BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ Môn Luật Hôn nhân và Gia đình ĐỀ BÀI Phân tích cách thức xử lý việc kết hôn trái pháp luật theo qui định của pháp luật hiện hành qua một số vụ.
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ
Môn: Luật Hôn nhân và Gia đình
ĐỀ BÀI:
Phân tích cách thức xử lý việc kết hôn trái pháp luật theo qui định của pháp luật hiện hành qua một số vụ việc cụ thể
Họ tên sinh viên:
Lớp:
Mã số sinh viên:
Hà Nội, 2022
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
I Liên quan đến kết hôn trái pháp luật 2
1 Khái niệm 2
2 Người có quyền yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật 3
II Xử lý việc kết hôn trái pháp luật 3
1 Quy định chung 3
2 Căn cứ hủy việc kết hôn trái pháp luật 4
3 Thụ lý, giải quyết đơn yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật 5
4 Xử lý yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật 6
III Xử lý việc kết hôn trái pháp luật theo qui định của pháp luật hiện hành qua một số vụ việc cụ thể 8
1 Kết hôn khi nữ chưa từ đủ 18 tuổi trở lên 8
2 Lừa dối kết hôn nhưng cả hai bên cùng yêu cầu công nhận kết hôn 8
KẾT LUẬN 10
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 11
1
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết việc nghiên cứu đề tài
Ngày nay, cùng với sự phát triển của xã hội, những mối quan hệ cũng như những vấn đề về tâm sinh lý của con người ngày càng trở nên phức tạp Điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến quan hệ hôn nhân, gia đình, trong đó có việc kết hôn giữa hai bên Trên thực tế đã có rất nhiều trường hợp kết hôn trái pháp luật gây
ra những ảnh hưởng vô cùng tiêu cực đến mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, đến lối sống và đạo đức xã hội Trong khi đó, hệ thống pháp luật lại chưa thể dự liệu cũng như điều chỉnh một cách toàn diện Kết hôn trái pháp luật vẫn tồn tại như một hiện tượng xã hội không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của các bên chủ thể mà còn ảnh hưởng đến đạo đức và trật tự xã hội Do đó, tìm hiểu về xử lý kết hôn trái pháp luật trong đời sống xã hội hiện nay là vô cùng cần thiết Việc xử lý này hoàn toàn không mong muốn của nhà nước, dù kết hôn là trái ngọt của một quá trình gặp gỡ, tìm hiểu và yêu thương từ hai bên nam nữ
Bài tiểu luận với đề tài “Kết hôn trái pháp luật và quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành” nhằm tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn của kết hôn trái pháp luật ngày nay, hướng xử lý bằng cách hủy việc kết hôn trái pháp luật được quy định cụ thể trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (Luật HNGĐ 2014) Qua đó, giúp mọi người có cái nhìn chính xác và toàn diện hơn
về vấn đề kết hôn trái pháp luật, đồng thời đề xuất phương hướng để hoàn thiện quy định của pháp luật, giải pháp nhằm hạn chế và xử lý kịp thời các trường hợp kết hôn trái pháp luật hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm gần đây, việc kết hôn trái pháp luật đã gióng lên hồi chuông cảnh báo trong toàn xã hội, không chỉ riêng ở Việt Nam mà là trên toàn thế giới Tính cho đến nay, có khá nhiều công trình nghiên cứu tập trung vào việc kết hôn trái pháp luật như “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về kết hôn trái pháp luật trong tình hình xã hội hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ ngành Luật Dân
sự của Nguyễn Huyền Trang Hay “Hậu quả pháp lý của việc hủy hôn nhân trái pháp luật theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014”, Luận văn thạc sĩ luật học chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng dân sự năm 2021 của Nguyễn Đức Văn Ngoài ra còn có một số bài báo, tạp chí chuyên ngành được đăng tải trên các Tạp chí Tòa án nhân dân, Tạp chí Kiểm sát,… đề cập đến việc kết hôn trái pháp luật và hủy kết hôn trái pháp luật như “Về giải quyết hủy kết hôn trái pháp luật, kết hôn không đúng thẩm quyền và nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn” của tác giả PGS.TS Nguyễn Thị Lan - trên Tạp chí Tòa án nhân dân số 7 năm 2021 được phát hành ngày 10/4/2021…
Trang 4Có thể thấy, vấn đề kết hôn trái pháp luật đã được các tác giả nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau nhưng đa số dựa trên những quy định của Luật HNGĐ 2000 và chưa cập nhật hết các vấn đề mới về lý luận và thực tiễn Bài tiểu luận của chúng em sẽ thể hiện được góc nhìn mới, quan điểm mới phù hợp với thực trạng cũng như quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành – Luật HNGĐ 2014
3 Phạm vi và mục đích nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Nhìn nhận bao quát đề tài dưới nhiều góc độ khác nhau từ lý luận cho đến thực tiễn nhưng sẽ tập trung vào các quy định trong pháp luật Việt Nam hiện hành về việc kết hôn trái pháp luật và hủy kết hôn trái pháp luật, chủ yếu là Luật HNGĐ 2014
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài:
Nhằm làm rõ các vấn đề lý luận kết hôn trái pháp luật trong lĩnh vực HNGĐ;
