Nói cách khác, tính huống này đã thúc đẩy sựtồn tại lâu dài của những cấu hình nhiều vòng dựa trên những thuật toán điềukhiển PID truyền thống.1.5.2 Những phương pháp lai thông minh Vẫn
Trang 1MỞ ĐẦU
Những kỹ thuật điều khiển truyền thống như điều khiển Tích phân tỉ lệ(PI)hay điều khiển Vi tích phân tỉ lệ(PID) được ứng dụng thành công trong điềukhiển những quá trình tuyến tính Gần đây, điều khiển tiên đoán mô hình(MPC) cũng thực hiện thành công trong điều khiển những hệ thống tuyến tính.Tuy nhiên, khoảng 90% những quá trình sinh học và hoá học là phi tuyến cao
và hầu hết chúng là những hệ MIMO.Khi hệ thống là phi tuyến và/hoặc MIMO,những kỹ thuật truyền thống trên thường mắc phải sai sót khi điều khiển những
hệ thống như thế Ngày nay, những hệ thống được dùng trong công nghiệp đòihỏi độ tự quản cao và những kỹ thuật trên không có khả năng để đạt được điềunày
Cần phải đạt được những đòi hỏi điều khiển tăng nhanh trong những hệ thốngđiều khiển động phức tạp dưới những thay đổi quan trọng đã làm cho việc dùngnhững kỹ thuật thông minh như mạng nơron, lôgic mờ và thuật giải di truyềntrong những hệ thống điều khiển trở nên hấp dẫn Những lý do chính đằng sauđiều này là khả năng của chúng có thể “học” để xấp xỉ hàm và phân loại mẫu vàtiềm năng của chúng trong thực thi phần cứng song song đồ sộ, phương phápđiều khiển thông minh phỏng theo quá trình xử lý thông tin không rõ ràng và raquyết định điều khiển của con người cũng như bắt chước quá trình tiến hoá sinhhọc để tạo ra giải pháp tối ưu Nói cách khác, chúng có khả năng thực thi (cảphần mềm và phần cứng) nhiều chức năng cần thiết để điều khiển hệ thống với
độ tự quản cao
Sơ đồ hệ thống điều khiển được mô tả như sau:
Hình i Sơ đồ điều khiển đối tượng phi tuyếnNhư vậy, ở đây có hai bộ điều khiển:
Trang 2 Điều khiển Feedforward : là bộ điều khiển neuro-mờ cung cấp những tínhiệu điều khiển chính để lái đối tượng phi tuyến theo đúng quỹ đạo setpoint.
Bộ điều khiển này là bộ điều khiển mờ ứng dụng khả năng học của mạngnơron để tinh chỉnh những thông số của nó
Điều khiển Feedback: bù tín hiệu, nó cung cấp những tín hiệu điều khiểnhiệu chỉnh cần thiết để điều chỉnh và loại nhiễu trong những lân cận nhỏxung quanh quỹ đạo điều khiển Bộ điều khiển này cũng là bộ điều khiển mờnhưng ứng dụng thuật giải di truyền để tinh chỉnh thông số của nó
Kết quả mô phỏng cho thấy sơ đồ điều khiển trên đã lái đối tượng phi tuyến đixuyên suốt khoảng công tác của nó với độ chính xác cao
Phần sau đây sẽ đề cập đến đối tượng phi tuyến và những kỹ thuật điều khiểnđược thiết lập trong luận văn
Trong bối cảnh hiện thời, việc sản xuất năng lượng đối mặt với rất nhiều vấn
đề khó khăn Trong số đó, điều quan trọng nhất là: tuổi thọ của thiết bị chính tạinhững tổ hợp năng lượng, đầu tư tài chính không chắc chắn cho những tổ hợpmới, việc cạnh tranh giữa những nhà sản xuất năng lượng độc lập để thoả mãnđòi hỏi năng lượng của người dùng và những áp lực để đạt được những yêu cầuquản lý nghiêm ngặt để sử dụng tối đa nguồn tài nguyên thiên nhiên và tối thiểuảnh hưởng đến môi trường
Việc vận hành của tổ hợp năng lượng nhiên liệu than (NLNLT), loại tổ hợpđược dùng rộng rãi nhất cho việc sản xuất năng lượng, đã bị tác động mạnh.Đầu tiên, một NLNLT phải hổ trợ mục tiêu chính của hệ thống năng lượng làđáp ứng yêu cầu tải cho năng lượng điện ở mọi thời điểm, ở điện áp không đổi
và tần số không đổi Sau đó là việc cạnh tranh giữa tính thiết thực và yêu cầu thịtrường khác đã tăng cường việc dùng NLNLT [Armor 1985] Cuối cùng, nhữngyêu cầu nghiêm ngặt trong việc bảo trì và kéo dài tuổi thọ của thiết bị chính vànhững luật giảm ảnh hưởng đến môi trường cần phải được tuân thủ Trong đó:
Những yêu cầu vận hành chu kỳ của NLNLT trong khoảng tải rộng mặc
dù chúng được thiết kế cho vận hành ở tải không đổi Những yêu cầubiến đổi tải có thể đến từ những chiến lược kinh tế được tính toán tạinhững trung tâm năng lượng hay từ những dao động tải hệ thống Vậnhành theo tải tin cậy và hiệu quả sẽ đảm bảo việc thoả mãn hàng ngày,hàng tuần và theo mùa của yêu cầu năng lượng điện và những thay đổi tảingẫu nhiên không đoán trước cho đến những giới hạn vật lý của tổ hợp
Việc kéo dài tuổi thọ thiết bị là quan trọng vì nó tối đa việc dùng tài sản,giới hạn thời gian chết và tối thiểu những chi phí vận hành và bảo trì.Nguyên nhân chính của vòng đời ngắn của bất kỳ hệ thống nào là vậnhành ứng suất cao Trong NLNLT, những ứng suất nhiệt phụ thuộc vàonhững dao động áp suất và nhiệt độ hơi là đặc biệt quan trọng Hầu hếtứng suất nghiêm trọng xảy ra trong suốt quá trình khởi động và nhữngbiến đổi tải lớn đột ngột
Một NLNLT có hiệu suất trong khoảng 30 đến 35%, nghĩa là tốc độ nhiệttrong khoảng 11400-9800 Btu/KWh Tốc độ nhiệt chịu ảnh hưởng bởi
Trang 3nhiều hệ số, chẳng hạn những điều kiện hơi, áp suất bộ ngưng tụ, nhiệt độnước làm mát, nhiệt độ môi trường, khí áp,…Tốc độ nhiệt tăng khi làmviệc tại những tải khác với tải cơ sở Việc tiêu tốn nhiên liệu và giá cảlàm cho việc cải tiến tốc độ nhiệt như là một tiêu chuẩn về mặc kinh tế.
Việc trộn không hoàn hảo giữa không khí và nhiên liệu sẽ làm vượt quálượng không khí để tránh việc nhiên liệu không được đốt hết, mà sẽ dẫnđến việc tạo khói đen và khí CO độc cũng như những lượng nhiên liệu dưkhá nguy hiểm Bên cạnh đó lượng không khí dư sẽ dễ hình thành nhữngchất không mong muốn khác như sunfua dioxit, nitrogen oxit và làmgiãm hiệu suất boiler do nhiệt bị tiêu phí trong khí nhiên liệu
Tấ cả những yêu cầu được đề cập ở trên đã dẫn đến việc phát triển nhữngphương pháp điều khiển linh hoạt và toàn diện hơn Chúng cũng cung cấpnhững chức năng cần thiết cho việc vận hành theo tải diện rộng chất lượng cao
và đồng thời cũng thoả mãn những ràng buộc trong việc bảo quản và kéo dàituổi thọ của thiết bị chính, giải phóng chất ô nhiễm và tiêu tốn nhiên liệu dướinhững thay đổi vật lý và những điều kiện kinh tế Do đó, ngay cả khi theo tảicũng cần xem xét việc ổn định tần số và điện áp, những hệ thống điều khiểnhiệu quả hơn cũng cần được thiết kế để thoả mãn tối ưu những mục tiêu vậnhành, những xung đột tổng quát để mà NLNLT có thể vận hành thành côngdưới bất kỳ tình huống hoạt động nào
Bên cạnh đó, dưới những đòi hỏi của thị trường hiện thời, một phương pháptoàn bộ cho vận hành và điều khiển những tổ hợp năng lượng là rất quan trọngcho sự tồn tại của bất kỳ hệ thống điện nào Khi được ứng dụng hoàn hảo,những hệ thống điều khiển và những thiết bị có thể tăng cường hiệu suất vậnhành máy, tính ổn định và tin cậy cũng như sự sẵn sàng, vì thế làm giảm việctiêu tốn nhiên liệu, chi phí vận hành và bảo trì mà hầu như rất tốn kém trongmột tổ hợp năng lượng Vì vậy, thật cần thiết để phát triển những hệ thống tựđộng hiệu quả và liên quan mật thiết đến toàn bộ chiến lược và hệ thống điềukhiển của tổ hợp để giữ chúng vận hành hiệu quả và có lợi
Cũng cần lưu ý rằng việc sử dụng rất nhiều hệ thống điều khiển và thiết bịdựa trên máy tính với những dụng cụ kỹ thuật số xử lý thông tin mạnh mẽ và tincậy hơn cho phép những nhà thiết kế tập trung nhiều hơn trên việc thực thinhững ứng dụng phần mềm đáp ứng những thử thách được đề cập ở phần trên
Vì tính linh hoạt của phần mềm, và những chi phí cho việc phát triển và bảo trì
có thể dễ dàng cài đặt vào những phần cứng mà nó chạy trong đó, những nổ lựclớn trong việc thiết kế và phát triển những hệ thống phần mềm toàn diện vàtổng quát để dễ dàng kết hợp những ứng dụng vận hành tiện lợi( ví dụ, bảo vệ,điều khiển và tự động hoá) để tăng cường hiệu suất của những tổ hợp nănglượng [Garduno and Sanchez 1995, Garcia and Garduno 1998]
Trong luận văn này tác giả sẽ thiết kế một hệ thống điều khiển toàn bộ Hệthống này sẽ kết hợp giữa các lĩnh vực kỹ thuật điều khiển, kỹ thuật phần mềm
Trang 4và kỹ thuật quá trình Trong đó kỹ thuật phần mềm được xem là rất quan trọng
để thiết kế hệ thống điều khiển cho NLNLT
CHƯƠNG I.
