1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tieu luan cao học ngôn ngữ trong tác phẩm báo chí

46 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiểu luận cao học ngôn ngữ trong tác phẩm báo chí
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Ngôn ngữ học
Thể loại Tiểu luận cao học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 2,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng không dừng lại ở đó, ngôn ngữ báo chí cónhững nguyên tắc rất riêng và nghiêm ngặt trong cách dùng từ, dùng câu.Việckhảo sát ngôn ngữ báo chíthông qua các tác phẩm trên báo mạng điệ

Trang 1

MỤC LỤC

Phần 2: Giải quyết vấn đề 2

1.Ngôn ngữ và ngôn ngữ báo chí 3

1.1.Sự hình thành ngôn ngữ 3

1.2.Ngôn ngữ báo chí 3

2 Đặc tính cơ bản của ngôn ngữ báo chí 2

2.1 Tính khuôn mẫu 4

2.2 Tính biểu cảm 5

3 Các thành phần của ngôn ngữ báo chí: 6

3.1 Ngôn ngữ sự kiện 6

3.2 Ngôn ngữ nhân vật 6

3.3 Ngôn ngữ tác giả 6

4 Lỗi ngôn ngữ 10

Phần 3: Tiểu kết 18

III, TÀI LIỆU THAM KHẢO 20

IV, PHỤ LỤC 21

Trang 2

Phần 1: Đặt vấn đề

1 Lý do chọn đề tài

Ngôn ngữ trên các tác phẩm báo chí về cơ bản dựa trên ngôn ngữ viết,ngôn ngữ nói nói chung Nhưng không dừng lại ở đó, ngôn ngữ báo chí cónhững nguyên tắc rất riêng và nghiêm ngặt trong cách dùng từ, dùng câu.Việckhảo sát ngôn ngữ báo chíthông qua các tác phẩm trên báo mạng điện tử sẽcho thấy những đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ báo chí, các thành phần ngônngữ báo chí, nêu lên một số lỗi thường gặp và trên cơ sở đó phân tích nguyênnhân, đề xuất giải pháp

2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:

Đề tài “Ngôn ngữ trong tác phẩm báo chí” là một đề tài rộng, mở, nếunhư phân tích, đánh giá kĩ đòi hỏi người làm đề tài phải có trình độ cao, dunglượng của đề tài cũng sẽ khá đồ sộ, vì vậy, tiểu luận này tập trung vào khảosát các tác phẩm bàn về ngôn ngữ báo chí trên báo mạng điện tử, qua đó nêulên một số đặc tính cơ bản của ngôn ngữ báo chí vàcác lỗi thường gặp Đề tàinày chủ yếu sử dụng phương pháp đọc và nghiên cứu tài liệu

Trang 3

Theo từ điển Tiếng Việt giải nghĩa: “Ngôn ngữ là hệ thống những âm,

những từ và những quy tắc kết hợp chúng mà những người trong cùng mộtcộng đồng dùng làm phương tiện để giao tiếp với nhau” [54, tr 666]

Theo từ điển trực tuyến dictionary.cambridge.org của đại học Cambridge

(ở Anh) thì ngôn ngữ được giải thích:“language”: a system of

communication consisting of sounds, words, and grammar, or the system of

communication used by people in a particular country or type of work Tạm dịch: Ngôn ngữ là một hệ thống thông tin liên lạc bao gồm âm thanh, lời nói

và ngữ pháp, hoặc là hệ thống giao tiếp được sử dụng bởi con người trong một quốc gia hay trong loại hình công việc cụ thể.

1.2.Ngôn ngữ báo chí

Khái niệm:

Trang 4

 Ngôn ngữ báo chí là toàn bộ các tín hiệu và các quy tắc kết hợp chúng

mà nhà báo dùng để chuyển tải thông tin trong tác phẩm báo chí

 Ngôn ngữ báo chí là một lĩnh vực chuyên nghiệp của báo chí Khôngphải cứ biết dùng từ chính xác, biết vận dụng phép tu từ, biết viết câu đúngquy tắc, là có thể viết báo được.Hơn nữa, ngôn ngữ trong báo chí đòi hỏinghiệp vụ về phẩm chất, về hiểu biết mà ở những ngành khác không cần thiếtnhư vậy Để đáp ứng được những đòi hỏi đó, người làm báo cần đáp ứng:

- Nhận thức tiếng mẹ đẻ: Tiếng Việt là ngôn ngữ chính thống của quốcgia, các tác phẩm báo chí đều thể hiện qua ngôn ngữ này, vì vậy, báo chí gópphần tích cực hơn trong việc phản ánh, duy trì sự hấp dẫn của tiếng Việt đốivới công chúng

- Có vốn kiến thức lý thuyết vững chắc, vốn sống thực tế phong phú:Làm báo đòi hỏi phải có kiến thức vừa sâu, vừa rộng, ngoài kiến thức trongsách vở, tư liệu, những kiến thức ở ngoài xã hội là thứ không thể thiếu Vốnkiến thức đa dạng sẽ giúp vốn ngôn ngữ thêm phong phú, từ đó giúp ngườilàm báo chọn lọc thông tin, xử lý thông tin nhanh chóng hơn, chính xác hơn,cũng như dùng từ chuẩn xác, hấp dẫn hơn, từ đó nâng cao chất lượng của tácphẩm báo chí

2 Đặc tính cơ bản của ngôn ngữ báo chí

2.1 Tính khuôn mẫu (chính xác và hàm súc)

Chính xác:Ngôn ngữ trong báo chí phải phản ánh đúng bản chất của

sự việc trong từng thời khắc, trong từng bối cảnh nhất định Dù dùng nguồnngôn ngữ nào (văn bản, hình ảnh tĩnh, hình ảnh động, âm thanh, ) thì tácphẩm báo chí được tạo ra vẫn phải là một văn bản đơn nghĩa, dễ hiểu cho mọitầng lớp công chúng

VD: Tin TP HCM tiêu hủy gần trăm heo có chứng nhận VietGap nhiễm

chất cấm:

Ngày 27/4, Thanh tra Bộ Nông nghiệp phối hợp Chi cục Thú y TP HCMtiêu hủy 80 con heo, có chứng nhận VietGap, nhiễm chất cấm Salbutamol

Trang 5

(Duy Trần, TP HCM tiêu hủy gần trăm heo có chứng nhận VietGap nhiễm chất cấm , Vnexpress, Thứ tư, 27/4/2016 | 11:20 GMT+7)

Hàm súc:Trong một tác phẩm báo chí, thông tin phải được dồn nén

một lượng thông tin tối đa trong một đơn vị ngôn ngữ hạn hẹp để đáp ứng nhucầu thông tin của công chúng “thiếu thời gian” Chính vì vậy, các nhà báothường chọn lọc những từ ngữ thật đắt, thật trúng để “gói” thông tin sao chovừa gọn nhẹ, vừa dễ hiểu, vừa thực hiện được chức năng “giao tiếp lý trí cao nhất

VD:Tại một cuộc họp báo hôm 24/4, Thủ tướng Angela Merkel được đềnghị hồi tưởng những khoảnh khắc thú vị nhất từng có với Tổng thốngObama trong 7 năm ông tại vị

Câu trả lời ngắn gọn, khá lạnh lùng của bà giải thích vì sao bà trở thànhđồng minh thân cận nhất bên ngoài nước Mỹ của ông Obama, đồng thời làngười đồng điệu về tư tưởng chính trị trong một loạt vấn đề, từ Syria, tớichống khủng bố, hay đối phó với Nga trong khủng hoảng Ukraine ÔngObama không thích các đồng minh quá phô trương, và bà Merkel càng khôngphải người như vậy

Trước câu hỏi của phóng viên Đức, bà Merkel hơi nhíu mày và nói: "Tôikhông muốn liệt kê và đánh giá vào lúc này", nữ thủ tướng đáp gọn lỏn Còn

quá nhiều việc quan trọng phải làm.[Hoàng Nguyên, Vnexpress, Thứ ba, 26/4/2016 | 16:02 GMT+7]

2.2 Tính biểu cảm: Báo chí còn dùng ngôn ngữ để biểu đạt những

trạng thái tình cảm của con nguời (trạng thái tâm lý, hỷ, nộ, ái, ố,cảm xúc, thái độ yêu – ghét, quan điểm chính trị, quan điểm thẩmmỹ, ) Ngôn ngữ biểu cảm có thể là ngôn ngữ hình ảnh, ngôn ngữ

