Đại hội lần thứ III: Mục tiêu cơ bản của công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc được xácđịnh tại Đại hội lần thứ III của Đảng là: "Xây dựng một nền kinh tế xã hội chủ nghĩacân đối v
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
-o0o -Bài tập nhỏ Chủ đề 3: Đường lối công nghiệp hóa GVHD: Nguyễn Hữu Kỷ Tỵ Lớp: L05 Nhóm: 7 Họ và tên: MSSV: Tạ Hoàng Nam 1813172
Chung Hữu Nhân 1710215
Hoàng Tấn Phát 1811137
Phạm Thanh Phong 2037031
Phạm Thiên Phú 1813545
Trang 2Mục lục
1 Nội dung đường lối Công nghiệp hóa của Đảng trước đổi mới (năm
1960-1986): 3
1.1 Hoàn cảnh lịch sử: 3
1.2 Nội dung qua các kỳ Đại hội: 3
1.3 Đánh giá, nhận xét tổng quát: 5
2 Nội dung đường lối Công nghiệp hóa của Đảng trong giai đoạn hiện nay: 6
2.1 Hoàn cảnh lịch sử: 6
2.2 Nội dung qua các kỳ Đại hội: 6
2.3 Đánh giá, nhận xét tổng quát: 19
3 So sánh điểm giống nhau và khác nhau trong đường lối Công nghiệp hóa của Đảng thời kỳ trước đổi mới và từ đổi mới cho đến nay: 19
3.1 Giống nhau: 19
3.2 Khác nhau: 20
4 Tài liệu tham khảo: 23
Trang 31 Nội dung đường lối Công nghiệp hóa của Đảng trước đổi mới (năm 1986):
1960-1.1 Hoàn cảnh lịch sử:
Sau 5 năm thực hiện khôi phục kinh tế và cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, Đại hộiđại hiểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (tháng 9-1960) đã khẳng định: " miền Bắcnước ta cần phải tiến ngay vào cách mạng xã hội chủ nghĩa, và có đủ điều kiện để bỏqua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa mà tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội"
1.2 Nội dung qua các kỳ Đại hội:
1.2.1 Đại hội lần thứ III:
Mục tiêu cơ bản của công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc được xácđịnh tại Đại hội lần thứ III của Đảng là: "Xây dựng một nền kinh tế xã hội chủ nghĩacân đối và hiện đại, kết hợp công nghiệp với nông nghiệp và lấy công nghiệp nặnglàm nền tảng, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời ra sứcphát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, nhằm biến nước ta từ một nước nôngnghiệp lạc hậu thành một nước có công nghiệp hiện đại và nông nghiệp hiện đại"
Quá trình công nghiệp hóa của nước ta diễn ra trong bối cảnh tình hình trongnước và quốc tế luôn diễn biến phức tạp và không thuận chiều Thực hiện công nghiệphóa được 4 năm (1960 – 1964) thì đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại ra miềnBắc Đất nước phải trực tiếp thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: Miền Bắcvừa chiến đấu chống chiến tranh phá hoại, vừa xây dựng kinh tế, miền Nam thực hiệncách mạng giải phóng dân tộc
Điểm xuất phát của Việt Nam khi bước vào thực hiện công nghiệp hóa rất thấp.Năm 1960, công nghiệp chiếm tỷ trọng 18,2% và 7% lao động xã hội; tương ứng nôngnghiệp chiếm tỷ trọng 42,3% và 83% Sản lượng lương thực/người dưới 300 kg;GDP/người dưới 100 USD Trong khi phân công lao động chưa phát triển và lao độngsản xuất còn ở trình độ thấp thì quan hệ sản xuất đã được đẩy lên trình độ tập thể hóa
và quốc doanh hóa là chủ yếu ( đến năm 1960: 85,8% nông dân vào hợp tác xã; 100%
hộ tư sản được cải tạo, gần 80% thợ thủ công cá thể vào hợp tác xã tiểu thủ côngnghiệp) Trong bối cảnh đó, Đại hội Đảng lần thứ III xác định rõ mục tiêu cơ bản của
Trang 4công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là xây dựng một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa cânđối và hiện đại; bước đầu xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội.
