giả là đồng bào

Trang 35

dân tộc là càng được viết đơn giản, ngắn gọn rõ ràng thì càng dễ tiếp nhận vàtiếp nhận đầy đủ hơn Với các tác phẩm do phóng viên của tiếng dân tộc tựsản xuất để đưa vào chương trình, các phóng viên người dân tộc thiểu số pháthiện đề tài, sau đó đi tác nghiệp, ghi âm phát biểu, viết lời bình bằng tiếng củadân tộc mình, đọc và dựng hoàn thiện tác phẩm.

1.3.1.4 Sản xuất chương trình và phát sóng

Sau khi cả lịch phát sóng, vỏ chương trình và kịch bản chi tiết đượcduyệt, phát thanh viên - dẫn chương trình hoặc biên tập viên cùng ê kíp cán

bộ kĩ thuật tiến hành thực hiện thu âm tại phòng thu Trong quá trình thu, các

bộ phận Biên tập, người dẫn, phát thanh viên, kĩ thuật viên phải có sự phốihợp nhịp nhàng Cùng chia sẻ và có những điều chỉnh cần thiết để xử lý cáctình huống nảy sinh và hoàn thiện toàn bộ tác phẩm, chương trình phát sóng

Bên cạnh đó, từ thực tế hoạt động báo chí của cá nhân, theo tác giả luậnvăn, khâu phát sóng cũng cần được xem là một khâu của quy trình tổ chức sảnxuất chương trình phát thanh nói chung, chương trình phát thanh tiếng dân tộcnói riêng

Quá trình phát sóng Radio FM (sưu tầm)

:

Trang 36

1.3.2 Điều kiện để tổ chức sản xuất chương trình phát thanh tiếng dân tộc

Chương trình phát thanh tiếng dân tộc dành cho nhóm thính giả là đồngbào dân tộc thiểu số (cụ thể ở đây là đồng bào các dân tộc Mông, Tày, Dao)cần có những tiêu chí, đặc điểm, đặc thù riêng để đáp ứng nhu cầu tiếp nhậnthông tin thời sự, chính trị, kinh tế, văn hóa… mà chương trình tác động đếnnhằm đạt được hiệu quả truyền thông tốt nhất Chính vì vậy, để tổ chức sảnxuất chương trình phát thanh tiếng dân tộc hiệu quả, đảm bảo đúng theo cácyêu cầu đã nêu thì phải có các điều kiện cụ thể

1.3.2.1 Điều kiện về nguồn nhân lực

Trong bất kỳ quy trình tổ chức sản xuất nào thì nguồn nhân lực, tức yếu

tố con người cũng là điều kiện tiên quyết, quan trọng nhất Do đó, để tổ chứcsản xuất chương trình phát thanh tiếng dân tộc được hiệu quả thì cần phải cónguồn nhân lực đủ đáp ứng được các yêu cầu của công việc trong quá trình tổchức sản xuất Nguồn nhân lực đó phải qua đào tạo và đạt yêu cầu về trình độhọc vấn, trình độ chuyên môn báo chí nói chung cũng như chuyên ngành phátthanh nói riêng Cụ thể:

+ Đối với đội ngũ Phóng viên: Phải là những người đã qua đào tạo cơ

bản về báo chí, ít nhất ở bậc Trung cấp trở lên, có hiểu biết về văn hóa dântộc, bản sắc văn hóa của các dân tộc trên địa bàn Có khả năng sử dụng thànhthạo các trang thiết bị, khoa học công nghệ phục vụ tác nghiệp tại hiện trườnghoặc trong phòng thu âm cũng như có khả năng thực hiện viết các tin, bàiđảm bảo theo yêu cầu của Ban biên tập

+ Đối với đội ngũ Biên tập viên, Biên dịch viên: Vì là chương trình

tiếng dân tộc, nên đội ngũ biên tập viên, biên dịch viên có vai trò rất quantrọng trong quá trình tổ chức sản xuất Đây phải là những người thực sự cókiến thức, được đào tạo về chuyên ngành báo chí Đồng thời, phải có sự am

Trang 37

hiểu về văn hóa, bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số, đặc biệt là phải có trình

độ, sự am hiểu sâu sắc về ngôn ngữ, tiếng dân tộc thiểu số mà họ biên tập,biên dịch cho chương trình phát thanh