âm thanh, ngôn ngữ đời thường, khẩu ngữ, phương ngữ, các biệnpháp tu từ (ẩn dụ, so sánh, liên tưởng, tương phản, )

Trang 6

VD: Dưới cái nắng như rang, hàng chục người dân ở xã Cư Né (huyện Krông Búk, Đắk Lắk) chen chúc đào, khoan Tiếng máy móc đinh tai nhức

óc nơi đầu nguồn con suối lớn cạnh đường Hồ Chí Minh Giữa lòng suối cạn,

những cái ao vuông ban đầu được thi công bằng máy múc, về sau hết nướcnên người dân đào mãi, tạo thành những cái giếng sâu vài chục mét Từ trên

miệng giếng, tôi rùng mình khi thấy bên dưới có hai người đàn ông đang hì hục, bì bõm dùng máy khoan đục ngang vào lòng đất (Đặng Trung Kiên,

Tìm nguồn nước chống hạn ở Tây Nguyên: Tai nạn chết người đang rình rập)

3 Các thành phần của ngôn ngữ báo chí:

Nhìn chung trong tác phẩm báo chí có 3 thành phần ngôn ngữ chính:

Ngôn ngữ sự kiện

Ngôn ngữ nhân vật

Ngôn ngữ tác giả

3.1 Ngôn ngữ sự kiện:là phương tiện duy nhất để phản ánh của báo chí.

Sự kiện không thể tự kể bằng ngôn ngữ mà nhà báo phải sử dụng “vỏngôn ngữ” của con người để “tải” sự kiện, sao cho sự kiện còn nguyên dạng,không bị hiểu sai về bản chất.Sự kiện có thật và nguyên dạng thì mới có giátrị thời sự “Vỏ ngôn ngữ” chuyển tải nguyên dạng thường gồm: tên người,thời gian, không gian, con số, bảng biểu, hồ sơ, thư tịch, văn kiện, chi tiết,

tình tiết của diễn biến )

3.2 Ngôn ngữ tác nhân vật:là lời nói của các nhân chứng trực tiếp và

gián tiếp trong sự việc Lời nói của nhân chứng thường mang đậm phong cáchvùng miền, “khẩu khí” cá nhân và thể hiện rõ địa vị xã hội của người nói

3.3 Ngôn ngữ tác giả: nhà báo tái hiện sự kiện – những điều mắt thấy

tai nghe, những trải nghiệm – bằng lời kể của mình, có thể trực tiếp hay giántiếp Ngôn ngữ tác giả đóng vai trò tổ chức, chỉ đạo đối với các thành phầnngôn ngữ khác

Trang 7

Ngôn ngữ sự kiện Ngôn ngữ tác giả

Ngôn ngữ nhân vật

Mô hình các thành phần ngôn ngữ chính trong tác phẩm báo chí

Cụ thể hơn, ở mỗi loại hình báo in, báo ảnh , phát thanh, truyền hình, thì ngôn ngữ của loại hình đó lại có những yêu cầu riêng:

Theo Nhà ngôn ngữ học Nguyễn Tri Niên, trong loạt bài ‘Ngôn ngữ báo

chí” đăng trên trang Daotao.vtv.vn:

Các loại hình báo viết,báo phát thanh,báo truyền hình có những sự khác biệt nhau về mặt ngôn ngữ.

1 Báo viết (báo giấy,báo mạng)

Ở báo viết ngôn ngữ là chính văn.Ảnh, màu sắc và cách trình bày là thứ văn Ngôn ngữ viết phải phù hợp với phương thức tiếp nhận: Phương thức thị giác Phương thức này không bị điều kiện thời gian, không gian ràng buộc Người đọc tuỳ ý lựa chọn thời gian đọc, không gian đọc.Đọc chưa hiểu thì đọc lại Không bị bắt buộc đọc theo một thứ tự nào Không bị bắt buộc đọc tất cả tin, bài trên báo.Khi cần lưu trữ thì có thể cất giữ.

Do đó ngôn ngữ đòi hỏi phải súc tích, loại bỏ những dư thừa không cần thiết Tin-bài được biên tập cẩn thận, nếu không, mọi sai sót sẽ lộ ra ngay trên “giấy trắng mực đen”.Các thứ văn khác phụ họa cho chính văn, làm rõ, làm nổi bật chính văn.