Đó là mục tiêu cơ bản, lâu dài, phải thực hiện qua nhiều giai đoạn
1.2.2 Đại hội lần thứ IV:
Ngày 30-4-1975, miền Nam được giải phóng, đất nước hoàn toàn độc lập,thống nhất cùng quá độ lên chủ nghĩa xã hội Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IVcủa Đảng (tháng 12-1976) đã đề ra đường lối công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa: "Đẩymạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủnghĩa xã hội, đưa nền kinh tế nước ta từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủnghĩa, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nôngnghiệp và công nghiệp nhẹ, kết hợp xây dựng công nghiệp và nông nghiệp cả nướcthành một cơ cấu kinh tế công - nông nghiệp; vừa xây dựng kinh tế trung ương vừaphát triển kinh tế địa phương, kết hợp kinh tế trung ương với kinh tế địa phương trongmột cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất"
Những thay đổi trong chính sách công nghiệp hóa dù còn chưa thật rõ nét songcũng đã tạo một sự thay đổi nhất định trong phát triển:
+ Số xí nghiệp công nghiệp quốc doanh tăng từ 1913 cơ sở năm 1976 lên
2627 cơ sở năm 1980 và 3220 cơ sở năm 1985
+ 1976 – 1978 công nghiệp phát triển khá Năm 1978 tăng 118,2% so vớinăm 1976
Tuy nhiên, do trên thực tế chúng ta chưa có đủ điều kiện để thực hiện (nguồnviện trợ từ nước ngoài đột ngột giảm, cách thức quản lý nền kinh tế nặng tính quanliêu, bao cấp, nhiều công trình nhà nước xây dựng dở dang vì thiếu vốn, công nghiệptrung ương giảm, nhiều mục tiêu không đạt được…) nên đây vẫn là sự biểu hiện của
tư tưởng nóng vội trong việc xác định bước đi, và sai lầm trong việc lựa chọn ưu tiêngiữa công nghiệp và nông nghiệp Kết quả là thời kỳ 1976 – 1980 nền kinh tế lâm vàokhủng hoảng, suy thoái, cơ cấu kinh tế mất cân đối nghiêm trọng
1.2.3 Đại hội lần thứ V:
Sau 5 năm thực hiện đường lối công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa do Đại hội IV
đề ra (1976 - 1981) Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng (tháng 3-1982) đã
có sự điều chỉnh: “Cần lập trung sức phát triển mạnh nông nghiệp, coi nông nghiệp là
Trang 5mặt trận hàng đầu, đưa nông nghiệp một bước lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, rasức đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng và tiếp tục xây dựng một số ngành công nghiệpnặng quan trọng; kết hợp nông nghiệp, công nghiệp hàng tiêu dùng và công nghiệpnặng trong một cơ cấu công - nông nghiệp hợp lý" Đó là sự điều chỉnh đúng đắn,phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam Tuy nhiên, trong những năm 1960 - 1985,chúng ta đã không làm đúng sự điều chỉnh chiến lược quan trọng này.
Một vài thành tựu đạt được:
+ Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 1981 là 2,3%, năm 1985 là 5,7%
+ Tốc độ tăng trưởng công nghiệp năm 1981 là 9,5%
+ Tốc độ tăng trưởng nông nghiệp năm 1981 là 5,3%, năm 1985 là 3%
+ Năm 1985, công nghiệp nhóm A chiếm 32,7%, công nghiệp nhẹ 67,3%,tiểu thủ công nghiệp 43,5%, công nghiệp địa phương 66%, công nghiệp quốc doanh
và công tư hợp doanh 56,5%
+ Tỷ trọng công nghiệp tăng từ 20,2% năm 1980 lên 30% năm 985
+ Nhập khẩu lương thực giảm hẳn so với 5 năm trước (từ 5,6 triệu tấn thời kỳ1976-1980 xuống 1 triệu tấn thời kỳ 1981-1985)
Tuy nhiên, trên thực tế chính sách này vẫn không có mấy thay đổi so với trước.Mặc dù nông nghiệp được xác định là mặt trận hàng đầu nhưng Đại hội vẫn xác định
“Xây dựng cơ cấu công nghiệp - nông nghiệp hiện đại, lấy hệ thống công nghiệp nặngtương đối phát triển làm nòng cốt” Sự điều chỉnh không dứt khoát đó đã khiến chonền kinh tế Việt Nam không tiến xa được bao nhiêu, trái lại còn gặp nhiều khó khăn
và khuyết điểm mới, tình hình kinh tế- xã hội và đời sống nhân dân sau 5 năm khôngnhững không ổn định được mà còn lâm vào khủng hoảng trầm trọng
Trang 6doanh nghiệp Nhà nước; việc phân bổ nguồn lực để công nghiệp hóa chủ yếu bằng cơchế kế hoạch hóa tập trung quan liêu trong nền kinh tế thị trường.
