tạo ra trong năm từ nông, lâm nghiệp & thuỷ sản NLTS là 10.260,8 triệuđồng, thu được 8.033,1 triệu đồng từ giá trị sản phẩm và dịch vụ NLTS bánra.Bên cạnh những kết quả trên, phát triển
Trang 1Luận văn Nghiên cứu tình hình phát triển kinh tế trang trại ở thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hoá
Trang 2PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Hơn 20 năm qua, thực hiện công cuộc đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đãban hành nhiều chính sách, trong đó có Nghị quyết 10/NQ/TW của Bộ chínhtrị (tháng 4/1988) về khoán đến hộ xã viên đã tạo động lực mới thúc đẩy nôngnghiệp, nông thôn phát triển Sự thay đổi kinh tế nông thôn phải kể đến đónggóp thành phần kinh tế trang trại Từ những năm 1990 đã hình thành các môhình kinh tế trang trại nông, lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản Để tiếp sứccho kinh tế trang trại phát triển, Chính phủ đã có Nghị quyết số 03/2000/NQ -
CP ngày 02/02/2000 về phát triển kinh tế trang trại Đây là cơ sở pháp lý đểcác cơ quan chức năng đưa ra các thông tư hướng dẫn về đầu tư, phát triểnkinh tế trang trại, gần đây Bộ Nông nghiệp và PTNT đã đưa ra Thông tư số74/2003/TT - BNN ngày 4/7/2003 về tiêu chí xác định kinh tế trang trại Căn
cứ vào tiêu chí này, qua báo cáo sơ bộ kết quả tổng điều tra nông thôn, nôngnghiệp và thuỷ sản năm 2006, tính đến thời điểm 1/7/2006, cả nước có 113.730trang trại, so với năm 2001 tăng 52.713 trang trại (+ 86,4%) Kinh tế trang trại tiếptục phát triển và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nông, lâmnghiệp và thuỷ sản [6]
Tuy nhiên, tuỳ điều kiện các nguồn lực của từng khu vực, vùng và ởmỗi địa phương việc phát triển kinh tế trang trại lại có sự khác nhau Thị xãBỉm Sơn là một trong những đơn vị có lợi thế về đất đai, nguồn nhân lực dồidào, đây là điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế trang trại Những nămqua, nhờ phát triển kinh tế trang trại đã làm cho cơ cấu sản xuất nông nghiệp
có sự chuyển dịch mạnh mẽ, từ sản xuất tự túc, nay đã chuyển mạnh sang sảnxuất hàng hoá Năm 2006, trang trại đã giải quyết công ăn việc làm cho 2.066lao động của thị xã và đã khai thác, sử dụng 444,9 ha đất các loại; huy độngđược 13.912,8 triệu đồng vốn đầu tư SXKD của trang trại và giá trị sản phẩm
Trang 3tạo ra trong năm từ nông, lâm nghiệp & thuỷ sản (NLTS) là 10.260,8 triệuđồng, thu được 8.033,1 triệu đồng từ giá trị sản phẩm và dịch vụ NLTS bánra.
Bên cạnh những kết quả trên, phát triển trang trại còn bộc lộ nhiềuđiểm bất cập đó là vẫn mang tính tự phát, thiếu qui hoạch và đầu tư chưađồng bộ, số lượng trang trại được cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại, giấychứng nhận quyền sử dụng đất còn thấp nên nhiều chủ trang trại chưa yên tâmđầu tư vốn để sản xuất, thiếu vốn sản xuất, khó khăn về tiêu thụ sản phẩm, laođộng của trang trại chưa qua đào tạo ngày càng chiếm tỷ lệ cao, tỷ lệ trang trại
có trang thiết bị để cơ giới hoá, ứng dụng công nghệ thông tin còn thấp; hiệuquả sản xuất kinh doanh chưa cao và chưa đồng đều ở các vùng…
Xuất phát từ tình hình trên, để góp phần thúc đẩy kinh tế trang trại ởthị xã Bỉm Sơn phát triển hơn nữa, chúng tôi tiến hành nghiên cứa đề tài
"Nghiên cứu tình hình phát triển kinh tế trang trại ở thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hoá".
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng phát triển kinh tế trang trại ở thị xã BỉmSơn thời gian qua đề xuất các giải pháp thúc đẩy sự phát triển của kinh tếtrang trại ở địa phương trong những năm tới, góp phần thực hiện công nghiệphoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn ở thị xã Bỉm Sơn
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận về kinh tế trang trại, sự pháttriển của kinh tế trang trại trong điều kiện cụ thể ở Việt Nam, ở tỉnh ThanhHoá và của thị xã Bỉm Sơn
Trang 4 Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế trang trại ở thị xã Bỉm Sơn thời gianqua.
Phân tích các nguyên nhân đã ảnh hưởng đến sự phát triển của kinh
tế trang trại ở thị xã Bỉm Sơn
Đề xuất một số giải pháp chủ yếu thúc đẩy sự phát triển kinh tếtrang trại ở thị xã Bỉm Sơn trong thời gian tới
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Các trang trại sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản
đủ tiêu chí trang trại theo qui định tại Thông tư số 74/2003/TT-BNN ngày4/7/2003 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn được xác định là đốitượng nghiên cứu của đề tài
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Nội dung của đề tài: Nghiên cứu đánh giá tình hình phát triển kinh
tế trang trại ở thị xã Bỉm Sơn về quy mô, kết quả và hiệu quả sản xuất, các yếu
tố ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của trang trại
Địa điểm nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu các trang trại
trong phạm vi thị xã Bỉm Sơn
Thời gian nghiên cứu: Thu thập thông tin và số liệu về tình hình
phát triển kinh tế trang trại từ năm 2005 - 2007 và dự báo đến năm 2010
Trang 5PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KINH TẾ TRANG TRẠI
2.1.1 Khái niệm trang trại, kinh tế trang trại
Đến nay, đã có nhiều nghiên cứu và đưa ra nhiều quan niệm khác nhau
về trang trại và kinh tế trang trại Tuy nhiên, đều có quan điểm chung, pháttriển kinh tế trang trại là sản xuất hàng hoá, khác với nền kinh tế tiểu nông tựcấp, tự túc Marx đã phân biệt chủ trang trại với người tiểu nông ở hai khía cạnh
đó là: người chủ trang trại bán ra thị trường toàn bộ sản phẩm làm ra; còn ngườitiểu nông dùng đại bộ phận sản phẩm làm ra và mua bán càng ít càng tốt
Theo những tư liệu nước ngoài có thể hiểu “kinh tế trang trại” hay
“trang trại” hoặc “kinh tế nông trại” hay “nông trại”, là một mô hình mà ở đósản xuất nông nghiệp được tiến hành có tổ chức dưới sự điều hành của mộtngười và ở đây phần đông là chủ hộ gia đình nông dân theo hướng sản xuấthàng hoá gắn liền với thị trường
Hai thuật ngữ “trang trại” hay “kinh tế trang trại”, trong nhiều trườnghợp được sử dụng như là những thuật ngữ đồng nghĩa Về thực chất, trang trại
và kinh tế trang trại là những khái niệm không đồng nhất Bởi vì, ”Kinh tế trangtrại là tổng thể các yếu tố vật chất của sản xuất và các quan hệ kinh tế nảy sinhtrong quá trình tồn tại và hoạt động của trang trại, còn trang trại là nơi kết hợp cácyếu tố vật chất của sản xuất và là chủ thể của các quan hệ kinh tế đó” [18]
Khi chúng ta nói về “trang trại” tức là nói đến những cơ sở SXKD nôngnghiệp của một loại hình tổ chức sản xuất nhất định theo nghĩa rộng bao gồm
cả hoạt động xã hội kinh doanh trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, lâm
Trang 6nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản (NTTS) Bản thân cụm từ “trang trại” là đề cậpđến tổng thể những mối quan hệ KT- XH, môi trường nảy sinh trong quá trìnhhoạt động SXKD của các trang trại, quan hệ giữa các trang trại với nhau, giữacác trang trại với các tổ chức kinh tế khác, với Nhà nước, với thị trường, vớimôi trường sinh thái tự nhiên [18]
Khi nói về ”kinh tế trang trại” tức là nói đến mặt ”kinh tế” của trangtrại Ngoài mặt kinh tế còn có thể nhìn nhận trang trại từ phía xã hội và môitrường Tuy nhiên, trong nghiên cứu và quản lý người ta thường chú trọngđến kinh tế của trang trại mà ít chú ý đến nội dung xã hội và môi trường củatrang trại Cho nên, khi nói kinh tế trang trại người ta thường gọi tắt là trangtrại, vì mặt kinh tế là là mặt cơ bản chứa đựng những nội dung cốt lõi Dovậy, trong văn phong khẩu ngữ tiếng Việt, ở một số trường hợp cụ thể, cụm từ
“trang trại” và “kinh tế trang trại” có thể được dùng thay thế cho nhau, mà ý nghĩacủa câu văn, câu nói không bị thay đổi và coi chúng như những cụm từ đồngnghĩa [25]
Ở Việt Nam, trước năm 2000 do có nhiều cách tiếp cận, phân tích đánhgiá khác nhau nên có rất nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm trang trại
và kinh tế trang trại
Có quan điểm cho rằng, "trang trại là một tổ chức sản xuất cơ sở trongnông nghiệp (bao gồm nông, lâm, ngư nghiệp) có mục đích là sản xuất hànghoá, tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một ngườichủ độc lập, sản xuất được tiến hành trên qui mô ruộng đất và các yếu tố sảnxuất tập trung đủ lớn với phương thức tổ chức quản lý sản xuất tiến bộ vàtrình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trường" [27]
PGS.TS Hoàng Việt đã đưa ra khái niệm "Trang trại là một hình thức
tổ chức sản xuất sản phẩm hàng hoá, tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc
Trang 7quyền sử dụng của một người chủ độc lập, sản xuất được tiến hành trên qui
mô diện tích ruộng đất và các yếu tố sản xuất được tập trung đủ lớn, với cáchthức tổ chức quản lý tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ và luôngắn với thị trường" [32]
Khi nghiên cứu về trang trại, tác giả Trần Trác viết "Kinh tế trang trại
là hình thức tổ chức sản xuất và kinh doanh hàng hoá nông, lâm, thuỷ sản củamột hộ gia đình theo cơ chế thị trường" [21]
Theo GS.TS Nguyễn Đình Hương, "kinh tế trang trại là một hình thức
tổ chức cơ sở trong nông, lâm, ngư nghiệp, mục đích chủ yếu là sản xuất hànghoá, tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một ngườichủ độc lập, sản xuất được tiến hành trên qui mô ruộng đất và các yếu tố sảnxuất được tập trung đủ lớn với cách thức tổ chức quản lý tiến bộ và trình độ
kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trường” [18]
Đề tài nghiên cứu kinh tế trang trại ở Nam Bộ đã đưa ra khái niệm nhưsau "Kinh tế trang trại là một loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh trongnông nghiệp, phổ biến được hình thành và phát triển trên nền tảng kinh tế hộ
và về cơ bản mang bản chất của kinh tế hộ Quá trình hình thành và phát triểnkinh tế trang trại là quá trình nâng cao năng lực sản xuất dựa trên cơ sở tích tụtập trung vốn và các yếu tố sản xuất khác và nhờ đó tạo ra sản phẩm hàng hoávới năng suất, chất lượng và hiệu quả cao" [26]
Trong nghiên cứu kinh tế, chính sách và thị trường mới đây đã đưa rakhái niệm "Kinh tế trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất kinh doanhtrong nông nghiệp, được hình thành và phát triển trên cơ sở kinh tế hộ giađình nông dân có mức độ tích tụ và tập trung cao hơn về đất đai, vốn, laođộng, kỹ thuật nhằm tạo ra khối lượng hàng hoá nông sản lớn hơn, với lợi
Trang 8nhuận cao hơn theo yêu cầu của kinh tế thị trường, có sự điều tiết của Nhànước theo định hướng xã hội chủ nghĩa" [31].