+ Đối với đội ngũ Phát thanh viên: Phát thanh viên có thể không yêu

cầu quá cao về trình độ chuyên môn báo chí song, phải là người dân tộc thiểu

số Có sự hiểu biết sâu về ngôn ngữ, tiếng dân tộc thiểu số và có khả năng thểhiện một cách truyền cảm, hấp dẫn, tròn vành, rõ chữ để thu hút thính giả quacác chương trình phát thanh tiếng dân tộc

+ Đối với đội ngũ Kỹ thuật viên: Là những người có trình độ, hiểu biết

về khoa học công nghệ thông tin Có khả năng sử dụng thành thạo các trangthiết bị, máy móc kĩ thuật chuyên dụng, các phần mềm thu âm và xử lý âmthanh trong quá trình trình thu âm, ghép chương trình cũng như phát sóngchương trình

1.3.2.2 Điều kiện về thiết bị kĩ thuật, công nghệ

Hiện nay, khoa học kĩ thuật, công nghệ đã và đang phát triển vô vùngmạnh mẽ, ngày càng hiện đại Nó đã tác động vô cùng lớn đến báo chí truyềnthông, nhất là ở hạ tầng thông tin Khoa học công nghệ, trang thiết bị kĩ thuậthiện đại đã giúp cho quá trình tổ chức sản xuất chương trình được nhanh hơn,giải phóng bớt sức người cũng như số lượng người tham gia trong quá trình tổchức sản xuất chương trình Đối với tổ chức sản xuất chương trình phát thanhnói chung, chương trình phát thanh tiếng dân tộc nói riêng cũng cần phải đảmbảo các điều kiện về kĩ thuật, khoa học công nghệ

+ Đảm bảo trang thiết bị chuyên dụng dành cho đội ngũ phóng viên, biên tập viên trong quá trình tác nghiệp: Các trang thiết bị, phương tiện này

bao gồm: Máy ghi âm chuyên dụng, thế hệ mới, máy tính xách tay cấu hìnhcao có cài đặt các phần mềm biên tập âm thanh chuyên nghiệp, có khả năngkết nối mạng Internet tốc độ cao, băng thông rộng Đây là những thiết bị cơ

Trang 38

bản không thể thiếu để đảm bảo quá trình tác nghiệp tại hiện trường chophóng viên, biên tập viên.

+ Phòng thu âm (bá âm) hiện đại, đảm bảo tiêu chuẩn về âm thanh trong quá trình thu âm các chương trình: Trong phòng thu cũng cần phải có

hệ thống micro, bàn Mixer âm thanh, hệ thống máy tính cấu hình cao được càiđặt các phần mềm biên tập âm thanh chuyên nghiệp, phiên bản mới Hạ tầngkết nối qua mạng Internet hoặc qua mạng nội bộ (mạng LAN) phải có tốc độcao để nhận hoặc các file âm thanh hoặc các chương trình đã thu âm ở địnhdạng chất lượng cao

+ Tự động hóa trong phát sóng chương trình: Ứng dụng công nghệ

thông tin để phát sóng chương trình tự động thông qua hệ thống máy tính vàcác phần mềm phát sóng tự động chuyên dụng Các hệ thống máy tính, phầnmềm phát sóng tự động phải đảm bảo tương thích với hệ thống máy tính củaPhóng viên, Biên tập viên và của Phòng thu âm Hệ thống phát sóng tự độngphải đảm bảo an toàn tuyệt đối về mặt an ninh mạng, chống xâm nhập từ bênngoài để can thiệp vào chương trình phát sóng

1.3.2.3 Điều kiện về tài chính, kinh phí

Nguồn tài chính, kinh phí được dùng trong quá trình tổ chức sản xuấtchương trình phát thanh tiếng dân tộc phải đảm bảo để chi trả cho các phầncông việc, các thao tác trong quá trình tổ chức sản xuất theo quy định củapháp luật Nguồn tài chính, kinh phí này có thể đến từ các nguồn cơ bản như:Nguồn kinh phí được cấp từ ngân sách nhà nước, nguồn kinh phí từ hoạt độngkinh tế báo chí truyền thông ( bao gồm nguồn thu từ quảng cáo và nguồn kinhphí từ hoạt động xã hội hóa) Các nguồn tài chính, kinh phí này để thực hiệncho các mục đích cơ bản sau:

+ Chi trả nhuận bút tin, bài cho cho những người tham gia quá trình

tổ chức sản xuất chương trình: Những người này bao gồm: Phóng viên, biên

Trang 39

tập viên, biên dịch viên, phát thanh viên, kĩ thuật viên, người duyệt tin bài…

và được tính tỷ lệ theo mức độ công việc, phần việc được giao trong tổ chứcsản xuất chương trình và được gọi là nhuận bút trực tiếp Một phần tỷ lệnhuận bút dành cho những người không tham gia tổ chức sản xuất trực tiếpnhưng có liên đới trong hoạt động tổ chức sản xuất (như nhân viên hànhchính, lái xe) được gọi là nhuận bút gián tiếp

+ Nguồn kinh phí đầu tư sửa chữa, mua sắm trang thiết bị: Bao gồm

đầu tư kinh phí cho sửa chữa, mua sắm các trang thiết bị, kĩ thuật, khoa họccông nghệ dùng trong sản xuất chương trình Với sự thay đổi ngày càngnhanh về công nghệ như hiện nay thì nguồn kinh phí đầu tư cho lĩnh vực nàycũng ngày càng nhiều Bên cạnh đó, là kinh phí đầu tư mua sắm thiết bị phục

vụ hoạt động tổ chức sản xuất chương trình, như: bàn ghế, đèn, máy tính, máyin vv v… Kinh phí dành cho lĩnh vực này không quá lớn nhưng cần thiết đểphục vụ cho hoạt động tổ chức sản xuất chương trình phát thanh tiếng dântộc

+ Nguồn kinh phí dành cho các khoản chi khác: Đây là nguồn kinh

phí được sử dụng để thực hiện chi cho các hoạt động nằm ngoài hai lĩnh vực

đã nêu trên Bao gồm: chi trả chả công tác phí, hỗ trợ độc hại, kinh phí thi đuakhen thưởng, kinh phí hoạt động của các hội, đoàn thể thuộc đơn vị và cáckhoản chi thường xuyên Nguồn kinh phí này cũng cần phải có để đảm bảothực hiện hoạt động, động viên, khen thưởng cho cán bộ, công nhân viên thiđua hoàn thành các phần việc, năng động, sáng tạo trong thực hiện tác phẩmcũng như quá trình tổ chức sản xuất chương trình Qua đó, đảm bảo được hiệuquả hoạt động cũng như hiệu quả trong quá trình thực hiện tổ chức chươngtrình phát thanh tiếng dân tộc hiện nay

Trang 40

Tiểu kết chương 1

Qua các nội dung nêu trên, ở chương 1, tác giả luận văn đã trình bày về

cơ sở lý luận về tổ chức sản xuất, tổ chức sản xuất chương trình phát thanhnói chung, chương trình phát thanh tiếng dân tộc nói riêng Đồng thời, xácđịnh rõ chương trình phát thanh tiếng dân tộc cần phải đảm bảo các yêu cầu,điều kiện như sau:

Phải nâng cao nhận thức chính trị cho đồng bào dân tộc thiểu số trênđịa bàn Phản ánh toàn diện về các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội,đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số Nội dung tin,bài đảm bảo tính chính trị, khách quan, ngắn gọn hấp dẫn, kết cấu hợp lý, đápứng được sự thỏa mãn về nhu cầu và tâm lý tiếp nhận thông tin gắn với giảitrí của đồng bào các dân tộc Mông, Tày, Dao

Để tổ chức sản xuất chương trình phát thanh tiếng dân tộc hiệu quả thìphải đảm bảo các yêu cầu, điều kiện phục vụ cho quá trình tổ chức sản xuất.Đặc biệt là phải chú trọng xây dựng nguồn nhân lực đảm bảo số lượng và chấtlượng, đầu tư trang thiết bị kĩ thuật hiện đại và đảm bảo nguồn kinh phí phùhợp cho toàn bộ quá trình tổ chức sản xuất chương trình phát thanh tiếng dântộc Từ đó, góp phần nâng cao quả tuyên truyền bằng tiếng dân tộc trong giaiđoạn hiện nay

Ngày đăng: 14/08/2022, 00:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w