+ Nóng vội, giản đơn, chủ quan duy ý chí, ham làm nhanh, làm lớn, khôngquan tâm đến hiệu quả kinh tế xã hội
2 Nội dung đường lối Công nghiệp hóa của Đảng trong giai đoạn hiện nay:
2.1 Hoàn cảnh lịch sử:
2.1.1 Thế giới:
Từ giữa những năm 1980, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ tiếp tục pháttriển mạnh mẽ, tác động sâu sắc đến mọi mặt đời sống của các quốc gia, dân tộc Cácnước xã hội chủ nghĩa lâm vào khủng hoảng sâu sắc Đến năm 1991, chế độ xã hộichủ nghĩa ở Liên Xô sụp đổ dẫn đến những biến đổi to lớn về quan hệ quốc tế Trật tựthế giới trên cơ cở hai khối độc lập do Liên Xô và Hoa Kỳ đứng đầu tan rã, mở ra thời
kỳ hình thành một trật tự thế giới mới
Dù những cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột, tranh chấp vẫn còn, nhưng xu thếchung của thế giới mới là hòa bình và hợp tác phát triển và toàn cầu hóa Các nước đổimới tư duy về quan niệm sức mạnh, vị thế quốc gia Từ đây, sức mạnh kinh tế đượcđặt ở vị trí quan trọng hàng đầu
2.1.2 Trong nước:
Việt Nam từ nửa cuối thập niên 70 của thế kỷ XX tồn tại sự bao vây, chống phácủa các thế lực thù địch tạo nên tình trạng căng thẳng, mất ổn định Bên cạnh đó, cuộckhủng hoảng kinh tế ở nước ta vẫn đang tiếp diễn đòi hỏi phải có một sự thay đổimạnh mẽ về mọi mặt
2.2 Nội dung qua các kỳ Đại hội:
2.2.1 Đại hội Đảng lần thứ VI (12/1986):
Báo cáo chính trị đề ra ba chương trình kinh tế lớn: lương thực - thực phẩm,hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu
Về lương thực thực phẩm:
Trang 7Nền nông nghiệp nhiệt đới nước ta chứa đựng những tiềm năng to lớn và có vịtrí cực kỳ quan trọng Chính vì vậy, giải phóng năng lực sản xuất, trước hết và chủyếu là giải phóng năng lực sản xuất của hàng chục triệu lao động với hàng triệu héc-tađất đai trong nền nông nghiệp nhiệt đới.
Trong 5 năm 1986-1990, chúng ta tập trung cho mục tiêu số một là sản xuấtlương thực và thực phẩm, đồng thời ra sức mở mang cây công nghiệp, nhất là câycông nghiệp ngắn ngày, đi liền với xây dựng đồng bộ công nghiệp chế biến, phát triểnmạnh các ngành nghề, gắn lao động với đất đai, rừng, biển, nhằm khai thác đến mứccao nhất những tiềm năng đó
Nhiệm vụ đặt ra là phải đạt cho được mục tiêu bảo đảm nhu cầu ăn của toàn xãhội và bước đầu có dự trữ Vấn đề lương thực phải được giải quyết một cách toàndiện, từ sản xuất, chế biến đến phân phối và tiêu dùng, gắn việc bố trí cơ cấu lươngthực với việc cải tiến cơ cấu và nâng cao chất lượng bữa ăn phù hợp với đặc điểmtừng vùng Phải dựa vào việc khai thác thế mạnh của từng địa phương đồng bằng,trung du, miền núi, ven biển một cách hợp lý nhất, vừa tăng sản xuất lương thực tạichỗ, vừa tạo ra các nguồn sản phẩm khác để trao đổi lấy lương thực, kể cả thông quaxuất nhập khẩu Gắn với việc giải quyết lương thực, nhất thiết phải giảm mạnh tỷ lệtăng dân số
Nhấn mạnh cây lúa, nhưng tuyệt nhiên chúng ta không coi nhẹ màu Mỗi vùng,căn cứ vào điều kiện cụ thể của mình, cần xây dựng một cơ cấu cây màu thích hợp,bao gồm ngô, khoai lang, sắn, khoai tây và các cây có bột khác, trong đó chú trọngcây ngô Đi đôi với phát triển sản xuất, phải tổ chức tốt việc thu mua và chế biến,dùng màu phổ biến trong cơ cấu bữa ăn
Thuỷ lợi là biện pháp hàng đầu, cần được phát động thành phong trào quầnchúng rộng khắp, kết hợp với sự đầu tư đúng mức của Nhà nước
Ngoài ra, nhà nước cần phải quan tâm đến các vấn đề như phân bón, sâu bệnh,sức khéo, giống cây trồng, hệ thống bảo quản, chế biến thực phẩm, hệ thống cung ứngvật tư và dịch vụ, sản xuất thực phẩm, rau đậu, cây ăn quả, khai thác thủy hải sản, pháttriển mạnh trồng cây công nghiệp, ưu tiên phát triển cây công nghiệp ngắn ngày, xâydựng và bảo vệ rừng, cải tạo một phần rừng tự nhiên thành rừng kinh tế
Về hàng tiêu dùng:
Trang 8Phát triển sản xuất hàng tiêu dùng là một chương trình lớn, không chỉ có ýnghĩa cấp bách trước mắt, mà còn có ý nghĩa lâu dài và cơ bản Đó là điều kiện để bảođảm các nhu cầu đời sống hằng ngày của nhân dân, giải quyết việc làm cho hàng triệungười lao động, tạo nguồn tích luỹ và nguồn xuất khẩu quan trọng.