Nhìn chung, quan niệm và nhận thức về bản chất, đặc trưng của kinh tếtrang trại đã gần gũi, thống nhất về cơ bản Tuy nhiên, về mặt nhận thức cũngcòn những ý kiến khác nhau về tích tụ vốn, qui mô hạn điền, các doanhnghiệp nông nghiệp vừa và nhỏ, các loại hình công ty có phải là trang trại haykhông đang được các nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu
Từ những khái niệm trên chúng tôi thấy mỗi quan điểm đều có cáchnhìn nhận đánh giá khác nhau, nhưng chung qui “kinh tế trang trại là hìnhthức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông, lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sảnvới qui mô về đất đai, vốn, lao động, đầu con gia súc, gia cầm, giá trị sản xuấtnông, lâm, thuỷ sản phải lớn, hiệu quả sản xuất cao và có thu nhập vượt trội
so với kinh tế hộ”
Kinh tế trang trại là tổng hợp các yếu tố sản xuất kinh doanh và các mốiquan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình hoạt động của trang trại Còn trangtrại là nơi diễn ra các hoạt động và các mối quan hệ đó
2.1.2 Vị trí, vai trò của kinh tế trang trại
Trong những năm gần đây, kinh tế trang trại phát triển nhanh về sốlượng, đa dạng về ngành sản xuất ở tất cả các vùng, địa phương trong cảnước Mặc dù mới được phát triển trong những năm gần đây nhưng kinh tếtrang trại đã thể hiện rõ vai trò quan trọng và tích cực không những về kinh tế
mà còn cả về xã hội và môi trường
Về mặt kinh tế, KTTT là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trongnông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô
và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồngthuỷ sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ, nông, lâm, thuỷ
Trang 9sản Các trang trại phát triển sẽ góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, pháttriển các loại cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao, khắc phục dần tìnhtrạng sản xuất phân tán, manh mún tạo nên những vùng chuyên môn hóa, tậptrung hàng hóa và thâm canh cao [17, tr 18].
Về mặt xã hội, phát triển KTTT, sử dụng có hiệu quả đất đai, vốn, kỹ
thuật, kinh nghiệm quản lý góp phần phát triển nông nghiệp bền vững, tạoviệc làm tăng thu nhập, khuyến khích làm giàu đi đôi với xoá đói giảm nghèo,phân bố lại lao động, dân cư, xây dựng lại nông thôn mới Bên cạnh đó pháttriển kinh tế trang trại còn góp phần quan trọng trong việc làm tăng số hộ giàutrong nông thôn; điều này có ý nghĩa rất quan trọng trong giải quyết vấn đềlao động và việc làm, một trong những vấn đề bức xúc trong nông nghiệp vànông thôn ở nước ta hiện nay
Về vấn đề môi trường, do sản xuất kinh doanh tự chủ và vì lợi ích thiếtthực, lâu dài của mình mà các chủ trang trại đã luôn có ý thức khai thác hợp
lý và quan tâm bảo vệ các yếu tố môi trường, trước hết là trong phạm vikhông gian sinh thái trang trại và sau nữa là trong phạm vi từng vùng Đặcbiệt, các trang trại trung du miền núi đã góp phần tích cực vào việc phủ xanhđất trống, đồi núi trọc bảo vệ môi trường sinh thái
2.1.3 Đặc trưng của kinh tế trang trại
Thi hành Nghị quyết 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000 của Chính phủ
về kinh tế trang trại; Liên Bộ Nông nghiệp và PTNT và Tổng cục Thống kê
đã có Thông tư liên tịch số 69/2000/TTLT/BNN-TCTK ngày 23/6/2000 vềhướng dẫn tiêu chí để xác định kinh tế trang trại; theo Thông tư này thì kinh
tế trang trại so với kinh tế hộ có những đặc trưng chủ yếu sau:
- Mục đích chủ yếu của KTTT là sản xuất nông, lâm, thuỷ sản hàng hoávới quy mô lớn
Trang 10- Mức độ tập trung và chuyên môn hoá các điều kiện và yếu tố sản xuất caohơn hẳn (vượt trội) so với sản xuất của nông hộ, thể hiện ở quy mô sản xuất nhưđất đai, đầu con gia súc, lao động, giá trị nông, lâm, thuỷ sản hàng hoá.
- Chủ trang trại có kiến thức và kinh nghiệm trực tiếp điều hành sảnxuất, biết áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, tiếp nhận chuyển giao côngnghệ mới vào sản xuất, sử dụng lao động gia đình và thuê lao động bên ngoàisản xuất hiệu quả cao, có thu nhập vượt trội so với kinh tế hộ [10]
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế trang trại
Các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất
Quá trình sản xuất là quá trình kết hợp các yếu tố đầu vào (nguồn lực sảnxuất) theo các cách thức nhất định để tạo ra các đầu ra theo nhu cầu xã hội
- Đất đai là yếu tố sản xuất, không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối vớinông nghiệp mà còn quan trọng đối với sản xuất công nghiệp và dịch vụ Đấtđai là yếu tố cố định, lại bị giới hạn bởi qui mô, nên người ta phải đầu tư thêmvốn, lao động trên một đơn vị diện tích nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đấtđai [30] Do vậy, để hình thành trang trại cần phải có quĩ đất cần thiết để phát triểntrang trại Để làm được điều này, Nhà nước phải đưa ra được những chính sách vềđất đai phù hợp để chủ trang trại yên tâm sản xuất trên thửa đất được giao
Theo Nghị quyết số 03/CP ngày 02/02/2000 thì hộ gia đình có nhu cầu
và khả năng sử dụng đất để phát triển trang trại được nhà nước giao đất hoặccho thuê đất và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (CNQSDĐ)[10] Thẩm quyền giao đất cho thuê, được áp dụng theo quy định tại Nghịđịnh số 85/NĐ-CP ngày 28/08/1999 của Chính phủ về sửa đổi bổ sung một sốquy định về giao đất nông nghiệp cho một số hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổnđịnh lâu dài và Nghị định số 163/1999/ NĐ-CP ngày 16/11/1999 của Chínhphủ về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân
sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp [9]
Trang 11Mặt khác, theo điều 82 Luật Đất đai năm 2003, đất sử dụng cho kinh tếtrang trại còn được quy định "Nhà nước khuyến khích hình thức KTTT của hộgia đình, cá nhân nhằm khai thác có hiệu quả đất đai để phát triển sản xuất,
mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sử dụng đất trong sản xuất nông, lâmnghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối gắn với dịch vụ chế biến và tiêu thụsản phẩm nông nghiệp Nghiêm cấm việc lợi dụng hình thức KTTT để baochiếm, tích tụ đất đai không vì mục đích sản xuất" [20]
- Lực lượng lao động là yếu tố đặc biệt quan trọng của quá trình sảnxuất Mọi hoạt động sản xuất đều do lao động của con người quyết định, nhất