2 Báo phát thanh

Trang 8

Ở báo phát thanh ngôn ngữ cũng là “chính văn”.Các thứ văn khác là

âm nhạc và tiếng động Chính văn được thực hiện qua hai khâu: Viết và Đọc Phương thức tiếp nhận là Phương thức thính giác Phương thức này lệ thuộc vào điều kiện thời gian, không gian và tính chất truyền tải thông tin: “liên tục,nối tiếp nhau, và chỉ truyền đi một lần” Vì vậy người nghe đài phải nghe đúng giờ phát tin, phải nghe tuần tự tin này sang tin khác, phải tập trung chú

ý khi nghe, phải có một không gian thích hợp Điều kiện lưu trữ thông tin không đơn giản và dễ dàng như báo viết.

Do tính chất truyền tải thông tin nên ngôn ngữ phải giản dị, dễ hiểu, thông tin phải rất chính xác, độ dài tin-bài phải phù hợp với thời lượng

Tin-bài của báo phát thanh viết ra để đọc thành lời trên sóng bởi thế ngôn ngữ phát thanh là” một phức thể của ngôn ngữ nói và viết”.

Một đặc tính quan trọng của ngôn ngữ phát thanh là”khoảng cách của hành động nói” nghĩa là chủ thể phát (E) và chủ thể nhận (R) không nhìn thấy nhau nhưng lại diễn ra đồng bộ, tức thời và E luôn luôn ở trong tư thế đàm thoại mặc dầu đối tượng đàm thoại là vô hình.

Cuối cùng là giọng đọc phát thanh viên.Mọi khâu chuẩn bị đều phụ thuộc vào khâu phát thanh quyết định thành hay bại.Ở đây có yêu cầu về”chất giọng và nghệ thuật diễn xướng” đồng thời bị chi phối bởi tiếng địa phương và kết quả chuẩn hóa ngôn ngữ.

3 Báo truyền hình

Ở báo truyền hình thì hình là Chính văn, âm thanh là Thứ văn bao gồm lời bình, âm nhạc, tiếng động.Chính văn phụ thuộc vào trình độ nghiệp vụ, vào tài nghệ ghi hình của nhà báo và nghệ thuật dàn dựng của đạo diễn Trong các thứ văn thì Lời bình là thứ văn quan trọng số một Đặc trưng lời bình gần với bút pháp điện ảnh nghĩa là không đi sâu vào mô tả sự kiện, khung cảnh, con người tham gia sự kiện mà chủ yếu chỉ để” bình luận” những gì đang xảy ra trên màn ảnh, chỉ để “dẫn dắt ” người xem vào vòng chuyển động của sự kiện Lời bình chỉ đi vào chi tiết quan trọng để tập trung

Trang 9

sự chú ý của người xem, cung cấp những điều mới mẻ mà không nói những gì hình đã nói.

Lời bình là yếu tố cung cấp thông tin chính, nó góp phần xóa đi khoảng cách giữa sự kiện và công chúng, hỗ trợ cho hình ảnh thoát khỏi khung bó hẹp của màn hình để đưa đến một ý nghĩa mới, một tầng thông tin mới Lời bình thực hiện chức năng phân tích, lý giải, đánh giá, nhận định và giúp mỗi tác phẩm truyền hình tác động tới nhận thức cao nhất của con người: “nhận thức lý tính”.

Phương thức tiếp nhận của báo truyền hình là “phương thức vừa thị giác vừa thính giác”.Cả hai giác quan này thể hiện dòng thời và hỗ trợ nhau trong quá trình nhận tin.Người xem buộc phải tập trung và có một không gian thích hợp để xem.Người xem buộc phải xem lần lượt tin này đến tin khác, phải xem đúng giờ phát tin Tất cả đều do tính chất truyền tải thông tin quy định: “liên tục,nối tiếp nhau và chỉ truyền đi một lần như báo phát thanh Điều kiện lưu giữ thông tin còn phức tạp hơn báo phát thanh [ ]

Nguyễn Tri Niên

Trang 10

4 Lỗi ngôn ngữ

4.1 Lỗi chính tả: trên những trang báo in, báo mạng điện tử, tạp chí,

đều có thể bắt gặp lỗi này

Một số lỗi chính tả trên các trang báo mạng điện tử:

+ vd1: Lỗi chính tả ở ngay tiêu đề của bài báoĐường hoàn lương sáng

lạn của một 'vua cây cảnh' đăng ngày 14/02/2010 trên Baomoi.com

+ vd2: Từ “truyền” trong “Hồng Quân có thể truyền ngược trở lại” của

bài báo Hồng Quân bỏ lỡ bao nhiêu cơ hội xé lưới U23 Myanmar? đăng trên

Baomoi.com ngày 14/06/2015lẽ ra phải là chuyền (chuyền bóng)

Trang 11

PGS TS Phạm Văn Tình – Viện từ điển học và Bách khoa Việt Nam

đã chia sẻ với báo Dân Việt (bàiChuyên gia ngôn ngữ: Năng lực biên tập viên VTV có vấn đề, Thứ Năm, ngày 10/03/2016) về những sai sót trong các

chương trình truyền hình của Đài truyền hình Việt Nam - VTV thời gian gầnđây:

- Thực ra ngôn ngữ nào cũng có hiện tượng sai chính tả và trong văn tự hiện tượng sai chính tả là liên quan tới từ, tới cách viết Tuy nhiên tiếng Việt

là ghi âm, nên thường người ta ghi âm và đọc là phải tương đương nhau Đối với người viết chính tả, là người sử dụng ngôn ngữ một cách thuần thục, nên nếu như người viết chính tả đó mà lại tạo ra những lỗi sai như bạn nêu ở trên thì sẽ tạo ra sự ngây ngô và buồn cười.Như vậy, thể hiện năng lực ngôn ngữ, ứng xử văn hóa ngôn từ của người đó bị hạn chế.

Trang 12

Lỗi chính tả trong các chương trình truyền hình của VTV

PGS.TS cũng đưa ra một số nguyên nhân:

- Tôi biết với nhiều người có học thức hay dùng nhầm những từ ví dự như muốn nói lời cảm ơn chân thành, thì nhiều người không dùng “ch” mà lại dùng “tr” Tức là “trân thành” Hay “trân trọng” thì lại viết là “chân trọng” Hay với những lỗi thông dụng như bạn nêu ở trên mà vẫn nhầm lẫn,

đó sẽ là những điều tối kỵ cho những người làm văn hóa.

Để phân tích về nguyên nhân, thì theo tôi, có thể lúc đó do vội vã phải làm tin nhanh, thời sự, hoặc là là do năng lực của BTV, phóng viên đó có vấn

đề Cảm quan ngôn ngữ của người đó chưa tốt Họ không chịu theo dõi, học hỏi, trau dồi vì thế nên không tạo ra thói quen viết, vì vậy mà lỗi chính tả đó xảy ra nhiều hơn.

Một số từ thường bị viết sai: Tham quan viết thành thăm quan, chấp

bút – chắp bút, lặp lại – lập lại, trùng lặp – trùng lắp, hằng ngày – hàng ngày,

Trang 13

thập niên – thập kỷ; không phân biệt được sự khác nhau giữa giả thuyết – giảthiết, tung tích – tông tích…

4.2 Lỗi thừa từ:

+vd1: Bài đăng trên báo điện tử Xaluan.com ngày 20/02/2015, trong bài

Nữ tiểu thư nổi tiếng nhà đại gia bậc nhất Việt Nam, có câu :Ái nữ Trần Thị Quỳnh Ngọc là con gái của doanh nhân quá cố Trần Văn Cường và Chủ tịch

đương nhiệm tập đoàn Nam Cường Lê Thị Thúy Ngà (ái nữ = con gái yêu;

tiêu đề là “Nữ tiểu thư”, trong khi tiểu thư là bao hàm yếu tố nữ)

