1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vấn đề tính dục trong văn học trung đại việt nam

229 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 229
Dung lượng 3,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thứ ba, chúng tôi sẽ giải quyết vấn đề tính dục trong văn học trung đại ở bình diện nội dung: tính dục và con người cá nhân, tính dục – một phương thức phản ánh thực tại xã hội thời phon

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Mai Sơn Tùng

VẤN ĐỀ TÍNH DỤC TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Thành phố Hồ Chí Minh – 2022

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Mai Sơn Tùng

VẤN ĐỀ TÍNH DỤC TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành : Văn học Việt Nam

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS TS LÊ THU YẾN

Thành phố Hồ Chí Minh – 2022

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này là của riêng tôi

Các số liệu, kết quả trong luận án đều trung thực Trong đó có một số nội dung nghiên cứu đã được công bố trong các bài báo khoa học của tác giả, nội dung còn lại trong luận án chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác

Tôi xin chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu này

Tp Hồ Chí Minh, ngày… tháng … năm …

Tác giả luận án

Mai Sơn Tùng

Trang 4

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan i

Mục lục ii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ TÍNH DỤC TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM 4

1.1 Nghiên cứu tính dục trong văn học trung đại Việt Nam như là một cách nghiên cứu văn học sử 4

1.1.1 Nghiên cứu văn học giai đoạn từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIV 4

1.1.2 Nghiên cứu văn học giai đoạn từ thế kỉ XV đến hết thế kỉ XVII 5

1.1.3 Nghiên cứu văn học giai đoạn từ thế kỉ XVIII đến hết thế kỉ XIX 9

1.2 Nghiên cứu tính dục trong văn học trung đại Việt Nam như một đối tượng chính yếu 20

Tiểu kết chương 1 24

Chương 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ TÍNH DỤC 25

2.1 Một số giới thuyết về tính dục 25

2.1.1 Khái lược về tính dục 25

2.1.2 Hai khái niệm liên quan: tình yêu và tình dục 27

2.2 Quan niệm về tính dục trong một số triết thuyết 32

2.2.1 Quan niệm về tính dục trong Phật giáo 32

2.2.2 Quan niệm tính dục trong Nho giáo 34

2.2.3 Quan niệm tính dục trong Đạo giáo 40

2.3 Diễn trình vấn đề tính dục trong văn học trung đại Việt Nam 42

2.3.1 Giai đoạn từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIV 42

2.3.2 Giai đoạn từ thế kỉ XV đến hết thế kỉ XVII 43

2.3.3 Giai đoạn từ thế kỉ XVIII đến hết thế kỉ XIX 48

Tiểu kết Chương 2 54

Chương 3 TÍNH DỤC TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM VỀ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG 55

3.1 Tính dục và con người cá nhân trong văn học trung đại Việt Nam 55

3.1.1 Miền khát dục của nội tâm 55

Trang 5

3.1.2 Quan hệ tính giao: nghệ thuật phòng the và sự thỏa mãn ân ái 68

3.1.3 Sự trưởng thành của ý thức về tính dục 77

3.2 Tính dục – một phương thức phản ánh thực tại xã hội thời phong kiến 83

3.2.1 Một xã hội thành kiến với tự do luyến ái và hôn nhân 83

3.2.2 Phụ nữ – nạn nhân của thói lạm dụng tình dục và bất bình đẳng giới 89

3.2.3 Từ giải thiêng đến nổi loạn trước văn hóa quý tộc suy đồi và lề luật hà khắc 96

3.3 Tính dục – một phương thức thể hiện tư tưởng thẩm mỹ 104

3.3.1 Tính dục và các khuynh hướng tư tưởng – tình cảm 104

3.3.2 Tính dục và việc mặc khải triết lí 114

3.3.3 Mỹ học về tính dục 119

Tiểu kết Chương 3 127

Chương 4 TÍNH DỤC TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM VỀ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT 128

4.1 Tính dục và ngôn ngữ 128

4.1.1 Ngôn ngữ mang tính biểu tượng 128

4.1.2 Ngôn ngữ mang tính đa nghĩa 136

4.1.3 Ngôn ngữ mang âm hưởng dân gian 143

4.2 Tính dục và đặc trưng không – thời gian nghệ thuật 150

4.2.1 Không gian nghệ thuật 150

4.2.2 Thời gian nghệ thuật 160

4.3 Tính dục và thủ pháp 172

4.3.1 Tính dục và motif kì ảo 172

4.3.2 Tính dục và điển cố 179

4.3.3 Tính dục và phép sóng đôi, đối ngẫu 188

Tiểu kết Chương 4 197

KẾT LUẬN 198

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 203

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 204

DANH MỤC VĂN BẢN ĐƯỢC KHẢO SÁT VẤN ĐỀ TÍNH DỤC TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM 219

Trang 6

Đã có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về thời kì văn học trung đại với nhiều hệ hình khác nhau Giới nghiên cứu đã không ngừng nỗ lực tìm tòi và liên tục đưa

ra những luận giải đầy mới mẻ đối với những vấn đề thuộc thời kì văn học này Văn học

trung đại Việt Nam mãi mãi là miền đất phù sa mà con người dù cho thâm canh qua nhiều thời vẫn còn chứa vô vàn dưỡng chất Cố nhiên, những công trình khoa học đã công bố

luôn là tiền đề khoa học vô cùng hữu ích cho hậu bối

Đã có một thời con người cá nhân và những vấn đề mang ý nghĩa nhân văn không được chú ý và coi trọng Tuy nhiên, theo thời gian những giá trị góp phần làm cho văn học trung đại phát triển sẽ được thừa nhận, tôn vinh Gần đây, giới nghiên cứu rất chú trọng đến các giá trị mang vẻ đẹp nhân văn Nhiều lí giải về các hiện tượng văn học dựa trên cội nguồn tâm lí, dựa trên nền tảng văn hóa thời đại, dựa trên sự vận động của cảm xúc và tư duy đã đề ra những hướng nghiên cứu khá táo bạo Trong đó, vấn đề tính dục trở thành đối tượng nghiên cứu hấp dẫn, mang tính cấp thiết

Trang 7

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài Vấn đề tính dục trong văn học trung đại Việt Nam, chúng tôi

muốn góp một cái nhìn mới đối với một nền văn học vốn bị chi phối bởi rất nhiều qui tắc của thơ văn cổ Đồng thời, thông qua công trình khoa học này, hi vọng rằng những người quan tâm sẽ nhận thức sâu sắc và toàn diện hơn về các vấn đề văn học đã được nghiên cứu trước đây

3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề tính dục trong các sáng tác văn học trung đại Việt Nam

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Thứ nhất, thông qua việc thống kê, phân tích, nhận định, chúng tôi đi vào khảo sát những công trình khoa học liên quan đề tài

Thứ hai, bằng việc tổng hợp tư liệu, chúng tôi lí giải khái niệm tính dục và các

khái niệm tương cận, nghiên cứu cảm quan tính dục trong một số triết thuyết, điểm qua các tác phẩm chứa đựng yếu tố tính dục

Thứ ba, chúng tôi sẽ giải quyết vấn đề tính dục trong văn học trung đại ở bình diện nội dung: tính dục và con người cá nhân, tính dục – một phương thức phản ánh thực tại

xã hội thời phong kiến, tính dục – một phương thức thể hiện tư tưởng thẩm mỹ của các nhà thơ cổ điển

Thứ tư, chúng tôi tiếp tục nghiên cứu về vấn đề tính dục trong văn học ở bình diện nghệ thuật: ngôn ngữ, không gian – thời gian, thủ pháp

5 Phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng khảo sát

Với mục đích khoa học đã đề ra, luận án sẽ tập trung nghiên cứu những tác phẩm văn học trung đại Việt Nam chứa đựng yếu tố tính dục

5.2 Nội dung nghiên cứu

Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những bài viết và công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài, chúng tôi dự định nghiên cứu những vấn đề lí luận chung về tính dục, vấn đề tính dục trên bình diện nội dung và hình thức nghệ thuật Tất cả những nhận định, đánh giá trong bốn chương đều là kết quả tổng hợp rút ra từ quá trình nghiên cứu này

Trang 8

6 Phương pháp nghiên cứu

Thực hiện đề tài luận án, chúng tôi vận dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây: 6.1 Vận dụng phương pháp văn học sử nhằm nhìn nhận lại quá trình biểu hiện của

ý thức tính dục trong nền văn học trung đại Việt Nam

6.2 Vận dụng phương pháp hệ thống trong việc hệ thống hóa những quan điểm về tính dục, sự vận động và biểu hiện của ý thức tính dục trong văn học trung đại Việt Nam

6.3 Vận dụng phương pháp so sánh, đối chiếu giữa các tác phẩm văn học với các tài liệu về nhân chủng học, văn hoá học, tôn giáo, triết học… nhằm tìm ra mối tương quan đối ứng giữa hoàn cảnh xã hội, nền tảng văn hoá, giai đoạn lịch sử đã tác động như thế nào đến văn học trong phạm vi biểu hiện của vấn đề tính dục trong các sáng tác văn học

từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX

6.4 Vận dụng phương pháp tiếp cận theo hướng thi pháp học nhằm làm sáng tỏ những đặc điểm, dấu hiệu mang màu sắc tính dục cả về nội dung lẫn hình thức nghệ thuật trong toàn bộ sáng tác của các nhà thơ, nhà văn trung đại

6.5 Vận dụng phương pháp tiểu sử nhằm soi sáng một số luận điểm có liên quan đến nhà văn, nhà thơ, từ đó thấy rõ hơn bản chất tư tưởng, thẩm mỹ của tác phẩm, tiến tới việc phân tích, lý giải hiện tượng tính dục trong văn học trung đại

7 Đóng góp mới của đề tài

Luận án Vấn đề tính dục trong văn học trung đại Việt Nam là một công trình khoa

học nghiên cứu văn chương trung đại Việt Nam trong cái nhìn tổng thể Qua công trình này, chúng tôi hi vọng làm rõ bản chất của tính dục trong văn học trung đại Việt Nam, một vấn đề chưa được nhiều người quan tâm

8 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm có 4 chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề tính dục trong văn học trung đại

Việt Nam Chương 2: Một số vấn đề lí luận về tính dục

Chương 3: Tính dục trong văn học trung đại Việt Nam về phương diện nội dung Chương 4: Tính dục trong văn học trung đại Việt Nam về phương diện nghệ thuật

Trang 9

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ TÍNH DỤC TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM

Nghiên cứu vấn đề tính dục trong tác phẩm văn học trung đại Việt Nam từ lâu đã có những đóng góp đáng kể trong việc khám phá các giá trị mới Nếu dựa theo phân kì lịch

sử văn học để xem xét vấn đề này thì ta thấy ở mỗi thời kì lại có những mức độ và hình thái khác nhau Do phạm vi khá rộng của đề tài, chúng tôi chỉ trình bày những công trình nghiên cứu về tính dục có đóng góp khoa học nhất định

1.1 Nghiên cứu tính dục trong văn học trung đại Việt Nam như là một cách nghiên cứu văn học sử

1.1.1 Nghiên cứu văn học giai đoạn từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIV

Công trình nghiên cứu tính dục trong những sáng tác thuộc giai đoạn đầu tiên của nền văn học Việt Nam còn ít ỏi Tuy nhiên đã có một số công trình thể hiện sự chú ý đến vấn đề này Trần Nhân Tông được coi là người mở đường cho lịch sử sáng tác văn học

có chứa nội dung tính dục Với Khuê oán, ông đã thể hiện cái nhìn thương cảm về thân

phận người cung nữ Và người đầu tiên khơi mào cho việc nhận định về tác phẩm này

chính là Trần Thị Băng Thanh Bà đã dành lời bình khá tinh tế về Khuê oán: “Với hai

mươi tám chữ ngắn ngủi, Nhân Tông đã diễn tả khá đầy đủ tâm trạng phức tạp và thầm kín của người cung nữ Sự hiểu biết này một lần nữa chứng tỏ tấm lòng nhân ái của ông” (Trần Thị Băng Thanh, 1999) Ở mức độ tiếp nhận tác phẩm riêng lẻ, nhà nghiên cứu đã khám phá vẻ đẹp nhân văn trong cảm hứng nghệ thuật của vị vua nổi tiếng tài hoa

Những nhà nghiên cứu như Trần Thị Băng Thanh, Kiều Thu Hoạch, Thích Phước An… chú ý màu sắc trần tục trong thơ mảng thơ Thiền Trong thơ Thiền, Huyền Quang (1254 – 1340) cũng là một nhà thơ để lại nhiều dấu ấn trong lòng những người yêu văn học cổ điển Dù đã chối bỏ cuộc đời trần thế để vươn tới cuộc sống siêu thoát, song ông

vẫn không đạt tới bậc vong tình, vì trong lòng vẫn còn giữ lại những rung cảm tuy nhẹ

nhàng song tinh tế trước giai nhân và vẻ đẹp cuộc sống Đó là cơ sở để Kiều Thu Hoạch nhận định rằng Huyền Quang chưa phải là một nhà tu hành thực sự, bởi vì trong đời và trong thơ ông, mùi trần chưa được rũ sạch:

Sư Huyền Quang, người cùng thời với Trần Tung, hình như cũng không hẳn là một nhà chân tu Dựa vào những tình cảm trần tục trong thơ ông thì mối tình giữa ông với nàng

Trang 10

Điểm Bích mà người ta vẫn cho là oan gì Bài Xuân nhật tức sự mà Lê Quý Đôn khi thưởng

thức đã phải kêu lên “tựa hồ không phải khẩu khiếu nhà chùa” sẽ cho ta thấy sư ông cũng là một khách tình si như ai (Phan Trọng Thưởng, Trịnh Bá Đĩnh, Nguyễn Hữu Sơn, 1999) Ông còn cho rằng: “Đến với những bài thơ vịnh mai, vịnh cúc của ông, ta bắt gặp một tâm hồn “tuy vui cảnh bụt chưa nguôi lòng trần” (Phan Trọng Thưởng, Trịnh Bá