là người lao động có kỹ thuật, kinh nghiệm và kỹ năng lao động Do đó, chấtlượng lao động quyết định kết quả và hiệu quả sản xuất [30] Bởi vậy, để pháttriển trang trại, trước hết chủ trang trại phải là người có khát khao, ý chí làmgiàu, có kinh nghiệm từ sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản và là người sửdụng có hiệu quả từ nguồn lao động gia đình cũng như lao động thuê mướnbên ngoài Bên cạnh đó, Nhà nước cần khuyến khích và tạo điều kiện hỗ trợ
để các chủ trang trại mở rộng quy mô SXKD, tạo được nhiều việc làm chongười lao động trong nông thôn Ưu tiên sử dụng lao động của hộ nông dânkhông đất, thiếu đất sản xuất nông nghiệp, hộ nghèo thiếu việc làm Chủ trangtrại được thuê lao động không hạn chế số lượng, trả công lao động trên cơ sởthoả thuận với người lao động theo quy định của pháp luật về lao động
Để kinh tế trang trại phát triển một cách bền vững, ngoài việc giao đấtlâu năm cho các hộ yên tâm sản xuất thì Nhà nước cũng như các địa phươngcần phải mở các lớp đào tạo ngắn hạn hoặc trung hạn cho các chủ trang trạinhằm nâng cao trình độ kiến thức
- Vốn sản xuất là những tư liệu sản xuất như máy móc, thiết bị, phươngtiện vận tải, kho tàng, kết cấu hạ tầng và kỹ thuật Vốn là yếu tố vô cùng quantrọng Trong điều kiện năng suất lao động không đổi thì tăng tổng số vốn sẽ
Trang 12dẫn đến tăng thêm giá trị sản lượng hàng hoá Tất nhiên, trong thực tế sự tăngthêm giá trị sản lượng hàng hoá còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nữa,chẳng hạn chất lượng lao động, trình độ kỹ thuật [30] Đặc biệt, đối với pháttriển trang trại, vốn là nhân tố có tính quyết định tới việc hình thành và pháttriển KTTT, bởi trang trại cần nhiều vốn để đầu tư cơ sở hạ tầng, mua congiống
- Khoa học và công nghệ, là yếu tố sản xuất quan trọng, nó quyết định
sự thay đổi năng suất lao động và chất lượng sản phẩm; đây là một trongnhững yếu tố có vai trò quan trọng và đối với một nền sản xuất hàng hoá vớiquy mô lớn trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Bới vì, chỉ có ứng dụngkhoa học kỹ thuật, công nghệ hiện đại vào sản xuất mới giảm được giá thành
để cạnh tranh với hàng hoá của các nước trên thế giới
- Ngoài bốn yếu tố cơ bản của sản xuất nêu trên, còn rất nhiều yếu tốkhác tác động tới phát triển kinh tế trang trại như qui mô sản xuất, các hìnhthức tổ chức tổ chức tối ưu, mối quan hệ cân đối tác động qua lại lẫn nhaugiữa các ngành, các thành phần kinh tế, quan hệ cung cầu và thị trường tiêuthụ sản phẩm Đối với phát triển trang trại, để sản phẩm sản xuất ra tiêu thụđược, ngoài việc phải nâng cao chất lượng sản phẩm, mẫu mã thì vấn đề cơ sở
hạ tầng giao thông nông thôn cũng phải được nâng lên, bên cạnh đó Nhà nướccũng cần hỗ trợ việc đầu tư nâng cấp mở rộng và xây dựng mới các cơ sởcông nghiệp chế biến ở các vùng tập trung, chuyên canh: hướng dẫn việc kýkết hợp đồng cung ứng vật tư và tiêu thụ nông sản Kinh tế trang trại pháttriển theo hướng sản xuất hàng hoá ngày càng lớn và gắn với thị trường Tuynhiên, sản phẩm hàng hoá của các trang trại chủ yếu tiêu thụ ở dạng thô, giá
cả bấp bênh, không ổn định
Các yếu tố phi kinh tế
Trang 13Ngoài các yếu tố kể trên, để phát triển kinh tế trang trại thì yếu tố thểchế chính trị, đường lối phát triển kinh tế; đặc điểm dân tộc, tôn giáo, văn hoá
ở mỗi vùng sẽ có tác động không nhỏ đến tập quán sản xuất hướng đến phát
triển sản xuất hàng hoá có sự khác nhau
2.1.5 Phân loại trang trại
Hiện nay có nhiều cách phân loại khác nhau đối với trang trại, mỗi tácgiả dựa vào những tiêu chí khác nhau để phân loại và tùy vào đặc điểm, điềukiện cụ thể từng địa phương mà trang trại chia thành các loại khác nhau Nhìnchung trang trại được chia thành các loại sau:
- Theo quy mô đất đai: bao gồm trang trại quy mô nhỏ (2 - 5 ha), trang
trại quy mô vừa (5 - 10 ha), trang trại có quy mô lớn (10 - 30 ha) và trang trại
có quy mô vượt hạn điền lớn hơn 30 ha
- Theo cơ cấu sản xuất các loại trang trại: + Trang trại chuyên môn
hóa: là loại trang trại chỉ tạo ra một hoặc hai sản phẩm chính như: trang trạichuyên trồng cây hàng năm như mía, sắn , trang trại chuyên trồng cây lâunăm như cao su, quế, vải, nhãn, cam , trang trại chuyên chăn nuôi như lợn thịt,lợn sinh sản, bò sinh sản, gà, vịt , trang trại chuyên trồng cây lâm nghiệp nhưluồng, keo, bạch đàn , trang trại chuyên nuôi trồng thuỷ sản như tôm, cá
+ Trang trại sản xuất kinh doanh tổng hợp: là loại trang trại kết hợpgiữa một trong ba ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản, với nhau hoặcvới tiểu thủ công nghiệp Tuy nhiên, để thống nhất theo hướng dẫn của TổngCục Thống kê và Bộ nông nghiệp & PTNT, trong nghiên cứu của đề tài trangtrại SXKD tổng hợp là loại hình chỉ kết hợp giữa trồng trọt với chăn nuôi,hoặc nuôi trồng thủy sản với ngành nghề khác khi mà nó không đạt mộttrong các tiêu chí về trang trại chuyên môn hoá
Trang 14- Phân theo hình thức quản lý: + Trang trại gia đình: là trang trại độc lập sản
xuất kinh doanh do chủ hộ đứng ra quản lý, thường 1 trang trại là của 1 hộ gia đình
+ Trang trại liên danh: do 2-3 trang trại gia đình kết hợp lại thành 1 trangtrại có quy mô và năng lực sản xuất lớn, đủ sức cạnh tranh với trang trại khác
+ Trang trại hợp doanh: được tổ chức theo nguyên tắc như công ty cổphần hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản
Loại này thường có quy mô lớn, thực hiện chuyên môn hoá sản xuất, sửdụng lao động làm thuê là chủ yếu
- Phân theo cơ cấu thu nhập: + Trang trại thuần nông, nguồn thu nhập
chủ yếu hoàn toàn hay phần lớn từ nông nghiệp Số trang trại này đang có xuhướng giảm đi ở các nước công nghiệp phát triển
+ Trang trại có thu nhập chủ yếu ngoài nông nghiệp, loại này tập trungchủ yếu ở những nước có nền công nghiệp phát triển
- Phân loại theo hình thức sở hữu tư liệu sản xuất
+ Chủ trang trại sở hữu toàn bộ tư liệu sản xuất từ đất đai, công cụ, máymóc, chuồng trại, kho bãi
+ Chủ trang trại chỉ sở hữu một phần tư liệu sản xuất, một phần phải đithuê bên ngoài (có đất đai nhưng phải thuê máy móc, công cụ, kho tàng )
+ Chủ trang trại hoàn toàn không có tư liệu sản xuất mà phải đi thuêtoàn bộ từ đất đai, máy móc, thiết bị, kho tàng…
- Phân loại theo phương thức điều hành sản xuất
+ Chủ trang trại sống cùng gia đình ở nông thôn, trực tiếp điều hànhsản xuất và trực tiếp lao động
+ Trang trại uỷ thác: uỷ nhiệm cho anh em họ hàng, bạn bè thân thiếtcòn ở tại quê để canh tác
Trang 15Chủ trang trại uỷ nhiệm cho người thân quen làm một hoặc nhiều côngviệc như làm đất, gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch trên một phần hoặc toàn bộruộng đất của mình trong thời gian nhất định theo giá thoả thuận [16].