+vd2: Báo Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 13/6/2015, trong bài Thông tin mới vụ CSCĐ túm cổ áo người dân, có câu “ Sau khi xác minh làm rõ, nếu xác định lỗi sai của hai CSCĐ thì công an thành phố sẽ tổ chức gặp gỡ và có xin lỗi” (“Xác minh” và “làm rõ” có nghĩa tương đương nhau, vậy chỉ cần dùng “xác minh” là đủ )Đây cũng là lỗi về từ hay gặp trong các

tin về phápluật trên các báo

Trang 14

4.3.Lỗi thiếu từ: Câu chú thích một ảnh trong bài Hà Nội: Nhà kỳ dị

'làm đẹp' đường đắt nhất hành tinh (trang Ohmylady.vn, ngày 14/6/2015)

dùng thiếu từ dẫn đến diễn đạt câu không rõ nghĩa “ Ngôi nhà này đang bỏ không chỉ che chắn bằng tấm bạt đã rách rưới ” nên sửa thành => “Ngôi nhà này đang bỏ không, chỉ được che chắn bằng tấm bạt rách rưới ”

Trang 15

4.4 Từ ngữ thô tục, nói quá, khó hiểu:

+ Cô ca sĩ (Lê Kiều Như) bấy lâu nay thích “ngồi xổm” trên dư luận + Cũng như Minh Hằng, diễn viên Ngân Khánh nhảy từ điện ảnh sang canhạc bằng cách đầu quân cho công ty Music Box của nữ ca sĩ Thanh Thảo Dĩnhiên, Ngân Khánh cũng được khoét” hết cỡ với dang phận “người đẹp hát”(Ngô Nguyệt Hữu, Công nghệ lăng xê của “sao”, An ninh thế giới, ngày3/4/2010)

4.5.Từ ngữ sáo mòn rập khuôn:

+Công nghệ “luộc” điện thoại di động (Thiều Gia, Thanh niên,04/03/2005)

+Công nghệ “luộc” xe (Xuân Toàn, Thanh niên, 29/07/2005)

+Kỹ nghệ tiêu tiền giả (Nguyễn Viết Chung, Lao động Thủ đô cuối tuần,21/10/2004)

+Kỹ nghệ tái chế đồ nhậu (Đức Thanh, Minh Mẫn, Minh Trung, Tuổi trẻTP.HCM, 14/03/2011)

4.6 Sử dụng biệt ngữ xã hội:

+Vd: Bài: Bay theo khói cỏ chuẩn bị “đề pa” cho một “chuyến bay”;

bán hàng “lởm”; làm bác sĩ (chích ma túy); đi chợ (đi ăn cắp) (Xuân Thanh, Bay theo khói cỏ, Bài 2: Vòi bạch tuộc và những cái chết ảo, Thanh niên, 14/07/2005)

Ảnh Vn.express 13/7/2005 tổng hợp

Trang 16

Tác giả nên chú ý,khi sử dụng biệt ngữkhông nên quá lạm dụng và nếu cần thiết nên có chú giải cho các từ đó.

4.7 Lỗi khi viết tắt từ đo lường: km (ki lô mét), kg (ki lô gam), ha (héc ta), m2 (mét vuông)… Những từ đó khi đi liền với con số cụ thể thì có thể viết tắt (ví dụ 200ha, 15km) nhưng khi đi với chữ thì phải viết đầy đủ (ví dụ 200 ngàn héc ta, 1 vạn ki lô mét) Điều rất đáng lưu ý là trong tiếng

Việt đã có những từ thay thế rất gọn nhưng ít được dùng, ví dụ: cây số (ki lômét), ký (ki lô gam)

+vd: Bài “Rừng: Trồng 200 ngàn ha, phá 150 ngàn” (vietbao.vn tổng

hợp, đăng ngày 4/1/2001, nguồn: theo Thanh niên 4/1 ) có những lỗi sai về ghi ký hiệu đo lường:

4.8 Dùng dấu phẩy (,) tràn lan Rất nhiều từ ghép, thành ngữ cần phải viết liền thì bị tách ra bằng dấu phẩy khiến văn bản trở nên rối, vô duyên, ví dụ: phòng, chống tham nhũng (trong khi đó lại viết liền phòng chống lụt

Trang 17

bão); tắm, giặt; cơm, áo, gạo, tiền; rút dây, động rừng; trọng nam, khinh nữ; mưa to, gió lớn; nhà cao, cửa rộng; giận cá, chém thớt…

+vd: Bài Người lao động gồng mình chống chọi bão giá: Khó thoát

nỗi ám ảnh cơm áo gạo tiền (12/08/2013 trên laodong.com)

Trang 18

 Khô cứng nhưng vẫn đảm bảo tính nghệ thuật: có nhiều bài báo mạngthuộc vẫn sử dụng các biện pháp nghệ thuật, điển tích, điển cố, so sánh, chơichữ, có thể thấy điều này ở thể loại phóng sự báo mạng.