Làm sáng tỏ khái niệm, các yếu tố dẫn đến việc kết hôn trái pháp luật, chủ thể có thẩm quyền, căn cứ hủy việc kết hôn trái pháp luật;
Đưa ra cách thức xử lý các trường hợp kết hôn trái pháp luật theo quy định của Luật HNGĐ 2014;
Nhìn nhận thực trạng kết hôn trái pháp luật ngày nay, từ đó nêu ra những bất cập cũng như kiến nghị phương thức giải quyết hợp lý, có khả năng thi hành, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam
4 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Các vấn đề lý luận về kết hôn trái pháp luật, hủy kết hôn trái pháp luật – đặc biệt là các quy định trong Luật HNGĐ
2014 Đồng
Tác giả chủ yếu đề cập đến các vấn đề lý luận xung quanh quan niệm kết hôn trái pháp luật, những quy định về kết hôn trái pháp luật trong Luật Hôn nhân
và gia đình năm 2000 cũng như thực tiễn kết hôn trái pháp luật hiện nay
Luận văn tập trung vào khía cạnh hậu quả pháp lý của việc hủy hôn nhân trái pháp luật, do được viết sau khi Luật HNGĐ năm 2014 có hiệu lực nên tác giả đã phân tích được một số điểm mới, cũng như bất cập việc áp dụng pháp luật hiện hành, từ đó kiến nghị giải pháp để sửa đổi đồng thời, tìm hiểu về thực trạng kết hôn trái pháp luật trong xã hội ngày nay, thông qua đó đề ra các phương hướng và giải pháp mang tính khả thi cao
Phương pháp nghiên cứu: Tập trung sử dụng phương pháp nghiên cứu lý thuyết cụ thể như phương pháp khái quát, phân tích và tổng hợp, phân loại và hệ thống hóa lý thuyết Dựa trên nền tảng và xuất phát điểm là các tri thức lý luận (các quan điểm, lý thuyết), từ đó đi sâu vào bản chất của vấn đề cần nghiên cứu
để có cái nhìn toàn diện, bao quát đối với thực tiễn cuộc sống
Trang 55 Ý nghĩa thực tiễn của và kết cấu đề tài nghiên cứu
Qua việc nghiên cứu các vấn đề được đặt ra, bài tiểu luận đã thể hiện một cách chi tiết về việc kết hôn trái pháp luật và các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành Từ đó nêu ra những bất cập, thiếu sót khi áp dụng pháp luật cho tình huống thực tiễn, nhằm đề xuất phương hướng hoàn thiện Luật HNGĐ góp phần nâng cao nhận thức, sự hiểu biết của mỗi người trong quy định về hôn nhân, làm giảm tỷ lệ người dân kết hôn trái pháp luật
I Liên quan đến kết hôn trái pháp luật
1 Khái niệm
Theo khoản 6 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
“5 Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn.”
“6 Kết hôn trái pháp luật là việc nam, nữ đã đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật này.”
Theo đó, nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện kết hôn được quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 sau đây:
“1 Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:
a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;
b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;
c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;
d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này.
2 Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính.”
Như vậy, nếu có sự vi phạm một trong những điều kiện kết hôn nêu trên, thì cuộc hôn nhân đó bị coi là cuộc hôn nhân trái pháp luật
2 Người có quyền yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật
Người bị cưỡng ép kết hôn, bị lừa dối kết hôn, có quyền tự mình yêu cầu hoặc đề nghị cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 2 Điều 10 Luật Hôn nhân
và gia đình năm 2014, yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật do việc kết hôn vi phạm quy định về sự tự nguyện quyết định việc kết hôn của hai bên nam
và nữ
Trang 6Các cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật do việc kết hôn vi phạm quy định tại các điểm a, c và d khoản 1
Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 là:
Vợ, chồng của người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác; Cha, mẹ, con, người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật khác của người kết hôn trái pháp luật;
Cơ quan quản lý nhà nước về gia
đình; Cơ quan quản lý nhà nước về
trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ
Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khi phát hiện việc kết hôn trái pháp luật
thì có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức sau yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật:
Cơ quan quản lý nhà nước về gia
đình; Cơ quan quản lý nhà nước về
trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ
Pháp luật không chỉ trao quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật cho các cá nhân là chủ thể của cuộc hôn nhân; mà còn trao quyền cho cả những chủ thể khác nhằm đảm bảo lợi ích cho những người kết hôn; góp phần đảm hạnh phúc gia đình trong thực tiễn cuộc sống
II Xử lý việc kết hôn trái pháp luật
1 Quy định chung
Trong trường hợp tại thời điểm Tòa án giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật mà cả hai bên kết hôn đã có đủ các điều kiện kết hôn theo quy định
và hai bên yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án công nhận quan
hệ hôn nhân đó.