2.1.6 Tiêu chí nhận dạng trang trại
Thông tư số 74/2003/ TT- BNN ngày 04/7/2003 (Thông tư này sữa đổi,
bổ sung mục III của Thông tư liên tịch số 69/2000/TTLT/BNN - TCTK ngày23/06/2000) của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn còn giải thích rõ:Đối tượng và ngành sản xuất được xem xét để xác định là KTTT đó là hộnông dân, hộ công nhân viên nhà nước và lực lượng vũ trang đã nghỉ hưu, cácloại hộ thành thị và cá nhân chuyên sản xuất (bao gồm nông nghiệp, lâmnghiệp và nuôi trồng thuỷ sản) hoặc sản xuất nông nghiệp là chính có kiêmnhiệm các hoạt động dịch vụ phi nông nghiệp ở nông thôn
Mục đích sản xuất của trang trại là sản xuất nông, lâm, thuỷ sản hànghoá với quy mô lớn
Mức độ tập trung hoá và chuyên môn hoá các điều kiện và yếu tố sảnxuất cao hơn hẳn (vượt trội) so với sản xuất của nông hộ, thể hiện ở qui mô sảnxuất như đất đai, đầu con gia súc, lao động, giá trị nông lâm thuỷ sản hàng hoá
Chủ trang trại có kiến thức và kinh nghiệm trực tiếp điều hành sản xuất,biết áp dụng tiến bộ KHKT tiếp nhận chuyển giao công nghệ mới vào sảnxuất, sử dụng lao động gia đình và thuê lao động bên ngoài sản xuất hiệu quảcao có thu nhập vượt trội so với kinh tế nông hộ
Tiêu chí định lượng của trang trại
Đối với hộ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản được xácđịnh là trang trại phải đạt một trong hai tiêu chí về giá trị sản lượng hàng hoá vàdịch vụ bình quân một năm hoặc về quy mô sản xuất của trang trại sau đây:
Trang 161 Giá trị sản lượng hàng hoá và dịch vụ bình quân một năm:
- Đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung từ 40 triệu đồng trởlên
- Đối với các tỉnh phía Nam và Tây nguyên từ 50 triệu đồng trở lên
2 Quy mô sản xuất phải tương đối lớn và vượt trội so với kinh tế nông
hộ tương ứng với từng ngành sản xuất và từng vùng kinh tế
- Đối với trang trại trồng trọt:
+ Trang trại trồng cây hàng năm: Từ 2 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc vàDuyên hải miền Trung; từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây nguyên
+ Trang trại trồng cây lâu năm: Từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc vàDuyên hải miền Trung; từ 5 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây nguyên;trang trại trồng hồ tiêu 0,5 ha trở lên
+ Trang trại lâm nghiệp: Từ 10 ha trở lên đối với các vùng trong cả nước
- Đối với trang trại chăn nuôi: + Chăn nuôi đại gia súc: trâu, bò,
ngựa… Đối với chăn nuôi sinh sản, lấy sữa có thường xuyên từ 10 con trởlên; chăn nuôi lấy thịt có thường xuyên từ 50 con trở lên
+ Chăn nuôi gia súc: lợn, dê, cừu… Đối với chăn nuôi sinh sản cóthường xuyên đối với lợn từ 20 con trở lên; đối với dê, cừu từ 100 con trở lên.Chăn nuôi lợn thịt có thường xuyên từ 100 con trở lên (không kể lợn sữa); dêthịt từ 200 con trở lên
+ Chăn nuôi gia cầm: gà, vịt, ngan, ngỗng… có thường xuyên từ 2000con trở lên (không tính số đầu con dưới 7 ngày tuổi)
- Trang trại nuôi trồng thuỷ sản: Diện tích nuôi trồng thuỷ sản có từ 2
ha trở lên (riêng đối với nuôi tôm thịt theo kiểu công nghiệp từ 1 ha trở lên)
- Trang trại sản xuất kinh doanh tổng hợp: Là những trang trại có từ
hai hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản khác nhau trởlên và mỗi hoạt động đều đạt về qui mô hoặc mức giá trị hàng hoá và dịch vụ
Trang 17như qui định cho trang trại Ví dụ: Trang trại nhà ông A có 3 ha chuyên trồnglúa và có nuôi cá đạt mức bình quân 50 triệu sản phẩm hàng hoá một năm;trường hợp này ghi trang trại nhà ông A là trang trại tổng hợp [8], [19].
2.2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN VÀ PHÁT TRIỂN TRANG TRẠI 2.2.1 Quan điểm về tăng trưởng và phát triển
Tăng trưởng và phát triển là những vấn đề quan tâm hàng đầu đối với
xã hội loài người trên thế giới và trong từng quốc gia Mục đích cuối cùng cầnđạt được của mọi hoạt động của con người là nhằm có được cuộc sống ấm no,
tự do và hạnh phúc
Tăng trưởng và phát triển đôi khi được coi là đồng nghĩa, nhưng thực rachúng có liên quan với nhau và có những nội dung khác nhau Theo nghĩachung nhất, tăng trưởng là nhiều sản phẩm hơn, còn phát triển không nhữngnhiều sản phẩm hơn mà còn phong phú hơn về chủng loại và chất lượng, phùhợp hơn về cơ cấu và phân bố của cải [15]
Tăng trưởng được hiểu là sự gia tăng về mặt số lượng của một sự vậtnhất định Trong kinh tế, tăng trưởng thể hiện sự gia tăng hơn trước về sảnphẩm hay lượng đầu ra của một quá trình sản xuất hay hoạt động [12]
Phát triển bao hàm ý nghĩa rộng hơn, được coi như tiến trình biếnchuyển của xã hội, là chuỗi những biến chuyển có mối quan hệ qua lại vớinhau Phát triển theo khái niệm chung nhất là việc nâng cao hạnh phúc củangười dân, bao hàm nâng cao các chuẩn mực sống, cải thiện các điều kiện giáodục, sức khõe, sự bình đẳng về các cơ hội Trong kinh tế, phát triển là quátrình chuyển biến về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định,trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về qui mô sản lượng sản phẩm, sự hoànthiện về cơ cấu nền kinh tế và việc nâng cao chất lượng mọi mặt của cuộc sống[12]
Trang 18Qua đây chúng ta thấy, tăng trưởng là điều kiện, tiền đề cho phát triển.Bởi vì, nền kinh tế có tăng trưởng thì mới có khả năng tăng ngân sách Nhà nước,tăng thu nhập của dân cư Tuy nhiên, tăng trưởng chỉ là điều kiện cần, nhưng nóchưa phải là điều kiện đủ để phát triển Tăng trưởng mà không phát triển sẽ dẫnđến mất cân đối trong nền kinh tế và phân hoá xã hội, ngày càng tăng lên Ngượclại, phát triển mà không tăng trưởng là không tồn tại trong thực tế [30].
2.2.2 Quan điểm về phát triển bền vững
Trong những năm gần đây, do dân số gia tăng mạnh mẽ, do nhu cầu nângcao mức sống, hoạt động của con người nhằm khai thác các nguồn lực, tàinguyên thiên nhiên đã làm cho môi trường bị cạn kiệt Loài người đã phải đươngđầu với những thách thức lớn do suy thoái về nguồn lực và giảm cấp môi trường.Trước những vấn đề của phát triển, vào nửa cuối của thế kỷ 20, Liên Hợp Quốc
đã đưa ra ý tưởng về phát triển bền vững Theo quan điểm của Liên Hiệp Quốcthì một thế giới phát triển bền vững là thế giới không sử dụng các nguồn tàinguyên có thể tái tạo (nước, đất đai, sinh vật) nhanh hơn khả năng tái tạo củachúng Phát triển ý tưởng của Liên Hiệp Quốc, ủy ban quốc tế về phát triển và
môi trường (1987) đã định nghĩa: Phát triển bền vững là một quá trình của sự thay đổi, trong đó, việc khai thác và sử dụng tài nguyên, hướng đầu tư, hướng phát triển của công nghệ và kỹ thuật, và sự thay đổi về tổ chức là thống nhất, làm tăng khả năng đáp ứng nhu cầu hiện tại và tương lai của con người [12],[30]
Hội nghị thượng đỉnh về trái đất năm 1992 tổ chức tại Riode Janeiro
năm 1992 đưa ra định nghĩa vắn tắt về phát triển bền vũng là: Phát triển nhằm thoả mãn nhu cầu của thế hệ ngày nay mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai [12], [30].
Ở Việt Nam, quan điểm về phát triển bền vững đã được khẳng địnhtrong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX: ”Phát triển nhanh, hiệu
Trang 19quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng
xã hội và bảo vệ môi trường” Gần đây, Chính phủ đã ban hành Quyết định số153/2004/QĐ-TTg ngày 17/8/2004 về định hướng chiến lược phát triển bềnvững ở Việt Nam” (Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam) nêu lên nhữngthách thức mà Việt Nam đang phải đối mặt, đề ra những chủ trương, chínhsách, công cụ pháp luật và những lĩnh vực hoạt động ưu tiên cần thực hiện đểphát triển bền vững trong thế kỷ 21 Định hướng này bao gồm 5 nội dung:
Một là, phát triển bền vững – con đường tất yếu của Việt Nam.
Hai là, những lĩnh vực kinh tế cần ưu tiên nhằm phát triển bền vững.
Ba là, những lĩnh vực xã hội cần ưu tiên nhằm phát triển bền vững Bốn là, những lĩnh vực sử dụng tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi
trường và kiểm soát ô nhiễm cần ưu tiên nhằm phát triển bền vững
Năm là, tổ chức thực hiện phát triển bền vững [30].
2.2.3 Quan điểm về phát triển trang trại
Chúng ta biết, phát triển kinh tế trang trại tức là phát triển sản xuất củacác ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản Đây là ngành kinh
tế đặc biệt, khác với công nghiệp và các ngành khác là vì, đối tượng sản xuất
là các sinh vật, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt và không thể thaythế; được phân bố trên một không gian rộng lớn; sản phẩm làm ra vừa đượctiêu dùng tại chỗ lại vừa trao đổi trên thị trường; cung về nông sản hàng hoá
và cầu các yếu tố đầu vào mang tính thời vụ và nó có liên quan chặt chẽ đếncác ngành công nghiệp Do vậy, để phát triển kinh tế trang trại cần phảinghiên cứu các đặc tính trên từ đó để có hướng đầu tư sản xuất
Phát triển trang trại thể hiện ở sự gia tăng về qui mô trang trại cả về bềrộng và bề sâu
Trang 20Phát triển bề rộng, đó là sự gia tăng về số lượng trang trại ở một vùng,một quốc gia hay một địa phương nào đó Hiện nay, Bỉm Sơn còn khoảng1.176 ha đất bằng, mặt nước có khả năng đưa vào sử dụng, dân số gần 6 vạnngười và nguồn lao động ở một số huyện lân cận đây là một trong nhữngthuận lợi cho phép phát triển trang trại theo bề rộng.