Trang 5TỔNG QUAN
1.1 Giới thiệu về mạng nơron và logic mờ
Vào cuối thập kỷ 80 công ty Addison Wesley Publishing Company đã gâyxôn xao dư luận khi tung ra thị trường Neural Network (Mạng trí tuệ thần kinh)được ví như là một kỹ xảo kỹ thuật gia công các thông tin mới, nhanh và chínhxác Chúng là các máy tính bắt chước cách sống giống hệ thống thần kinh, cácmáy tính này làm việc khá khác biệt so với các máy tính thông thường NơronNetwork xử lý nhiều dữ liệu song song tại cùng một thời điểm, không phải là
xử lý từng dữ liệu một Chúng xử lý rất nhiều dữ liệu đầu vào cùng một lúc,củng cố tăng cường một vài cái này, thu nhỏ giảm bớt những cái khác Đa sốchúng đều phải làm theo một khuôn mẫu cho trước Chúng tìm kiếm mẫu tronghàng loạt các thí dụ, nhận dạng mẫu, tìm kiếm các mẫu đầy đủ từ nguồn dữ liệutrong hệ thống, hoặc xây dựng lại mẫu đúng từ cái bị bóp méo Rất nhiều các ví
dụ phải làm với sự am hiểu sáng sưốt và các dữ liệu khách quan như thị giác,thính giác và các tín hiệu khác Nhìn chung, các ví dụ chứng tỏ cách chạy này
có nhiều đặc tính của con người hơn là các máy tính được lập trình sẵn
Ngày nay, trí tuệ nhân tạo đang phát triển mạnh mẽ nhằm tạo ra cơ sở xâydựng các hệ chuyên gia, hệ trợ giúp quyết định Trí tuệ nhân tạo được xây dựngtrên cơ sở mạng nơron nhân tạo và ứng dụng trong thiết kế hệ thống điều khiểnthông minh mà trong đó bộ điều khiển có khả năng tư duy như bộ não của conngười đang là xu hướng mới trong điều khiển tự động Mạng nơron là sự tái tạobằng kỹ thuật những chức năng của hệ thần kinh con người với vô số các nơronđược liên kết truyền thông với nhau trong mạng
Điều khiển mờ là một phương pháp điều khiển thông minh phỏng theo quátrình xử lý thông tin không rõ ràng và ra quyết định điều khiển của con người.Phương pháp này rất thích hợp để điều khiển các đối tượng phức tạp, không xácđịnh được mô hình toán và các đối tượng phi tuyến Tuy nhiên, bộ điều khiển
mờ thường được thiết kế bởi quan điểm, cách nhìn riêng của người thiết kế.Người thiết kế biến sự hiểu biết, kinh nghiệm của mình về quá trình cần điềukhiển thành các biến ngôn ngữ và các qui tắc mờ mô tả mối quan hệ giữachúng Do đó công việc thiết kế thường mang nặng tính “thử sai”, khi gặp cácđối tượng phức tạp người thiết kế sẽ mất rất nhiều thời gian mà kết quả có được
có thể sẽ không tối ưu Vấn đề tự chỉnh bộ điều khiển mờ là một trong nhữngvấn đề đã được quan tâm nghiên cứu rất nhiều từ khi điều khiển mờ khẳng địnhđược là một phương pháp hiệu quả để điều khiển các đối tượng phức tạp
Do đó để giảm đi việc tính toán thủ công và rút ngắn thời gian thiết kế,người
ta kết hợp logic mờ và mạng nơron tạo ra khả năng tự chỉnh cho các tập mờ Và
hệ thống này được gọi là hệ neuro-mờ
Trang 6Hầu hết những quá trình công nghiệp là phi tuyến và biến đổi theo thời gian.Nhận dạng hệ thống phi tuyến đang trở thành một công cụ quan trọng mà có thểđược dùng để cải tiến quá trình điều khiển và đạt được độ bền vững cao Cónhiều kỹ thuật nhận dạng phi tuyến khác nhau,trong đó có nhận dạng bằngmạng nơron ,nhận dạng bằng mô hình mờ và những phương pháp dựa trên môhình neuro-mờ đang dần được thiết lập không những trong giáo trình mà cảtrong những ứng dụng công nghiệp Mô hình neuro-mờ được xem như là một
kỹ thuật hộp xám nằm giữa mạng nơron và mô hình mờ định tính Những công
cụ để xây dựng những mô hình neuro-mờ dựa trên sự kết hợp những thuật toán
từ lĩnh vực mạng nơron,xác nhận đặc tính và phân tích hồi quy Phương phápneuro-mờ cho nhận dạng hệ thống phi tuyến có ưu điểm là cân bằng giữa sựchính xác của mạng nơron và tính diễn giải được
1.2.Tình hình nghiên cứu mạng nơron và logic mờ trên toàn cầu:
Nghiên cứu về mạng Nơron đã được quan tâm từ những năm 40 của thế kỷ
20 Khoảng những năm 90 Nơron được đặc biệt chú ý bởi khả năng ứng dụngrộng lớn của nó
Chương trình nghiên cứu về Nơron tập chung nghiên cứu ở Mỹ (50 tổ chứctrong các viện nghiên cứu và trường đại học,riêng California đã có 15 tổ chứcnghiên cứu) Ở Anh có 20 tổ chức,Đức (7),Nhật (7), Pháp (6), Thụy sỹ(4),Thụyđiển (4),Hà lan (4),Australia (3), Ytalia (3),Canađa (3), Nga(1),Czech(1),Balan(1),Hungary(1), Hàn quốc (1),Singapor (1),Hong kong (1)v.v…Ơ Mỹ,tại bang California,Trường Đại học California San diego có Chương trình tínhtoán và Hệ thống Nơron của Caltech, Viện tính toán Nơron, Nhóm nghiên cứukhoa học Máy tính Nhận thức,Trung tâm nghiên cứu Ngôn ngữ,Phòng thínghiệm Kỹ thuật Nơron,Trung tâm Sloan Sinh học Nơron Lý thuyết Đại họcCalifornia Santa Cruz có Nhóm Máy Dạy học, Nhóm Sinh học tính toán Đạihọc Nam California có Phòng thí nghiệm Tính toán Nơron Đại học Stanford cónhóm Lập trình Gen Ở Carlsbad có Động lực học Nơron ứng dụng Ở MoffettField có Nhóm Kỹ thuật Nơron NASA
Bang Massachusetts, có Trung tâm Dạy học Tính toán và Sinh học tại ViệnCông nghệ Massachusetts -MIT,Nhóm tính toán ở khoa Não và khoa học Nhậnthức thuộc MIT,NeuoDyne Ins, Cambridge
Bang Washington có Phòng Thí nghiệm ứng dụng,Trí tuệ Tính toán thuộcĐại học Washington,Nhóm Nghiên cứu Nơron tại Phòng thí nghiệm Xử lýThông tin Nhóm nghiên cứu Nơron thuộc Phòng thí nghiệm Pacific Northwesttại Washington
Bang Texas có Phòng thí nghiệm Kỹ thuật Nơron R&D thuộc Đại học Texas ởAustin.Phòng thí nghiệm Tính toán Ứng dụng tại đại học Kỹ thuật Texas
Trang 7Bang Pensylvania có Trung tâm Cơ sở Nơron của Nhận thức tại Carnegie
Bang New Jersey có Nhóm Nghiên cứu Nơron Nhân tạo ở Viện nghiên cứuNEC,Princeton Nhóm Nhận thức,Trí tuệ và Tính toán dựa trên DNA,ở Việnnghiên cứu NEC,Princeton v.v…
Anh: có Trung tâm Mạng Nơron tại trường Hoàng gia London Trung tâm
Hệ thống Nơron tại Đại học Edinburgh Nhóm Nghe,Nhìn và Robot Đại họcCambridge Nhóm Nghe,Nhìn và Hệ thống Thông minh Đại họcSouthhampton.Nhóm Nghiên cứu Trí tuệ Nhân tạo thuộc Đại học Nottingham.Nhóm nghiên cứu Hệ thống Thông minh, khoa Khoa Học Máy tính thuộc Đạihọc London v.v…
Nhật: có Phòng Thí nghiệm Robot và Cơ -Điện tử thuộc Đại học Nagoya.Phòng thí nghiệm Okabe và Hirose thuộc Đại học Tokyo Phòng thí nghiệmSinh-Điện tử thuộc Đại học Nagoya.Phòng thí nghiệm Nghiên cứu Xử lý Thôngtin Người ở Kyoto v.v…
Đức: có Viện Tin học Nơron ở Đại học Ruhr,Bochum Nhóm nghiên cứu Mờ
và Tính toán Mềm tại Đại học Braunschweig Nhóm Nhiên cứu Mờ và Nơrontại Đại học Công nghệ Damstardt Nhóm Nhìn- Máy tính và Nhận dạng thuộcĐại học Bon Trung tâm nghiên cứu Trí tuệ Nhân tạo Đức DFKI thuộcKaiserlautern Nhóm Nghiên cứu Nơron của GMD FIRST tại Berlin.ViệnLogic, Tổ hợp và Hệ thống Suy diễn tại Đại học Karlsruhe
Pháp: có Nhóm nghiên cứu Tin-Sinh học Trường Cao cấp,Pari Nhóm tínhtoán Nơron thuộc Phòng Tin học Pari Nord Nhóm nghiên cứu Nơron ởLEIBNIZ, Grenoble Nhóm nghiên cứu Laplace,Mô hình gần đúng trong Robot
và Trí tuệ Nhân tạo ở LEIBNIZ, Grenoble
Hungary: có Nhóm Xử lý thông tin Nơron thuộc Đại học Eotvos Lorand,Budapest
1.3.Một số công trình nghiên cứu mạng Nơron đã công bố ở nước ngoài:
Đa số các nhà nghiên cứu các Hệ thống Thông minh chấp nhận rằng : Trí tuệTính toán (Computational Intelligence) do Hội đồng Mạng Nơron Thế giới đưa
ra vào năm 1991 và Tính toán mềm (Soft computing) do Lofti A Zadeh, giáo
sư đại học California Berkeley đua ra năm 1990 là đồng nghĩa và được sử dụngthay thế lẫn nhau Trí tuệ Tính toán được chấp nhận là một thuật ngữ để biểudiễn các kỹ thuật cho việc ra quyết định dựa trên việc xử lý thông tin khôngchắc chắn Về cơ bản, Trí tuệ Tính toán bao gồm Logic Mờ, Mạng Nơron ,
Trang 8Thuật giải Di truyền, Lập luận Xác xuất,các Phương pháp Học, Lý thuyết Hỗnđộn, các Hệ chuyên gia Một điều quan trọng cần nhấn mạnh là Trí tuệ Nhântạo không chỉ là một tập hợp các phương pháp luận cho lập luận dựa trên thôngtin không chắc chắn mà là sự liên kết các phương pháp trong đó mỗi phươngpháp đều có lợi thế riêng để tiến tới đạt mục tiêu chung Bởi vậy, các thànhphần của Trí tuệ Tính toán phải được xem như các phần bổ xung cho nhau chứkhông phải tương đương Tất cả các kỹ thuật đó nhằm mục đích đưa ra mộtdạng “ Máy Thông minh “nào đó mà nó có thể bắt chước sự sưy nghĩ của conngười trong việc ra quyết định Động cơ chủ yếu cho việc sử dụng Trí tuệ Tínhtoán là khai thác khả năng xử lý thông tin không chính xác, không chắc chắn,chỉ đúng một phần và kết quả đạt được là tính dễ áp dụng,sự năng động và cácgiải pháp chi phí thấp cho các vấn đề phức tạp Đây cũng là mục tiêu do giáo sưLofti A Zadeh , Đại học California Berkeley (người sáng tạo Lý thuyết Tập Mờ1965) đưa ra vào đầu những năm 1990 đối với sự phát triển của các Hệ Thôngminh
Hai dạng của Mạng Nơron thường được sử dụng trong Kỹ thuật Robot làMạng Hopfield và Mạng Perceptron nhiều lớp do Hopfied đa ra 1982, Kohonen
1984, Rumelhart 1986 Những mạng khác bao gồm Mạng Cạnh tranh & Hợptác do Amari &Arbib nghiên cứu năm 1977 và Mạng Thưởng phạt doA.G.Barto&C.W.Anderson 1983
Hệ thống Robot bao gồm 3 hệ thống phụ là : Hệ thống truyền động, Hệ thốngNhận dạng và Hệ thống Điều khiển Những vấn đề chính của Điều khiển Robotbao gồm Động học, Động lực học, Lập kế hoạch đường đi (Thiết lập quĩ đạo ),Điều khiển, Cảm biến, Lập trình và Trí tuệ (Thông minh)
Mạng Nơron có thể giảm tổ hợp tính toán và giải những bài toán robot đượcđưa ra “yếu” Lời giải giải tích của động học ngược làm chính xác kết quả số,trong khi lời giải Mạng Nơron nói chung không làm chính xác.Công việc pháttriển Động học ngược Nơron được T.Iberall phát triển năm 1987, A.Gueznăm1988
Trong Động lực học Robot Nơron , M.Kawato,Furukawa,Sưzuki phát triểnnăm 1987 Y.Uno &M.Isobe 1988 S.G.Tzafestas1986,M.Kawato,Y.Maeda,Y.Uno &Sưzuki 1990
Mạng Nơron sử dụng nhằm thiết lập quĩ đạo được K.Tsưtsưmi 1988,H.liu1988, R.Ecmiller 1987
Bài toán lập quĩ đạo tránh vật cản sử dụng Mạng Hopfield đượcH.matsưmoto& K.Tsưtsưmi phát triển
Trường hợp Robot Di động, Thiết lập quĩ đạo với Mạng Nơron được nghiêncứu bởi V.Seshadri1988.Ở đây Mạng Nơron cố gắng cực tiểu hoá độ dài đường
đi Nick Vallidis đã nghiên cứu điều khiển Hexapod di động bằng mạng Nơron ,
2000 L.M.Reyneri, M.Chiaberge Khoa điện tử, Đại học Bách khoa
Trang 9Torino-Italy nghiên cứu phần cứng-Mạng Mờ-Nơron điều khiển Hexapod Di động,1993-2000.