Trong trường hợp này, quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm các
bên đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này.
Quyết định của Tòa án về việc hủy kết hôn trái pháp luật hoặc công nhận quan hệ hôn nhân phải được gửi cho:
Cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn để ghi vào sổ hộ
tịch; Hai bên kết hôn trái pháp luật;
Cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan theo quy định của pháp luật về tố tụng dân
Trang 72 Căn cứ hủy việc kết hôn trái pháp luật
Khi giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật, Tòa án phải căn cứ vào điều kiện kết hôn theo quy định để xem xét, quyết định xử lý việc kết hôn trái pháp luật và lưu ý một số điểm như sau:
- Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên
“Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên” quy định tại điểm a
khoản 1 Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình là trường hợp nam đã đủ hai
mươi tuổi, nữ đã đủ mười tám tuổi trở lên và được xác định theo ngày, tháng,
năm sinh.
Trường hợp không xác định được ngày sinh, tháng sinh thì thực hiện như sau:
Nếu xác định được năm sinh nhưng không xác định được tháng sinh thì tháng sinh được xác định là tháng một của năm sinh;
Nếu xác định được năm sinh, tháng sinh nhưng không xác định được ngày sinh thì ngày sinh được xác định là ngày mùng một của tháng sinh
- Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định
“Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định” quy định tại điểm b
khoản 1 Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình là trường hợp nam nữ xác lập
quan hệ vợ chồng với nhau hoàn toàn tự do theo ý chí của họ.
- Lừa dối kết hôn
“Lừa dối kết hôn” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 5 của Luật hôn nhân
và gia đình là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch và dẫn đến việc đồng ý kết hôn; nếu không có hành vi này thì bên bị lừa dối đã không đồng ý kết hôn
- Người đang có vợ hoặc có chồng
“Người đang có vợ hoặc có chồng” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 5
của Luật hôn nhân và gia đình là người thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Người đã kết hôn với người khác theo đúng quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình nhưng chưa ly hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của
họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết;
Trang 8b) Người xác lập quan hệ vợ chồng với người khác trước ngày 03-01-1987
mà chưa đăng ký kết hôn và chưa ly hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của
họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết;
c) Người đã kết hôn với người khác vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nhưng đã được Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân bằng bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và chưa
ly hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết
- Cả hai bên kết hôn đã có đủ các điều kiện kết hôn
Việc xác định thời điểm “cả hai bên kết hôn đã có đủ các điều kiện
kết hôn” quy định tại khoản 2 Điều 11 của Luật hôn nhân và gia đình phải căn
cứ vào các quy định của pháp luật
Tòa án yêu cầu đương sự xác định và cung cấp các tài liệu, chứng cứ để xác định thời điểm cả hai bên kết hôn đã có đủ các điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình
3 Thụ lý, giải quyết đơn yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật
Kèm theo đơn yêu cầu, người yêu cầu phải nộp các loại giấy tờ sau:
Giấy chứng nhận kết hôn đối với cá nhân quy định tại khoản 1 Điều 10 của Luật hôn nhân và gia đình
Hoặc giấy tờ, tài liệu khác chứng minh đã đăng ký kết hôn;
Tài liệu, chứng cứ chứng minh việc kết hôn vi phạm điều kiện kết hôn quy định tại Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình
Trường hợp vợ chồng có đăng ký kết hôn nhưng không cung cấp được
Giấy chứng nhận kết hôn do bị thất lạc thì phải có xác nhận của Ủy ban nhân
dân đã cấp Giấy chứng nhận kết hôn
2 Tòa án thụ lý, giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật khi việc kết hôn đó đã được đăng ký tại đúng cơ quan có thẩm quyền
Cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn được xác định theo quy định của pháp luật về hộ tịch, pháp luật về hôn nhân và gia đình
Trường hợp nam, nữ có đăng ký kết hôn nhưng việc kết hôn đăng ký tại không đúng cơ quan có thẩm quyền
Trường hợp nam, nữ có đăng ký kết hôn nhưng việc kết hôn đăng ký tại không đúng cơ quan có thẩm quyền (không phân biệt có vi phạm điều kiện kết hôn hay không) mà có yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật hoặc yêu cầu ly hôn thì sẽ giải quyết như sau:
Trang 9Tòa án áp dụng Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình tuyên bố không
công nhận quan hệ hôn nhân giữa họ đồng thời hủy Giấy chứng nhận kết hôn và thông báo cho cơ quan hộ tịch đã đăng ký kết hôn để xử lý theo quy
định tại Điều 13 của Luật hôn nhân và gia đình
Nếu có yêu cầu Tòa án giải quyết về quyền, nghĩa vụ đối với con; tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật hôn nhân và gia đình
Trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không có đăng
ký kết hôn
Trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không có đăng
ký kết hôn (không phân biệt có vi phạm điều kiện kết hôn hay không) và có yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật hoặc yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý, giải
quyết và áp dụng Điều 9 và Điều 14 của Luật hôn nhân và gia đình tuyên bố
không công nhận quan hệ hôn nhân giữa họ.