 Thiên về thông tin: dữ liệu trong các tin, bài trên báo mạng điện tửcung cấp nhiều thông tin (địa điểm, thời gian, ai, các chi tiết sự kiện, ) vàthường cùng một sự kiện, vấn đề có thể có nhiều bài, ở nhiều góc nhìn khácnhau Điều này giúp độc gỉa có thể tự so sánh, đối chiếu và kiểm tra thông tin.Trong báo mạng điện tử sử dụng nhiều loại ngôn ngữ, ngoài ngôn ngữviết là chủ yếu còn có:

 Ngôn ngữ hình ảnh: loại ngôn ngữ chỉ đứng sau ngôn viết, được sửdụng phổ biến trên các bài báo mạng Ưu thế của báo mạng là sử dụng hìnhảnh với lượng lớn, có thể cả chùm ảnh, chuỗi ảnh, điều mà báo giấy hạn chế

do khổ giấy Sử dụng ngôn ngữ hình ảnh khiến bài viết sinh động, chân thực,thu hút độc giả

 Ngôn ngữ âm thanh: một số ít bài báo sử dụng âm thanh ghi lời phỏngvấn, âm thanh hiện trường, trong những trường hợp người được phỏng vấnkhông muốn lộ diện

 Ngôn ngữ truyền hình: nhiều báo thực hiện chuyên trang về loạiphóng sự truyền hình trên mạng điện tư như: VNExpress.net, Vietnamnet.vn Các thành phần ngôn ngữ báo chí dù thực hiện chức năng gì cũng cầnđảm bảo mục đích cao nhất là tái hiện sự kiện, nhân vật một cách chân thực

Trang 19

nhất, khách quan nhất có thể, đồng thời giữ được tính hấp dẫn, lôi cuốn đốivới người đọc.

Đề tài tiểu luận này chủ yếu khảo sát các tác phẩm báo chí trên mạngđiện tử, trong tương lai, loại hình đa phương tiện sẽ phát triển hơn nhưng vẫn

là phát triển trên nền của báo mạng điện tử, vì vậy, đề tài này góp phần cungcấp những đặc điểm căn bản về ngôn ngữ trong báo chí nói chung và báomạng nói riêng, các đề tài sau có thể phát triển, mở rộng trên cơ sở các vấn đề

cơ bản đó

Trang 20

III, TÀI LIỆU THAM KHẢO

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1 A.A.Chertưchơnưi (2004), Các thể loại báo chí, Nxb Thông tấn, Hà Nội.

2 G.V Cugiơnhetxốp ((2004) Báo chí truyền hình (tập 1),(tập 2), Nxb

7 Trần Bảo Khánh (2002), Sản xuất chương trình truyền hình, Nxb Văn

hóa thông tin, Hà Nội

8 Hoàng Phê (chủ biên) (1992) Từ điển Tiếng Việt, Trung tâm từ điển

ngôn ngữ, Hà Nội

9 Tạ Ngọc Tấn (chủ biên) (1999), Cơ sở lý luận báo chí; Nxb Văn hoá

-Thông tin; Hà Nội (tái bản)

10 Tạ Ngọc Tấn, (2001) Truyền thông đại chúng, Nxb Chính trị Quốc

gia, Hà Nội

Trang 21

IV, PHỤ LỤC

Ngôn ngữ truyền hình

Ngôn ngữ truyền hình là " loại" ngôn ngữ tổng hợp, có ngôn ngữ viết như cho độc giả báo in, có ngôn ngữ nói như cho thính giả phát thanh, hơn thế nữa, có " ngôn ngữ hình ảnh" cho khán giả truyền hình.

Để tường thuật một sự kiện (đưa tin), cả ba phóng viên của ba loại báo chí trên đều phải nêu những yếu tố cần và đủ của thể loại Nhưng truyền hình

đã có hình ảnh nên không phải mô tả như báo viết và báo nói (trời nắng hay mưa, tĩnh mịch hay ồn ào, buồn rầu hay sung sướng ) Truyền hình lại giống phát thanh là có tiếng động hiện trường sự kiện.