Đĩnh, Nguyễn Hữu Sơn, 1999) Thích Phước An khi thưởng thức bài thơ Xuân nhật tức

sự đã nhận ra trong thơ của nhà sư Huyền Quang thấp thoáng cảnh đẹp quyến rũ: “Và

trên những nẻo đường của trần gian, dù vẫn đầy cát bụi nhưng những nàng con gái đôi tám xinh đẹp vẫn cứ ngồi dệt mộng yêu đương, khi mùa xuân chợt đến” (Phan Trọng Thưởng, Trịnh Bá Đĩnh, Nguyễn Hữu Sơn, 1999) Theo các nhà nghiên cứu, yếu tố tính dục trong những tác phẩm được đề cập trên đã góp phần làm nên vẻ đẹp nhân văn trong thơ thiền Chính vẻ đẹp ấy tạo ra sức mạnh giúp con người lướt thắng nỗi khổ hạnh của đời tu sĩ, khai mở cho những bậc chân tu đạo pháp có sự hài hòa giữa thiêng và tục Vô hình trung, thông qua những sáng tác còn đậm “mùi đời”, các nhà sư – thi sĩ đã tách mình

ra khỏi cổng chùa và nghệ thuật đã rời xa tôn giáo

Như vậy đối với giai đoạn thứ nhất, tính dục đã được bàn luận, song còn ở mức độ

ít và chưa có một chuyên luận nào lấy đó làm đề tài nghiên cứu Điều này có từ nguyên nhân khách quan, đó là số lượng tác phẩm có yếu tố tính dục không nhiều, nội dung tính dục lại mờ nhạt Hơn nữa, người nghiên cứu khi đến với thơ Thiền chỉ chú trọng khám phá những nội dung mang tính “giáo huấn”, giữ vai trò truyền tải tư tưởng Phật giáo mà

bỏ qua những điều còn lại Nói cách khác, nội dung tính dục chưa được chú ý khai thác như là một vấn đề trọng yếu Những nhà nghiên cứu còn tìm hiểu vấn đề này ở mức độ

sơ bộ trong phạm vi tác phẩm văn học cụ thể chứ chưa đi đến khái quát hóa và giải quyết vấn đề trong những công trình chuyên sâu

1.1.2 Nghiên cứu văn học giai đoạn từ thế kỉ XV đến hết thế kỉ XVII

Với giai đoạn thứ hai này, số lượng nhà nghiên cứu về những tác phẩm chứa yếu

tố tính dục đông đảo hơn Nguyễn Trãi và Nguyễn Dữ là hai tác giả có sức thu hút nhiều

nhất đối với giới nghiên cứu Bài thơ Cây chuối của Nguyễn Trãi được “lọt vào mắt xanh” của khá nhiều nhà phê bình văn học Lã Nhâm Thìn trong Giảng văn văn học Việt Nam

khi phân tích thi phẩm này đã xác định vẻ đẹp về thiên nhiên trong bài thơ chỉ là lớp hình

Trang 11

tượng bên ngoài, đằng sau đó là một cảm hứng nồng nhiệt: “Song, vị trí của bài thơ Cây chuối không chỉ dừng ở đó Điều đáng nói hơn là qua hình tượng thiên nhiên, Nguyễn

Trãi đã thể hiện một cảm hứng khác, sâu sắc, kín đáo, nhưng không kém phần sôi nổi, rạo rực: cảm hứng về tình yêu và tuổi trẻ” (Lê Bảo et al.,1999) Nguyễn Hữu Sơn đã phát hiện “tính người” trong hình tượng cây chuối: “Cái đẹp của sự sống bình thường đấy, quen thuộc đấy mà xiết bao dịu nhẹ, thơ mộng, đòi hỏi phải được chăm chút, đón nhận với tất cả sự tinh tế thuộc về tính người, bản chất của con người” (Nguyễn Hữu Sơn, 1999) Nguyễn Đình Chú, Xuân Diệu, Phạm Tú Châu, Mai Trân,… cũng góp lời bình luận khá thú vị làm rõ thêm nội dung tính dục của bài thơ tình đặc sắc này Các nhà nghiên cứu bước đầu làm công việc điểm danh những sáng tác mang màu sắc tính dục của nhà

thơ lớn ở thế kỉ XV Ngoài Cây chuối, Tích cảnh 10 cũng là bài thơ được một số người

quan tâm như Tế Hanh, Cao Hữu Lạng… Như vậy, yếu tố tính dục trong thơ Nguyễn Trãi bước đầu đã có những lời nhận định, bình giá về tư tưởng và tình cảm Tuy nhiên, đó chưa phải là những nghiên cứu chuyên sâu, mà chỉ mới dừng lại ở việc tri âm, ở những lời bình có tính chất gợi mở

Nguyễn Dữ là một cây bút văn xuôi chuyên viết truyền kì, tiêu biểu nhất là Truyền

kì mạn lục Đây là tác giả được quan tâm nhiều nhất trong giai đoạn này Số lượng những bài viết về vấn đề tính dục trong sáng tác của Nguyễn Dữ khá đồ sộ Trong Văn học Việt Nam (Thế kỉ X – nửa đầu thế kỉ XVIII), Bùi Duy Tân lí giải rằng vì không chịu gò bó

trong khuôn khổ lễ giáo, Nguyễn Dữ hay viết về đề tài tình yêu Nhà nghiên cứu nêu ra

một số nhận định về những mối tình trong ba tác phẩm Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu, Chuyện người con gái Nam Xương, Chuyện Lệ Nương Từ đó, ông đi tới khái quát

hóa bản chất của tình yêu trong tập truyện: “Tình yêu mà Nguyễn Dữ phản ánh trong

Truyền kì mạn lục có tính chất phức tạp Bên cạnh một số mối tình lành mạnh, chung thủy

sắt son, thể hiện nhu cầu tình cảm của các tầng lớp bình dân, nhiều truyện khác lại phản ánh sự đồi bại của Nho sĩ trụy lạc, lái buôn hãnh tiến” (Bùi Duy Tân, 2001) Đối với tác giả, nhà nghiên cứu phân tích khá tỉ mỉ thái độ, tình cảm của Nguyễn Dữ đối với các mối tình: Một mặt “có phần thông cảm với khát vọng hạnh phúc chính đáng”; mặt khác “cũng lại táo bạo và phóng túng khi thể hiện quan hệ yêu thương không lành mạnh giữa Trình

Trung Ngộ và Nhị Khanh trong Chuyện cây gạo, giữa Hà Nhân và hai nàng Đào, Liễu Trong Truyện kì ngộ ở Trại Tây” (Bùi Duy Tân, 2001) Song, ông vẫn đưa ra kết luận:

Trang 12

“Tuy thông cảm với khát khao yêu đương của con người, nhưng quan điểm chủ đạo của Nguyễn Dữ vẫn là bảo vệ lễ giáo” (Bùi Duy Tân, 2001) Như vậy, trong tư tưởng nghệ thuật, Nguyễn Dữ vướng vào mâu thuẫn giữa quan điểm bảo thủ và quan điểm mang ý nghĩa tiến bộ trong việc thể hiện chủ đề

Ở bài Tìm hiểu khuynh hướng sáng tác trong Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ,

Nguyễn Phạm Hùng đã đưa ra một số nhận định:

Nhưng dù đánh giá cách nào, cũng không thể không thấy rằng, trong Truyền kì mạn lục,

những câu chuyện tình đã làm xôn xao cả cõi trần thế, cả chốn thủy cung và nơi thiên giới!

Ngay Truyện kì ngộ ở trại Tây cũng vậy Chủ đề của truyện có thể còn bàn cãi nhưng câu

chuyện quả như một bài ca đầy tính huyền ảo về tình yêu nhục cảm Nói là bài ca, vì không phải ngẫu nhiên trong truyện này, có rất nhiều bài thơ các nhân vật cùng làm để cực tả cái khoái cảm yêu đương Và Nguyễn Dữ, nếu không có một tâm hồn, một tấm lòng, một niềm say mê tán đồng trong tiềm thức thì không thể sáng tác những bài thơ như thế, những bài thơ, như nhận xét của Ma-rian Tkat-sox, rất hoàn hảo về hình thức, đầy âm điệu hài hòa, và xúc động một cách tinh tế (Nguyễn Phạm Hùng, 2001)

Dưới góc nhìn xã hội học, Nguyễn Phạm Hùng nhận định một cách rõ ràng các vấn đề nổi trội được nêu ra trong tập truyện như phẩm chất dân tộc, địa vị của lực lượng thống trị, người trí thức phong kiến, người phụ nữ Trong đó, tác giả đã nhìn ra được giá trị cao đẹp của người phụ nữ trong đời sống, coi người phụ nữ như là một phương thức

“biểu hiện trực tiếp quan niệm tình yêu và hạnh phúc” Được ghi nhận là nhà nho có công khơi mào trào lưu nhân đạo chủ nghĩa, mối quan tâm lớn lao của Nguyễn Dữ chính là tình yêu và hạnh phúc gia đình Tuy nhiên, những khao khát hạnh phúc chân chính của người phụ nữ thường đưa họ vào bước đường cùng với những cái chết thảm khốc Cuối cùng, tác giả cho rằng Nguyễn Dữ chính là người mở đường cho khuynh hướng sáng tác về người phụ nữ

Những phát hiện được trích dẫn trên đây đã xác định khá rõ khuynh hướng cảm hứng văn chương của Nguyễn Dữ, nhưng tất cả vẫn còn mang tính sơ lược, lại thiên về ngợi ca tình yêu và thiên tính nữ thuần túy mà chưa thấy được tính phức tạp của chủ đề

Trang 13

Những mối quan hệ trong thế giới nhân vật và việc lí giải bản chất của vấn đề tính dục hầu như còn bỏ ngỏ

Dưới góc nhìn văn hóa, Vũ Thanh cho rằng tính dục trong Truyền kì mạn lục hình

thành trên cơ sở của thời kì văn nghệ dân gian nở rộ:

Những quan điểm và quan niệm phóng khoáng hơn trong việc phản ánh những câu

chuyện tình ái có tính nhục dục trong Truyền kì mạn lục, tính “khách quan” của việc mô tả,

thái độ có vẻ đồng tình, thông cảm và việc phản ánh nhu cầu và quyền con người trong việc giải phóng tình cảm, tự do luyến ái, sự đấu tranh cho hạnh phúc trần tục, việc hướng con người đến những khát vọng sống, vượt lên trên những khắt khe của lễ giáo phong kiến trong tác phẩm của Nguyễn Dữ chắc chắn có mối quan hệ chặt chẽ với những hình tượng tạo hình trên các bức điêu khác gỗ dân gian “suồng sã” như cảnh trai gái tự tình, thiếu nữ da thịt mỡ màng khỏa thân tắm, chàng trai đóng khố quàng vai cô gái hừng hực sức sống, cảnh những viên quan ghẹo gái,… ở các đình, chùa còn lại từ thời này (Lã Nhâm Thìn, Đinh Thị Khang, Vũ Thanh, 2012)

Vũ Thanh lí giải rằng chính văn học dân gian đã có sức tác động trực tiếp lên sáng tác của các bậc đại gia Tuy nhiên, trong quá trình tiếp nhận truyền thống dân gian, Nguyễn Dữ đã có sự biến đổi, nhất là đã thổi vào trong cốt truyện một sức sống mới Ngoài ra, Vũ Thanh coi phương diện nổi trội nhất của Nguyễn Dữ là tinh thần phê phán những tệ lậu của xã hội phong kiến Tác giả đã vạch trần “những thói xấu xa thối nát của thể chế đương thời với nạn tham nhũng, xa hoa dâm loạn, phung phí tài lực của nhân dân” (Lã Nhâm Thìn, et al., 2012) Nguyễn Dữ đã hướng tới phản ánh số phận và khát vọng của con người, đặc biệt là thân phận người phụ nữ Họ là những người có phẩm chất cao đẹp nhưng lại có số phận bi thảm Ông đã bỏ công đi tìm những giải pháp xã hội cho vấn

đề thân phận người phụ nữ nhưng cuối cùng phải rơi vào bế tắc Trong quá trình đó, tác giả đã có những biểu hiện mâu thuẫn trong tư tưởng và tình cảm Theo nhà nghiên cứu,

đó là hạn chế có tính tất yếu của thời đại Đáng ghi nhận là Nguyễn Dữ đã làm cho nội dung nữ quyền trong xã hội chuyên chế trở thành một vấn đề có tính cấp bách, đánh dấu

sự hình thành chủ nghĩa nhân đạo Lê Trí Viễn trong Đặc trưng văn học trung đại Việt Nam cũng ghi nhận tính mới mẻ của Nguyễn Dữ trong tư tưởng nghệ thuật: “Nguyễn Dữ

Trang 14

còn cho con người dám có những biểu hiện của lòng người về tình yêu tự do, khao khát yêu đương, hạnh phúc trần tục bằng lời văn cảm thông, thương xót” (Lê Trí Viễn, 2001)

Nhìn chung, lịch sử nghiên cứu vấn đề tính dục trong Truyền kì mạn lục được coi

là một đề tài lớn, thu hút đông đảo nhà nghiên cứu, từ đó nảy sinh nhiều hướng tiếp cận, như văn bản học, xã hội học, văn hóa học, thi pháp học… Đặc biệt, một số nhà nghiên cứu bước đầu đã tiếp cận vấn đề tính dục trong tập truyện này dưới góc nhìn so sánh Có nghĩa là họ đã biết đặt tác phẩm của Nguyễn Dữ trong mối quan hệ với nền văn hóa, văn học dân tộc trong nước và ngoài nước

Ngoài Nguyễn Trãi, Nguyễn Dữ, Lê Thánh Tông, các nhà Nho thời Trần cũng có đóng góp không nhỏ vào diễn trình vấn đề tính dục, song họ cũng chỉ là những tác giả được nghiên cứu ở những nội dung khác, chứ không phải ở vấn đề tính dục

1.1.3 Nghiên cứu văn học giai đoạn từ thế kỉ XVIII đến hết thế kỉ XIX

Đây là giai đoạn thu hút nhiều nhà nghiên cứu luận bàn vấn đề tính dục trong các sáng tác của các nhà nho Truyện thơ Nôm được phiên âm và lưu truyền rộng rãi vào cuối thế kỉ XIX Từ đó đến nay, thể loại này trở thành món ăn tinh thần thú vị của đông đảo độc giả Trong hơn một thế kỉ qua, việc phiên âm, biên khảo được chú trọng và đạt nhiều thành tựu Trong các công trình văn học sử, truyện thơ Nôm là một đối tượng nghiên cứu chiếm dung lượng đáng kể

Đây là một thể loại văn học mà ở đó đề tài về tình yêu đôi lứa giữ vị trí trung tâm Trong lịch sử nghiên cứu truyện thơ Nôm, Kiều Thu Hoạch là người dành nhiều công sức nhất trong việc khám phá bản chất thể loại Dưới cái nhìn xã hội học, khi xem xét bản chất tình yêu qua nhiều tác phẩm, ông cho rằng: “Vấn đề hôn nhân tự do cùng với những đòi hỏi dân chủ trong tình yêu lứa đôi đã trở thành một vấn đề nhức nhối của xã hội phong kiến, và trở thành một khát vọng có tính chất thời đại.” (Kiều Thu Hoạch, 2007) Kiều Thu Hoạch đã điểm qua một số cruyện tình của Chúa Kim và Thao Tín, Cúc Hoa và Tống Trân, Phạm Tải và Ngọc Hoa, Phạm Công và Cúc Hoa, Thoại Khanh và Châu Tuấn… từ