Phát triển bề sâu, cùng với phát triển bề rộng thì chúng ta phát triểntheo chiều sâu thể hiện thông qua về qui mô vốn đầu tư vốn, đào tạo lao đông,ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất phát triển trang trại phảigắn công nghiệp chế biến, cần có sự liên kết, hợp tác giữa các cấp các, ngành,các doanh nghiệp với chủ trang trại nhằm đạt hiệu quả sản xuất cao nhất, đemlại thu nhập ngày một tăng cho người lao động Phát triển nhưng không làmphá vỡ môi trường sinh thái
Quan điểm phát triển trang trại ở thị xã Bỉm Sơn cũng như của tỉnh là, pháttriển nhằm khai thác thế mạnh về điều kiện tự nhiên, lao động để chuyển từ nền sảnxuất truyền thống sang sản xuất hàng hoá và hướng đến một nền sản xuất nông, lâmnghiệp và thuỷ sản công nghệ cao, sản phẩm sạch, an toàn và hướng đến xuất khẩu.Phát triển trang trại hướng đến nhu cầu thị trường, phát huy lợi thế cây, con củatừng vùng để ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhằm đạt năng suấtcao, chất lượng tốt, sản phẩm có tính cạnh tranh trên thị trường quốc tế Phát triểntrang trại phải gắn kết chặt chẽ với công nghiệp chế biến và thị trường tiêu thụ, hìnhthành các vùng nguyên liệu sản xuất hàng hoá tập trung Phát triển trang trại nhằmnâng cao giá trị trên một ha đất canh tác, tạo việc làm và tăng thu nhập cho mộtphần không nhỏ lao động trang trại ở khu vực nông thôn góp phần tích cựcchuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi và cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn
2.3 CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI
Trang 212.3.1 Quá trình phát triển kinh tế trang trại trên thế giới
Trên thế giới, kinh tế trang trại đã hình thành và phát triển hàng trămnăm nay và đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của sản xuất nôngnghiệp, trong ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và thúc đẩy nhanh quá trình côngnghiệp hoá, hiện đại hoá trong nền nông nghiệp hàng hoá Sở dĩ như vậy bởi vì,
nó là đơn vị kinh tế phù hợp với nông nghiệp, nông thôn, rất cơ động và linhhoạt, dễ dàng vượt qua những khó khăn khi giá cả thị trường không ổn định
Ở Châu Âu, thế kỷ thứ XVIII, chủ nghĩa tư bản đã phát triển và xuấthiện tình trạng dân số bắt đầu tăng nhanh hơn, đồng thời nhu cầu nông sảncũng tăng, nhưng kỹ thuật nông nghiệp không cho phép tăng sản lượng nôngnghiệp, làm cho giá nông sản tăng Dân số tăng cộng với tư hữu ruộng đất đãdẫn đến người nghèo ở nông thôn tăng, giá thuê nhân công ở nông thôn giảmxuống Trong điều kiện nông nghiệp là ngành sản xuất có lãi, các trang trại lớn
tư bản chủ nghĩa có nhiều lao động làm thuê ưu thế hơn trang trại gia đình Vìthế, từ cuối thế kỷ XVIII đến khoảng những năm 1870, quy mô các trang trạilớn lên
Đến cuối thế kỷ XIX, do ngành đường sắt và tàu thuỷ chạy hơi nướcphát triển, làm cho giá vận tải hàng hoá giảm, xuất hiện luồng di dân từ Châu
Âu sang Châu Mỹ và Úc để mở rộng diện tích đất nông nghiệp, thời kỳ nàymáy nông nghiệp và phân hoá học phát triển đã thúc đẩy sản lượng nôngnghiệp tăng nhanh Từ đó làm giá nông sản giảm mạnh, các trang trại lớn mất
ưu thế và thúc đẩy trang trại gia đình phát triển
Hiện nay, nhiều chủ trang trại không sống tại trang trại mà họ thuêngười quản lý và làm việc Như ở Mỹ, trong số 1.946 nghìn trang trại gia đình
có đến 908 nghìn trang trại (47%) mà chủ trang trại hoạt động chủ yếu ngoàinông nghiệp [16]
Trang 222.3.2 Kinh tế trang trại ở một số nước trên thế giới
* Trang trại ở Anh: vào cuối thể kỷ XVII, cuộc cách mạng tư sản đã
phá bỏ triệt để các bãi chăn thả gia súc công và các cơ chế có lợi cho nôngdân nghèo nên thúc đẩy quá trình tập trung ruộng đất và làm phá sản các nôngtrại nhỏ Sau chiến tranh thế giới thứ 2, khi diện tích bình quân một nông trạităng lên 36 ha nhưng các nông trại nhỏ có diện tích dưới 5 ha vẫn chiếm đasố
* Trang trại ở Pháp: sau cách mạng 1789, ruộng đất của địa chủ phong
kiến được chuyển cho nông dân Năm 1990, đã có tới 70% trang trại có ruộngđất riêng, 30% trang trại phải lĩnh canh một phần hay toàn bộ Số trang trạithuần nông chiếm khoảng 30 ha, mỗi gia đình gồm 2 vợ chồng và 1-2 con, tựcanh tác bằng máy móc riêng Số lượng trang trại có xu hướng giảm dầnnhưng quy mô trang trại có xu hướng tăng lên Cụ thể năm 1082 có số lượnggần 5,7 triệu trang trại, qui mô bình 5,9 ha/trang trại thì đến năm 1978 chỉ có
982 nghìn trang trại, qui mô bình quân tăng lên 24 ha/trang trại Chứng tỏhoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại ngày càng phát triển về qui mô
và có xu hướng hợp tác sảng xuất hàng hoá với qui mô lớn ngày càng giatăng
* Trang trại ở Mỹ: ở Mỹ, trang trại phát triển chậm hơn các nước Châu
Âu từ 30- 40 năm, đến nay quy mô đất canh tác bình quân một trang trại là
180 ha Ở đây, có 85% chủ trang trại canh tác trên đất của mình, chỉ có 15%
số trang trại thuộc các tập đoàn nông công nghiệp, các trang trại gia đìnhchiếm đa số gồm 2 vợ chồng và 1-2 con Thời gian gần đây, xuất hiện hìnhthức trang trại hợp tác xã, loại này chiếm 10-12% đất canh tác
Từ những năm 1900 đến năm 1935, số lượng trang trại không ngừngtăng lên, nhưng từ năm 1940 trở đi, số lượng trang trại có xu hướng giảm dần,
Trang 23trong đó từ năm 1940 đến năm 1960 giảm tới 3701 nghìn trang trại, nhưng xuhướng tăng về quy mô trang trại ở Mỹ phát triển khá nhanh
* Trang trại ở Thái Lan: trang trại đóng vai trò chủ chốt trong việc tạo
ra nông sản phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Số lượng trang trạigia đình có 4,5 triệu trang trại, quy mô đất canh tác bình quân một trang trại là5,6 ha, trong đó: trang trại có diện tích từ 5 - 10 ha chiếm 28%; trang trại códiện tích lớn hơn 10 ha chiếm 14% Năm 1980, tổng số máy kéo của trang trại
có khoảng 460 nghìn chiếc, bảo đảm cơ giới khâu làm đất 60%, cơ giới hoátrong khâu chế biến cũng được phát triển mạnh, 84% làng xã có điện phục vụsản xuất và sinh hoạt
* Trang trại ở Hàn Quốc: là nước bị chiến tranh tàn phá nặng nề, năm
1954 thực hiện cải cách ruộng đất, Nhà nước mua lại đất của chủ hộ có trên 3
ha để bán lại cho nông hộ thiếu đất với phương thức trả dần để tạo điều kiệncho kinh tế hộ phát triển Từ năm 1965 - 1971, tốc độ nông nghiệp tăng 2,5%;
từ năm 1971 - 1978, tốc độ nông nghiệp tăng 6,9%; có đến 60% diện tích đấthoang được nông hộ khai thác sử dụng có hiệu quả kinh tế cao Đến năm
1975 đã tự túc được nhiều lương thực và nông sản khác, chăn nuôi tăng 10% Cơ cấu sản xuất chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hoá với hệ thốngcây con, ngành nghề có giá trị kinh tế cao
8- Kết luận
Từ nghiên cứu kinh tế trang trại gia đình ở các nước có điều kiện địa lý,chế độ xã hội, tình hình chính trị và điều kiện kinh tế khác nhau cho thấy:
- Đa số các nước có quy mô nông trại gia đình không lớn nhưng đã tạo
ra số lượng nông sản lớn và có tỷ suất hàng hoá cao
Trang 24- Ở các nước đang phát triển, kinh tế tự cấp, tự túc còn chiếm tỷ lệ đáng
kể đồng thời có một bộ phận trong kinh tế nông hộ đã và đang chuyển sangkinh tế trang trại sản xuất hàng hoá ngày một tăng lên
- Ở các nước phát triển, thường ở giai đoạn đầu có số trang trại nhiều
và quy mô trang trại nhỏ Nhưng cùng với sự phát triển của công nghiệp, sốlượng trang trại giảm dần và quy mô của trang trại tăng lên, khối lượng nôngsản tăng nhanh
- Cơ cấu sản xuất kinh doanh trong các hộ rất phong phú và đa dạng ,gồm cả nông - lâm - ngư nghiệp, chế biến, phi nông nghiệp
- Phần lớn các trang trại đều sử dụng lao động gia đình là chính, số laođộng thuê không nhiều mà chỉ thuê mang tính thời vụ Đất canh tác của cácnông trại đa số thuộc sở hữu riêng, đất đi thuê rất ít Máy móc, nông cụ cũngchủ yếu do trang trại bỏ vốn ra hoặc chung nhau mua
- Chủ trang trại là người quản lý, người trực tiếp lao động và là ngườikinh doanh nên có nhiều ưu thế trong sản xuất của trang trại
Trong quá trình phát triển trang trại phải tự hợp tác với nhau để giải quyếtdịch vụ đầu vào, đầu ra cho trang trại nếu không muốn để tư bản bóc lột Đồngthời, Nhà nước phải hỗ trợ nông dân bằng các chính sách ruộng đất, lao động,đầu tư tín dụng, bảo hộ đầu vào và đầu ra cho sản xuất và trợ cấp ngày càng cao