Một phóng viên phát thanh nói với phóng viên báo viết: "Sau sự kiện chị chỉ cần trốn vào góc sâu kín, viết, nộp bài, chấm hết Mình còn phải vào phòng bá âm để hoà âm!" Còn phóng viên truyền hình thì nói: "Báo hình của mình nhiêu khê nhất Tớ phải xem băng, chọn cảnh, dựng hình, rồi mới viết lời và hoà âm!".

Phóng viên truyền hình tác nghiệp là phải có một "kíp" mà không thể làm thay nhau.Phóng viên viết kiêm đạo diễn ít nhất cũng phải phác ra một đề cương cảnh quay.Người quay phim dựa vào đó để ghi hình và chỉ có ghi nhiều hơn thế bởi vì sự kiện diễn ra không có hẹn trước.Và có dồi dào cảnh

Trang 22

quay thì phóng viên khi dựng hình có điều kiện lựa chọn những hình ảnh "đắt" nhất Tất nhiên, người quay phim không chỉ là "thợ quay", mà người đó phải được đào tạo cả nghiệp vụ báo chí, không chỉ thành thạo về "ngôn ngữ điện ảnh" với các khuôn hình toàn cảnh, trung cảnh, cận cảnh, đặc tả, lia, tra-vai- ling mà ngay trong những cảnh đó cần có "ngôn ngữ của báo chí", đó là tiết tấu của sự kiện.

Ngoài hai phóng viên chủ chốt trên, còn có kỹ thuật viên ánh sáng, kỹ thuật viên máy quay và ghi Lái xe là cần có rồi vì kíp truyền hình tác nghiệp luôn mang theo một khối lượng đồ nghề cồng kềnh.

Trang 23

Về Đài.Giờ mới là lúc phóng viên kiêm đạo diễn bộc lộ "ngôn ngữ truyền hình".Trước nhất, phóng viên xem băng nháp, có bao nhiêu xem hết Vừa xem vừa ghi vào giấy xem băng: cảnh gì, thời lượng, loại cảnh, âm thanh Sau đó làm đề cương dựng tác phẩm (tin hoặc phóng sự) Một yếu tố tối cần thiết là dựng các cảnh với nhau phải theo luật của "câu điện ảnh" Giống như một mệnh đề phải có chủ ngữ, vị ngữ, tân ngữ, bổ túc ngữ Và khi nối hai câu điện ảnh cũng cần có một "cảnh chuyển" như liên từ.Chưa hết.Một sự kiện như Thủ tướng thăm vùng mỏ, phóng viên muốn mở rộng thêm cho có sức nặng,

"đây là lần thứ ba Thủ tướng tới thăm vùng mỏ, nhưng hai lần trước ông tới đây ở cương vị Phó Thủ tướng", thì phóng viên phải khai thác thêm phim tư liệu đưa vào Vất vả đấy nhưng tin "có giá" hơn Ở những Đài lớn được trang

bị máy riêng thì phóng viên tự dựng, hoặc kỹ thuật tương tự, hoặc kỹ thuật số.Còn thì có một kỹ thuật viên dựng hình dưới sự sắp đặt cảnh của phóng viên.

Có tin hoặc phóng sự đã dựng, phóng viên cần xem lại xem các "câu điện ảnh" đã nhuyễn chưa Nói cách khác là phù hợp với "lô-gic thị giác".Sau đó, phóng viên xem lại lần nữa để ghi cảnh và bấm giờ "mốc hình" Sau nữa là viết lời cho hình căn cứ vào các "mốc hình" và thời lượng từng câu hình ảnh Thông thường là 3 từ một giây hình.Không được nhiều hơn.Có thể ít hơn để có điểm

"lặng" cho người xem suy ngẫm Viết xong đọc thử "căn" hình để khớp cảnh Không thiếu những tin, những phóng sự phát sóng mà hình một đằng, lời một nẻo Đã có chuyện: lời nêu tên một quan chức thăm trại chăn nuôi, mà hình lúc đó lại rơi vào cận cảnh đầu một chú lợn đang dương mắt lên nhìn khách.

Ngày đăng: 13/08/2022, 17:13

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w