đó nhận thấy tất cả những cặp uyên ương ấy đều vượt qua tất cả lễ giáo khắt khe để châu

về hợp phố và tiếp tục sống những tháng ngày hạnh phúc

Trong số này, Song Tinh, Hoa tiên và Truyện Kiều là ba tác phẩm được nhiều người

biết đến Sự tham gia nghiên cứu đông đảo của nhà nho và chuyên gia văn học về vấn đề

tính dục trong các sáng tác này tạo thành lịch sử nghiên dày dặn Song Tinh của Nguyễn

Trang 15

Hữu Hào (? – 1713) có thể được coi là tác phẩm xuất hiện sớm nhất ở giai đoạn này Lê

Trí Viễn cho rằng: “Đến Song Tinh của Nguyễn Hữu Hào cuối thế kỉ XVII đầu thế kỉ

XVIII là một bước tiến mới trên sự phát triển của ý thức con người – cá nhân (Lê Trí Viễn, 2001) Quả vậy, sự táo bạo trong tư tưởng của nhà nho được thể hiện ngay trong những “lời thơ táo bạo về những điều cấm kỵ nghiêm ngặt của lễ giáo” (Lê Trí Viễn, 2001) Thế nhưng, đáng kể hơn cả đó là ý thức vượt bức tường lễ giáo phong kiến để vươn đến tình yêu đích thực Bùi Duy Tân đã nhận định: “Truyện vừa đề cao chính nghĩa, khát vọng hạnh phúc lứa đôi, vừa lên án lối sống xa hoa, tính cách nham hiểm độc ác của

bọn quan lại Tuy còn nặng về tư tưởng công danh khoa hoạn, truyện Song Tinh vẫn là

câu chuyện tình gắn bó lành mạnh, thủy chung” (Bùi Duy Tân, 2001) Cùng nhận thức

đó, Nguyễn Thị Nương cũng đã nhìn ra tinh thần “nổi loạn” của đôi nam nữ trẻ tuổi:

“Hoặc như Song Tinh và Nhụy Châu (Truyện Song Tinh), dám mượn chuyện làm thơ dò

ý nhau, tương tư, hẹn non thề biển khi chưa biết ý định của cha mẹ như thế nào” (Lã

Nhâm Thìn et al., 2012) Nhìn chung, các nhà nghiên cứu khi phân tích Song Tinh mới

chú trọng nội dung mang ý nghĩa xã hội, từ bi kịch của con người, họ chỉ ra xung khắc giữa khát vọng yêu đương và lề luật Nho giáo

Hoa tiên là tác phẩm thuộc đề tài tài tử giai nhân, viết theo thể loại truyện thơ lục

bát Mặc dù đây là tác phẩm từ đầu chí cuối mô tả và trình bày diễn biến mối tình tươi đẹp của Lương Phương Châu và Dương Giao Tiên nhưng chủ đề của nó không thể hiện tình yêu tự do Trần Đình Sử kết luận: “Rõ ràng ở đây có sự điều hòa giữa tình yêu và lễ giáo Tình yêu được thỏa ước và lễ giáo được bảo vệ” (Nguyễn Hữu Sơn et al., 1997) Ông còn cho rằng giáo huấn trong sáng tác này không phải là “những lời giáo huấn chính thống mà là những quan niệm sống cởi mở, lành mạnh về tình yêu và hạnh phúc lứa đôi” (Nguyễn Hữu Sơn et al., 1997) Tương tự vậy, Trần Đình Hượu cũng nhìn ra sự dung hòa giữa lễ giáo và tình yêu: “Việc làm của Vũ Đãi Vấn là đưa tình yêu vào khuôn khổ lễ giáo Nhưng đồng thời đó cũng là làm cho đúng nhân tình, hợp tình, hợp nghĩa” (Trần

Đình Hượu, 1998) Tương tự Song Tinh Bất Dạ, tác phẩm này cũng mới chỉ được đánh

giá dưới góc nhìn xã hội học Vì vậy, việc nghiên cứu nội dung tính dục trong tác phẩm này vẫn còn giới hạn trong những nội dung đánh giá thông thường, thiên về tìm hiểu đời sống con người trong mối quan hệ xã hội thời phong kiến

Trang 16

Truyện Kiều của Nguyễn Du là tác phẩm được rất nhiều nhà nghiên cứu dày công

khám phá Nhóm Hoài Thanh, Nguyễn Lộc, Đặng Thanh Lê cùng ca ngợi tình yêu đôi

lứa trong Truyện Kiều Trong Phê bình và tiểu luận, Hoài Thanh đi vào phân tích nội dung Phan Trần, Hoa Tiên và Truyện Kiều cũng nhằm làm nổi bật một vấn đề muôn thuở

của con tim Với Hoài Thanh, ở nhân vật Thúy Kiều điều đáng quý nhất là tinh thần chủ

động trong tình yêu Nguyễn Lộc trong Văn học Việt Nam (nửa cuối thế kỉ XVIII – hết thế kỉ XIX) đã cảm kích trước mối tình Kim – Kiều Ông cho rằng mối tình ấy thể hiện ý

thức chống lại định mệnh và lề thói phong kiến cổ hủ, góp phần làm nhân đạo hóa con

người Đặng Thanh Lê trong Truyện Kiều và thể loại truyện Nôm cũng góp tiếng nói bàn

luận về vấn đề tình yêu Bà chỉ ra sự khác biệt giữa các mối tình, mối tình trong sáng giữa Kim Trọng và Thúy Kiều, mối tình nồng nhiệt giữa Thúc Sinh và Thúy Kiều, mối tình ân nghĩa giữa Từ Hải và Thúy Kiều Nhóm các nhà nghiên cứu như Phan Ngọc, Đỗ Minh

Tuấn, Phương Lựu… lại chú ý nhiều hơn đến yếu tố nhục cảm trong Truyện Kiều Trong bài Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều, Phan Ngọc đã đặt Truyện Kiều

trong bối cảnh đương thời để phát hiện ra những nét mới của Nguyễn Du khi nói về tình yêu Ông khẳng định Nguyễn Du có cách miêu tả cụ thể hơn, táo bạo hơn Phan Ngọc đưa ra bốn đặc thù phải có trong tình yêu, trong đó đặc thù ân ái thể xác là hàng đầu:

“Tình yêu trong Truyện Kiều luôn luôn gắn liền với yếu tố thể xác, nói đến cái rung cảm

xác thịt và ca ngợi cái rung cảm ấy” (Trịnh Bá Đĩnh, Nguyễn Hữu Sơn, Vũ Thanh, 1998) Bằng cách tiếp cận đầy mới mẻ này, những ý kiến của Phan Ngọc đưa ra khá thuyết phục, chỉ tiếc là ông chỉ dừng lại ở nhận thức luận chứ chưa đi vào phân tích cụ thể

Bên cạnh vấn đề tình yêu, những nhà nghiên cứu xem Kiều như là nạn nhân của

xã hội phong kiến bất công và tàn nhẫn Theo Lê Trí Viễn, cảm hứng nhân đạo chính là khát vọng của người nghệ sĩ nặng lòng với cuộc đời: “Một giấc mơ giải phóng cho trái tim, giải phóng cho con người, một giấc mơ nhân đạo cao cả biết bao! Ước mơ cả trái tim

nhưng là thiên tài muôn thuở của ngòi bút” (Lê Trí Viễn, 2001) Trong Đọc và nghiên cứu văn học trung đại Việt Nam, Hoàng Hữu Yên coi Thúy Kiều chỉ là một hình tượng

mang tính điển hình cho bao người phụ nữ bất hạnh trong xã hội xưa: “Thông qua cuộc đời chìm nổi của nhân vật Thúy Kiều, nhà thơ đã khắc họa bao kiếp người, nhất là người phụ nữ, bị hắt hủi, bị vùi dập dưới chế độ phong kiến thối nát và tàn bạo Vấn đề nội dung nêu lên là vấn đề vận mệnh của con người, của bao kiếp người bị áp bức đau khổ” (Hoàng

Trang 17

Hữu Yên, 2011) Không chỉ phản ánh cuộc đời của người tài nữ bạc phận, Nguyễn Du còn biểu hiện tấm lòng nhân đạo bao la đối với họ Trần Nho Thìn đã phân tích điều này:

“Ông dành tất cả những tình cảm tốt đẹp nhất cho nhân vật chính là Thúy Kiều Đặc biệt khi nàng gặp tai họa thì nỗi lòng yêu thương của tác giả trào dâng mạnh mẽ Ông theo dõi bước đường phiêu lưu khổ ải, tủi nhục của nhân vật chính với một tâm hồn nhỏ máu”

(Nguyễn Hữu Sơn et al., 1997)

Bên cạnh những tình cảm yêu mến, ngợi ca thì cũng có không ít những bài viết

đứng trên lập trường tư tưởng phong kiến lên án gay gắt tình yêu nam nữ trong Truyện Kiều Ngô Đức Kế ở bài viết Luận về chính học cùng tà thuyết quốc văn – Kim Vân Kiều – Nguyễn Du luận bàn tình yêu Kim – Kiều với thái độ chê trách nặng nề: “Và dù sự tích

ấy mà có thiệt đi chăng nữa, thì một đôi thiếu niên nam nữ, đêm thanh vắng, trèo tường trổ ngõ, ước hẹn chuyện trò với nhau, đối với phong hóa đạo đức đã là việc bất chính; mở đầu quyển sách như thế, dù sau có tô vẽ hiếu nghĩa gì đi nữa cũng không đủ làm gương tốt cho đời” (Trịnh Bá Đĩnh et al., 1998) Cùng cái nhìn với Ngô Đức Kế là chí sĩ Huỳnh

Thúc Kháng Ở cuối bài Chánh học cùng tà thuyết có phải là vấn đề quan hệ chung không?, ông đã kết luận một cách đanh thép: “Truyện Kiều chẳng qua chỉ là một lối văn chương mua vui mà thôi, chớ không phải là thứ sách học, mà nói cho đúng Truyện Kiều

là một thứ dâm thư, rõ không ích mà có hại” (Trịnh Bá Đĩnh et al., 1998) Là một kiệt tác, tác phẩm này là hiện tượng thâm canh qua nhiều thời và việc bình giá nội dung tính

dục trong tác phẩm đã hình thành một hệ nhận định phong phú và đa chiều

Ngoài là dịch giả Chinh phụ ngâm khúc (?), Đoàn Thị Điểm (1705 – 1748) còn là tác giả của Truyền kì tân phả Trong Đọc và nghiên cứu văn học trung đại Việt Nam, Hoàng Hữu Yên cho rằng: “Đọc Truyền kì tân phả ai cũng dễ nhận thấy bốn truyện chúng

tôi phiên dịch đều mang màu sắc hoang đường quái dị” (Hoàng Hữu Yên, 2011) Với

ông, Truyền kì tân phả sở dĩ đạt được thành công là do trong đó có tư tưởng nhất quán:

ca ngợi tình yêu và nhiệt tình đề cao đạo đức, tài hoa của người phụ nữ Xét về góc nhìn xây dựng nhân vật, dấu ấn mà Đoàn Thị Điểm để lại trong tập truyện này, theo Bùi Thị Thiên Thai, là “nhân vật chủ yếu là một thế giới đàn bà, thuộc tầng lớp quý tộc trung lưu

(Bùi Thị Thiên Thai, 2011) Truyền kì tân phả là tác phẩm chưa được quan tâm nhiều và

những công trình nghiên cứu về nó mang tính chuyên sâu vẫn chưa xuất hiện

Trang 18

Chinh phụ ngâm khúc có lượng độc giả đông đảo tạo thành một lịch sử tiếp nhận

khá dày dặn Những nhà nho cùng thời hoặc những nhà nho thuộc hậu thế (Ngô Thì Sỹ, Phan Huy Ích, Phạm Đình Hổ, Phan Huy Chú) có những nhận định tích cực về khúc ngâm của Đặng Trần Côn Trước Cách mạng tháng Tám cũng có một số nhà phê bình quan tâm đến tác phẩm này như Nguyễn Đỗ Mục, Dương Quảng Hàm, Nghiêm Toản, Hoàng Xuân

Hãn… Sau Cách mạng tháng Tám, một số nhà nghiên cứu tiếp tục bình phẩm Chinh phụ ngâm khúc với những góc nhìn mang tính hiện đại như Đặng Thai Mai, Hà Như Chi… Trong Giảng văn Chinh phụ ngâm, Đặng Thai Mai, dưới góc nhìn tâm lý, đã phát hiện ra

sức sống tâm hồn của người chinh phụ đã cạn dần: “Từ lâu buồng tim của nàng đã thôi không đập những nhịp hồi hộp, vô chính phủ của tình yêu ban đầu” (Đặng Thai Mai,

1978) Hà Như Chi trong Việt Nam thi văn giảng luận cũng bày tỏ thái độ ca ngợi đối với

người chinh phụ khi nàng phải vượt lên trên nỗi buồn lẻ bóng để thực hiện trọn vẹn vai trò của mình trong gia đình: “Hình ảnh một người phụ nữ mềm yếu; một mình đảm đương trọn vẹn cái nhiệm vụ gia đình nặng nề to tát trong lúc chồng đi vắng đã làm nổi bật cái tâm hồn vừa yêu kiều vừa cương nghị của người khuê phụ trong xã hội Á Đông ngày trước” (Hà Như Chi, 2000)

Thuộc thế hệ những nhà nghiên cứu trong thời kì mới, tiếp nối những công trình của thế hệ trước, Trần Đình Sử đã nắm bắt được nỗi niềm của nhân vật trữ tình trong đó:

“Trong toàn bộ khúc ngâm, duyên đôi lứa là niềm tha thiết nhất Bao chờ mong khắc khoải đều tập trung vào nỗi sợ “xuân lỡ thì” (Nguyễn Hữu Sơn et al., 1997) Nỗi sợ hãi, tiếc nuối và tự thương chính mình là tâm lí thường trực của người phụ nữ này Bên cạnh