Điều khiển Robot bằng Mạng Nơron được gọi là Điều khiển khớp bằng môhình tiểu não CMAC do Albus 1975 –1979 Giáo s F.L.Lewis,Viện nghiên cứuRobot và Tự động hoá, Đại học Texas –Arlington USA đã ứng dụng CMAC đểđiều khiển hệ động lực phi tuyến, 1997
Nhận dạng hệ động lực phi tuyến sử dụng mạng Nơron đượcS.J.Jagannathan, Liên hợp Phân tích Tự động hoá, USA nghiên cứu năm 1996.Y.Pao&D.Sobasic 1987 thực hiện hệ thống điều khiển vị trí robot hai bậc tự do
sử dụng Mạng Nơron Perceptron
A.Guez sử dụng mô hình thích nghi (MRAC) W.T Miler sử dụng kỹ thuậtCMAC trong liên kết với phương pháp điều khiển mô men R.Elsley thực hiệnđiều khiển Jacobi ngược,sử dụng Mạng Perceptron nhiều lớp
Mạng Nơron Được sử dụng trong cảm biến và điều khiển Robot nhiều lớp, liêntục bởi R.Esley, &Y.Pati 1988
Điều khiển thích nghi hệ động lực học phi tuyến sử dụng mạng Nơron đượcgiáo sư A.M.Annaswamy, Phòng thí nghiệm Điều khiển thích nghi - Khoa Chếtạo Máy – Viện Công nghệ Massachusetts –MIT nghiên cứu, 1997
Ứng dụng Mạng Nơron điều khiển ngược theo vết được giáo sư K S.Narendra, Trung tâm Khoa học Hệ thống, Đại học Yale,USA nghiên cứu, 1999 Giáo sư Vukobratovic, Trung tâm Robot, Viện Mikhailo Pupin, Nam tư(cũ ), phó chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học, đã nghiên cứu phân loại mô hìnhđộng lực học môi trường trên cơ sở Nơron để điều khiển robot,1998
Bộ điều khiển Mờ-Nơron để dẫn huớng Robot Di động và hộ tống đội robotđược giáo sư M.M.Trivedi Khoa Kỹ thuật Điện và Máy tính, Đại học CaliforniaSan Diego,USA nghiên cứu,1998
Giáo sư, Viện sĩ, Vámos Tibor, nguyên Viện trưởng Viện Tin học và Tự độnghoá- Hungary, - nguyên chủ tịch Hội Máy tính Neyman János (Von Neyman),nguyên chủ tịch Hội Điều khiển Tự động Quốc tế IFAC đã nghiên cứu kỹ thuậtNhận dạng –Trí tuệ Nhân tạo cho robot
Giáo sư,Viện sĩ Hyungsưck Cho, Khoa Chế tạo máy,Viện Khoa học &Côngnghệ Cao cấp Hàn quốc- KAIST, Hãng Thép và Kim loại Pohang-POSCO,Viện trưởng Viện Điều khiển,Tự động hoá và Kỹ thuật Hệ thống, đã nghiên cứuđiều khiển và cảm biến nano cho robot,2001
Giáo sư T.Fukuda, Khoa Kỹ thuật Vi Hệ thống,Trung tâm Hợp tác Khoa học
&Công nghệ Cấp cao, Đại học Nagoya- Nhật bản, nguyên Chủ tịch Hội Robot
và Tự động hóa Quốc tế, Chủ tịch Hội đồng Công nghệ Nano Quốc tế, đãnghiên cứu Mạng Mờ-Nơron -Thuật giải AND để điều khiển robot, 2000 Côngnghệ Nano đang mở ra những triển vọng to lớn Việc chế tạo ra những robotnhỏ cỡ Nano 10-9mm đòi hỏi những nghiên cứu mới về cơ sở lý thuyết cũng
Trang 10như công nghệ Giáo sư Toshio Fukuda, đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng củaRobot Micro-Nano trong Kỹ thuật Robot và Tự động hoá tương lai
Giáo sư,Viện sĩ G.M.Edelman,giải thưởng Nobel, Viện trưởng Viện Khoa họcNơron - USA,Chủ tịch Hội nghiên cứu Khoa học Nơron Quốc tế, đã mô phỏngNơron hệ thống Nghe-Nhìn của loài chim để điều khiển robot,1999 Giáo sư đãkhẳng định, việc nghiên cứu này đặc biệt quan trọng dưới ánh sáng của lýthuyết Não Hiện đại, nhấn mạnh tầm quan trọng của môi trường và thực nghiệmMotor-Cảm biến Nơron Sự hiểu biết những nguyên tắc cơ bản của não sẽ cóảnh hưởng mạnh mẽ đến thiết kế Hệ thống Nhân tạo hoạt động trong thế giớithực.Chúng ta tin tưởng rằng những nghiên cứu mô hình Nơron tổng hợp sẽtham gia một cách có ý nghĩa bởi sự thiết lập mối liên hệ trực tiếp giữa khoahọc Tự nhiên và Khoa học Kỹ thuật, đưa ra tư tưởng mới trong lĩnh vực Robot
và Trí tuệ Nhân tạo
1.4.Một số công trình nghiên cứu mạng Nơron đã công bố ở trong nước:
Ở Việt nam bắt đầu nghiên cứu Nơron từ năm 1992 tại Viện Cơ học và ViệnTin học trong khuôn khổ đề tài cấp Nhà nuớc KC-02 Điều khiển thời gian thực Hiện nay một số cơ sở đang nghiên cứu như Trung tâm Tự động hoá-Viện tinhọc, Khoa Công nghệ Thông tin - ĐHBK.HN, Bộ môn Điều khiển Tự độngĐHBK.HN, Học viện Bưu chính Viễn thông, Khoa Công nghệ Thông tinĐHBK.HCM,Đại học Giao thông Vận tải, Viện Vật lý, Viện toán học,VietcomBank, Viện Năng lượng Nguyên tử, Học viện Kỹ thuật Quân sự, Đạihọc Quốc gia - HCM Công tác đào tạo được triển khai, đã có những luận ánTiến sĩ (2), Thạc sĩ và buớc đầu được giảng dạy cho sinh viên Tuy nhiên nhữngnghiên cứu thường rải rác,chưa tập trung thành những nhóm nghiên cứu mạnh
để có thể bước đầu đưa vào ứng dụng và có thể hợp tác với các tổ chức quốc tế
1.5 Tổng quan về tình hình nghiên cứu tổ hợp năng lượng nhiên liệu than
Một NLNLT cung cấp năng lượng điện là kết quả của những quá trìnhchuyển đổi năng lượng Cụ thể, những chuyển đổi chính là sự đốt cháy nhiênliệu đầu vào, tạo hơi, phát triển chuyển động quay, sản xuất năng lượng điện vàngưng tụ hơi Tất cả những chuyển đổi này tạo thành một chu trình nhiệt độnglực học lớn và phụ thuộc lẫn nhau cao độ
Những chiến lược điều khiển hiện thời cho phép tạo ra năng lượng cần thiết
để thoả mãn yêu cầu tải trong khi duy trì sự cân bằng giữa những quá trìnhchuyển đổi trong tổ hợp Chủ yếu, chúng gắn kết ngõ ra năng lượng lưu lượnghơi của boiler với năng lượng được yêu cầu bởi tuabin-máy phát để đạt được tảiđiện ở mọi thời điểm Sơ đồ điều khiển tổ hợp cấu thành lớp cao nhất của hệthống điều khiển và nó chịu trách nhiệm cho việc điều khiển boiler-tuabin-máyphát như một đối tượng đơn Đặc tính nổi bật của tổ hợp được quản lý thông
Trang 11qua những vòng điều khiển năng lượng và áp suất Việc phát triển từ những cấuhình vòng điều khiển SISO dựa trên thuật toán điều khiển PID, những chiếnlược này có thể phân loại thành ba lớp: điều khiển theo boiler, điều khiển theotuabin và điều khiển boiler-tuabin.
Sơ đồ theo boiler được dùng đầu tiên Trong sơ đồ này, boiler sẽ chờ đợihành động của tuabin để sản xuất năng lượng Những van điều khiển tuabinđiều chỉnh lưu lượng hơi vào trong tuabin với đối số là công suất yêu cầu Sau
đó, điều khiển boiler tương ứng với những thay đổi trong lưu lượng hơi và ápsuất Sai lệch áp suất tiết lưu so với setpoint được dùng bởi điều khiển quá trìnhđốt nhiên liệu để điều chỉnh lượng nhiên liệu và không khí vào trong buồng đốt,
và việc tạo hơi được hiệu chỉnh theo yêu cầu của tuabin Thuận lợi của phươngpháp này là đáp ứng nhanh với thay đổi tải: tuabin là một dụng cụ hoạt độngnhanh có thể đáp ứng rất nhanh với những yêu cầu tải sử dụng năng lượng nhiệtđược lưu trữ trong boiler Điều bất lợi là phương pháp này thể hiện việc điềukhiển áp suất tiết lưu ít ổn định vì boiler có xu hướng vượt quá vì nó đòi hỏithời gian để hoà hợp với tuabin
Sơ đồ điều khiển theo tuabin được dùng trong những năm 60-70 Trong sơ
đồ này, tuabin sẽ theo những hoạt động của boiler Yêu cầu công suất đượcdùng bởi điều khiển đốt tại boiler để điều chỉnh lượng nhiên liệu và không khívào trong buồng đốt để điều chỉnh việc sản xuất hơi Sau đó điều khiển tuabinđáp ứng bằng cách hiệu chỉnh những van tiết lưu để giữ áp suất tại setpoint.Tuabin chịu trách nhiệm hoàn toàn trong việc điều khiển áp suất tiết lưu Thuậnlợi của phương pháp này là đáp ứng rất ổn định với những thay đổi tải với sựdao động áp suất hơi và nhiệt độ tối thiểu, vì những thay đổi tải phụ thuộc vàohoạt động của boiler là thiết bị chậm hơn so với tuabin Bất lợi chính củaphương pháp là không sử dụng khả năng lưu trữ năng lượng của boiler, vì thếtạo ra đáp ứng chậm hơn
Được sử dùng nhiều nhất trong thập kỷ 50 là sơ đồ điều khiển phùhợp(coordinated control (CC)) Trong sơ đồ này, công suất được đưa đồng thờiđến boiler và tuabin Phụ thuộc vào các cặp biến được điều khiển và điềukhiển, có hai sơ đồ cho CC: sơ đồ theo boiler và sơ đồ theo tuabin [Landis andWulfsohn 1988] Với sơ đồ thứ nhất, bộ điều khiển tải tạo lệnh cho van tiết lưuhơi từ yêu cầu tải tổ hợp và công suất tạo ra, bộ điều khiển áp suất tạo lệnh chocho van nhiên liệu/không khí từ áp suất tiết lưu đo được và setpoint áp suất mà
sẽ có được từ yêu cầu tải tổ hợp thông qua ánh xạ phi tuyến (hình 1.1) Trong
sơ đồ thứ hai, bộ điều khiển tải tạo lệnh cho những van nhiên liệu/không khí từyêu cầu tải tổ hợp và công suất tạo ra Lệnh đến van tiết lưu được tính toán từ
áp suất hơi tiết lưu đo được và setpoint áp suất mà sẽ có được từ yêu cầu tải tổhợp thông qua ánh xạ phi tuyến (hình 1.2)
Những chiến lược điều khiển phù hợp sẽ kết hợp những thuận lợi của haichiến lược trên và tối thiểu những bất lợi cuả chúng, nghĩa là , chúng cố gắnggiữ đặc tính đáp ứng ổn định của sơ đồ theo tuabin và đặc tính đáp ứng nhanhcủa sơ đồ theo boiler Để đạt được đáp ứng nhanh,tuabin-máy phát được phép
Trang 12sử dụng năng lượng được lưu trữ trong boiler Để đạt được ổn định, điều khiểnboiler hiệu chỉnh tốc độ đánh lửa theo tải yêu cầu, trong khi giữ cho tuabinkhông vượt quá năng lượng được cung cấp bởi boiler Đáp ứng tổ hợp ở CCphải nhanh hơn sơ đồ theo tuabin nhưng không nhanh bằng sơ đồ theo boiler.Những ưu điểm khác của phương pháp điều khiển phù hợp là khả năng dễ dàngthực hiện giảm tải và biến đổi áp suất với điều khiển tải chính xác.