để nông dân có điều kiện và yên tâm phát triển sản xuất nông nghiệp [16]
2.3.3 Kinh nghiệm phát triển kinh tế trang trại trên thế giới và khả năng
Trang 25phá vỡ từng mảng kết cấu nông nghiệp truyền thống, bắt nông nghiệp phảitừng bước chuyển dần sang SXKD hàng hoá phù hợp với nhịp độ phát triểncủa công nghiệp
KTTT là một trong những hình thức tổ chức sản xuất trong nôngnghiệp tỏ ra phù hợp với điều kiện và đặc điểm của sản xuất nông nghiệp, đápứng được yêu cầu của công nghiệp hoá, có nhiều lợi thế trong tổ chức sảnxuất và kinh doanh trên thương trường đã nhanh chóng phát triển trên khắpcác lục địa ở các nước công nghiệp phát triển, KTTT đã trở thành lực lượngchủ đạo trong sản xuất nông nghiệp
KTTT ở các nước trên thế giới phát triển rất đa dạng, có nhiều hìnhthức khác nhau, nhưng loại hình trang trại gia đình là hình thức phổ biến nhất
và đem lại hiệu quả cao nhất Hiệu quả SXKD không hoàn toàn phụ thuộcvào qui mô đất đai, lao động Bên cạnh đó phải gắn trang trại với công nghiệpchế biến và dịch vụ ngay tại nông thôn; bồi dưỡng, đào tạo chủ trang trại làmột trong những nhân tố quan trọng nhất đối với sự thành công của trang trại
Thực hiện đường lối đổi mới chuyển sang nền kinh tế thị trường, Nhànước đã có những chính sách cải cách làm thay đổi tận gốc rễ cơ chế quản lý
cũ, tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp hàng hoá phát triểnnhư khuyến khích kinh tế hộ phát triển, làm giàu từ SXKD Một loạt chínhsách giao quyền tự chủ cho kinh tế hộ tất yếu sẽ kích thích hướng dẫn kinh tế
hộ chuyển từ tự cấp tự túc sang sản xuất hàng hoá KTTT được hình thành vàtừng bước phát triển trước hết ở những hộ sản xuất, quản lý, kinh doanh giỏi
Để thực hiện CNH - HĐH trong nông nghiệp và nông thôn, không thểthiếu được sự hiện diện của các loại hình công ty, xí nghiệp, các doanh nghiệp
có thể có quy mô vừa, lớn hoặc nhỏ nhưng đều có những thế mạnh của mình
về nhiều mặt như khoa học kỹ thuật & công nghệ, bộ máy tổ chức quản lý…
Trang 26các doanh nghiệp thực sự là hạt nhân cho sự phát triển kinh tế- xã hội của mộtvùng nông thôn Các trang trại sẽ có sự liên kết chặt chẽ với các doanh nghiệptrong khâu chế biến, tiêu thụ sản phẩm, nhận được sự giúp đỡ của các doanhnghiệp về giống, vốn, vật tư, hướng dẫn về kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi…
Có thể xem trang trại như những cơ sở sản xuất "vệ tinh” của doanh nghiệpthực hiện mối quan hệ liên kết, liên doanh, hợp đồng trên cơ sở đôi bên cùng
có lợi, cùng phát triển Vì vậy, có thể nói phát triển KTTT là yêu cầu kháchquan trong quá trình CNH - HĐH ở nước ta hiện nay
2.4 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI Ở VIỆT NAM
2.4.1 Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam
Ở Việt Nam cũng như một số nước trên thế giới, quá trình tổ chức sảnxuất trong nông nghiệp và nông thôn luôn luôn tồn tại song song hai hìnhthức đó là tổ chức sản xuất phân tán và tổ chức sản xuất tập trung
Hình thức tổ chức phân tán trong nông nghiệp nước ta tồn tại từ lâu đời vớiquy mô chủ yếu là quy mô hộ gia đình với đặc trưng cơ bản là sản xuất tự cấp tựtúc
Hình thức tổ chức sản xuất tập trung trong nông nghiệp ở Việt Nam rađời từ rất sớm, ngay từ khi chế độ phong kiến phát triển ở nước ta Mặc dùhình thức tổ chức sản xuất tập trung đã đem lại những ưu thế quan trọng vềkinh tế - xã hội, nhưng các hình thức này vẫn có đặc điểm chung là mangnặng tính tự cấp tự túc Những hình thức tổ chức sản xuất tập trung chính lànhững mầm mống ban đầu cho sự phát triển các trang trại trong những giaiđoạn sau này ở nước ta Trong những thời kỳ lịch sử của đất nước, sự pháttriển trang trại cũng trải qua nhiều giai đoạn khác nhau
* Thời kỳ Lý – Trần: Nhà Lý (1009 - 1225) và nhà Trần (1226 - 1400)
là 2 triều đại phong kiến phát triển rất thịnh vượng ở Việt Nam Nhà Lý và
Trang 27nhà Trần coi phát triển nông nghiệp là quốc sách hàng đầu Đất đai của quốcgia được chia làm 3 loại với các kiểu tổ chức sản xuất điển hình sau đây:
- Đất công là đất thuộc về sở hữu của quốc gia, thường được giao chocác làng xã quản lý Sau đó các làng xã này thường chia đất công này cho các
tá điền canh tác, hàng năm thu tô và phải có trách nhiệm đóng góp cho nhànước Trung ương
- Đất tư là loại đất thuộc về sở hữu của tư nhân (thường được gọi là địachủ), trên loại đất này phổ biến có các loại hình tổ chức sản xuất nông nghiệpnhư thái ấp, điền trang để khai khẩn những vùng đất mới
- Ruộng của nhà chùa bắt đầu có từ thời Lý và đặc biệt từ thời Trần,đạo Phật được coi là quốc đạo, triều đình tạo mọi điều kiện để phát triển đạoPhật Mỗi chùa chiền đều được nhà vua cấp cho một diện tích nhất định để tổchức sản xuất nuôi sống các lực lượng sống trong chùa [5]
* Thời kỳ Lê - Nguyễn: Nhà Lê (1428-1778) và nhà Nguyễn
(1802-1884) là hai triều đại phong kiến có nhiều công lao trong việc xây dựng, pháttriển đất nước trên mọi mặt Nhà Lê, chú trọng phát triển một hình thức sảnxuất tập trung mới đó là các đồn điền, sang thời kỳ nhà Nguyễn các đồn điềnđược tạo điều kiện phát triển rất mạnh và chính hệ thống các đồn điền này đãgóp phần to lớn vào sự nghiệp mở mang, phát triển mọi mặt của đất nước
* Thời Pháp thuộc: Năm 1858, thực dân Pháp bắt đầu cuộc xâm lược Việt
Nam và đã duy trì ách thực dân trong gần một trăm năm Các trang trại thời kỳnày chủ yếu là đồn điền của người Pháp Đến 31/12/1943, theo số liệu thống kêcủa Pháp; người Pháp chiếm diện tích một triệu ha đất trồng trên cả nước và tổchức thành 3.928 đồn điền chủ yếu là trồng trọt và chăn nuôi; phát triển mạnh làđồn điền trồng cây công nghiệp như cao su, cà phê, chè trên qui mô lớn và đượcngười Pháp kinh doanh tập trung theo kiểu đồn điền tư bản chủ nghĩa [5]
Trang 28* Thời kỳ chiến tranh giải phóng và thống nhất đất nước đến trước năm 1986
Sau năm 1954, miền Bắc hoàn toàn giải phóng khỏi ách thực dân Pháp,tiến lên xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa Ở nông thôn đã tiến hành cải cáchruộng đất, tịch thu ruộng đất của địa chủ chia cho nông dân, xoá bỏ chế độ tưhữu về ruộng đất, đất đai thuộc sở hữu toàn dân Trong nông nghiệp phát triểnhợp tác xã nông nghiệp và xây dựng nông, lâm trường quốc doanh
Cuộc cách mạng kháng chiến chống Mỹ thắng lợi, miền Nam hoàn toàngiải phóng, đất nước thống nhất, cùng tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.Trong giai đoạn đầu tiên sau giải phóng, nước ta vẫn duy trì chủ trương xâydựng nền kinh tế theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung, trong nông nghiệp vànông thôn, kinh tế quốc doanh và kinh tế hợp tác xã chiếm địa vị thống trị,các trang trại hầu như không tồn tại
* Thời kỳ đổi mới nền kinh tế
Cho đến những năm cuối của thập niên 80 của thế kỷ 20, Đảng và Nhà nước
ta đã thực hiện đổi mới toàn diện nền kinh tế theo hướng xây dựng nền kinh tếnhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước
Phát triển KTTT là một chủ trương của Đảng được hình thành trongquá trình tìm tòi, nghiên cứu đổi mới toàn diện nền kinh tế đất nước, trong đó
có lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn
Để hình thành và khẳng định hướng đổi mới nông nghiệp và nông thôn,trong đó có chủ trương phát triển KTTT, Đảng ta đã có những nghiên cứu thửnghiệm đề ra những nghị quyết làm cơ sở định hướng cho các hoạt động củanhà nước trong việc khuyến khích phát triển KTTT ở nước ta qua các thời kỳ
Tính đến thời điểm 1/7/2006, cả nước có 113.730 trang trại, so với năm
2001 tăng 52.713 trang trại (+ 86,39%); trong đó, trồng cây hàng năm có 32.611trang trại, chiếm 28,7%; trồng cây lâu năm có 22.918 trang trại, chiếm 20,2%; chăn
Trang 29nuôi có 16.708 trang trại, chiếm 14,7%; lâm nghiệp có 2.661 trang trại, chiếm2,3%; nuôi trồng thuỷ sản có 34.202 trang trại, chiếm 30,1% và trang trại SXKDtổng hợp có 4.630 cái, chiếm 4,1% (xem bảng 2.1 và biểu đồ 2.1)
Bảng 2.1 Số lượng trang trại phân theo loại hình sản xuất ở Việt Nam
Loại hình trang trại
sánh2006/2001(%)
Sốlượng(trang trại)
Cơcấu(%)
Sốlượng(trang trại)
Cơcấu(%)
Kinh tế trang trại phát triển góp phần tạo việc làm và tăng thu nhập cho lao động nông thôn.