đó, nàng còn ý thức về sự qua đi nhanh chóng của thời gian: “Thời gian tuổi tuổi trẻ trôi nhanh mấy chốc, đòi mau, thấm thoắt, đã phân hóa khỏi thời gian xã hội, vũ trụ Người chinh phụ không còn ảo tưởng vào chữ muôn kiếp siêu hình” (Nguyễn Hữu Sơn et al., 1997) Dưới góc nhìn xã hội học, Trần Đình Hượu đã xác định: “Vấn đề đặt ra trong tác phẩm là vấn đề quyền sống của con người, cụ thể là hạnh phúc lứa đôi của tuổi trẻ, là khát vọng lứa đôi của thanh niên chán ghét chiến tranh phong kiến muốn sống bên nhau trong hòa bình, trong tình yêu và hạnh phúc đến trọn đời” (Trần Đình Hượu, 1998) Cùng hướng khai thác này, Đinh Thị Khang đã đi vào phân tích tình cảnh của người đàn bà có chồng đang xông pha ngoài trận mạc từ lúc người chinh phu xuất trận cho đến những năm dài chờ đợi, ngóng trông Điều mong ước lớn nhất đó là người chồng trở về trong bình an để

Trang 19

tiếp tục cùng nàng xây đắp hạnh phúc: “Nàng cứ quẩn quanh với biết bao nỗi niềm chất đầy, triền miên tưởng không thể dứt Cuối cùng, chính khao khát hạnh phúc lại đưa người thiếu phụ đến ước mơ sum họp để tìm lại, vớt vát chút hạnh phúc tuổi trẻ” (Lã Nhâm Thìn

et al., 2012) Từ việc nhận thức hoàn cảnh chua cay của người chinh phụ, Phạm Luận đã

đi đến kết luận về hệ lụy của chiến tranh phi nghĩa: “Chiến tranh là cần thiết cho ai kia, với nàng, nó đã xóa đi mọi niềm vui của sự sống” (Đặng Thanh Lê, Hoàng Hữu Yên,

Phạm Luận, 1989) Như thế, Chinh phụ ngâm khúc xứng đáng là danh tác có lịch sử tiếp

nhận dài lâu Tuy nhiên, từ trước đến nay các nhà nghiên cứu thiên về khai thác hình tượng nhân vật trữ tình và rút ra vấn đề mang ý nghĩa xã hội từ tác phẩm hơn là khai thác hình thái nghệ thuật cũng như những vấn đề khác thuộc tác phẩm Vì cùng xuất phát từ một số góc nhìn mang tính cố định hóa, nội dung nghiên cứu về tác phẩm này của các nhà khoa học không tránh khỏi hiện tượng trùng lặp, đơn giản

Tương tự như Chinh phụ ngâm khúc, Cung oán ngâm khúc cũng là tác phẩm có bề

dày nghiên cứu với nhiều công trình tầm cỡ Trần Nho Thìn hết mực đề cao ưu phẩm của

cung nữ: “Người cung nữ là một biểu trưng cho giá trị tài – sắc, có quyền được hưởng mọi điều kiện hạnh phúc, sung sướng Giá trị ấy được cực tả cao nhất, vang dội nhất, ấn

tượng nhất” (Trần Nho Thìn, 1997) Đối với Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều

(1741 – 1798), trong cuốn Những điều suy nghĩ từ văn học trung đại, Trần Thị Băng

Thanh đã nhận ra: “Nàng cung nữ đẹp và tài hoa nhưng không đúng với chuẩn mực đạo đức phong kiến” (Trần Thị Băng Thanh, 1999) Theo bà, nguyên nhân dẫn đến bao tai họa trong cuộc đời nàng chính là nhan sắc tuyệt trần và tài năng của nàng Cung nữ không phải là một hình mẫu phụ nữ theo đạo đức nho giáo chính thống: “Người cung nữ không đạt được một điểm nào trong tứ đức của Nho giáo” (Trần Thị Băng Thanh, 1999) Bà khẳng định: “Cứu cánh ở đời nàng chính là hạnh phúc ái ân, khoái lạc nhục cảm” (Trần Thị Băng Thanh, 1999) Một phương diện khác, nhiều nhà nghiên cứu trong khi khảo

luận đã tìm thấy “bóng hình” của tác giả trong hình tượng người cung nữ Ở cuốn Cung oán ngâm khúc, thơ Nguyễn Gia Thiều, với vai trò hiệu đính và chú giải, Nguyễn Lộc vẫn

có những lời bình sắc sảo: “Trong Cung oán ngâm khúc, nhiều lúc có cảm giác ông miêu

tả tâm trạng người cung nữ theo quan niệm của ông hơn là người cung nữ tự bộc bạch

tâm trạng của mình” (Nguyễn Lộc, 1986) Trong Thi pháp Truyện Kiều, dưới góc nhìn so

sánh, Trần Đình Sử phát hiện ra mối liên hệ giữa chủ thể sáng tạo và hình tượng: “Đặng

Trang 20

Trần Côn đã nhập vai người chinh phụ để viết Chinh phụ ngâm khúc, cũng như Nguyễn

Gia Thiều đã thác lời cung nữ để nói lên cảm xúc hư huyễn về cuộc đời” (Trần Đình Sử,

2003) Tương tự, khi luận về tác phẩm này, Thuần Phong cũng xác định: “Cung oán ngâm khúc là một phương tiện mà Nguyễn Gia Thiều sử dụng hầu diễn đạt tâm tình của mình,

có nhà phê bình cho rằng Nguyễn Gia Thiều đã hiện hình dưới làn son tàn phấn lạt của cung phi để khéo tỏ nỗi oán hờn của mình đối với Chúa Trịnh” (Ngô Viết Dinh, 2007) Nhìn chung, những nhận định trên phần nào đã chạm đến vấn đề tính dục, nhưng còn việc giải quyết nó một cách hoàn chỉnh thì vẫn còn bỏ ngỏ

Thơ Nôm Hồ Xuân Hương là một hiện tượng đặc biệt, được nhiều nhà nghiên cứu tiếp cận dưới những góc nhìn khác nhau Đầu tiên, hướng tiếp cận xã hội học có sự tham gia của các cây bút như là Nguyễn Lộc, Lê Đình Kỵ, Xuân Diệu, Trần Thanh Mại, Đặng Thanh Lê, Phạm Thị Thuận Dưới góc nhìn này, họ nhận ra cái dâm, cái tục của Hồ Xuân Hương chính là thứ vũ khí lợi hại để chống lại bức tường lễ giáo phong kiến và các thế lực thống trị Trong tác phẩm của nữ sĩ, ta thấy cả một chế độ phong kiến đang tụt dốc, nhất là về nhân phẩm và tình yêu thương Trong một bầu khí ngột ngạt, bức bối, trong một cuộc sống quá nhiều khổ đau, ngang trái, nhân dân lao động, nhất là người phụ

nữ, đã lên tiếng đấu tranh đòi quyền sống, quyền hạnh phúc và kể cả tình yêu… Đặng Thanh Lê khi tiếp xúc thơ Nôm Hồ Xuân Hương đã mạnh dạn bày tỏ niềm cảm kích:

“Chúng tôi hết sức trân trọng những bài thơ đầy tinh thần chiến đấu chống lễ giáo phong kiến và do đó, giàu lòng nhân đạo và chan chứa yêu đời Đây là lần đầu tiên trong văn học Việt Nam, một phụ nữ tài hoa và dũng cảm đã lên tiếng trên giấy trắng mực đen, đấu

tranh cho quyền lợi của giới mình” (Đỗ Lai Thúy, 1999) Trong luận án Thơ Nôm Hồ Xuân Hương nhìn từ lý thuyết nữ quyền, Phạm Thị Thuận đã đi vào phân tích, lí giải vấn

đề nữ quyền trong sáng tác thơ Nôm Hồ Xuân Hương Đây là công trình có ý nghĩa mở

ra một hướng nghiên cứu chuyên sâu bản chất thơ của Bà Chúa Thơ Nôm dưới góc nhìn

xã hội học

Vào nửa đầu thế kỉ XX, tiếp nhận theo hướng phân tâm học của S Freud đã xuất hiện trong giới sáng tác và phê bình văn học Trương Tửu được xem là người đầu tiên vận dụng thuyết phân tâm học vào phân tích thơ Nôm Hồ Xuân Hương Ông đã lí giải rằng tất cả những ám ảnh của bà chính là biểu hiện của một người mắc chứng thần kinh

mà nguyên nhân chính là không được thỏa mãn tình dục Mọi sự vật bên ngoài đều biến

Trang 21

hình sang cái ấy: “Làm sao cắt nghĩa được Hồ Xuân Hương, cái thiên tài hiếu dâm đến cực điểm kia? Bất kì tả cảnh gì, vật gì, nàng cũng tả qua cái khung dâm – cái giống!

Chúng ta ai mà chẳng đã đọc được những bài: Đánh đu, Dệt cửi, Cái giếng… của nữ sĩ

có một không hai ấy” (Tủ sách Tân văn hóa Hàn Thuyên, 1950) Cùng nhóm với Trương Tửu là Nguyễn Văn Hạnh, Nguyễn Đức Bính, Văn Tân Dựa vào tiểu sử của nhà thơ, họ xác định trạng thái không thỏa mãn tình dục lâu ngày dồn nén thành những ẩn ức Để giải tỏa nỗi niềm khó nói đó, bà phải sáng tác Thơ Hồ Xuân Hương chính là sự thăng hoa của con dục (libido) Bà tìm thiên đàng không ở chốn mây mù thần tiên nào mà ở ngay tại mặt đất này Nữ sĩ tin chắc rằng mình sẽ được hưởng hạnh phúc thiên đàng tại thế khi được thỏa dục, được thăng hoa trong những vần thơ tình ái Trần Đình Sử viết: “Một cuộc sống mà tất cả đều nửa vời, nửa đoạn, dang dở, thiếu thốn hoàn toàn, thể hiện một sự bất mãn dai dẳng, sâu sắc, liên tục trong cuộc đời ân ái” (Nguyễn Hữu Sơn, 1997) Như vậy, dưới góc nhìn tâm lí học, nhiều nhà nghiên cứu đã tìm ra được hướng tiếp cận mới và có thể soi chiếu sâu xa hơn trong khi tiếp nhận thơ Hồ Xuân Hương

Tiếp cận bản sắc thơ của Hồ Xuân Hương dựa trên thuyết phân tâm học đã mở ra một không gian mới Do đó, việc giải thích yếu tố dâm tục đã được chuyển dịch từ bình diện xã hội học sang bình diện tâm lí học sáng tạo Hướng thứ ba nghiên cứu thơ Hồ Xuân

Hương là tiếp cận từ nguyên lí hội hóa trang Người đi đầu phải kể đến N Niculin Ông

đã rút ra một quan niệm mới về qui tắc thẩm mỹ của Hồ Xuân Hương: sáng tác của bà là

sự xâm nhập ngôn ngữ nghệ thuật cao cấp của nền văn hóa dân gian bị cấm đoán ở Việt Nam thời trung cổ, nền văn hóa này thường được biết đến qua những ngày hội của quần chúng, trên những bục sân khấu bình dân Nghiên cứu hiện tượng thơ Hồ Xuân Hương theo hướng này ngoài N Niculin thì còn có Đỗ Đức Hiểu, Tam Vị Nhìn chung, khi vận dụng canavalesque (lễ hội hóa trang) của Bakhtin vào khám phá thơ Nôm Hồ Xuân Hương, các nhà nghiên cứu có những lí giải mới mẻ về thế giới thơ của nữ sĩ

Góp thêm một cách nhìn, một hướng tiếp nhận phong phú hơn về vấn đề tính dục trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương còn phải kể đến các công trình nghiên cứu của những

nhà phê bình theo khuynh hướng văn hóa học Trong luận án Hồ Xuân Hương và nền văn hóa dân gian Việt Nam, trên nền tảng khảo sát lịch sử vấn đề và đặc trưng của nền văn

hóa dân gian Việt Nam nửa cuối thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX, Đỗ Thị Ngọc đã

đi vào nghiên cứu sự tiếp thu văn hóa dân gian trong thơ của Hồ Xuân Hương trên nhiều

Trang 22

bình diện như tư tưởng, thi liệu, ngôn ngữ, thi pháp Dưới góc nhìn văn hóa, tính dục trong sáng tác của Bà Chúa Thơ Nôm là kết quả của việc hấp thụ đa phương diện từ nền văn hóa gian – văn hóa phồn thực Tác giả luận án cho rằng: “Việc tìm hiểu sáng tác thơ Nôm được truyền tụng của Hồ Xuân Hương đã cho thấy bà đã tiếp thu, tiếp thu một cách dũng cảm từ các hình tượng mang tính tục dâm trong đố tục giảng thanh và nâng chúng lên nhằm thể hiện một triết lí sâu xa của con người dân gian, ấy là cái khao khát rất thực, rất thực của con người hôm qua, hôm nay và mãi về sau” (Đỗ Thị Ngọc, 1996) Ba năm sau, Đỗ Lai Thúy trong một đề tài tương cận đã đi sâu vào một trong những yếu tố làm nên nền văn hóa dân gian – tính phồn thực Ông cho rằng: “Tiếp cận từ tín ngưỡng phồn thực chẳng những tìm ra được nguồn tinh huyết của thơ Hồ Xuân Hương, ý nghĩa dâm tục như là một hình thức thị phạm ma thuật để cầu phồn thực phồn sinh" (Đỗ Lai Thúy,

1999) Cách tiếp cận cái dâm, cái tục trong thơ Hồ Xuân Hương và toàn bộ thơ bà, Đỗ

Lai Thúy đã tìm ra lí giải toàn bộ hệ thống hình tượng ngôn ngữ dưới ánh sáng tín ngưỡng phồn thực và những siêu mẫu Trong phạm vi thơ Hồ Xuân Hương, chúng ta đã có một lực lượng nghiên cứu đông đảo cống hiến nhiều công trình bề thế bằng những phương thức tiếp cận khác nhau, chứng tỏ sự vận động và phát triển trong lĩnh vực tiếp nhận và nghiên cứu Mỗi hệ hình nghiên cứu đều có những ưu thế và hạn chế nhất định Điều đáng mừng là “mỗi lần chuyển kênh như vậy thì việc lí giải cái dâm cái tục có vẻ thỏa đáng hơn, và thơ Hồ Xuân Hương cũng hiện lên dưới một ánh sáng mới với những khía cạnh bất ngờ” (Đỗ Lai Thúy, 1999) Sự đa dạng và phong phú về phương pháp tiếp cận thế giới thơ Hồ Xuân Hương cho thấy vị trí và giá trị lớn lao tác phẩm của Hồ Xuân Hương trong lịch sử tiếp nhận văn học trung đại Việt Nam

Phạm Đình Hổ, Phạm Thái, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Dương Khuê, Chu Mạnh Trinh, Tú Xương… là những nhà nho có những đóng góp không nhỏ trong tiến trình phát triển của văn học trung đại Việt Nam ở giai đoạn cuối Trong