Từ quan điểm thực tế, người ta mong muốn có một cấu trúc tổng quát chođiều khiển phù hợp mà có thể cấu hình lại với bất kỳ sơ đồ hoạt vận hành nào,hoặc có thể được điều chỉnh để thể hiện bất kỳ ứng xử nào giữa các sơ đồ điềukhiển Những cấu trúc này chứa những cấu hình nhiều vòng lặp phân tán củanhững bộ điều khiển SISO dùng những thuật toán cổ điển PI hay PID Những
sơ đồ này đối mặt với những thách thức nghiêm trọng bởi những yêu cầu vậnhành theo tải diện rộng Trong những điều kiện này, hiệu suất có thể giảm donhững biến đổi phi tuyến lớn và những hiệu ứng kết hợp của những quá trìnhđộng Người ta đã dùng những bộ bù để tăng cường sơ đồ điều khiển phù hợpnhiều vòng lặp bằng cách giảm những hiệu ứng tương tác giữa các vòng điềukhiển Rất nhiều nghiên cứu đã được thực hiện trong nhiều thập kỷ qua nhưnghầu hết các kết quả đều là những sản phẩm riêng của những nhà phát triển vàkhông có một phương pháp được chấp nhận rộng rãi hay tổng quát để thực thichúng, vì thế cần thiết những phương pháp thiết kế mang tính hệ thống và tổngquát hơn Điểm cốt yếu là việc thiết kế bộ bù tương tác dựa trên mô hình toánhọc là gần như không thể thực hiện và trở nên quá phức tạp sẽ loại bỏ ứng dụngcủa nó
Hình 1.1 Sơ đồ điều khiển theo boiler
Trang 13Hình 1.2 Sơ đồ điều khiển theo tuabin
1.5.1 Những hệ thống điều khiển tiên tiến
Mặc dù không có định nghĩa chung cho điều khiển tiên tiến, nhiều phương pháp
đã dùng những mô hình toán học của quá trình, hoặc là ở quá trình thiết kế haytrong suốt quá trình vận hành, hiện thời được gọi là tiên tiến Hầu hết sự chú ýtập trung vào chỉ số hiệu suất toàn phương Ứng dụng thực tế của kỹ thuật nàycho điều khiển toàn bộ bị giới hạn bởi tính phức tạp của việc thực thi, dễ bị ảnhhưởng bởi sự không chắc chắn của mô hình, cần phải reset lại hoạt động củacác bộ điều khiển, và việc dùng những kỹ thuật điều khiển tuyến tính trongnhững hệ thống phi tuyến cao độ Mặc dù không phải là một chiến lược điềukhiển tổ hợp toàn bộ, ứng dụng liên quan nhất của những kỹ thuật điều khiển tối
ưu nhiều biến mà [Nakamura và Uchida 1989] đã đưa vào vận hành một bộđiều chỉnh toàn phương tuyến tính cho những nhiệt độ hơi trong boiler của một
tổ máy 500MW tại Kyushu Electric Company, Japan, 1978 Bước đột phá này,trong đó những sơ đồ điều khiển nhiệt độ, gồm những kỹ thuật khác như nhậndạng và dự đoán không gian trạng thái, lập trình toán học phi tuyến, điều khiểnthích nghi tham khảo mô hình và tối ưu đã trở thành chuẩn cho những tổ hợpnăng lượng than của người Nhật trong suốt 25 năm qua, cho phép họ vận hànhvới những mức cao nhất của hiệu suất nhiệt
Người ta cũng thực hiện nhiều nghiên cứu để áp dụng những phương pháptách riêng ra(decoupling) để làm giảm hay loại bỏ những ảnh hưởng tương tácgiữa các vòng điều khiển Trong sơ đồ điều khiển tổ hợp theo boiler dùng bộ bùdựa trên hồi tiếp trạng thái để giảm ảnh hưởng tương tác của hệ thống cho tổhợp 150 MW ở Ontario Hydro, Canada Bộ bù tạo ra những tín hiệu bù cho bốnngõ vào điều khiển chính là tổng của những tín hiệu điều khiển chính và vectơ
Trang 14trạng thái quá trình sử dụng những ma trận độ lợi hằng số, được tính từ mô hìnhtuyến tính không gian trạng thái bậc 9 của máy Vectơ trạng thái được dự đoándùng bộ lọc Kalman Những kết quả mô phỏng cho thấy tải có khả năng vậnhành trong khoảng 75% đến 100% khoảng vận hành tải với lỗi biến quá trình vàảnh hưởng tương tác giảm Không có chi tiết về số lượng mô hình tuyến tínhđược dùng trong khoảng tải cũng như những ma trận độ lợi trong khoảng đó.Những bộ điều khiển tách rời dựa trên mô hình bậc 12 được thực thi trong máythực So với điều khiển truyền thống, sơ đồ tách riêng xấp xỉ làm cho lỗi điềukhiển giảm, tăng độ ổn định tải thấp, hiệu chỉnh thông số đơn giản và khôngnhạy với những biến đổi máy Khó khăn chính với phương pháp tách riêng làthiết kế bộ bù tách riêng Thiết kế bộ bù động là quá nặng nề và sự phức tạpngăn cản ứng dụng của chúng.
Về nguyên tắc, điều khiển thích nghi dường như rất phù hợp cho điều khiểntoàn bộ nhà máy điện Khả năng của hệ thống điều khiển liên quan với nhữngthay đổi động của quá trình rất hấp dẫn cho vận hành diện rộng Trong [Marc,
et al 1980] ảnh hưởng của nhiễu và biến đổi thông số trong thiết kế một bộ điềukhiển thích nghi cho máy phát hơi 250 MW được xem xét Trong [Mabius, et
al 1980] một cơ cấu thích nghi tham khảo mô hình được đề nghị để cung cấpnhững tín hiệu điều khiển tăng cường cộng vào những tín hiệu điều khiển củađiều khiển vòng mở Giả sử vận hành xung quanh một điểm vận hành cố định,
lý thuyết điều khiển tuyến tính được dùng để thiết kế bộ điều khiển, nhữngthông số luật điều khiển được điều chỉnh dùng sơ đồ dựa trên Lyapunov để bảođảm sự ổn định của vòng kín Không may, chỉ có thiết kế được thể hiện màkhông có kết quả về hiệu suất hệ thống điều khiển
Những phuơng pháp điều khiển bền vững cũng được đề nghị cho điều khiển
tổ hợp Trong [Weng and Ray 1997] một chiến lược điều khiển truyền hồi tiếp được đề xuất cho điều khiển theo tải bền vững diện rộng Điều khiểntruyền thẳng tối ưu những ngõ vào điều khiển, nhận những ràng buộc củachúng, dọc theo khoảng vận hành diện rộng và điều khiển hồi tiếp được dùng đểkhắc phục những bất định mô hình máy và nhiễu ngoại sinh đảm bảo ổn định vàhiệu suất bền vững Điều khiển truyền thẳng giải quyết bài toán lập trình phituyến cho hàm tối ưu và những ràng buộc dọc theo đặc tính tải đã cho Điềukhiển hồi tiếp được thiết kế dùng kỹ thuật H Phương pháp này thoả mãn yêucầu hiệu suất trong khoảng 40-100% khoảng tải và loại bỏ tốt nhiễu biết trước.Một vài nhược điểm là những yêu cầu tính toán quá nhiều, cùng với thông tinđáp ứng tần số và mô hình tuyến tính của máy
Mặc dù có tiến bộ lớn trong lý thuyết hệ thống điều khiển, những thực thinhững sơ đồ tiên tiến cho NLNLT vẫn còn hiếm Do những sơ đồ đề xuấtkhông thể hiện tốt dưới những yêu cầu thế giới thực chẳng hạn hiệu suất thờigian thực, khoảng vận hành diện rộng, động quá trình phức tạp và nhiều chiềuhay những điều kiện giả sử hiếm khi xảy ra trong thực tế là nhiễu Gauss, thông
số quá trình hằng số, đo đúng và chính xác, động quá trình được biết Có lẽ, bấtlợi chính của hầu hết những phương pháp tiên tiến này là yêu cầu những mô
Trang 15hình toán học chính xác cho thiết kế và vận hành Bậc và độ phức tạp cao củacủa tổ hợp năng lượng đã ngăn cản việc thực thi những sơ đồ điều khiển tậptrung dựa trên mô hình toán học Nói cách khác, tính huống này đã thúc đẩy sựtồn tại lâu dài của những cấu hình nhiều vòng dựa trên những thuật toán điềukhiển PID truyền thống.
1.5.2 Những phương pháp lai thông minh
Vẫn có một phương pháp thứ ba áp dụng những kỹ thuật thông minh nhântạo nổi bật gần đây hay sự pha trộn của chúng với điều khiển tiên tiến và truyềnthống, trong một nổ lực liên quan đến những phức tạp mà không được giảiquyết thoả mãn bởi những kỹ thuật được đề cập ở phần trên
Trong [Mamdani 1974, Mamdani and Assilian 1975], một bộ điều khiển dựatrên lý thuyết tập mờ [Zadeh 1965, Zadeh 1968, Zadeh 1973] được giới thiệulần đầu tiên Giải thuật mờ mô phỏng quá trình lập luận của con người, đượcdùng để điều khiển máy hơi nước trong phòng thí nghiệm Áp suất hơi và tốc
độ rotor được điều chỉnh bằng cách thao tác ngõ vào nhiệt boiler và độ mở tiếtlưu máy theo một tập những luật ngôn ngữ Thực nghiệm chỉ ra rằng những kếtquả tương tự hay tốt hơn so với những bộ điều khiển cổ điển Công việc nàyminh hoạ tính khả thi trong việc xây dựng những giải thuật xác định thời gianthực hiệu quả, mở đầu một lĩnh vực mới trong kỹ thuật điều khiển
Trong [Ray and Majumder 1985] lý thuết tách rời phi tuyến và lôgic mờđược dùng để điều chỉnh áp suất bao hơi và mức nước bao hơi trong một tổ hợp200MW ở những điều kiện vận hành khác nhau Đầu tiên, một luật điều khiểntách rời được thiết kế cho mô hình máy phi tuyến bậc ba với giả sử rằng thông
số hệ thống được biết chính xác và là những hệ con SISO không tương tác Sau
đó, những bộ điều khiển lôgic mờ được dùng cho điều khiển vòng kín trong mỗi
hệ con Hiệu suất tốt của sơ đồ điều khiển đạt được khi tính với nhiễu trạng thái,biến đổi thông số ngẫu nhiên và từng phần, thay đổi setpoint, nhạy thôngsố,tách rời không hoàn hảo và thiếu tách rời
Trong [Marcelle, et al 1994] một sơ đồ điều khiển kết hợp logic mờ và điềukhiển tối ưu cho vận hành chu trình của những tuabin hơi lớn được thể hiện.Ứng suất tua bin tổng và lỗi tải được tối thiểu bằng cách gắn kết điều khiển vanđiều chỉnh tuabin và áp suất hơi boiler Một hệ thống mờ ưu tiên những đốitượng hiệu suất và cung cấp những trọng số trong hàm gía trị mà được dùng bởi
bộ điều khiển tối ưu Sau đó, một thuật toán điều khiển dự đoán mô hình đượcdùng để tính van tối ưu và những giá trị setpoint áp suất để cân bằng giữa theotải tốt và tối thiểu ứng suất Hiệu suất tốt hơn khi so sánh với bộ điều khiển ápsuất biến đổi và áp suất hằng số và cũng với một bộ điều khiển dự đoán môhình với những độ lợi cố định và thời gian dự đoán cố định
Trong [Dimeo and Lee 1995] giải thuật di truyền được dùng để tinh chỉnh tối
ưu sơ đồ điều khiển kết hợp dựa trên PI và bộ điều khiển hồi tiếp trạng thái chomột tổ hợp phi tuyến bậc ba Đối tượng điều khiển là theo đáp ứng bước ở ngõ
Trang 16ra áp suất và công suất Trong khi nững ứng dụng khả thi của giải thuật ditruyền là cơ cấu tinh chỉnh hoàn hảo, vẫn có một vài sai xót trong những cấutrúc điều khiển được đề xuất Vị trí của những độ lợi kết hợp chéo trong sơ đồđiều khiển kết hợp dựa trên PI là không thuận tiện, vì nó tạo ra đáp ứng daođộng và sơ đồ điều khiển tối ưu giả sử rằng tất cả các biến trạng thái sẵn sàngcho mô phỏng.