Kết quả điều tra cho thấy, các trang trại đã tạo việc làm thường xuyêncho gần 400 nghìn lao động, gấp 1,7 lần so với năm 2001 Do tính chất thời
Trang 30vụ của sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản nên ngoài lao động thườngxuyên, các trang trại còn sử dụng trên một trăm ngàn lao động thời vụ
Thu nhập bình quân một lao động làm việc thường xuyên của trang trại là 17,5 triệu đồng/năm cao gấp trên 2 lần so với lao động khu vực nông thôn Tuy nhiên, lao động làm việc trong trang trại chủ yếu vẫn là lao động phổ thông, chưa qua đào tạo nên chỉ có khả năng đảm nhiệm những công việc giản đơn như làm đất, trồng cây, chăn dắt gia súc, gia cầm, chế biến thức ăn…
NTTS
27,89%
Trång c©y hµng n¨m 35,65%
SXKD tæng hîp 3,67%
N¨m 2006
NTTS 30,07%
L©m nghiÖp 2,34%
Ch¨n nu«i 14,69%
Trång c©y l©u n¨m 20,15%
Trång c©y hµng n¨m 28,67%
SXKD tæng hîp 4,07%
Biểu đồ 2.1 Cơ cấu các loại hình trang trại ở Việt Nam
N¨m 2001
DH Nam Trung Bé 4,76%
T©y Nguyªn 9,89%
§BSH 3,01%
MN phÝa B¾c
5,47%
N¨m 2006
DH Nam Trung Bé 6,87%
T©y Nguyªn 7,72%
§«ng Nam
Bé 14,83%
B¾c Trung Bé 5,94%
§BSH 12,19%
§B SCL 47,85%
MN phÝa B¾c 4,60%
Biểu đồ 2.2 Cơ cấu trang trại phân theo vùng kinh tế ở Việt Nam
Qui mô vốn sản xuất, kinh doanh của trang trại tăng nhanh do các chủ trang trại tăng vốn đầu tư mở rộng sản xuất, thâm canh cây trồng vật nuôi.
Trang 31Tại thời điểm 01/7/2006, tổng vốn sản xuất kinh doanh của các trangtrại là 29.320 tỷ đồng, bình quân một trang trại 257,8 triệu đồng, tăng 122,7triệu đồng so năm 2001 (+ 90,8%) Vốn sản xuất kinh doanh bình quân mộttrang trại cao nhất là vùng Đông Nam Bộ 575,5 triệu đồng (tăng 341,6 triệuđồng so năm 2001) do có nhiều trang trại trồng các loại cây công nghiệp lâunăm; thấp nhất là Duyên hải Nam Trung Bộ 144,4 triệu đồng do có nhiềutrang trại trồng cây hàng năm nên cần ít vốn hơn.
Bảng 2.2 Số lượng trang trại phân theo các vùng kinh tế ở Việt Nam
Đơn vị tính: trang trại
2001 2002Năm 2003Năm 2004Năm 2006Năm
Tốc độ tăng BQ (%)
Giá trị sản phẩm và dịch vụ nông, lâm nghiệp và thuỷ sản bán ra năm
2006 là 18.031 tỷ đồng, gấp 3,6 lần so năm 2001, bình quân 1 trang trại 159
Trang 32triệu đồng gấp 1,9 lần, tỷ suất hàng hoá là 95,2% Vùng có tỷ suất hàng hoácao nhất là Đông Nam bộ 98,2% và thấp nhất là Tây Bắc 89,8% [6].
Tốc độ tăng bình quân hàng năm về trang trại giai đoạn 2001 – 2006 là13,26%; vùng có tốc độ tăng cao nhất là Đồng bằng Sông Hồng, tăng 49,86%/năm; thấp nhất là vùng Đông Nam Bộ, tăng 5,83% năm
31190 31967
42945
56128
§B s«ng Cöu Long 54425
61787 61017
86141
110832
C¶ n íc 113730
Đồ thị 2.1 Xu hướng phát triển trang trại ở Việt Nam qua các năm
Qua đây chúng ta thấy, trang trại của Việt Nam tiếp tục phát triển nhanhqua các năm và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quá trình chuyển đổi cơcấu sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản Vùng có số lượng trang trại lớn của cảnước là ĐB Sông Cửu Long, Đông Nam Bộ và ĐB Sông Hồng; Vùng có số lượngtrang trại ít nhất là Trung du MN phía Bắc và Bắc Trung Bộ (xem đồ thị 1)
Trang 332.4.2 Chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước về phát triển
kinh tế trang trại
- Nghị quyết 10 - NQ/TW ngày5/4/1988 của Bộ Chính trị về đổi mới quản
lý nông nghiệp “Nhà nước tạo điều kiện và môi trường thuận lợi cho các thànhphần này phát triển trồng trọt, chăn nuôi, trồng rừng ” [7]
- Nghị quyết 05 - NQ/HNTW ngày10/6/1993 Hội nghị lần thứ V Banchấp hành TW Đảng khoá VII đã “đặc biệt khuyến khích các thành phần kinh tếđầu tư phát triển các loại giống mới có hiệu quả kinh tế cao, khai thác đồi núitrọc , xây dựng các nông, lâm, ngư trại với quy mô thích hợp phát triển tiểu thủcông nghiệp và công nghiệp dịch vụ nông thôn tham gia xây dựng kết cấu hạtầng, khuyến khích các nhà kinh doanh từ thành thị về nông thôn lập nghiệp”[1]
- Nghị quyết 04 - NQ/HNTW ngày29/12/1997 và Hội nghị lần thứ IVBan chấp hành TW Đảng khoá VIII khẳng định “KTTT với các hình thức sởhữu khác nhau (nhà nước, tập thể, tư nhân) được phát triển chủ yếu để trồngcây dài ngày, chăn nuôi đại gia súc ở những nơi có nhiều ruộng đất, khuyếnkhích việc khai phá đất hoang vào mục đích này” [2]
- Nghị quyết 05 - NQ/HNTW ngày17/10/1998 và Hội nghị lần thứ VI(Lần 1) Ban chấp hành TW Đảng khoá VIII “Nhà nước có chính sách, khuyếnkhích phát triển hình thức trang trại gia đình như các loại hình sản xuất kháccủa kinh tế hộ gia đình Nhà nước hoan nghênh, khuyến khích các chủ trangtrại giao khoán một phần đất hoang, vườn cây hoặc gia súc cho người laođộng , hướng dẫn chủ trang trại ký kết hợp đồng lao động với người laođộng theo pháp luật trên cơ sở hai bên cùng có lợi” [3]
- Nghị quyết 03/2000/ NQ - CP ngày2/2/2000 của Chính phủ về KTTT:
“Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách phát huy kinh tế tự chủ của hộ
Trang 34nông dân, phát triển KTTT đi đôi với chuyển đổi HTX cũ, mở rộng các hìnhthức kinh tế hợp tác, liên kết SXKD giữa các hộ nông dân, các trang trại, cácnông, lâm trường quốc doanh, doanh nghiệp và doanh nghiệp thuộc các thànhphần kinh tế khác để tạo động lực và sức mạnh tổng hợp cho nông nghiệp,nông thôn phát triển Nhà nước hỗ trợ về vốn, khoa học công nghệ, chế biến,tiêu thụ sản phẩm, xây dựng kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện thuận lợi cho cáctrang trại phát triển bền vững ” [10].