đó, Phạm Thái và Nguyễn Công Trứ là hai nhà thơ được giới nghiên cứu quan tâm nhất, tạo thành lịch sử tiếp nhận tính dục ở sáng tác này phong phú, dày dặn Chỉ sáng tác trong vòng khoảng bốn năm nhưng Phạm Thái trở thành một cái tên ấn tượng trong xu hướng

văn học chủ tình Sơ kính tân trang là tác phẩm có tính chất tự truyện diễn tả lại cuộc tình

đầy lãng mạn giữa nhà thơ và Quỳnh Như Nghiên cứu tác phẩm này, các nhà phê bình văn học chủ yếu tiếp cận dưới góc nhìn xã hội học, từ đó đi đến khẳng định tinh thần mới

Trang 23

mẻ giàu giá trị nhân văn đối với tình yêu chân thành, trong sáng, song cũng mạnh mẽ, quyết liệt của đôi trẻ yêu nhau là Phạm Kim và Quỳnh Thư Tương tự một số truyện thơ

Nôm viết về chuyện tình tài tử giai nhân, Sơ kính tân trang không thoát khỏi sự “đồng màu” về giá trị nội dung với Song Tinh Bất Dạ, Hoa Tiên, Truyện Kiều, Phan Trần,… Song, nếu xét khâu tổ chức cốt truyện và xây dựng hình tượng thì Sơ kính tân trang có

những khác biệt nhất định so với “mẫu chung” ở một số truyện thơ Nôm Trần Ngọc Vương đã đặt tác phẩm này vào trong hệ thống tác phẩm truyện thơ Nôm để nhận định:

“Ngoại trừ một số trường hợp (Trương Quỳnh Thư trong Sơ kính tân trang thủ tiết), đại

đa số các tác giả truyện Nôm đều cố gắng tìm tới một chung cục tốt đẹp, may mắn, hay

chí ít, là chấp nhận được (Trần Ngọc Vương, 2018) Ngã rẽ của ngòi bút này khởi đi từ

kiểu thức sáng tác vượt ra khỏi hình thức vay mượn văn học Trung Hoa Bàn về trường hợp này, Đỗ Lai Thúy cho biết: “Giữa lúc hầu hết truyện thơ Nôm lấy tích/ phóng tác từ

tiểu thuyết đô thị Trung Hoa, chủ yếu là tiểu thuyết tài tử giai nhân, thì Sơ kính tân trang

của Phạm Thái đã lấy chất liệu “người thực việc thực” từ chính cuộc đời ông (Đỗ Lai Thúy, 2015) Sự “ngoại lệ” ấy đã tạo ra điểm mới và dĩ nhiên làm cho tác phẩm có vị trí nhất định trong thể loại truyện thơ Nôm Về nội dung tính dục, việc nhiều nhà nghiên cứu cùng đi đến khẳng định và ngợi ca tư tưởng tự do trong tình yêu và hôn nhân trong sáng tác này xuất phát từ nguyên nhân khách quan là nội dung mang tính phổ biến của tác phẩm và nguyên nhân chủ quan là góc nhìn của người nghiên cứu Những công trình viết

về Sơ kính tân trang nói riêng và sáng tác của Phạm Thái nói chung đều đứng trên góc nhìn xã hội học Trong Văn học Việt Nam (nửa cuối thế kỉ XVIII – hết thế kỉ XIX), mở đầu phần Giá trị Sơ kính tân trang, Nguyễn Lộc đã xác định rõ: “Sơ kính tân trang là tác

phẩm viết về một tình yêu tự do, phóng túng, vượt ra ngoài khuôn khổ của luân lý, lễ giáo phong kiến” (Nguyễn Lộc, 1999) Ông đánh giá cao khả năng miêu tả và phản ánh tâm

lý của những người trẻ mới bước vào đường yêu của Phạm Thái: “Trong văn học phong kiến Việt Nam có lẽ không có tác phẩm nào nói lên được cái thổn thức, cái bâng khuâng

không đâu mà sâu lắng của tuổi trẻ khi sắp bước vào ngưỡng cửa của tình yêu như Sơ kính tân trang (Nguyễn Lộc, 1999) Với Hoàng Hữu Yên, Sơ kính tân trang là tác phẩm

kể về một mối tình thơ mộng song trải qua nhiều sự thăng trầm Tình yêu của những nhân vật trong truyện mang bóng dáng của ước mơ thầm kín và thể hiện ý thức táo tạo trong quan niệm về tình yêu và hạnh phúc của tác giả Nghiêm Xuân Hồng cho rằng: “Phạm

Trang 24

Thái đã thổ lộ nhiều tình tự hơn trong tập Sơ kính tân trang để khóc Quỳnh Như” (Nghiêm

Xuân Hồng, 1961) Tương tự, Hoàng Hữu Yên cũng nhận định: “Mối tình thực và mối

tình mộng trong Sơ kính tân trang diễn ra như thế đó Bất chấp tất cả, nhà thơ Kinh Bắc

đã thực hiện giấc mộng ái ân, dù đó chỉ là một thắng lợi tinh thần không hơn không kém

(Hoàng Hữu Yên, 2011) Cả Nghiêm Xuân Hồng và Hoàng Hữu Yên đã cho thấy cội nguồn cảm hứng chủ tình cũng như mối quan hệ hữu cơ giữa cuộc đời tác giả và sự sinh thành tác phẩm Chính cảm hứng chủ tình là nguồn hình thành dòng văn học lãng mạn Nói về sự đóng góp của Phạm Thái cho thể tài văn học chủ tình, Đỗ Lai Thúy biểu lộ sự đánh giá cao: “Giữa lúc văn học trung đại đang đi đến đỉnh cao của chủ nghĩa cổ điển, thì Phạm Thái đã có những khởi nguyên lãng mạn chủ nghĩa” (Đỗ Lai Thúy, 2015) Như vậy, nội dung tính dục được nhiều nhà nghiên cứu chú ý trong sáng tác thơ của Phạm Thái là tình yêu nồng nàn, tha thiết, còn về nghệ thuật biểu hiện của nó thì chưa được đề cập cụ thể và kĩ lưỡng

Trong số những nhà nho tài tử thời hạ kì trung đại, Nguyễn Công Trứ được nhiều nhà nghiên cứu tốn nhiều giấy mực bàn luận về thơ ca hành lạc Đối với tác giả này, tư tưởng và lối sống hành lạc đã từng gây ra những luồng bình luận trái chiều, được khen nhiều mà bị chê cũng không ít Trần Nho Thìn lưu ý rằng hành lạc của ông đã vượt ra khỏi thú vui thanh tao, thu nạp cả thú vui mang tính sắc dục: “Còn trong thơ Nguyễn Công Trứ, bên cạnh cầm kỳ thi tửu truyền thống, hành lạc còn bao gồm nội dung phi truyền thống – yếu tố sắc dục – khiến cho nhiều nhà nghiên cứu ngày nay băn khoăn” (Trần Tho Thìn, 2003) Theo đó, nội hàm tài tình trong sáng tác của nhà thơ còn bao hàm

“thú thanh tao” với “yến hường” mày đi mắt lại” Trần Hoa Lê cho rằng: “Lần đầu tiên trong lịch sử thơ ca nhà nho Việt Nam, có một thi nhân dám công khai bày tỏ nhu cầu sắc dục trong thơ, hơn nữa, còn ngất ngưởng ca ngợi, vuốt ve cái nhu cầu xưa nay nhà nho thường phải giấu kín hoặc kìm nén” (Lã Nhâm Thìn et al., 2012) Nội dung tính dục trong

sáng tác của ông đã “tuyên chiến” với qui tắc “khắc kỷ phục lễ” của Nho giáo Trong Loại hình học tác giả văn học – nhà nho tài tử và văn học Việt Nam, Trần Ngọc Vương đã mở

rộng thêm nhận thức trên khi bàn về giá trị lớn lao của tinh thần “vượt rào” trong xã hội chuyên chế: “Nhưng nếu hiểu được rằng trong điều kiện ngự trị vững chắc của tinh thần chủ nghĩa chuyên chế phương Đông mọi sự dị biệt đều có nguy cơ bị trừng phạt một cách thảm khốc (…) thì mới đánh giá hết độ dũng cảm và tính chất khiêu khích các hành vi

Trang 25

của Nguyễn Công Trứ” (Trần Ngọc Vương, 2018) Bên cạnh thái độ ngợi ca, một số ý

kiến khác lại cho rằng những biểu hiện của Nguyễn Công Trứ từ tư tưởng đến lối sống

đều mang tính tiêu cực Hành lạc được Nguyễn Công Trứ được nâng lên thành triết lí

Đánh giá về triết lí sống của ông, Nguyễn Lộc đã viết: “Nhận định về triết lí hành lạc của

Nguyễn Công Trứ, chúng ta thấy nó bao hàm một nội dung hoàn toàn tiêu cực, có tính

chất đồi trụy, không một điểm nào có ý nghĩa trong triết lí ấy” (Nguyễn Lộc, 1999) Ông

cho rằng hành lạc trong thơ của Nguyễn Công Trứ chẳng qua là sản phẩm của một xã hội

đang trong giai đoạn suy tàn Đa số các nhà nghiên cứu đều đánh giá con người cá nhân

của Nguyễn Công Trứ chủ yếu dưới góc nhìn xã hội học Do đó, nhận định về Nguyễn

Công Trứ tuy phong phú, song vẫn chưa cho thấy một cách toàn diện đối với một hiện

tượng văn chương thời hạ kì trung đại Nghiên cứu tính dục trong sáng tác của những nhà

nho thời kì này được một số cây bút chú ý thông qua những công trình văn học sử, hoặc

những chuyên luận, chuyên khảo về thi pháp, nội dung tư tưởng, khuynh hướng sáng

tác,… Nhìn chung, nghiên cứu vấn đề tính dục trong các sáng tác của nhóm tác giả trên

như một nhiệm vụ chủ yếu thì vẫn đang ở phía trước

1.2 Nghiên cứu tính dục trong văn học trung đại Việt Nam như một đối tượng chính yếu

Xác định tính dục là vấn đề trọng tâm trong công trình nghiên cứu, cho tới nay chủ

yếu thuộc về công việc của những sinh viên và học viên cao học Những danh tác thường

được lựa chọn làm đối tượng nghiên cứu là Truyền kì mạn lục, Truyện Kiều, thơ Nôm Hồ

Xuân Hương

Trong Tìm hiểu sắc thái tính dục trong Truyền kì mạn lục, Lê Thị Hoài Thu đi vào

nghiên cứu tính dục trên hai bình diện nội dung (đề tài, nhân vật, biểu tượng) và hình thức

(yếu tố kì ảo, nhân vật, không gian, thời gian) Ở cấp độ luận văn Thạc sĩ, tác giả đã bước

đầu nhận diện và lí giải một số biểu hiện tính dục trong tập truyện Trong phần Đóng góp

mới của luận văn, người viết đã xác định: “Đây là luận văn đầu tiên tìm hiểu sắc thái dục

tính trong Truyền kì mạn lục một cách hệ thống và toàn diện Đề tài góp phần làm rõ hơn

một vấn đề mới của chủ nghĩa nhân đạo: vấn đề dục tính và sự tỉnh thức cá nhân của con

người trong văn học trung đại” (Lê Thị Hoài Thu, 2014) Tác giả luận văn đã bước đầu

nghiên cứu sắc thái dục tính trong đề tài, nhân vật, biểu tượng, yếu tố kì ảo, không gian

Trang 26

và thời gian Tuy nhiên, Lê Thị Hoài Thu chưa thể nghiên một cách có hệ thống và toàn diện sắc thái tính dục của tập truyện như đã khẳng định ở phần đầu luận văn

Gần đề tài với luận văn trên, năm 2016, Nguyễn Thanh Bình, chủ yếu theo hệ hình

nghiên cứu xã hội học, trong luận văn Mối quan hệ giữa diễn ngôn đạo đức và diễn ngôn tình yêu/tình dục trong Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ đã nỗ lực tìm ra mối mâu thuẫn

trong tư tưởng của Nguyễn Dữ dựa trên diễn ngôn đạo đức và diễn ngôn tình yêu/tình dục, từ đó nhận thức tư tưởng mới của tác giả Nguyễn Thanh Bình tin rằng: “Luận văn

sẽ giúp chúng ta lí giải thấu đáo về sự mâu thuẫn giữa tư tưởng Nguyễn Dữ Đồng thời, luận văn giúp chúng ta thấy rõ tư tưởng tiến bộ vượt thời đại của ông trong quan điểm về tình yêu, về hạnh phúc trần thế” (Nguyễn Thanh Bình, 2016) Trong công trình, đi từ lí

thuyết diễn ngôn, đặc trưng thể loại truyền kì và sáng tác Truyền kì mạn lục của Nguyễn

Dữ, trong chương hai, Nguyễn Thanh Bình lần lượt nghiên cứu diễn ngôn đạo đức (kì thị

nữ sắc, điều tiết bản năng; cảnh tỉnh thói tham lam; trọn đạo trung hiếu, hành xử cẩn trọng; sự chung thủy, đức hi sinh của người phụ nữ trong mối quan hệ vợ chồng; nhân quả báo ứng) và diễn ngôn tình yêu/tình dục (yếu tố tính dục trong các câu chuyện tình;

tình yêu nam nữ không chịu ràng buộc bởi lễ giáo phong kiến), từ đó tìm ra xu hướng vận động của diễn ngôn đạo đức và diễn ngôn tình dục/tình yêu Trong chương ba, Nguyễn Thanh Bình đi vào tìm hiểu hệ thống nhân vật, mối quan hệ giữa trữ tình và chính luận, mối quan hệ giữa yếu tố kì và yếu tố thực Nhìn chung, tác giả luận văn đã giải quyết một

cách ổn thỏa mối quan hệ giữa hai diễn ngôn trong Truyền kì mạn lục Tuy nhiên, do chủ

yếu nghiên cứu theo hệ hình xã hội học, cấu trúc luận văn còn lỏng lẻo, người viết cũng chỉ dừng lại ở việc nhận diện với những nhận định còn chung chung, thiếu tính chuyên sâu

Vấn đề tình dục trong Truyện Kiều của Nguyễn Du là luận văn Thạc sĩ của Lê Viết

Thắng Đây là công trình nghiên cứu khá công phu, mang ý nghĩa định hướng khai thác mới mẻ đối với một kiệt tác văn chương Trong phần mục đích nghiên cứu, Lê Viết Thắng