Trong [Tevera 1995] một sơ đồ tổ hợp có thể cấu hình lại có thể chuyển giữanhững chiến lược điều khiển khác nhau( ví dụ, theo boiler, theo tuabin và điềukhiển hoà hợp) Cấu hình lại hệ thống được thực hiện trực tuyến bởi bốn hệchuyên gia làm việc cùng nhau tại mức giám sát Hệ đầu tiên nhận định trạngthái vận hành và những yêu cầu cho tổ hợp Hệ thứ hai tính toán hiệu suất của
sơ đồ điều khiển khi vận hành Hệ thứ ba tính toán hiệu suất của những sơ đồkhác dưới những điều kiện hiện thời Cuối cùng, hệ thứ tư sơ đồ nào là tiện lợinhất và chuyển sơ đồ nếu được phép của người vận hành Điều khiển được thựchiện thành công trong một hệ thống phát triển và tính toán phần mềm điềukhiển dùng mô hình tổ hợp toàn bộ
Trong [Garduno and Lee 1997], một sơ đồ điều khiển thứ tự hai mức cho vậnhành diện rộng NLNLT được thể hiện Tại mức giám sát một bộ quản lý thamchiếu mờ tạo những quỹ đạo setpoint theo chính sách vận hành áp suất biến đổi
để điều khiển tải theo bất kỳ đặc tính nào.Tại mức điều khiển, thực thi chiếnlược truyền thẳng-hồi tiếp Điều khiển truyền thẳng gồm một tập những hệ suyluận mờ MISO được thiết kế từ dữ liệu vào ra trạng thái xác lập Đường hồi tiếpgồm những bộ điều khiển PID với cấu hình nhiều vòng Với chiến lược này,đường truyền thẳng cung cấp hầu hết tín hiệu điều khiển cho vận hành diệnrộng, giàm bớt những nổ lực điều khiển của những bộ điều khiển PID Đườnghồi tiếp cung cấp tín hiệu điều khiển bù để điều chỉnh và loại nhiễu trong nhữnglân cận nhỏ quanh những quỹ đạo lệnh Những kết quả mô phỏng cho thấy tínhkhả thi của sơ đồ điều khiển để đạt được vận hành theo tải chu kỳ
Những nghiên cứu lớn được thực hiện ở Nhật để phát triển những sơ đồ lai
để đạt được cải tiến kỹ thuật trong vận hành máy điện[Matsuoka, et al.1993].Sau những thực thi thành công của điều khiển tối ưu nhiều biến trong suốt hơnhai mươi năm qua, người Nhật đang tạo ra bước đột phá kỹ thuật thứ hai trongđiều khiển máy điện thông qua việc thực thi những sơ đồ lai dựa trên những giảithuật và những hệ neuro-mờ Những cách giải hoàn tất được tìm kiếm để giảiquyết những vấn đề sau:1) những quá trình lớn hơn và phức tạp hơn gồm môhình toán học của chúng, 2)độ phi tuyến mạnh hơn, kết hợp và tương tác biếnđổi theo thời gian giữa những hệ con và 3)thoả mãn những yêu cầu chặt chẽtrong ổn định và tối ưu hệ thống
Ở Mỹ Intelligent Control Systems Initiative, được thành lập với sự liên kếtgiữa Electric Power Research Institute (EPRI) và National Science Foundation(NSF) năm 1993 gồm hai mươi mốt dự án nghiên cứu để tìm những ứng dụng
có giá trị và sáng kiến mới và thiết lập lý thuyết nền tảng và những chươngtrình tin cậy cho việc thiết kế và phát triển những hệ thống thông minh và thích
Trang 17nghi Một vài phương pháp điều khiển thông minh được đầu tư là:1) lập kếhoạch giám sát off-line và on-line bằng lập luận tự động hay học từ những ví dụcủa con người, 2) mô hình định tính dùng những hệ chuyên gia và lôgic mờ và3)trí tuệ nhân tạo và học máy dùng những phương pháp mạng nơron, giải thuật
di truyền, tiến hoá và học cưỡng bức, đôi khi kết hợp với những kỹ thuật tối ưutoán học
1.5.3 Phát biểu vấn đề
Luận văn này sẽ trình bày ý tưởng cho việc phát triển những hệ thống điềukhiển thông minh cho đối tượng phi tuyến mà cụ thể là tổ hợp năng lượng,nghĩa là phát triển những hệ thống quản lý năng lượng nhân tạo được thiết kếđiều khiển thông minh bởi hệ thống máy tính giống như bộ não con người.Những những yêu cầu chính cho hệ thống điều khiển là:
Thiết kế mở cung cấp những yêu cầu chức năng và vận hành để đạt được
độ linh hoạt, cho ứng dụng trong môi trường thị trường biến đổi cao
Vận hành người dùng cuối đơn giản và hiệu suất cao, liên kết với tựđộng hoá và kỹ thuật điều khiển
Kiến trúc hệ thống có cấu trúc, điều này sẽ dẫn đến việc phát triển phầnmềm điều khiển và tự động hoá tương ứng
Từ những kết quả đạt được, có thể thấy rằng những chiến lược điều khiển phùhợp cấu thành mức điều khiển cao nhất trong NLNLT hiện thời và chúng cũngchịu trách nhiệm cho việc điều khiển boiler-tuabin-máy phát như một đối tượngđơn Kế đến, NLNLT là một quá trình phức tạp, chịu nhiều thay đổi điều kiệnvận hành mà sẽ thể hiện như một hệ thống thông minh mà với nó khái niệmđiều khiển tích hợp tiên tiến là cần thiết
Việc phát triển kỹ thuật khi thiết kế hệ thống điều khiển tổ hợp năng lượng để
hổ trợ và làm cho dễ dàng hơn việc thực thi những hệ thống điều khiển nănglượng phân tán và thứ bậc lớn và để tích hợp những kỹ thuật thông minh nhântạo liên kết tính hệ thống với sự phức tạp của quá trình và những yêu cầu vậnhành của nó Trong luận văn này sẽ thiết lập một sơ đồ điều khiển tổng quát gọi
là hệ thống điều khiển phù hợp thông minh ứng dụng những kỹ thuật thôngminh nhân tạo là mạng nơron, logíc mờ và thuật giải di truyền để đưa đối tượngđược điều khiển vào đúng quỹ đạo của nó với những yêu cầu vận hành khácnhau Để làm được điều này, hệ thống điều khiển trên tích hợp những chứcnăng học máy, quan sát ứng xử, cơ cấu thích nghi, tạo lệnh và tính toán điềukhiển, tất cả chúng đều cần thiết cho những đặc tính vận hành tự quản hiệu quả
và linh hoạt
1.5.4 Đối tượng và phạm vi
Trang 18
Đối tượng chính của đề tài nghiên cứu này là tăng cường mức điều khiển tựđộng những máy năng lượng thông qua việc mở rộng khái niệm điều khiển phùhợp cho NLNLT và tính hiện thực của nó qua những kỹ thuật thông minh nhântạo.
Phạm vi của đề tài sẽ tập trung vào những điểm sau:
Tất cả những nghiên cứu và phát triển trong đề tài này sẽ tập trung ở tổhợp máy điện nhiên liệu than loại bao hơi truyền thống(NLNLT), vìchúng thể hiện kỹ thuật được dùng nhiều nhất để tạo năng lượng điện vàcấu thành cách chính để điều chỉnh những thông số quan trọng nhất (côngsuất, tần số và điện áp) ảnh hưởng đến chất lượng năng lượng điện trongnhững hệ thống năng lượng liên kết
Chỉ những điều kiện động bình thường cùa NLNLT được xem xét Đề tàitập trung trong hệ thống điều khiển cần thiết cho trạng thái vận hành bìnhthường mà chiếm đến 99% thời gian vận hành Không nổ lực nào liênquan đến báo động, khẩn cấp, quá mức, hồi phục trạng thái Cần lưu ýrằng trạng thái bình thường không phải là trạng thái xác lập vì trong thực
tế nhà máy điện không bao giờ vận hành ở trạng thái xác lập
Thiết kế hệ thống điều khiển sẽ bao hàm chỉ chiến lược điều khiển nềntảng Việc phát triển những chiến lược tự động hoá, khoá liên động vàbảo vệ như được cho trong bất kỳ hệ thống điều khiển nào sẽ không đượcthực hiện Cũng thế, đề tài chỉ đề cập đến những chức năng điều khiển cơbản để lái quá trình trong suốt pha vận hành tải, không có chức năng khởiđộng và shutdown
Việc phát triển hệ thống điều khiển sẽ được giới hạn ở vấn đề hệ thống vàtính khả thi của nó Tất cả chương trình sẽ được mô phỏng trên máy tính
cá nhân dùng môi trường phần mềm phòng thí nghiệm Không có việcthực thi hệ thống ở môi trường thực Đây cũng là bản chất nghiên cứucủa đề tài
Đề tài sẽ chỉ phát triển tập hàm tối thiểu cần thiết cho điều chỉnh và tựđộng hoá hệ thống năng lượng toàn bộ, đề xuất tính linh hoạt tối đa để hổtrợ điều khiển tải và điều khiển nhiều tổ hợp trong những sơ đồ nhà máyđiện
Phương pháp đề xuất sẽ được tính toán và so sánh với những phươngpháp truyền thống Thậm chí loại hệ thống điều khiển này không tồn tại,
việc tính toán sẽ được thực hiện với hiệu suất theo tải là yêu cầu quan
trọng nhất cần được thoả mãn
1.5.5 Tổng quan đề tài
Việc phát triển hệ thống điều khiển phù hợp thông minh(ICCS) gồm bộ giámsát nhiều đại diện thông minh sẽ tính toán điều khiển ở mức trực tiếp Nhữngchức năng giám sát gồm tạo lệnh và tối ưu, học và thích nghi, giám sát trạngthái và hiệu suất(Hình 1.3) Mức trực tiếp gồm những sơ đồ điều khiển truyềnthẳng/hồi tiếp nhiều biến Việc thực thi lõi của hệ thống được hình thành bởi ba
Trang 19môđun: sepoint, bộ xử lý điều khiển truyền thẳng và bộ xử lý điều khiển hồitiếp (hình 1.4) Giám sát hiệu suất và trạng thái cũng như những hàm học vàthích nghi được thực thi hoặc là ở dạng off-line hoặc bao gồm hoàn toàn trongmôđun chính.
Hình 1.3 Hệ thống điều khiển phù hợp thông minh
Hình 1.4.Sơ đồ khối điều khiển
Với bất kỳ quỹ đạo lệnh tải nào, bộ tạo setpoint sẽ tạo những quỹ đạosetpoint cho những vòng điều khiển mức thấp hơn thông qua nhóm những ánh
xạ được thiết kế tối ưu Ánh xạ setpoint được thiết kế bằng cách giải bài toán tối
ưu nhiều đối tượng, trong đó những hàm đối tượng và hàm phù hợp của chúng
có thể là bất kỳ Phương pháp này cho phép tối ưu quá trình và cung cấp nhữngphương pháp chỉ định chính sách vận hành cung cấp độ phân tán lớn những tình
Trang 20huống vận hành theo nhiều đối tượng vận hành Sơ đồ điều khiển truyền hồi tiếp hai bậc tự do được đề xuất là một mở rộng của sơ đồ điều khiển hồi tiếpSISO tuyến tính với cả hai điều khiển truyền thẳng tham chiếu và nhiễu, chotrường hợp nhiều biến phi tuyến để đạt được vận hành diện rộng Bộ xử lý điềukhiển truyền thẳng được thực thi dùng những hệ thống suy luận mờ MISO,được thiết kế từ dữ liệu vào ra xác lập, dùng kỹ thuật học mạng nơron Đườngđiều khiển hồi tiếp được thực thi như một sơ đồ điều khiển nhiều vòng phân tándựa trên bộ điều khiển PID mờ và bù tương tác Những bộ điều khiển PID mờkết hợp những kỹ thuật điều khiển gain-scheduling và multimode dùng hệ thốngsuy luận mờ loại Sugeno.
thẳng-CHƯƠNG 2.