Trên cơ sở tổng kết thực tiễn hình thành và phát triển các trang trại.Căn cứ vào chủ trương đổi mới KTTT đã nêu trên, thống nhất một số vấn đề
về quan điểm và chính sách nhằm tạo môi trường pháp lý và điều kiện thuậnlợi cho sự phát triển mạnh mẽ KTTT nước ta trong những năm tới
2.4.3 Xu hướng phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam
Các trang trại đã được hình thành ở nước ta trong điều kiện kinh tế thịtrường đã đang và sẽ phát triển theo các xu hướng sau:
- Tích tụ và tập trung sản xuất: Sau khi hình thành, nhìn chung các trang
trại vẫn diễn ra quá trình tích tụ và tập trung sản xuất nhằm mở rộng quy môsản xuất và nâng cao hiệu quả SXKD Ở những nơi có điều kiện các trang trạinói chung vẫn có xu hướng mở rộng diện tích phát triển sản xuất chủ yếu quacon đường khai phá đất hoang hoá, nhận thầu sử dụng đất, thuê đất sản xuất…
- Chuyên môn hoá sản xuất: Chuyên môn hoá là điều kiện để phát triển
sản xuất hàng hoá Do vậy sản xuất ngày càng đi vào chuyên môn hoá là một
xu hướng phát triển của KTTT Tuy nhiên, do đặc điểm của sản xuất nôngnghiệp, chuyên môn hoá sản xuất trang trại trong nhiều trường hợp cần phải kếthợp một cách hợp lý với phát triển đa dạng để sử dụng đầy đủ các điều kiện sảnxuất của trang trại và thu nhập, đồng thời hạn chế những rủi ro có thể xảy ratrong SXKD của trang trại do thiên tai và biến động của thị trường nông sản
Trang 35- Nâng cao trình độ kỹ thuật và thâm canh hoá sản xuất: Phát triển sản
xuất nông sản phẩm hàng hoá và nâng cao hiệu quả sản xuất đòi hỏi phảikhông ngừng nâng cao trình độ kỹ thuật và thâm canh sản xuất là cơ sở quantrọng để nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi, nâng cao năng suất lao động,chất lượng sản phẩm và hạ giá thành sản phẩm
- Hợp tác và cạnh tranh: Các trang trại muốn SXKD phát triển ổn định
và đạt hiệu quả thì cùng với việc thực hiện tích luỹ mở rộng sản xuất, chuyênmôn hoá sản xuất, nâng cao kỹ thuật và thâm canh sản xuất phải hợp tác vớinhau và với các đơn vị, tổ chức kinh tế khác có liên quan tới hoạt động SXKDcủa trang trại để giúp cho mỗi trang trại giải quyết tốt hơn những vấn đề củaSXKD mà mỗi trang trại nếu tách rời ra sẽ không giải quyết được hoặc giảiquyết kém hiệu quả Cùng với hợp tác SXKD, mỗi trang trại đồng thời cònphải cạnh tranh với các trang trại, với những đơn vị, tổ chức kinh tế khác cùngSXKD những sản phẩm như của trang trại để có thể tiêu thụ nông sản phẩmlàm ra với giá cả hợp lý, đảm bảo có lãi, thực hiện tích luỹ và mở rộng sảnxuất
Trang 36PHẦN 3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA BỈM SƠN
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lí
Thị xã Bỉm Sơn được thành lập ngày 18/12/1981, nằm ở phía Bắc tỉnhThanh Hoá, cách thành phố Thanh Hoá 35 km Thị xã Bỉm Sơn có Quốc lộ 1A,tuyến đường sắt Bắc Nam, tỉnh lộ 7 chạy qua, là cửa ngõ đầu mối giao thông,công nghiệp, thương mại phía Bắc của tỉnh Thanh Hoá; tạo điều kiện để BỉmSơn giao lưu kinh tế, lưu thông hàng hoá thuận tiện với các tỉnh trong cả nước.Bỉm sơn nằm ở 22018’ đến 22020’ vĩ độ Bắc và từ 105055’ đến 115005’ kinh độĐông Phía Bắc giáp thị xã Tam Điệp – tỉnh Ninh Bình, phía Tây Nam và phíaĐông giáp huyện Hà Trung Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của tỉnh,Bỉm Sơn là một trong bốn Trung tâm kinh tế động lực của tỉnh và đang được ưutiên đầu tư phát triển [11]
3.1.1.2 Địa hình
Trang 37Bỉm Sơn có diện tích tự nhiên 6.701,2 ha, chiếm 0,6% so với diện tích
tự nhiên của tỉnh Địa hình chủ yếu là đồi núi, địa hình hang động ngầm kastơnên nguồn nước nhiều nhưng khai thác sẽ khó khăn tốn kém, chất lượng nướckém còn phải xử lý khi sử dụng, đây là yếu tố hạn chế gây khó khăn khi xâydựng các công trình hạ tầng, khu công nghiệp
Diện tích tự nhiên được chia ra 2 vùng rõ rệt:
- Vùng có địa hình đồi núi kéo dài từ Tây Bắc đến Bắc Đông Bắc vớidiện tích 5.117,81 ha (chiếm 76,37%); bao gồm phường Bắc Sơn, Lam Sơn,Đông Sơn, Ngọc Trạo và Ba Đình Trong vùng có các thung lũng khá bằngphẳng và đồi núi thấp, núi đá liên tiếp nhau, chất lượng đất khá tốt, phần lớn
là đất xám Feralit (trên nền đá vôi, đá biến chất), có tầng đất khá dày
- Vùng có địa hình bằng phẳng, có diện tích 1.583,37 ha (chiếm23,63%), gồm các xã Hà Lan, Quang Trung; chủ yếu là đất sản xuất nôngnghiệp: 1.040,29 ha (chiếm 65,7%) diện tích đất của vùng, bằng 28,21% diệntích đất nông nghiệp toàn thị xã [14]
3.1.1.3 Điều kiện thời tiết khí hậu
* Thời tiết khí hậu: thuộc tiểu vùng khí hậu đồng bằng có những đặctrưng, khí hậu chủ yếu như sau:
+ Nhiệt độ: tổng nhiệt độ trong năm 8.500 – 8.6000C, riêng vụ mùa (từtháng 5 đến tháng 10), chiếm khoảng 60%, biên độ nhiệt từ 11 – 120C/năm,biên độ ngày từ 6 – 70C, nhiệt độ trung bình tháng 1 từ 16 – 16,50C, nhiệt độtối thấp chưa dưới 20C, nhiệt độ trung bình tháng 7 từ 28 – 290C, nhiệt độ tốicao chưa quá 410C
+ Lượng mưa từ 1.000 – 1.900 mm/năm, vụ mùa chiếm khoảng 86 –88%, phân bố lượng mưa trong năm không đều Từ tháng 5 – 10, lượng mưatrung bình từ 136 – 245 mm/tháng, tháng 9 có lượng mưa lớn nhất, xấp xỉ 400
Trang 38mm/tháng, từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa từ 20 – 68 mm/tháng;thấp nhất từ tháng 1 – 2, xấp xỉ 20 mm/tháng.
+ Độ ẩm không khí trung bình từ 85 – 86%/năm, độ ẩm không khí caonhất là vào tháng 3: 90%; thấp nhất là các tháng 6, 7, 11, 12 khoảng 84%
+ Tốc độ gió trung bình: 1,5 – 1,8m/s, tốc độ gió mạnh nhất đo đượctrong mùa bão từ 35 – 40 m/s, gió mùa Đông Bắc tốc độ 12 m/s
+ Tổng bức xạ thực tế 116,5 Kclo/cm3, số ngày có năng lượng trungbình khoảng 276 – 677 ngày/năm
* Thuỷ văn: Thị xã Bỉm Sơn nằm trong vùng thuỷ văn sông Bưởi,thượng nguồn sông Hoạt, nên có những đặc điểm sau:
Lượng mưa hàng năm 1.600 mm, thường xuất hiện dòng chảy kiệt tươngđối sớm, thường vào trung tuần tháng 3, dòng chảy cắt sâu, mặc dù nguồn nướcngầm phong phú nhưng do mực nước ngầm thấp, cho nên việc khai thác nguồnnước trong mùa cạn rất khó khăn; về mùa lũ, do chịu ảnh hưởng úng ngập nặng
nề của sông Mã nên thoát chậm, thường xảy ra vào tháng 8,9 [11]
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội của thị xã
3.1.2.1 Tình hình sử dụng nguồn tài nguyên
* Tài nguyên đất:
- Hiện trạng sử dụng đất 2007
Với diện tích tự nhiên 6.701,2 ha, trong đó: Diện tích đất sản xuất nôngnghiệp 3.961,7 ha, chiếm 59,1% diện tích tự nhiên; diện tích đất phi nôngnghiệp 1.467,3 ha, chiếm 21,9%; đất chưa sử dụng và sông suối, núi đá:1.272,2 ha, chiếm 19,0% diện tích đất tự nhiên
Theo kết quả điều tra bổ sung lập bản đồ thổ nhưỡng toàn tỉnh năm 2000,Bỉm Sơn có hai nhóm đất chính đó là đất phù sa và đất xám, cụ thể như sau:
Trang 39+ Đất phù sa: 999,22 ha; trong đó đất phù sa chua glây nặng nằm ở 6vùng địa hình thấp trũng có diện tích 126,26 ha, phân bố ở các xã Hà Lan,Quang Trung, phù hợp với phát triển trồng lúa và nuôi trồng thuỷ sản.
Đất phù sa biến đổi glây nông có diện tích 872,96 ha, phân bố ở các địahình vàn, vàn cao, thuận lợi cho việc trồng lúa, màu và cây công nghiệp hàngnăm và có khả năng tăng vụ cao
+ Diện tích đất xám 4.193,93 ha, gồm các loại đất xám feralit đá lẫnnông 3535,86 ha và đất xám feralit đá lẫn sâu 658,07 ha Độ dày tầng đất kháthuận lợi cho cây công nghiệp ngắn và dài ngày phát triển
Thực trạng sử dụng đất của thị xã Bỉm Sơn
- Đất nông nghiệp: tổng diện tích đất nông nghiệp năm 2007 là 3.961,7
ha (chiếm 59,1% tổng diện tích tự nhiên), giảm bình quân hàng năm giai đoạn2005-2007 là 0,28% Trong đó, diện tích đất sản xuất nông nghiệp cũng có xuhướng giảm, từ 2.526,4 ha năm 2005 xuống 2.354,7 ha năm 2007; bình quânhàng năm giai đoạn 2005 – 2007 giảm 3,46%, trong đó nhóm đất trồng câylâu năm giảm mạnh bình quân 20,84%/năm, do một số diện tích bị thu hồichuyển khu công nghiệp và thay vào đó là nhóm đất trồng cây hàng năm khácnhư mía, rau đậu các loại tăng 12,78%/năm, diện tích đất trồng lúa giảmkhông đáng kể 019%/năm Đất lâm nghiệp năm 2005 có 1.381,2 ha, đến năm
2007 lên 1.515,6 ha, tăng bình quân 4,75%/năm Diện tích đất thuỷ sản cũng
có xu hướng tăng do một số diện tích đất trồng lúa kém hiệu quả chuyển sangnuôi cá và một số diện tích mặt nước đã đưa vào sản xuất, bình quân hàngnăm tăng 9,32% (xem bảng 3.1 và biêủ đồ 3.1)
Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất ở Bỉm Sơn qua các năm
Đơn vị tính: ha
Chỉ tiêu
Năm 2005
Năm 2006
Năm 2007
2006/
2005
2007/
Trang 40§Êt n«ng nghiÖp §Êt phi n«ng nghiÖp §Êt ch a SD
Biểu đồ 3.1 Cơ cấu sử dụng đất của thị xã Bỉm Sơn biến động qua các năm
- Đất phi nông nghiệp: năm 2005 tổng diện tích là 1.438,8 ha, đến năm
2007 tăng lên 1.467,3 ha (chiếm 21,9% tổng diện tích tự nhiên), bình quân