đã lưu ý như sau: “Nghiên cứu vấn đề tình dục không phải để hạ thấp hay dung tục hóa tác phẩm này, mà trái lại càng làm sáng tỏ tính nhân bản mà Nguyễn Du đã trình bày rất tinh tế trong tác phẩm Nếu chúng ta hiểu thấu đáo về nó thì sẽ góp phần thấy được những

giá trị lớn lao trong Truyện Kiều, đồng thời thấy được những đóng góp cho thiên tài

Nguyễn Du cho nền văn học Việt Nam” (Lê Viết Thắng, 2008) Trong luận văn, để làm

Trang 27

sáng tỏ vấn đề tình dục, Lê Viết Thắng đi vào giải quyết ba vấn đề sau: Khái quát về việc

thể hiện vấn đề tính dục trong văn học Việt Nam thời trung đại; Quan niệm của Nguyễn

Du về tình dục và việc thể hiện quan hệ tình dục trong Truyện Kiều; Những phương thức,

phương tiện nghệ thuật thể hiện vấn đề tình dục trong Truyện Kiều của Nguyễn Du Trong

chương hai, tác giả luận văn phân tích những mối quan hệ giữa nàng Kiều với Kim Trọng,

Thúc Sinh, Mã Giám Sinh, khách làng chơi, Hồ Tôn Hiến, đồng thời chỉ ra quan niệm

của Nguyễn Du về vấn đề tình dục Trong chương ba, người viết nghiên cứu hệ thống sự

kiện, lời thoại, ngôn ngữ và kết cấu Ưu điểm của công trình này là đi từ vấn đề khái quát

đến nội dung trọng tâm, khai thác vấn đề tình dục trên hai bình diện nội dung và hình

thức Tuy nhiên, tác giả cũng chỉ dừng lại với mức độ mô tả, nếu có nhận định thì cũng

mang tính chất đại khái Việc đi sâu luận giải vấn đề tình dục trong Truyện Kiều, nhất là

những nội dung mang ý nghĩa nhân đạo vẫn còn để trống Nói về hướng tiếp cận, Lê Viết

Thắng chủ yếu theo hướng nghiên cứu xã hội học và thi pháp học, mà chưa vận dụng

thêm những hướng nghiên cứu khác để có thể đi xa hơn nữa trong quá trình triển khai đề

tài sao cho đạt đến hiệu quả cao nhất trong cấp độ của một luận văn Thạc sĩ

Nghiên cứu tính dục trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương dưới góc nhìn đối chiếu,

Nguyễn Thị Ngọc Châu xác định mục đích nghiên cứu như sau: “Bằng cách so sánh thơ

Hồ Xuân Hương với một số sáng tác trữ tình có xuất hiện yếu tố tính dục trong thi ca Việt

Nam từ xưa đến nay, chúng tôi muốn lí giải vì sao cùng sử dụng những yếu tố này mà các

sáng tác khác lại không gây nhiều tranh luận, không tạo sức hấp dẫn và sức sống mãnh

liệt bằng thơ Hồ Xuân Hương (Nguyễn Thị Ngọc Châu, 2010) Luận văn Vấn đề tính dục

trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương dưới góc độ so sánh được chia thành ba chương Ở

chương thứ nhất, Nguyễn Thị Ngọc Châu giới thuyết về một số vấn đề về tính dục và thơ

Nôm Hồ Xuân Hương Ở chương thứ hai, tác giả luận văn tiến hành nghiên so sánh thơ

Nôm Hồ Xuân Hương với văn học dân gian, thơ trung đại và thơ hiện đại Đây là phần

nghiên cứu tính dục về mặt nội dung Ở chương ba, Nguyễn Thị Ngọc Châu tiến hành so

sánh thơ Nôm Hồ Xuân Hương với những loại hình văn học như trên Đây là phần nghiên

cứu tính dục về mặt hình thức Nhìn chung, Vấn đề tính dục trong thơ Nôm Hồ Xuân

Hương dưới góc độ so sánh là công trình khoa học có hướng nghiên cứu mới mẻ, đã

giải quyết một cách cơ bản vấn đề đã đặt ra trong phần mục đích nghiên cứu, góp phần

Trang 28

mở rộng thêm về một vấn đề “nòng cốt” trong lịch sử tiếp nhận tác phẩm của Bà chúa thơ Nôm

Trong lịch sử nghiên cứu vấn đề tính dục không thể không kể đến Nguyễn Văn

Hưng Trong bài “Tiếng dâm” trong văn học trung đại Việt Nam thế kỉ XVI – XIX, nhà

nghiên cứu đi vào khảo sát toàn bộ những tác phẩm nổi bật góp phần tạo nên “tiếng dâm”, một thành phần tạo nên “diện mạo tinh thần của người xưa trong đời sống tình dục, những chuẩn mực tính dục đã được thiết lập và bị vượt qua như thế nào trong thực tế, dù đó chỉ

là thực tế của văn bản, con chữ và tư tưởng” (Nguyễn Văn Hưng, 2018) Đóng góp của bài viết ở chỗ đã thống kê, khảo sát và đánh giá sự hình thành và chuyển biến trên phương diện đề tài, chủ đề, tình cảm và tư tưởng gắn liền với vấn đề tính dục trong văn học trung đại trải dài bốn thế kỉ

Từ việc khảo sát tình hình nghiên cứu tính dục trong văn học trung đại, chúng ta

có thể hướng tới khảo sát tình hình nghiên cứu tính dục trong văn học hiện đại để có cái nhìn rộng rãi hơn về đề tài nghiên cứu Có thể điểm qua một số công trình nghiên cứu có

giá trị cao về tính dục trong văn học hiện đại Việt Nam: Diễn ngôn tính dục trong văn xuôi hư cấu Việt Nam (từ đầu thế kỉ XX đến năm 1945) của Nguyễn Văn Toàn đăng trên tạp chí Nghiên cứu văn học số 1, năm 2011; Đặc điểm tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương trong tiến trình đổi mới tiểu thuyết Việt Nam đương đại (Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Diệu Hạnh, Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn Hà Nội, năm 2011), Yếu tố tính dục trong sáng tác của những nhà văn nữ từ giữa thập kỉ 80 của thế kỉ XX đến nay (khảo sát qua tác phẩm Phạm Thị Hoài, Y Ban, Võ Thị Hảo, Đỗ Hoàng Diệu, Đoàn Lê) (Luận văn Thạc sĩ của Bùi Kim Phượng, Đại học Đà Nẵng, năm 2011), Yếu tố tính dục trong tiểu thuyết của Nguyễn Đình Tú (Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị Phương Nhi, Đại học Đà Nẵng, năm 2012), Diễn ngôn tính dục trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại (Qua một số tác giả - tác phẩm tiêu biểu) (Luận án Tiến sĩ, Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn Hà

Nội, năm 2018),… Qua đó, chúng ta thấy xu hướng nghiên cứu tính dục ngày càng chiếm

ưu thế trong đời sống văn học Tuy nhiên, nghiên cứu tính dục trong văn học trung đại và nghiên cứu tính dục trong văn học hiện đại, mặc dù nằm trên cùng một đường biên về

“tính dục”, song lại có nhiều điểm khác biệt Điều này xuất phát từ sự đặc trưng văn học

của mỗi thời kì văn học

Trang 29

Tiểu kết chương 1

Nhìn chung, số lượng công trình khoa học về vấn đề tính dục trong thơ văn trung đại Việt Nam là không nhỏ Vì thế, hình thành lịch sử vấn đề nghiên cứu là việc làm khó khăn Ở trên, chúng tôi chỉ đề cập đến những công trình nổi bật nghiên cứu về những tác giả có đóng góp đáng kể cho sự vận động và phát triển vấn đề tính dục trong văn học trung đại Đối với những tác giả lớn như Nguyễn Dữ, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, chúng tôi đã phân loại và sắp xếp theo từng hệ hình nghiên cứu văn học nhằm làm rõ bản chất tính dục trong sáng tác của từng người Thông qua phần tổng quan, chúng tôi khẳng định rằng vấn đề tính dục trong văn học trung đại Việt Nam không phải là đề tài mới Tuy nhiên, một công trình khoa học nghiên cứu có hệ thống và hướng đến khái quát hóa cho thời điểm hiện tại vẫn còn bỏ ngỏ Với nhiệt tâm tìm hiểu vấn đề tính dục trong thơ văn trung đại, chúng tôi sẽ triển khai luận án theo hướng kế thừa những thành quả nghiên cứu của một số công trình trước đây, tiến tới hệ thống hóa, khái quát hóa nhằm làm rõ một vấn đề lớn trong văn học trung đại Việt Nam

Trang 30

Chương 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ TÍNH DỤC

2.1 Một số giới thuyết về tính dục

2.1.1 Khái lược về tính dục

Tính dục là một khái niệm có nội hàm ngữ nghĩa không rộng, tuy nhiên trong việc

định nghĩa, nó là hiện tượng phức tạp và chưa bao giờ có sự thống nhất Tương tự, theo

Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê: “Tính dục là đòi hỏi sinh lí về quan hệ tính giao” (Hoàng Phê, 1995) Nguyễn Văn Đạm và Văn Tân trong Từ điển tiếng Việt quan niệm:

tính dục là “thú vui xác thịt giữa nam và nữ” (Văn Tân và Nguyễn Văn Đạm, 1994) Theo Bùi Ngọc Oánh: “Tính dục là toàn bộ những đặc điểm sinh lí cơ thể về giới tính, được hình thành và phát triển bởi hoạt động của hệ cơ quan sinh dục (…) Tính dục của con người là một hiện tượng sinh vật – xã hội phức tạp, là sản phẩm của quá trình tác động giữa các yếu tố sinh vật và yếu tố xã hội” (Bùi Ngọc Oánh, 2006)

Dựa vào một số thuật ngữ nước ngoài đã được dịch sang tiếng Việt, ta có thể thấy thêm một bình diện khác trong nội hàm ngữ nghĩa Phạm Quỳnh Phương đã phân tích nội hàm tính dục như sau:

Nếu như tình dục (sex) hàm ý đến hành vi quan hệ, thì tính dục (sexuality), theo

Bremner và Illin (1994), được tạo nên bởi các thành tố như hành vi tình dục, xu hướng tình dục, cảm xúc, các mối quan hệ xã hội, và cả khía cạnh chính trị Cũng có quan niệm khác cho rằng tính dục được cấu thành từ bốn thành tố: giới tính sinh học (do các yếu tố sinh học quy định), xu hướng tính dục (cảm thấy bị hấp dẫn về tình dục với nam hoặc nữ), và thể hiện giới (sự thể hiện và vai trò về nam tính hay nữ tính trong đời sống) Tính dục do đó bao hàm những khía cạnh của hành vi con người, nhưng đồng thời cũng bị tác động bởi bối cảnh lịch

sử, văn hóa, chính trị (Phạm Quỳnh Phương, 2013)

Một số nhà nghiên cứu cũng đã từng xác định rõ nội hàm thuật ngữ tính dục: “Tính dục là tổng thể con người, bao gồm mọi khía cạnh đặc trưng của con trai hoặc con gái, đàn ông hoặc đàn bà và biến động suốt đời Tính dục phản ánh tính cách của con người, không phải chỉ là bản chất sinh dục (Nhiều tác giả, 2006) Véronique Mottier, nhà nghiên cứu người Anh, còn cho rằng: “Tính dục được định hình bởi những động lực xã hội, nó

Trang 31

có những mối liên hệ quan trọng với các tương quan quyền lực liên quan đến giai cấp, chủng tộc và nhất là giới tính” (Véronique Mottier, 2016)

Qua việc khảo sát một số thuật ngữ, ta có thể xác định hàm nghĩa của tính dục (sexuality) bao gồm khuynh hướng tính dục (dị tính, đồng tính hay song tính), bản năng

giới tính, ham muốn tính dục và khả năng sinh sản Tính dục vừa phản ánh quan hệ tính giao vừa bao hàm những yếu tố làm nên bản chất của giới tính Có thể nói, tính dục không chỉ là vấn đề sinh dục mà còn thuộc về năng lực giới tính gắn liền với thể chất và tâm lí

Nó là một tổng thể bao gồm toàn bộ nét đặc trưng ở một con người trên hai phương diện thể xác và tinh thần được hình thành từ thời thơ ấu Tính dục có lúc thể hiện rõ rệt ra bên ngoài nhưng cũng có khi ẩn tàng bên trong

Mặt khác, tính dục được coi là một căn yếu của con người mà không thể triệt tiêu cũng như không thể phủ nhận, là một nhu cầu nhân bản căn bản nhất, là khát vọng phổ quát nhất của loài người Tính dục có nguồn gốc từ xung năng tình dục bản năng, trở thành trung tâm và chi phối mọi hoạt động của con người Vì vậy, con người không thể nào từ bỏ dục vọng, vì nó có sức mạnh vô biên Nhưng nếu có thể từ bỏ được thì chúng

ta không còn là chính mình và không thể sống một cuộc đời trọn vẹn

Bàn về vấn đề tính dục, chúng ta không thể không nói đến phái tính Nó được thể hiện thông qua khuynh hướng tính dục Càng trưởng thành, phái tính cá nhân càng thể hiện rõ Cần lưu ý rằng, phái tính không đồng nhất với khả năng sinh sản Nói cách khác, tính dục có sự phân lập nhất định với sinh dục Khuynh hướng tính dục cho dẫu ẩn tàng bên trong nhưng nó lại được thể hiện dưới nhiều hình thức từ mức độ bình thường cho đến mức độ lệch lạc Thông thường, người nam ham muốn người nữ và ngược lại, theo nguyên lí âm dương Nhưng bên cạnh đó cũng không hiếm trường hợp người nam tìm đến người nam và người nữ tìm đến người nữ Đồng giới là hiện tượng ngoại biên của nguyên lí âm dương có những biểu hiện ngược đời Sự lựa chọn “bạn tình” là một chứng thực mạnh mẽ về phái tính Khi nghiên cứu phái tính, nhiều học giả đi vào khám phá trực tiếp bằng cách phân tích đặc điểm tâm sinh lí của nam giới và nữ giới qua những biểu hiện cụ thể Theo Aristote, đàn ông tượng trưng cho mô thể, còn đàn bà tượng trưng cho chất thể Đàn bà thì thụ động, còn đàn ông thì chủ động Điều đó chỉ đúng tương đối, thậm chí trong đời sống hiện đại, nó đã trở nên lỗi thời Tuy nhiên, sự không ổn định về tâm thế ấy không ảnh hưởng phái tính cũng như xu hướng tính dục