Chúng ta bằng mọi cách giải phóng năng lực nhiều tiềm năng chưa được khaithác, nhất là lực lượng tiểu, thủ công nghiệp và các nguồn nguyên liệu trong nước đểđẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng trong các ngành, các thành phần kinh tế, với mọihình thức tổ chức, quy mô và trình độ kỹ thuật Phải bảo đảm sản xuất nhiều loại hàngtiêu dùng cho nhiều nhu cầu, đa dạng của xã hội, phù hợp với từng vùng, từng lứatuổi, không để thiếu những hàng tiêu dùng thông thường Việc tăng sản lượng phải điliền với việc bảo đảm chất lượng, không ngừng đổi mới quy cách, bảo đảm kỹ thuật
và mỹ thuật của sản phẩm
Ngoài ra, nhà nước cần xoá bỏ ngay những chính sách, chế độ đang gò bó lựclượng này, bao gồm hợp tác xã, tổ sản xuất, kinh tế gia đình, cá thể, tư nhân Trướchết, phải dành một phần thích đáng nguyên liệu, năng lượng và tổ chức tốt việc cungứng đến cơ sở sản xuất; chuyển mạnh sang phương thức bán nguyên liệu, mua sảnphẩm theo hợp đồng Giá gia công cần được sửa đổi để thật sự khuyến khích sản xuất,nâng cao chất lượng sản phẩm và đổi mới mặt hàng; bảo đảm lương thực cho ngườisản xuất, cải tiến chính sách thuế đối với tiểu, thủ công nghiệp theo hướng khuyếnkhích các ngành, nghề cần phát triển Đặc biệt khuyến khích và tạo mọi điều kiện đểphát triển các nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống, sử dụng và đãi ngộ tốt các nghệnhân, đồng thời đào tạo, bồi dưỡng lực lượng kế thừa, không để mai một nhữngngành, nghề đã có từ lâu đời trong nhân dân
Về xuất khẩu:
Xuất khẩu là mũi nhọn có ý nghĩa quyết định đối với nhiều mục tiêu kinh tếtrong 5 năm, đồng thời cũng là khâu chủ yếu của toàn bộ các quan hệ kinh tế đốingoại, xuất khẩu phải trở thành mối quan tâm hàng đầu của tất cả các ngành, các cấp;trong thời gian tới, nhất thiết phải đạt được sự chuyển biến xứng đáng với tầm quantrọng và khả năng thực tế của nó Nhiệm vụ đặt ra là tăng nhanh khối lượng xuất khẩu,đáp ứng được nhu cầu nhập khẩu, khắc phục cung cách làm ăn ít hiệu quả, tình trạngphân tán, lộn xộn, gây thiệt hại cả ở thị trường trong nước lẫn ngoài nước
Trang 9Trước hết, ta cần xây dựng một quy hoạch dài hạn và một kế hoạch cụ thể chotừng thời kỳ về sản xuất các mặt hàng xuất khẩu.