Trang 21MẠNG NƠRON, LÔGIC MỜ
VÀ NHỮNG ỨNG DỤNG CỦA CHÚNG TRONG ĐIỀU KHIỂN QUÁ TRÌNH
Chương này sẽ thể hiện những ứng dụng nổi bật của mạng nơron trong điềukhiển quá trình Người ta nhận thấy rằng những phương pháp lai dùng mạngnơron dang hứa hẹn nhiều triển vọng cho điều khiển những hệ thống phi tuyếnvà/hoặc MIMO mà không thể điều khiển thành công bằng những kỹ thuậttruyền thống
2.1.Giới thiệu
Những kỹ thuật điều khiển truyền thống như điều khiển Tích phân tỉ lệ(PI)hay điều khiển Vi tích phân tỉ lệ(PID) được ứng dụng thành công trong điềukhiển những quá trình tuyến tính Gần đây, Điều khiển tiên đoán mô hình(MPC) cũng thực hiện thành công trong điều khiển những hệ thống tuyến tính.Tuy nhiên, khoảng 90% những quá trình sinh học và hoá học là phi tuyến cao
và hầu hết chúng là những hệ MIMO.Khi hệ thống là phi tuyến và/hoặc MIMO,những kỹ thuật truyền thống trên thường mắc phải sai sót khi điều khiển những
hệ thống như thế Ngày nay, những hệ thống được dùng trong công nghiệp đòihỏi độ tự quản cao và những kỹ thuật trên không có khả năng để đạt được điềunày
Cần phải đạt được những đòi hỏi điều khiển tăng nhanh trong những hệ thốngđiều khiển động phức tạp dưới những thay đổi quan trọng đã làm cho việc dùngMạng nơron (NN) trong những hệ thống điều khiển trở nên hấp dẫn Những lý
do chính đằng sau điều này là khả năng của chúng có thể “học” để xấp xỉ hàm
và phân loại mẫu và tiềm năng của chúng trong thực thi phần cứng song song
đồ sộ Nói cách khác, chúng có khả năng thực thi (cả phần mềm và phần cứng)nhiều chức năng cần thiết để điều khiển hệ thống với một độ tự quản cao
Do có khả năng học những liên hệ hàm số phi tuyến phức tạp, mạng nơronđược dùng trong điều khiển những quá trình phi tuyến và/hoặc MIMO Trongthập kỷ qua,ứng dụng mạng nơron trong nhận dạng và điều khiển đã tăng theohàm mũ
Những ứng dụng rộng rãi này là do những đặc tính hấp dẫn sau:
1 Mạng nơron có khả năng xấp xỉ bất kỳ hàm số phi tuyến nào;
2 Chúng có thể được huấn luyện dễ dàng bằng cách dùng những bản ghi dữliệu từ hệ thống;
3 Chúng thích hợp cho những hệ thống nhiều biến;
4 Chúng không yêu cầu quan hệ đặc tính cấu trúc giữa dữ liệu vào và ra
Trang 22Trước hết chúng ta xem điều khiển quá trình là gì?
2.2.Điều khiển quá trình
Trong phát triển, thiết kế và vận hành những máy móc quá trình, những kỹ sưquá trình luôn gắn liền với năm khái niệm cơ bản:trạng thái,trạng thái cân bằng,bảo toàn,tốc độ và điều khiển
Nhận dạng một hệ thống đòi hỏi xác định trạng thái nhiệt động theo đó tất
cả thuộc tính của một hệ thống là cố định Những hệ thống sinh học,vật lý và
hoá học không thể vận hành ngoài khoảng giới hạn của trạng thái cân bằng
nhiệt động, mà giới hạn khoảng cho phép của những điều kiện vật lý và hoá học
để quá trình diễn ra trong hệ thống
Bảo toàn khối lượng,động lượng và năng lượng yêu cầu những số lượng nào
đó cần được bảo toàn trong quá trình vì khối lượng, năng lượng và động lựơngcân bằng Đặc tính loại và kích thước của thiết bị quá trình của một hệ thống
phụ thuộc vào lượng vật liệu đưa vào quá trình và tốc độ tại đó những quá trình
sinh học, hoá học và vật lý diễn ra trong thiết bị Khái niệm này được bao trùmtrong lĩnh vực động lực sinh học và hoá học
Một quá trình có thể khả thi cả về mặt nhiệt động và động lực nhưng vẫnkhông hoạt động vì hiệu suất vận hành kém Điều này có thể là kết quả của việckhông điều khiển được của quá trình và vì những điều kiện không kinh tế Vì
thế,điều khiển hệ thống để thoả mãn hiệu suất vận hành, vật lý và kinh tế là rất
quan trọng trong thiết kế và vận hành một hệ thống quá trình cũng như kháiniệm trạng thái cân bằng và tốc độ của quá trình
Điều khiển quá trình là sự điều chỉnh các quá trình sinh học, vật lý và hoá
học để loại bỏ những ảnh hưởng của nhiễu bên ngoài,để đảm bảo sự ổn địnhcủa quá trình và để tối ưu hiệu suất của quá trình
Một vài đặc tính quan trọng của điều khiển quá trình được lập danh sách ởđây:
Xem xét điều khiển quá trình đầu tiên đòi hỏi xem xét những thay đổiphụ thuộc thời gian Vấn đề không thể được hình thành mà không có cấutrúc động Điều khiển bất kỳ quá trình nào chỉ có thể được xem xét cẩnthận bằng một phân tích chi tiết đáp ứng trạng thái không ổn định mà cóđược từ mô hình động của quá trình
Những hệ thống điều khiển quá trình là những hệ thống xử lý thông tin.Chúng nhận thông tin, xử lý nó, tương tác với nó và tạo thông tin nhưnhững tín hiệu
Tất cả những hệ thống điều khiển quá trình là những hệ thống tích hợpnhững bộ phận, trong đó mỗi bộ phận ảnh hưởng hiệu suất toàn bộ của hệthống Vì thế, phương pháp tổng quát xem xét toàn bộ hệ thống và môitrường của nó như một thực thể là quan trọng
Trang 23 Hầu hết hệ thống điều khiển quá trình là những hệ thống hồi tiếp trong đóthông tin được tạo bởi hệ thống được xử lý lần nữa để điều chỉnh đáp ứngcủa hệ thống.
Cuối cùng, tính kinh tế luôn liên kết với những đối tượng hiệu suất của
hệ thống điều khiển quá trình
Những hệ thống điều khiển quá trình trong công nghiệp như quá trình vật lý,sinh học và hoá học được mô tả bởi những chuẩn hiệu suất và những thay đổicủa yêu cầu thị trường Cũng thế, những quá trình này là phi tuyến cao vàkhông thể được mô hình hoá thật tốt Vì thế, điều khiển phải được thực hiệnbằng cách cập nhật những biến được thao tác trực tuyến để thoả mãn thay đổichuẩn hiệu suất khi gặp phải thay đổi đặc tính của thiết bị Nhiều kỹ thuật điềukhiển dựa trên khác biệt chuẩn hiệu suất và miêu tả quá trình được dùng để giảiquyết những vấn đề này
Trong quá trình vận hành của một thiết bị, một vài yêu cầu cần được thoảmãn và có thể được xem xét như những tiêu chuẩn hiệu suất Một vài chuẩnđược liệt kê ở đây:
1 Luật an toàn và môi trường,
2 Đặc tính sản phẩm,
3 Điều kiện vận hành,
4 Tính kinh tế
Những tiêu chuẩn này cần được chuyển dịch thành những biểu thức toán học
để viết luật điều khiển Chúng có thể được phân loại như những đối tượng(hàmcủa những biến cần được tối ưu động) và hạn chế ((hàm của những biến cầnđược giữ trong khoảng cần thiết)
Chuyển đổi chuẩn hiệu suất thành những biểu thức toán học có thể yêu cầuvài giả định Những giả định này không những làm đơn giản cách giải quyếtvấn đề mà còn làm cho vấn đề có thể thực thi trong những phần cứng đang có Tất cả những bộ điều khiển dùng một mô tả hay một mô hình của quá trình.Nói chung, trong những quá trình sinh học và hoá học, những mô hình là phituyến và những thông số mô hình thường không biết được Vì thế, luôn luôn có
sự không phù hợp giữa tiên đoán mô hình và ngõ ra quá trình thật Những lý dokhác của sự khác biệt này là do những thay đổi trong những điểm vận hành vàthiết bị
Những khác biệt giữa một thiết bị và mô hình của nó tạo ra sự không thoảmãn để cân bằng tiêu chuẩn hiệu suất Những thông số điều chỉnh được có thểgiúp cân bằng giữa theo dõi điểm đặt nhanh và đáp ứng biến thao tác trơn.Người ta luôn mong muốn tối thiểu lượng điều chỉnh trực tuyến bằng cách dùngmột mô hình quá trình khi thiết kế mà bao gồm mô tả những trạng thái không rõràng
Mặc dù mô tả trạng thái không rõ ràng được dùng, luôn cần cập nhật nhữngthông số mô hình trực tuyến theo cách thích nghi Bộ điều khiển tiên đoán mô
Trang 24hình (MPC) là những bộ điều khiển trong đó luật điều khiển dựa trên mô hìnhquá trình MPC là một hệ thống điều khiển trong đó bộ điều khiển xác định tiểu
sử biến được thao tác mà tối ưu đối tượng hiệu suất vòng lặp mở trong khoảngthời gian kéo dài từ thời điểm hiện tại đến thời điểm hiện tại cộng với khoảngthời gian tiên đoán MPC phù hợp cho những vấn đề có một lượng lớn nhữngbiến được thao tác hay được điều khiển, những hạn chế cho cả hai loại biếnnày,thay đổi điều khiển đối tượng và/hoặc sai sót thiết bị, và thời gian trễ Một
mô hình quá trình được thực hiện trực tiếp trong thuật toán để tiên đoán ngõ raquá trình tương lai
Thường thì trong nhiều bài toán điều khiển quá trình,những mô hình điềukhiển không được xác định tốt; hoặc là chúng mất hoặc những thông số hệthống có thể biến đổi theo thời gian Mạng nơron có nhiều tiện lợi để thu đượcnhững mô hình vào-ra của hệ thống vì chúng có thể “bắt chước” đáp ứng của hệthống sau khi được “huấn luyện“ Thậm chí mô hình mạng nơron hay nhậndạng có thể không phù hợp với thiết bị khi bắt đầu,nhưng nó sẽ trở nên tốt hơnkhi tiến trình huấn luyện trực tuyến diễn ra Vì thế, huấn luyện trực tuyến làmcho mạng nơron nắm giữ những thông số thay đổi theo thời gian trong thiết bịmột cách trực tiếp
Bằng cách huấn luyện mạng nơron để học “mô hình ngược” của một thiếtbị,nó có thể được dùng như một “bộ điều khiển “ cho thiết bị này Những bộđiều khiển mạng nơron cũng có thể được dùng trong những cấu trúc MPC như
là những bộ đánh giá hay/và bộ điều khiển
Vì những quá trình sinh học và hoá học thường phức tạp, thay vì dùng mạngnơron một mình trong điều khiển những quá trình này, nên dùng chúng kết hợpvới những phương pháp truyền thống như những kỹ thuật điều khiển PI hayPID hay những kỹ thuật gần đây như những hệ thống chuyên gia dựa trên quyluật hay lôgic mờ, theo cách lai ghép, sẽ cải tiến hiệu suất của toàn bộ điềukhiển
2.3.Dùng Mạng nơron trong Điều khiển
Trong những ứng dụng hệ thống điều khiển, mạng nơron nhiều lớpfeedforward với huấn luyện có giám sát thường được dùng nhất Một đặc tínhchính của những mạng này là chúng có thể tạo những ánh xạ vào-ra mà có thểxấp xỉ bất kỳ hàm nào với độ chính xác mong muốn Mạng nơron được dùngtrong những hệ thống điều khiển chủ yếu là nhận dạng và điều khiển hệ thống Trong nhận dạng hệ thống, để mô hình đáp ứng vào-ra của một hệ thốngđộng, mạng được huấn luyện dùng dữ liệu vào-ra và trọng số mạng được điềuchỉnh thường dùng thuật toán backpropagation(lan truyền ngược) Giả định duynhất là ánh xạ tĩnh phi tuyến được tạo bởi mạng có thể đại diện đầy đủ đáp ứngđộng của hệ thống trong khoảng khảo sát của một ứng dụng cụ thể Mạng nơroncần được cung cấp thông tin về lịch sử hệ thống : những ngõ vào và ra ở những
Trang 25lần trước Bao nhiêu thông tin được yêu cầu phụ thuộc vào độ chính xác mongmuốn và ứng dụng cụ thể.