Trang 32

Ngoài những đòi hỏi về tính giao, tính dục còn gắn liền với khát vọng thăng hoa

trong đời sống tinh thần, ở đó tình yêu, khát vọng yêu đương, ý thức giữ gìn và phát triển

giống nòi là những điều được quan tâm hàng đầu Về việc duy trì nòi giống, Trần Ngọc

Thêm cho rằng:

Để duy trì cuộc sống, cần cho mùa màng tươi tốt Để cho phát triển cuộc sống, cần cho con

người sinh sôi Trí tuệ của người bình dân nhìn thấy thực tiễn đó ở một sức mạnh siêu nhiên,

bởi vậy mà sùng bái nó như thần thánh và kết quả là xuất hiện tín ngưỡng phồn thực – tín

ngưỡng cầu mong sự sinh sôi nảy nở của tự nhiên và con người (phồn = nhiều, thực = nảy

nở) Tín ngưỡng phồn thực ở Việt Nam từng tồn tại theo suốt chiều dài lịch sử, và có tới hai

dạng: thờ cơ quan sinh dục và thờ bản thân hành vi giao phối (Trần Ngọc Thêm, 2006)

Tính dục trong nghệ thuật nói chung, trong văn học nói riêng là một vấn đề lớn đã

xuất hiện phổ biến từ khi văn hóa – nghệ thuật được hình thành Càng về sau, tính dục

như một nội dung không thể thiếu trong sáng tác văn chương Bức tranh cuộc sống được

tái hiện một cách sinh động, đa chiều gắn liền với tính dục Theo thời gian, nó càng ngày

chiếm vị trí quan trọng trong việc sáng tác và tiếp nhận văn hóa – nghệ thuật

Trong các nền văn học, tính dục vừa là đối tượng phản ánh vừa là phương thức thể

hiện tư tưởng – tình cảm Nó xuất hiện trong văn học từ rất sớm nhưng để trở thành một

trào lưu sáng tác thì nó phải trải qua nhiều giai đoạn Ngày nay, vấn đề này đã được mở

rộng về biên độ và được đặt trong nhiều mối tương quan xã hội khác nhau, vừa mở ra

nhiều góc độ phản ánh vừa là nơi để các tác giả gửi gắm nhiều thông điệp sâu sắc về đời sống

2.1.2 Hai khái niệm liên quan: tình yêu và tình dục

2.1.2.1 Tình yêu

Tình yêu, đây là khái niệm gần gũi, song chưa bao giờ có thể lí giải đến tận cùng

Hay nói cách khác, tình yêu tồn tại trong hết thảy chúng ta nhưng để định nghĩa một cách

đầy đủ thì rất khó Trong cuốn Phật giáo và nhân sinh, Đại sư Tinh Vân quan niệm rằng:

“Tình yêu không nhất định chỉ hạn chế trong chuyện tình yêu nam nữ, mà tình thân giữa

cha mẹ và con cái, tình cảm bạn bè, tình cảm đùm bọc đồng bào cũng đều là tình yêu”

(Đại sư Tinh Vân, 2014) Tuy nhiên, ở đây chúng ta chỉ nói về tình yêu nam nữ, một thứ

tình yêu chịu sự chi phối căn bản bởi giới tính Vậy tình yêu là gì? Ronald de Sousa quan

Trang 33

niệm như sau: “Nói cho đúng hơn, ý nghĩ yêu thương gợi lên những cảm giác ngọt ngào

và dễ chịu Những cảm giác yêu thương ấy đúng là những cảm xúc, nhưng chúng không

hề là cảm xúc duy nhất tạo nên tình yêu tính dục” (Ronald de Sousa, 2016) Như vậy,

trước hết tình yêu là một dạng xúc cảm tồn tại trong thế giới tinh thần và có thể là khởi

nguồn cho nhiều loại cảm xúc khác như hạnh phúc, đau khổ, hi vọng, thất vọng,… Đây

là một tình trạng của tâm hồn được hình thành bởi tầng tầng lớp lớp cảm xúc và chi phối

mọi suy nghĩ và hành vi

Tình yêu là bản chất, và cũng là nguồn sức sống của tâm hồn Nó được xem như

là năng lực đặc thù và luôn tiềm ẩn trong mỗi chúng ta Do đó, nhiều người vẫn quan

niệm rằng tình yêu phải được tích lũy thì nó mới trở nên dồi dào, phong phú Vấn đề

không phải ở đó Điều cần thiết nhất đối với tình yêu là chúng ta phải khám phá và cảm

nhận vẻ đẹp muôn màu của nó Sự lí giải tình yêu nhiều khi không phải là điều cần thiết

nhất Cần nhất là ta phải biết vượt qua những trở ngại để gìn giữ tình yêu đích thực Tất

cả chúng ta sẽ thực sự hạnh phúc trong tình yêu nếu như không bị ngăn trở bởi nền văn

hóa hay bất cứ luật lệ nào mà con người tự áp đặt cho nhau Mọi sự ngăn trở đều do bởi

con người Dù tình yêu có thể bị cản trở, vùi dập, làm cho chúng ta rơi vào đau khổ nhưng

chúng ta không thể rời xa nó Xuân Diệu trong Bài thơ tuổi nhỏ đã phải thốt lên: Làm sao

sống được mà không yêu / Không nhớ không thương một kẻ nào… / Hãy đốt đời ta trăm

thứ lửa / Cho bừng tia sáng đọ tia sao Tình yêu trở thành niềm khao khát muôn thuở và

không ai có thể đạt đến đời sống trọn vẹn nếu như từ bỏ khát vọng yêu đương Nó là một

nhu cầu bẩm sinh và tác động khôn lường đến cuộc sống của mỗi người Khi nhịn ăn

uống lâu ngày, chúng ta sẽ chết trong tình trạng đói khát Tương tự, tình trạng thiếu thốn

tình yêu sẽ làm con người cảm thấy mất quân bình về tâm lí như trống rỗng, tẻ nhạt,

vô vị…

Tình yêu được coi là hương vị của cuộc sống Nó không chỉ góp phần làm cân

bằng cuộc sống mà còn góp phần làm cho cuộc sống thêm phần ý nghĩa Những cặp đôi

một khi đã trao tình yêu cho nhau thì nhất định trong ý hướng của mỗi người xuất hiện

mong muốn sống cho nhau, sống vì nhau, dẫu có trải qua muôn vàn thử thách thì vẫn

không bao giờ xa lìa nhau Người này là chỗ dựa vững chắc cho người kia và ngược lại

Mỗi người là một nửa của nhau Tình yêu có thể mang lại hạnh phúc, nhưng chính nó

cũng có thể dẫn tới những kết cục bi đát Đó là khi con người yêu đương mù quáng, bất

Trang 34

chấp luân lí, đạo lí, không còn biết gì cả ngoài tình yêu Sự mù quáng trong tình yêu dẫn đến rối loạn cảm xúc và hành vi Có nhiều người hóa điên vì yêu Có người giết chết người yêu Có người chết vì yêu Bản thân chúng ta có lẽ hơn một lần rơi vào bẫy tình, từng cảm thấy hạnh phúc khi được đáp lại, hoặc từng chịu nỗi thống khổ thầm kín khi tình yêu tan vỡ, khi thất tình Còn có loại “tình yêu thực dụng”, chỉ biết hướng đến việc lợi dụng tài sản của nhau, hoặc là cốt yếu tìm sự thỏa mãn dục vọng Loại tình yêu này không thể tồn tại lâu dài

Nghệ sĩ là những người quan tâm đặc biệt và hơn ai hết, nói rất nhiều về tình yêu

Có một hiện tượng phổ biến trong văn học – nghệ thuật đó là những cuộc tình vĩ đại, những câu chuyện tình khiến nhân loại mê say đều kết thúc bằng cái chết của đôi bạn trẻ Hoặc là, trong nhiều tác phẩm, đoạn kết của tình yêu là hôn nhân Theo đó, hôn nhân là một “kiểu chết”, có vẻ nhẹ nhàng hơn Cũng có những cuộc tình đẹp đôi vừa lứa, đôi uyên ương được gắn bó yêu thương suốt cả cuộc đời Nhưng cuối cùng cái chết khiến cho con người phải vĩnh viễn chia lìa nhau Vậy ra, tất cả tình yêu trong lòng nhân loại và văn chương đều là những câu chuyện buồn Thế nhưng, sự mong manh dễ vỡ cũng như tính chất bi thương của nó khiến cho hạnh phúc trong tình yêu trở nên quý giá và mang nhiều

ý nghĩa nhân sinh

dục) đã được mở rộng về nội hàm ngữ nghĩa Nó không chỉ được dùng để nói tới hoạt

động procreational (sinh sản) mà còn được dùng để nói đến recreational (sự vui thú) và relational (tận hưởng sự ân ái) Theo Từ điển bách khoa y học do Nguyễn Ngọc Lanh chủ

biên thì “tình dục là thuật ngữ chung chỉ năng lực, kiểu hành vi, xung lực, cảm xúc và các cảm giác gắn liền với việc sinh nở và sử dụng cơ quan sinh dục” (Nguyễn Thị Ngọc Lanh, 2004) Sigmund Freud (1856 – 1860), cha đẻ của phân tâm học (psychanalys) quan niệm

về tình dục như sau:

Trang 35

Trong sinh lí học, người ta dùng giả thuyết là có “một sự thúc đẩy về tình dục” Để cắt nghĩa nhu cầu tình dục của con người và con vật, cũng như để cắt nghĩa sự đói, người ta giả thuyết là có sự thúc đẩy muốn được nuôi dưỡng Tuy nhiên, ngôn ngữ thông thường không có

tiếng nào tương đương với danh từ đói để chỉ nhu cầu tình dục Danh từ khoa học gọi là Libido

Dư luận quần chúng cũng có một vài ý tưởng về bản chất và đặc tính của sự thúc đẩy tình dục Như vậy nói rằng trẻ em không có sự thúc đẩy này là điều hợp lý, chỉ tới tuổi dậy thì mới có

sự thúc đẩy đó và nó mật thiết liên quan tới quá trình đưa tới sự trưởng thành và biểu lộ dưới một hình thức, một sự lôi cuốn bất khả kháng của phái nam và phái nữ với nhau, và mục đích

là đưa tới sự kết hợp tình dục, hoặc ít ra là toàn thể những hành động đưa tới mục đích này” (Sigmund Freud,1970)

So với tính dục, tình dục là khái niệm có nội hàm hẹp hơn Chúng ta có thể quan

niệm tính dục là một phương diện của nhân cách bao gồm cảm xúc và hành vi giới tính Tình dục bao gồm cảm xúc và hoạt động sinh lí Ở các loài động vật khác, tình dục chỉ mang tính chất sinh sản Ở con người, tình dục còn thêm tính chất tâm lí, tức là chứa yếu

tố cảm xúc Chính vì điều này đã tạo ra sự khác biệt cơ bản giữa con người với các loài động vật khác trong hoạt động tình dục

Cũng như tình yêu, tình dục là nguồn sống của con người Triệt tiêu tình dục cũng

có nghĩa là triệt tiêu một phần quan trọng trong đời sống Điều này có thể khiến cho con người rơi vào trạng thái thiếu hụt, khiếm khuyết và ảnh hưởng trực tiếp cảm xúc và hành

vi Tất cả mọi hình thức đè nén, bức bách hay đả phá đều khiến con người bị tổn thương

Có thể nói, trên mặt đất này không loài nào lại đeo mang ẩn ức tình dục nặng nề như là loài người Dù tồn tại trong trạng thái nào, thuộc địa vị xã hội nào, giới tính nào thì tình dục vẫn luôn khiến con người chịu lụy Xưa nay có vô số người, nhất là giới tu hành, ẩn

sĩ đưa ra phương cách diệt dục Đó là chạy trốn khỏi nó với hi vọng rằng từ từ nó sẽ thoát

ra khỏi con người Nếu như sự diễn tiến của quá trình diệt dục đơn giản và dễ dàng như vậy thì mọi sự đều thuận theo ý con người và không xảy ra vô số tình huống oái oăm và

bi kịch ái tình giữa lòng nhân loại đã không dai dẳng và chất chồng Có nhiều người nỗ lực thoát khỏi đời sống tình dục nhưng cuối cùng họ đành bất lực và luẩn quẩn trong bể

ái bến mê Rõ ràng, tình dục là một nhu cầu mạnh mẽ và không dễ từ bỏ Với nó, con

Trang 36

người luôn ở vị thế thụ động, nghĩa là khó có thể làm chủ chính mình về tình dục Thái

độ sợ hãi, hay né tránh, trốn chạy trong đời sống bình thường được coi như là thái độ tiêu cực, thậm chí thiếu lành mạnh, có thể dẫn đến chứng rối loạn tâm thần và gây ra hành vi sai lạc Theo thống kê của một số chuyên gia thì có 99% bệnh tâm thần ở nam giới là do

sự đè nén về tình dục

Không có tình yêu đích thực nào mà không chịu sự thúc đẩy bởi nhu cầu tình dục Chính tình yêu sẽ chuyển hóa tình dục và làm cho nó thăng hoa Ham muốn tình dục có thể nối kết và diễn biến đồng thời với khát vọng tình yêu, được ghép đôi với tình yêu, từ

đó dễ làm con người lầm tưởng tình dục là tình yêu Erich Fromm cho rằng: “Sự quyến

rũ tính dục đôi khi tạo ra ảo tưởng về sự hợp nhất, nhưng không có tình yêu sự hợp nhất này để lại những khác lạ cách biệt nhau như trước kia – đôi khi nó làm cho họ cả thẹn, hay dẫn đến ghét nhau, bởi vì khi ảo tưởng đã mất họ cảm thấy càng xa lạ nhau rõ rệt hơn trước nữa” (Erich Fromm,1969) Tình yêu luôn gắn liền với ham muốn tình dục, nhưng tuyệt nhiên ham muốn tình dục không phải là tình yêu Ham muốn tình dục thái quá có thể đẩy con người vào cuộc sống suy đồi Người đồng tính nam, đồng tính nữ, song tính, người mắc chứng bạo dâm, người thích trao đổi bạn tình, làm tình tập thể, luôn là những đối tượng dễ lạc vào lối sống sa đọa Đời sống tình dục của họ nhiều khi không có tình yêu, thậm chí vì nó mà con người đâm ra mù quáng, nhẫn tâm chà đạp, phá vỡ tình yêu

Tình dục lệch lạc có thể thấy từ việc con người xác định “ngược đời” đối tượng tình dục Bình thường, con người có nhu cầu quan hệ tình dục với “nửa còn lại” của mình, tức là đối tượng khác giới Trong xã hội hiện đại, chúng ta không còn kinh ngạc trước sự việc người đàn ông không tìm đàn bà, mà là tìm… đàn ông, đàn bà không tìm đàn ông,

mà tìm… đàn bà Tìm người cùng giới hơn bao giờ hết bùng phát một cách mạnh bạo và rầm rộ như trong xã hội hiện đại, trở thành hiện tượng gây ra không ít hoang mang