Nếu có yêu cầu Tòa án giải quyết về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con; quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật hôn nhân và gia đình
4 Xử lý yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật
Trường hợp tại thời điểm kết hôn, hai bên kết hôn không có đủ điều kiện kết hôn nhưng sau đó có đủ điều kiện kết hôn
Trường hợp tại thời điểm kết hôn, hai bên kết hôn không có đủ điều kiện kết hôn nhưng sau đó có đủ điều kiện kết hôn quy định tại Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình thì Tòa án xử lý như sau:
Trường hợp 1:
Nếu hai bên kết hôn cùng yêu cầu Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án quyết định công nhận quan hệ hôn nhân đó kể từ thời điểm các bên kết hôn có đủ điều kiện kết hôn
Trường hợp 2:
Nếu một hoặc hai bên yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật hoặc có một bên yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân hoặc có một bên yêu cầu ly hôn còn bên kia không có yêu cầu thì Tòa án quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật Trường hợp có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu Tòa án giải quyết thì quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con; quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên từ thời điểm kết hôn đến thời điểm hủy việc kết hôn trái pháp luật được giải quyết theo quy định tại Điều 12 của Luật hôn nhân và gia đình
Trang 10Trường hợp 3:
Trường hợp hai bên cùng yêu cầu Tòa án cho ly hôn hoặc có một bên yêu cầu ly hôn còn bên kia yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì Tòa án giải quyết cho ly hôn
Trường hợp này, quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con từ thời điểm kết hôn đến thời điểm ly hôn được giải quyết theo các quy định sau:
Quy định về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con khi ly hôn;
Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên từ thời điểm kết hôn đến trước thời điểm đủ điều kiện kết hôn được giải quyết theo quy định tại Điều
16 của Luật hôn nhân và gia đình;
Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên từ thời điểm đủ điều kiện kết hôn đến thời điểm ly hôn được giải quyết theo quy định tại Điều 59 của Luật hôn nhân và gia đình
Trường hợp hai bên đã đăng ký kết hôn nhưng tại thời điểm Tòa án giải quyết hai bên kết hôn vẫn không có đủ các điều kiện kết hôn
Trường hợp hai bên đã đăng ký kết hôn nhưng tại thời điểm Tòa án giải quyết hai bên kết hôn vẫn không có đủ các điều kiện kết hôn quy định tại Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình thì thực hiện như sau:
a) Nếu có yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật thì Tòa án quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật;
b) Nếu một hoặc cả hai bên yêu cầu ly hôn hoặc yêu cầu công nhận quan
hệ hôn nhân thì Tòa án bác yêu cầu của họ và quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật
Trường hợp quyết định theo hướng dẫn tại điểm a và điểm b khoản này thì Tòa án áp dụng quy định tại Điều 12 của Luật hôn nhân và gia đình để giải quyết hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật
III Xử lý việc kết hôn trái pháp luật theo qui định của pháp luật hiện
hành qua một số vụ việc cụ thể
1 Kết hôn khi nữ chưa từ đủ 18 tuổi trở lên
Chị Lê Thị Thanh C kết hôn với anh Bùi Văn H tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 07/01/1998 tại Uỷ ban nhân dân (UBND) xã X, huyện L, tỉnh Hà Nam Căn cứ vào biên bản xác minh tại UBND xã X, là nơi đã thực hiện việc đăng ký kết hôn giữa chị C
- anh H, tại “Sổ cấp giấy chứng nhận kết hôn số 01/TB/HT16, mở ngày
01/01/1998, ngày tháng năm cấp giấy chứng nhận kết hôn: 07 tháng 01 năm