Khi một mạng nhiều lớp được huấn luyện như một bộ điều khiển,hoặc nhưmột vòng lặp kín hay mở, hầu hết những vấn đề này đều tương tự trường hợpnhận dạng Khác biệt cơ bản là ngõ ra mong muốn của mạng là ngõ vào điềukhiển thích hợp được dẫn đến thiết bị, là không có được nhưng phải được sưy ra
từ ngõ ra mong muốn của thiết bị Để đạt được điều này, người ta dùng hoặc làxấp xỉ dựa trên mô hình toán học của thiết bị(nếu có được),hay mô hình mạngnơron động của thiết bị hay thậm chí mô hình động đảo ngược của thiết bị.Mạng nơron có thể được kết hợp để nhận dạng và điều khiển thiết bị, vì thếhình thành cấu trúc điều khiển thích nghi
Chúng ta sẽ giới thiệu vài cách cơ bản trong đó dữ liệu huấn luyện mạngnơron có thể thu được trong những công việc liên quan đến điều khiển :
thể điều khiển một thiết bị,thì thông tin yêu cầu để huấn luyện một mạngnơron có thể thu được từ nó Mạng nơron học sao chép bộ điều khiểnhiện có Một lý do để sao chép một bộ điều khiển hiện có là nó có thể làmột dụng cụ không thực tế để dùng, chẳng hạn như một chuyên gia.Trong một vài trường hợp,chỉ vài cặp vào-ra hữu hạn của một bộ điềukhiển mong muốn được biết Thì một mạng nơron có thể được huấnluyện để thi đua với bộ điều khiển mong muốn bằng cách nội sưy nhữngcặp vào-ra này
có thể thu được bằng cách quan sát đáp ứng vào-ra của một thiết bị.Trong những trường hợp phức tạp hơn, ngõ vào mô hình có thể chứa vàigiá trị trễ của những ngõ vào thiết bị và mô hình mạng có thể là đệ quy
ngõ ra của thiết bị và ngõ ra của mạng là ngõ vào thiết bị Khi thu đượcmạng nơron ngược của thiết bị,nó được cung cấp ngõ ra thiết bị mongmuốn và ngõ ra của nó là ngõ vào điều khiển mong muốn của thiết bị.Vấn đề chính với nhận dạng ngược là mô hình ngược của một thiết bịkhông phải luôn luôn được xác định tốt
được huấn luyện để nhận dạng mô hình thuận của thiết bị, sau đó mộtmạng khác,ví dụ bộ điều khiển,sử dụng bộ nhận dạng này như một bộquan sát thiết bị trong một cấu trúc MPC Mô hình này có ưu điểm củamột bộ điều khiển thích nghi, nhưng nó đòi hỏi phải tính Jacobian củamạng nơron nhận dạng
Có nhiều mạng cải tiến để nhận dạng hệ thống phức tạp hơn cho bài toánđiều khiển
Phần nhận dạng hệ thống là sương sống của hầu hết tất cả những kiến trúcđiều khiển nơron Để có được kiến trúc điều khiển,trước hết chúng ta phải có
Trang 26mô hình thiết bị Ví dụ, những mô hình thiết bị có thể được mô tả bởi nhữngphương trình sai phân sau:
ta giả thiết rằng f và g có thể được xấp xỉ đến một độ chính xác mong muốn bất
kỳ trên những tập đóng bởi mạng nơron nhiều lớp Do giả thiết này, bất kỳ thiết
bị nào cũng có thể được đại diện bởi một mô hình mạng nơron tổng quát hoá
Để nhận dạng một thiết bị,một mô hình nhận dạng được chọn dựa trên thôngtin liên quan đến lớp mà nó thuộc Ví dụ, giả sử thiết bị có cấu trúc được mô tảbởi mô hình III, chúng ta có hai loại bộ nhận dạng:
2.3.1 Mô hình song song: Trong trường hợp này, cấu trúc của bộ nhận dạng
giống hệt thiết bị với f và g được thay thế bởi những mạng nơron N1 và N2tương ứng Mô hình này được mô tả bởi phương trình:
(2.5)
2.3.2 Mô hình song song-nối tiếp: Mô hình này được mô tả bởi phương trình:
(2.6) Khi một thiết bị được nhận dạng, một bộ điều khiển thích hợp có thể đượcthiết kế dựa trên mô hình nhận dạng này Khi nhiễu bên ngoài không hiện diệntrong hệ thống,có thể điều chỉnh những thông số nhận dạng và điều khiển đồngthời Tuy nhiên, khi có nhiễu hiện diện, cập nhật thông số bộ điều khiển đượcthực hiện với thời gian chậm hơn để đảm bảo độ tin cậy
2.4 Mạng nơron cấu trúc truyền thẳng
Những mạng nơron thông minh là những mô hình cấu trúc tính toán sinh họcđặc biệt, gồm những đơn vị xử lý thông tin phân tán và vì thế sở hữu những khảnăng của tính toán song song Cơ sở của mạng nơron thông minh là nó có nhiều
Trang 27đơn vị xử lý được kết nối với nhau, được gọi là những nơron mà hình thànhnhững cấu hình đặt lớp Ứng xử của mỗi nơron là đơn vị tính toán cơ bản mô tảnhững hoạt động xử lý thông tin nơron Mỗi đơn vị tính toán trong mạng dựatrên khái niệm nơron lý tưởng Một nơron lý tưởng được giả sử là đáp ứng tối
ưu với những ngõ vào Mạng nơron là một tập hợp những đơn vị nơron như thế,trong đó những nơron đơn được kết nối thông qua những kết nối khớp phức tạpđược đặc tính bởi những hệ số trọng số và mỗi nơron tạo phân phối của nóhướng đến những đặc điểm tính toán của toàn bộ hệ thống
Về bản chất, những nơron sinh học rất nhiều cảm biến phức tạp, điều khiển,
và nhận dạng những khía cạnh toán học và những quá trình tạo quyết định Rấtnhiều ánh xạ toán học phức tạp và những hàm xử lý có thể được đồng nhất vớinhững quá trình sinh học Việc nghiên cứu những mô hình toán học của nhữngđơn vị nơron bắt đầu tại thời điểm khi mà bài toán mô tả toán học của bộ nãocon người thu hút sự chú ý của những nhà nghiên cứu Mô hình đầu tiên củanơron được đề xuất bởi McCulloch và Pitts năm 1943 Gần đây, việc phát triểnnhững phương pháp thích nghi đã đưa ra cơ hội giả hàm học của những quátrình nơron sinh học Một vài mô hình nơron như thế được phát triển vào thậpniên 60 Nói chung, như một bộ xử lý thông tin, một nơron đơn thực hiện mộtkết hợp trên những ngõ vào được trọng số của nó và tạo ra một ngõ vào thôngqua hàm kích hoạt phi tuyến với một ngưỡng
Ngay từ đầu lấy ý tưởng từ những nơron trong bộ não con người, nhữngnơron thông minh là những đơn vị xử lý tín hiệu được sắp xếp thành nhữngmạng được kết nối để thực hiện những công việc xử lý thông tin phức tạp chẳnghạn nhận dạng đặc tính, nhóm dữ liệu và phân loại, xấp xỉ hàm,… Một mô hìnhtổng quát của một nơron thông monh được xem như một hàm xử lý ngõ vào vàmột hàm xử lý ngõ ra
Hình 2.1.Nơron thông minh Hàm ngõ vào f(.), kết hợp tất cả những tín hiệu vào thành một ngõ vào mạngđơn.Thông thường, một hàm ngõ vào là một kết hợp tuyến tính của những ngõvào xi:
(2.7)
Trang 28với wi i=1,…,n được gọi là những trọng số liên kết Hàm ngõ ra g(.) cung cấptín hiệu ngõ ra của nơron với toán hạng ngõ vào mạng được cho bởi f Hàm ngõ
ra thường dùng là hàm sigmod:
(2.8)Một mạng nơron thông minh là một mảng gồm những nơron liên kết với nhau.Giữa nhiều cấu hình kết nối khác nhau, một cấu hình thông thường và hữu dụngnhất là mạng truyền thẳng nhiều lớp, trong đó không có nơron ngõ ra nào là ngõvào cho một nơron trong cùng hay thuộc lớp đứng trước Đây là điểm nổi bậtnhất của loại mạng này
Hình 2.2.Mạng truyền thẳng nhiều lớpLớp nơron nhận ngõ vào mạng được gọi là lớp ngõ vào Lớp ngõ vào khôngthực hiện bất kỳ công việc xử lý tín hiệu nào mà chỉ phân bố những tín hiệuvào Những ngõ ra mạng được tạo bởi lớp ngõ ra Bất kỳ lớp nào nằm giữa lớpngõ vào và ngõ ra đều được gọi là lớp ẩn vì nó không có liên hệ trực tiếp vớimôi trường mạng
2.4.1.Hàm truyền
Có nhiều loại hàm truyền,nhưng có ba loại thông dụng nhất là:
Trang 292.4.2 Thích nghi và học cho những thành phần ngưỡng nơron
Một công việc quan trọng là làm cách nào để thiết kế một thuật toán hiệu quả
để thích nghi những trọng số và ngưỡng của một đơn vị Lập trình tuyến tính cóthể cung cấp một giải pháp thay thế cho một tập những bất phương trình mà cóthể nhận được từ một hàm chuyển mạch được cho Vì tất cả những giá trị hợp lýcủa hàm này hiện diện trong một chương trình tổng hợp như thế tại cùng thờiđiểm, thuật toán này được xem là có bản chất song song Trong trường hợp này,một máy tính được lập trình để thực hiện một chương trình mà phải có đủ bộnhớ để lưu trữ toàn bộ hàm chuyển mạch hoặc là một bảng kết hợp hay mộthàm Boolean
Đối ngược với điều trên có một số chương trình mà có thể thực hiện theovòng lặp hay theo chuỗi Nghĩa là, tại bất kỳ thời điểm nào , chương trình chomột giá trị hàm chỉ với một kết hợp ngõ vào và không cần bộ nhớ để lưu trữnhững giá trị hàm ở các thời điểm trước Cần có bộ nhớ để lưu trữ ước lượnghiện thời của chương trình cho việc nhận dạng đúng và chứa những giá trị trọng
số và ngưỡng Khi giá trị hàm cho một vài kết hợp ngõ vào thì có được một tín
Trang 30hiệu lỗi giữa giá trị hàm này và ước lượng hiện thời và được hồi tiếp để màchương trình có thể thay đổi ước lượng hiện thời nhưng không lưu trữ thông tinkhác Ý tưởng là sau mỗi hiện diện của ngõ vào với một lượng thời gian đủ thìước lượng của chương trình sẽ hội tụ đến đến một giá trị đúng Loại chươngtrình này được gọi lả thích nghi hay học vì mối liên hệ nào đó đến những quátrình trong những nơron sinh học.