Bên cạnh đó, nhà nước cần tổ chức lại công tác xuất nhập khẩu một cách hợp
lý, nhất là đối với các mặt hàng và nhóm hàng quan trọng, giảm bớt các khâu trunggian, khắc phục tệ cửa quyền, tuỳ tiện, xâm phạm lợi ích của người trực tiếp sản xuấthàng xuất khẩu Cơ sở làm hàng xuất khẩu phải được thông tin kịp thời về thị trường
và giá cả, được tiếp xúc với người tiêu thụ để kịp thời cải tiến mặt hàng, nâng cao quycách và chất lượng hàng hoá phù hợp với yêu cầu khách hàng
Một vấn đề nữa là phải hoan nghênh những tổ chức kinh tế của nước ngoàiquan hệ trực tiếp với các tổ chức kinh tế Việt Nam để mở rộng quy mô hợp tác, thoảmãn lợi ích của cả hai bên, theo chính sách và luật pháp của Nhà nước ta
Ba chương trình này định hướng cho việc sắp xếp lại nền kinh tế quốc dân theo
cơ cấu hợp lý, trước hết là bố trí lại cơ cấu sản xuất và điều chỉnh lớn cơ cấu đầu tư nhằm khai thác có hiệu quả khả năng lao động, đất đai và cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện có.
Bảo đảm cho nông nghiệp, kể cả lâm nghiệp, ngư nghiệp thật sự là mặt trận hàng đầu, được ưu tiên đáp ứng nhu cầu về vốn đầu tư, về năng lượng, vật tư và lao động kỹ thuật; tập trung trước hết cho những vùng trọng điểm nhằm đạt hiệu quả kinh
tế cao Bên cạnh đó, ta cần ra sức phát triển công nghiệp nhẹ, tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp, đáp ứng cho được nhu cầu về hàng tiêu dùng thông thường, về chế biến nông, lâm, thuỷ sản, tăng nhanh hàng gia công xuất khẩu và các mặt hàng xuất khẩu khác Ngoài ra, nhà nước cần tiếp tục xây dựng một số cơ sở công nghiệp nặng và kết cấu hạ tầng, trước hết là năng lượng và giao thông vận tải, phù hợp với điều kiện thực
tế, nhằm phục vụ thiết thực các mục tiêu kinh tế, quốc phòng trong chặng đường đầu tiên, và chuẩn bị tiền đề cho việc đẩy mạnh công nghiệp hoá trong chặng đường tiếp theo.
2.2.2 Đại hội Đảng lần thứ VII (6/1991):
Trang 10Đại hội Đảng tiếp tục đẩy mạnh ba chương trình kinh tế Đại hội VI đề ra Quantrọng nhất là từng bước xây dựng cơ cấu kinh tế mới theo yêu cầu công nghiệp hóa –hiện đại hóa, phát huy sức mạnh các thành phần kinh tế Trước chỉ tập trung vai trònhà nước, bây giờ phải tập trung vào các thành phần khác như tư nhân, gia đình, nướcngoài Cuối cùng, ta cũng cần phải giải quyết vấn đề động lực.
2.2.3 Đại hội Đảng lần thứ VIII (6/1996):
Nhận định nhiệm vụ của chặng đường đầu tiên là chuẩn bị tiền đề cho côngnghiệp hóa đã cơ bản hoàn thành Từ đây, đại hội quyết định chuyển sang thời kỳ đẩymạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Đó là tiếp tục thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách phát triển nền kinh tếnhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theođịnh hướng xã hội chủ nghĩa; phát huy mọi nguồn lực để phát triển lực lượng sản xuất,đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đổi mới căn bản tổ chức và quản lý, nângcao hiệu quả khu vực kinh tế Nhà nước để phát huy vai trò chủ đạo
Cùng với đó, nhà nước phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp gắn với côngnghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản và đổi mới cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướngcông nghiệp hoá, hiện đại hoá
Về kinh tế, ta tăng nhanh đầu tư phát triển toàn xã hội Chú trọng tăng cả tíchluỹ và đầu tư trong nước thông qua ngân sách, cũng như của doanh nghiệp và nhândân Trong đó cần giải quyết tốt quan hệ tích luỹ - tiêu dùng theo hướng cần kiệm đểcông nghiệp hoá, hiện đại hoá, không tiêu dùng quá khả năng nền kinh tế cho phép;tăng năng xuất và hiệu quả để vừa cải thiện được đời sống, vừa có tích luỹ ngày càngnhiều cho đầu tư phát triển Bên cạnh đó, nhà nước phải ra sức chống thất thoát, lãngphí, tham nhũng, huy động tối đa mọi nguồn lực trong nước, đồng thời thu hút mạnhcác nguồn vốn bên ngoài để đưa tỉ lệ đầu tư phát triển toàn xã hội năm 2000 lênkhoảng 30% GDP
Phát triển khoa học và công nghệ, nâng cao năng lực nội sinh, coi đó là nhân tốquan trọng để thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá
Để công nghiệp họa, hiện đại hóa xảy ra hợp lí, nhà nước cần xây dựng cácphương án cho tiến trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá; xác định hệ thốngchính sách xã hội trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Trang 11Bên cạnh việc phát triển kinh tế, ta cũng ngăn chặn tận gốc việc gây ô nhiễmmôi trường, trước hết là nước và không khí trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đạihoá.