Sigmund Frueud trong cuốn Phân tâm học về tính dục đã chia những kẻ “ngược đời”

thành ba nhóm: tuyệt đối ngược đời, lưỡng tính ngược đời, thỉnh thoảng ngược đời Theo ông, “sự ngược đời nơi con người là dấu hiệu của một sự thoái hóa thần kinh dây chuyền” (Sigmund Freud,1970) Có nghĩa là những người lệch lạc về giới tính cũng như lệch lạc

về hành vi tính dục đều có triệu chứng của người mắc bệnh tâm thần Nguyên nhân của triệu chứng này bắt nguồn từ đâu? Có thể từ bẩm sinh, hoặc có thể phát sinh trong điều kiện sống thiếu tính lành mạnh và quân bình Sigmund Frueud khẳng định rằng sự ngược

Trang 37

đời chính là dấu hiệu của sự thoái hóa Sự lệch lạc về tình dục còn thấy ở việc con người

sa vào lối sống thác loạn, bị ham muốn tình dục điều khiển, bị “ma lực” thôi thúc bên trong làm mờ lí trí và lương tâm Trong vô thức của những kẻ thác loạn, ham muốn tình dục thì thường trực, khiến họ luôn có xu hướng quan hệ tình dục với người khác phái, và

cả người cùng phái được biểu lộ ra bằng loạt hành vi bệnh hoạn Vùng sinh dục khi họ quan hệ tình dục không chỉ là là âm đạo và dương vật, mà còn có cả miệng và hậu môn

Xem xét vấn đề tính dục dưới góc độ lí thuyết chung chính là bước sơ khởi làm cơ

sở cho việc nghiên cứu vấn đề tính dục trong văn học Từ khái lược nội hàm của khái

niệm tính dục, đến khái lược nội hàm hai khái niệm có liên quan là tình dục và tình yêu,

chúng tôi đã giải mã phần nào bản chất của tính dục, cũng như chỉ ra điểm giống và điểm

khác giữa tính dục với tình dục và tình yêu

2.2 Quan niệm về tính dục trong một số triết thuyết

2.2.1 Quan niệm về tính dục trong Phật giáo

Giáo lí Phật giáo hạn chế bàn luận một cách trực tiếp về tính dục Truyền thống Giáo hội từ xưa đến nay xem ra mang xu hướng dè dặt, kĩ lưỡng đối với những vấn đề liên quan đến tính dục, nhất là phụ nữ và sinh sản Mặc dù thái độ này không hoàn toàn

cố định, nó đã và đang có sự biến chuyển ở mức độ thấp Damien Keown trong cuốn Dẫn luận về đạo đức Phật giáo cho biết: “Luật tạng (iii.130) chứa một qui tắc cấm tu sĩ nói

với phụ nữ về chuyện tục tĩu hay gợi tình, và có lẽ người ta cho rằng bàn luận trần trụi về vấn đề tính dục là việc không chấp nhận được” (Damien Keown, 2016) Tuy nhiên, dựa vào một số nguyên tắc căn bản trong kinh Phật, chúng ta có thể suy luận quan niệm của Phật giáo về nó Trên góc độ thế giới quan, Phật giáo chia vũ trụ thành tam giới: dục giới, sắc giới và vô sắc giới Tam giới được sinh ra bởi dục vọng của con người Tính dục liên quan trực tiếp đến cảm nhận của thân xác Mọi vấn đề tốt xấu trong cõi nhân sinh đều bắt đầu từ thân xác Thân xác có thể là phương tiện giác ngộ nhưng cũng chính là căn nguyên của dục vọng Trong đó, ngũ quan chính là cửa ngõ tiếp nhận mọi thứ tác động và gây cảm giác từ môi trường bên ngoài Có thể nói, cảm giác tính dục là một trong những cảm giác hấp dẫn nhất của thân xác và cũng là trở lực gây ra nhiều khó khăn nhất trên con đường con người tiến tới Niết bàn Tuy nhiên, nó sẽ trở nên vô hại khi con người giác ngộ và có thể làm chủ ngũ quan Cảm giác thèm khát tính dục quấy nhiễu, hành hạ và có thể đẩy con người vào nguy cơ đánh mất lương tri, khiến tâm thần mù quáng, ngu muội

Trang 38

dẫn đến hành động tội lỗi Nếu như con người không thức tỉnh, thân xác càng ngày càng

bị dục vọng điều khiển, cơn thèm khát nhục dục càng dữ dội Đây chính là đầu mối của đau khổ Thực ra, tính dục tự nó là vô hại Nó chính là chất keo kết nối những người khác phái thành một cặp trong sự hòa hợp về thân xác lẫn tâm hồn Chính tâm thức luyến ái lệch lạc, thái quá đã làm tiêu tan tính trong trẻo, tốt lành trong nó, tạo điều kiện cho độc

tố phát sinh làm hư hoại tâm hồn

Phật giáo cũng có thái độ rất thận trọng về vấn đề phái tính Đứng trước người khác phái, con người phải làm chủ ngũ quan Đối với một người đàn ông, vẻ yêu kiều của người đàn bà có xung lực hấp dẫn mạnh mẽ Cách tốt nhất để phòng tránh tội lỗi là tránh

xa người khác phái Phật giáo lưu tâm đặc biệt đến đàn bà – một đối tượng có thể khiến cho dục vọng nơi người đàn ông trỗi dậy Nói cách khác, sắc đẹp của mĩ nhân có thể làm đàn ông điên đảo Vì vậy, ở mọi tình huống người đàn ông phải biết gìn giữ phẩm hạnh trong lời ăn tiếng nói và cử chỉ, hành tung Trong lời khuyên Anan, Đức Phật dạy ông không nên nhìn ngắm, trò chuyện với người khác phái, nếu trong trường hợp bất khả kháng phải nói chuyện với họ thì hãy thực hành chánh niệm Đức Phật dạy đệ tử không được ghét phụ nữ, nhưng phải cảnh giác hết sức khi đối diện với họ Ngài thừa biết cả đàn ông và phụ nữ đều ham muốn sắc dục Như vậy, vấn đề không phải ở phụ nữ hay đàn ông mà ở ham muốn tình dục tồn tại trong mỗi người Chính ham muốn này có thể khiến con người không thoát ra nổi vòng oan trái và vẫn còn tiếp tục chìm đắm trong bể khổ

Về vấn đề hôn phối, đa số tín đồ Phật giáo chỉ cử hành lễ cưới tại tư gia, không có

sự hiện diện của tu sĩ và sau đó nếu muốn cầu phúc an khang thì đến chùa chiền tụng niệm, khấn vái Dù chỉ là kết ước thế tục, đôi vợ chồng cũng phải tuân giữ những điều hệ trọng như yêu thương và kính trọng nhau, sẵn sàng hi sinh cho nhau và không gây đau khổ cho nhau Đó là chuẩn mực đạo đức Phật giáo và cũng là chuẩn mực đạo lí ngàn đời

của dân tộc ta Trong Kinh tập số 396, Phật dạy rằng: “Người đàn ông sáng suốt nên tránh

sự dâm dật như tránh hầm than cháy Nếu không thể sống một đời độc thân, người ấy không nên xâm phạm vợ người khác” Hôn nhân trong Phật giáo chủ yếu theo chế độ một

vợ một chồng Một số tín đồ Phật giáo ở khu vực Châu Á theo chế độ đa phu, đa thê Hình thức hôn nhân chịu chi phối bởi phong tục địa phương hơn là giáo lí Phật giáo Đạo Phật cũng không qui định hình thức gia đình cụ thể Với nhân sinh quan hôn nhân thuộc tôn

Trang 39

giáo, Phật giáo không phản đối việc vợ chồng li hôn Rõ ràng, đối với vấn đề này, Phật giáo có cái nhìn khá thông thoáng, linh hoạt và cởi mở

Giáo lí Phật giáo không đề cao việc sinh sản, thậm chí coi sinh sản là nguyên nhân của nghiệp, có thể dẫn tới một chu kì khổ ải khác trong vòng luân hồi Sự tác tạo một sinh thể mới không được cho rằng con người đang thực hiện bổn phận thiêng liêng, mà ngược lại bị coi như một bằng chứng về sự thất bại, hơn nữa là sự cản trở lớn lao trong mục tiêu nhân sinh là tiến tới cõi Niết bàn Tuy nhiên, việc tín đồ Phật giáo thực hiện hành vi tình dục mà không sinh con lại được coi là tội lỗi Điều đó tạo ra mâu thuẫn khá lớn trong nhân sinh quan Loại tình dục phi sinh sản luôn đối nghịch với đạo đức Phật giáo Phật giáo quan niệm hành vi tình dục là điều kiện và cũng là cơ hội quý báu để những linh hồn đương bơ vơ có thể được tái sinh mà trở lại làm người Hành vi tình dục phi sinh sản chặn đứng con đường tiến tới sự đầu thai của chúng sinh Thế thì trường hợp nào hành vi tình dục phi sinh sản không bị luận tội? Đó là trường hợp những cặp vợ chồng vô sinh, hoặc giao hợp trong thời điểm người phụ nữ không thể thụ thai Như vậy, những điều luật được đặt ra liên quan vấn đề sinh sản mang tính nhân đạo sâu sắc thể hiện lối tư duy lấy sự sống con người làm trung tâm

Hành vi tính dục là một trong những con đường giúp chúng sinh có cơ hội giải thoát Vậy những người xuất gia có quay lưng lại với việc làm phúc đức ấy? Đây là một câu chuyện khác Phật giáo cho rằng những người sống đời sống gia đình thường có khuynh hướng chiều theo dục vọng và chưa thoát ra khỏi u minh Đi tu là phương thế hữu hiệu nhất để tiến tới đời sống vô dục Người đi tu được coi là hình ảnh của sự thanh cao Nhờ đời sống tu hành, con người có thể dần từ bỏ dục vọng, tham lam, si hận, ích kỉ Họ còn học lấy nhiều bài học về lòng từ bi, hỉ xả, phải học cách cứu đời trong kinh kệ và việc làm cụ thể Họ không phải giữ trách nhiệm sinh sản Chính lối sống đạo đức có ý nghĩa lớn lao trong việc giải thoát chúng sinh khỏi mọi đau khổ Hoàn cảnh sống của những người chọn đời sống độc thân đã bao hàm cho tất cả nghĩa vụ thế tục và thiêng liêng

2.2.2 Quan niệm tính dục trong Nho giáo

Nho giáo là một trong những trào lưu triết học Trung Hoa cổ đại do Khổng Tử (551 – 479 trước Công nguyên) sáng lập, được du nhập vào Việt Nam từ thời Bắc thuộc (từ thế kỉ I SCN) Đây không phải là một tôn giáo mà chỉ là một học thuyết chính trị và đạo đức mang màu sắc tôn giáo hướng tới xây dựng những mẫu hình nhân cách lí tưởng

Trang 40

Nhà nước Việt Nam trong điều kiện lịch sử đặc thù đã sớm chịu ảnh hưởng học thuyết Nho giáo vào trong nhiều lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội như chính trị, giáo dục, khoa cử, văn chương Từ thế kỉ XV, Nho giáo tại Việt Nam đã đạt đến mức độ cực thịnh

và trở thành quốc giáo, chi phối mạnh mẽ mọi mặt đời sống xã hội dưới các triều đại phong kiến Nó đã phát huy một cách triệt để thế mạnh của mình trong việc củng cố quyền lực cho giai cấp thống trị và thúc đẩy đất nước phát triển

Là một học thuyết đề cao nghi lễ và đạo nghĩa, Nho giáo đã thiết lập hệ thống luân

lí đạo đức riêng, trong đó nổi trội nhất là Trung, Hiếu, Trinh Hệ thống luân lí đạo đức của Nho giáo cốt yếu xây dựng nam giới trở thành quân tử – một mẫu người lí tưởng, chứ không phải xây dựng mẫu người phụ nữ lí tưởng Song, trong học thuyết này vẫn có hẳn một loạt qui tắc hết sức khắt khe áp đặt cho phụ nữ Theo suy lí Nho giáo, người phụ nữ không tồn tại như một cá vị độc lập mà phải tòng thuộc nam giới trong mọi chiều kích và giới hạn Cho nên việc đề ra phép tắc hướng đến tương quan giữa phụ nữ và nam giới

không ngoài mục đích đảm bảo trật tự trong xã hội Tam tòng, tứ đức được coi như yêu cầu cơ bản nhất về đạo đức đối với người phụ nữ Tam tòng đặt người phụ nữ trong mối

quan hệ gia đình (với cha, chồng và con trai) Nó đề cao sự phục tùng tuyệt đối của phụ

nữ đối với đàn ông Và sự phục tùng này còn mang tính một chiều và bất biến Tứ đức (công – dung – ngôn – hạnh) đòi hỏi người phụ nữ rèn luyện bản thân để có thể đạt tới

chuẩn mực nhất định, từ diện mạo bên ngoài đến phẩm cách bên trong Hàn Phi Tử (281 TCN – 233 TCN) có viết: “Thần nghe nói: Tôi thờ vua, con thờ cha, vợ thờ chồng, ba việc đó thuận thì thiên hạ trị yên Đó là cái đạo bất biến của thiên hạ Vị vua sáng, bầy tôi hiền không thể thay đổi được nó” (Hàn Phi, 2005) Trong ý thức hệ Nho giáo, phụ nữ

nhất nhất lệ thuộc và phục tùng đàn ông Kinh dịch có câu: Phụ nhân trinh cát, tòng nhất nhi chung dã (Người đàn bà giữ đạo chính chuyên, sẽ gặp điều tốt lành; phải thuận tòng với một người chồng, trọn đời không thay đổi) Trong sách Lễ kí, Giao đặc sinh nói: Nhất

dự chi tề, chung thân bất cải, cố phu tử bất giá (Khi đã sánh đôi cùng ai thì suốt đời không

thay đổi, chồng chết cũng không lấy người khác) Từ khi xuất giá, người phụ nữ có mối liên hệ và trách nhiệm không chỉ với chồng mà còn với cả gia đình và dòng tộc bên chồng Nếu như người chồng qua đời, người phụ nữ cũng phải gắn kết và thực thi trách nhiệm đối với gia đình người chồng như lúc người chồng còn sống Như vậy, hôn nhân của một người phụ nữ được coi là vĩnh viễn, nghĩa là người phụ nữ trong đời chỉ xuất giá một lần

Ngày đăng: 13/08/2022, 06:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w