Cho một tập gồm n biến ngõ vào x1,x2,…,xn như hình sau, ngõ ra của bộ kếthợp tuyến tính(linear combiner) được xác định đơn giản như sau:
(2.9)Định nghĩa những véctơ đối số của những ngõ vào và trọng số nơron , ta có:
(2.10)
Hình 2.6.Sơ đồ khối của một bộ kết hợp tuyến tính
Trang 31Hình 2.7 Sơ đồ thể hiện của một quá trình thích nghi cho một thành phần
(2.12)với d(k) = f(x1,x2,…,xn) là một hàm của những biến xi, i=1,…,n Thuật toánthích nghi là một chương trình tối thiểu hàm lỗi sẽ được bàn đến sau
2.4.3 Luật thích nghi Perceptron
Luật học perceptron nhị phân của Rosenblatt cho một thành phần ngưỡng đượcthể hiện lần đầu tiên vào năm 1958 Cho một đáp ứng mong muốn d(k), việcthích nghi được cập nhật với với luật perceptron dùng một “lỗi lượng tử hoá”e(k), được định nghĩa là khác biệt giữa đáp ứng mong muốn và ngõ ra của thànhphần ngưỡng
(2.13)chỉ có ba giá trị hợp lý cho e(k):
Trang 32Như trong chương trình được dùng cho giải thuật LMSđược mô tả trongphần sau, cho a k là một ước lượng của véctơ trong số tại thời điểm k Ta cóthể viết lại lỗi tức thời e(k) như sau:
(2.14)Với một ngõ vào cố định x(k) và đáp ứng mong muốn d(k), lỗi tức thời mới liênquan với những thông số trọng số được cập nhật tại thời điểm (k+1) được viếtnhư sau:
(2.15)với
(2.16)Mục đích của chúng ta là tìm một luật cập nhật trọng số a k để mà
e(k+1) 0 (2.17)hay
(2.18)Nếu e(k)=2
Hay tương đương d(k)=1 và
(2.23)
Và
(2.24)Trong đó 0 được gọi là tốc độ học
Từ (2.23), ta kết luận rằng sự thay đổi i k tương quan với tín hiệu ngõ vàoxi(k) và tín hiệu lỗi e(k) Nếu sự tương quan là 0, nghĩa là e(k)xi(k)=0 thì thay
Trang 33đổi i k cũng là 0 Sơ đồ khối của thuật toán cập nhật được cho trong hình2.8
Hình 2.8 Những thành phần với luật thích nghi perceptron
2.4.4 Luật thích nghi Mays
Một luật học biến thể của luật học -perceptron được thể hiện ở hình 2.9 đượcgọi là luật học May Thích nghi tăng dần ở dạng tổng quát của nó dùng một
“vùng chết” với bán kính 0cho ngõ ra tuyến tính
(2.25)Nếu ngõ ra s(k) nằm ngoài vùng chết , nghĩa là
k
s (2.26)Thì thích nghi theo sau một biến đổi chuẩn hoá của luật perceptron tăng dần cốđịnh với 2
a
x
được dùng thay cho Nếu ngõ ra tuyến tính nằm trong vùngchết s k , thì bất kể đáp ứng ngõ ra y(k) đúng hay không những trọng sốđược cập nhật bởi biến đổi chuẩn hoá của luật học -perceptron với 2
a
x d
được dùng thay cho e
Trang 34Hình 2.9 Luật thích nghi Mays với ngõ ra tuyến tính và lỗi tuyến tính.
Về mặt toán học, thuật toán thích nghi tăng dần Mays được diễn tả như sau:
với e(k) là lỗi lượng tử tại thời điểm k được định nghĩa như sau:
e(k)=d(k)-sgn(s(k))
và d(k) là đáp ứng mong muốn tại thời điểm k
Hiển nhiên là nếu bán kính của vùng chết là 0 Thì luật thích nghi Mays trởthành luật thích nghi perceptron
2.4.5 Thành phần tuyến tính thích nghi (ADALINE)
Thành phần tuyến tính thích nghi (ADALINE) được dùng như là khối xây dụng
cơ bản trong nhiều mạng nơron truyền thẳng, được nghiên cứu lần đầu tiên bởiWidrow và các đồng sự trong thập kỷ 1960 Một bộ kết hợp tuyến tính thíchnghi đơn giản được cho ở hình 2.10, với ngõ ra của đơn vị là tổng trọng số củatất cả ngõ vào
Để thực hiện quá trình thích nghi trong miền thời gian rời rạc, người ta giả sửrằng thành phần này nhận véctơ đặc tính ngõ vào x(k)=[x1(k),…,xn(k)]T và mộtđáp ứng mong muốn d(k), là một hàm của thời điểm k Những thành phần củavéctơ ngõ vào được trọng số bởi một tập những hệ số hay trọng số được biểu thịbởi véctơ trong số w=[w1,…,wn]T trong đó những thành phần của nó có cảnhững giá trị dương và âm Dùng ký hiệu của những véctơ đối số, một ngõ ratuyến tính tại thời điểm k có được bằng tích của véctơ đặc tính ngõ vào và véctơtrọng số như sau:
Trang 35(2.27)
Hình 2.10.Thành phần tuyến tính thích nghi (ADALINE)
Giải thuật LMS cung cấp một công thức thích nghi hiệu quả và đơn giản cho
những trọng số của bộ kết hợp tuyến tính trong hình 2.10 Giải thuật này cóđược dùng nguyên tắc nhiễu nhỏ nhất và được đề xuất bởi Widrow vàHoff(1960)
Cho wa(k)=[w0(k),…,wn(k)]T là một ước lượng của véctơ trọng số wa tại thờiđiểm k Lỗi tuyến tính giữa đáp ứng mong muốn d(k) và ngõ ra tuyến tính s(k)với ước lượng hiện thời của những trọng số wa(k) được định nghĩa như sau:
(2.28)Lỗi kế tiếp được định nghĩa là khác biệt giữa đáp ứng mong muốn d(k) và ngõ
ra tuyến tính s(k) với những ước lượng kế tiếp của những trọng số wa(k+1) là:
(2.29)
Có thể thấy rằng tại thời điểm k thay đổi trọng số sẽ dẫn đến những thay đổitương ứng của lỗi:
(2.30)Công việc kế tiếp là tìm một luật cập nhật để mà lỗi el(k) sẽ hội tụ tiệm cận đến
0 Để bảo đảm rằng sự hội tụ của lỗi phụ thuộc vào cập nhật trọng số, ta giả sử
(2.31)Nghĩa là:
Trang 36với là một hằng số được chọn để mà lỗi el(k) sẽ ổn định tiệm cận:
(2.32)Như vậy ta có được:
(2.33)Nhân cả hai vế của phương trình này với xa(k) ta được
(2.34)
Vì thế ,cuối cùng ta có được:
Do đó
(2.35)Đây là một số gia Phương trình (2.52) là luật Widrow-Hoff delta Với một giátrị ban đầu bất kỳ của el(0),el(k) có thể được diễn tả như sau:
.
0 (2.38)Không giống như luật perceptron, ngõ vào của một Adaline có thể là nhị phânhay tương tự Một Adaline có thể được dùng để nhận ra những hàm ngưỡngbằng cách hiệu chỉnh thích hợp những trọng số Thậm chí nếu cả hai luật họcperceptron và LMSđược dùng trong những chương trình sữa lỗi và có những
công thức cập nhật tương tự, chúng vẫn có những ứng xử khá khác biệt(Widrowand Lehr 1990) Khác biệt chính giữa hai thuật toán này là luật của Rosenblattkhai thác một lỗi lượng tử e=(d-sgn(s)) trong khi giải thuật LMSkhai thác lỗi
tuyến tính el=d-s Điều này có nghĩa là giải thuật perceptron gồm một hàm phituyến của những tín hiệu qua hàm truyền bước, ngược lại giải thuật LMSlàmột quá trình tuyến tính
Trang 372.4.7 Phương pháp lỗi bình phương trung bình
2.4.7.1 Công thức không lặp lại
Theo Widrow và Lehr, khái niệm lỗi bình phương trung bình có thể được dùng
để xác định véctơ trọng số cho một ngõ vào và những đặc tính dữ liệu mongmuốn dùng giải thuật lặp hay không lặp Không mất tính tổng quát, giả sử rằngngõ vào x(k) và ngõ ra mong muốn d(k) được rút từ việc thống kê Bình phươngcủa lỗi giữa ngõ ra của bộ kết hợp tuyến tính và ngõ ra mong muốn tại thờiđiểm k được mở rộng như sau:
(2.39)
Vì bộ kết hợp tuyến tính sẽ tạo ra một lỗi el(k) tại mỗi thời điểm k, trung bìnhtoán bộ của bình phương lỗi trong (2.39) là:
(2.40)Thuật ngữ bên trái được gọi là lỗi bình phương trung bình (MSE) Đặt:
là véctơ tương quan chéo giữa ngõ ra mong muốn d(k) và véctơ ngõ vào nơronxa(k)
Tương tự, định nghĩa ma trận tương quan ngõ vào R
Là một ma trận xác định dương,đối xứng và thực hay trong những trường hợp ítgặp hơn là ma trận bán xác định dương Vì thế lỗi bình phương được viết lạinhư sau:
(2.41)Gradient a của hàm MSE tương ứng với véctơ trọng số wa có được bằngcách đạo hàm (2.41) như sau:
Trang 38Đây là một phương trình véctơ tuyến tính của véctơ trọng số Véctơ trọng số tối
ưu w* cũng được gọi là véctơ trọng số Wiener đạt được bằng cách đặt gradient
là 0 Vì thế trọng số tối ưu là:
wa*=R-1p (2.42)Cách giải này gồm một chương trình tính toán nghịch đảo ma trận R Với sốlượng lớn những ngõ vào, điều này có thể dẫn đến việc tốn rất nhiều thời gian,thậm chí một vài giải thuật tính ma trận cải tiến chẳng hạn phân rã giá trị suybiến(SVD) được dùng để tránh tính nghịch đảo ma trận trực tiếp Vì thế, mộtphương pháp giảm gradient lặp sẽ được giới thiệu để giải quyết việc tín toánphức tạp này
LMS
có thể được phát triển từ phương pháp giảm gradient truyền thống, nơi
mà việc tìm kiếm véctơ trọng số tối ưu được tím kiếm trong không gian trọng
số dọc theo hướng được cung cấp bởi gradient của một lỗi bình phương tức thờigiữa ngõ ra hiện thời và ngõ ra mong muốn Vì nó là một hàm bình phương cùanhững trọng số, bề mặt này là lồi và có một tối thiểu toàn cục duy nhất Từ(2.57) gradient tức thời có thể đạt được dựa trên hàm lỗi tuyến tính tức thời nhưsau:
(2.43)
Vì thế, giải thuật học giảm gradient được viết như sau:
(2.44)Đây là giải thuật LMS của Widrow, với tốc độ học 0 quyết định độ hội tụcủa chương trình học Theo Widrow và Lehr , phải thoả:
(2.45)Giải thuật LMS hội tụ trung bình đến w*, là cách giải Wiener tối ưu đượccho bởi (2.43)
Thể hiện hình học của luật LMSđược cho trong hình 2.11 Theo (2.44)wa(k+1) bằng với wa(k) cộng với một số gia a k mà tương ứng với véctơđặc tính ngõ vào xa(k) Nói cách khác, biến đổi của lỗi phụ thuộc vào biến đổi
Trang 39của véctơ trọng số bằng với tích âm của xa(k) và a k Vì giải thuật LMS
chọn a k cộng tuyến với xa(k), tương quan lỗi mong muốn đạt được vớibiến đổi véctơ trọng số có biên độ ổn định Khi việc cập nhật tương ứng hoànhảo với đặc tính ngõ vào mới, những đáp ứng với những đặc tính huấn luyệntrước đây sẽ được cập nhật tối thiểu
Hình 2.11 Giải thích hình học của những giải thuật LMSvà LMS
Khi so sánh hai thuật toán LMSvà LMS, điều thú vị là luật LMS làmột phiên bản tự chuẩn hoá của luật LMSvì luật LMSdễ dàng được viếtnhư sau:
(2.46)với
(2.47)tương ứng là lỗi chuẩn hoá, đáp ứng mong muốn chuẩn hoá và những đặc tínhngõ vào chuẩn hoá Phương trình (2.65) là luật học LMS với 2 được thaybởi Vì thế, cập nhật trọng số được thiết kế bởi luật LMStương đương vớigiải thuật LMSvới sự hiện diện của một tập huấn luyện khác là tập huấnluyện được chuẩn hoá định nghĩa bởi phương trình (2.66)
Một phiên bản thời gian liên tục của giải thuật LMS ở trên có thể dễ dàngđạt được bằng cách tối thiểu hàm lỗi
Trang 40(2.48)
là ước lượng tức thời của lỗi bình phương trung bình và wa(t) là một ước lượngcủa véctơ trọng số wa tại thời điểm t Áp dụng phương pháp giảm gradient độdốc lớn nhất ta được:
(2.49)
Sơ đồ khối của việc thực thi giải thuật LMS thời gian liên tục dùng những
bộ nhân và tích phân tương tự được cho trong hình 2.12
2.5 Giải thuật lan truyền ngược cho mạng nơron truyền thẳng nhiều lớp(MFNN)
Bây giờ chúng ta sẽ nói về những giải thuật lan truyển ngược(BP) một cách chitiết
Một mạng truyền thẳng nhiều lớp có khả năng xấp xỉ rất nhiều hàm phi tuyếnvới độ chính xác mong muốn, nó được khai thác rộng rãi trong các ứng dụngnhư những bài toán nhận dạng và điều khiển hệ thống, nhận dạng đặc tính Bâygiờ chúng ta sẽ đề cập đến mô hình tổng quát và giải thuật học BP của MFNN
Hình 2.12 Sơ đồ khối của giải thuật LMS thời gian liên tục
2.5.1 Cấu trúc nơron tổng quát cho MFNN