Hướng nhập khẩu là tập trung vào nguyên liệu, vật liệu, các loại thiết bị công
nghệ đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá Từng bước thay thế nhập khẩunhững mặt hàng có thể sản xuất có hiệu quả ở trong nước
Đào tạo bồi dưỡng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá
và kinh tế, tạo tốc độ tăng trưởng vượt trội ở những sản phẩm và dịch vụ chủ lực.Công nghiệp hoá gắn với hiện đại hoá ngay từ đầu và trong suốt các giai đoạn pháttriển Nâng cao hàm lượng tri thức trong các nhân tố phát triển kinh tế - xã hội, từngbước phát triển kinh tế tri thức ở nước ta
Xây dựng tiềm lực kinh tế và cơ sở vật chất - kỹ thuật đáp ứng yêu cầu côngnghiệp hoá, hiện đại hoá, bao gồm: kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội; nền công nghiệp,trong đó có công nghiệp sản xuất tư liệu sản xuất quan trọng, công nghiệp công nghệcao, công nghiệp quốc phòng; nền nông nghiệp hàng hoá lớn; các dịch vụ cơ bản; tiềmlực khoa học và công nghệ Trên cơ sở hiệu quả tổng hợp về kinh tế - xã hội, trướcmắt và lâu dài, nhà nước triển khai xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng thiết yếu
và xây dựng có chọn lọc một số cơ sở công nghiệp nặng quan trọng, cấp thiết, có điềukiện về vốn, công nghệ, thị trường, phát huy nhanh tác dụng, đáp ứng yêu cầu pháttriển của các ngành kinh tế và quốc phòng, an ninh
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước là chủ đạo Tập trung tháo gỡ mọi vướng mắc, xoá
bỏ mọi trở lực để khơi dậy nguồn lực to lớn trong dân, cổ vũ các nhà kinh doanh và
Trang 12mọi người dân ra sức làm giàu cho mình và cho đất nước Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư để thu hút tốt hơn và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực bên ngoài Nội lực là quyết định, ngoại lực là quan trọng, gắn kết với nhau thành nguồn lực tổng hợp
để phát triển đất nước
Đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn theo hướng hình thành nền nông nghiệp hàng hoá lớn phù hợp với nhu cầu thị trường và điều kiện sinh thái của từng vùng; chuyển dịch cơ cấu ngành, nghề, cơ cấu lao động, tạo việc làm thu hút nhiều lao động ở nông thôn Đưa nhanh tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất nông nghiệp, đạt mức tiên tiến trong khu vực về trình độ công nghệ
và về thu nhập trên một đơn vị diện tích; tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm Mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản trong và ngoài nước, tăng đáng kể thị phần của các nông sản chủ lực trên thị trường thế giới Phát triển hợp tác xã kinh doanh tổng hợp đa ngành hoặc chuyên ngành để sản xuất hoặc kinh doanh dịch vụ, tạo điều kiện mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh phù hợp quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Khuyến khích sáng tác những tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị theo các chủ đề lớn về chiến tranh và cách mạng, về sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, về xã hội và con người Việt Nam.
2.2.5 Đại hội Đảng lần thứ X (4/2006), XI (1/2001), XII:
Tiếp tục khẳng định và phát huy những nội dung của Đại hội Đảng lần IX,công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với kinh tế tri thức
2.2.6 Đại hội Đảng lần thứ XIII:
Đại hội tập trung đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, bảo đảm thực chất, hiệu quả; phát triển nền kinh tế số; thúc đẩy tăng trưởng nhanh, bền vững trên cơ sở ổn định kinh tế vĩ mô.
Đó là tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa dựa trên nền tảng củakhoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và những thành tựu công nghệ của Cách mạngcông nghiệp lần thứ tư Cùng với đó, nhà nước xây dựng quy hoạch, kế hoạch pháttriển quốc gia, các vùng, các ngành, lĩnh vực phù hợp với thực tiễn đất nước nhằmnâng cao tính tự chủ, khả năng thích ứng và sức chống chịu của nền kinh tế Bên cạnh