Vì vậy, TNCs đang thâm nhập mạnh mẽ vào tất cả các quốc gia, đặc biệt là những quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi như Việt NamSamsung là công ty điện tử lớn của Hàn Quốc, sau khi chiếm l
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
-
-BÁO CÁO
Sự thâm nhập thị trường
của Samsung vào thị trường Việt Nam
Nhóm thực hiện: Vũ Thị Quỳnh Hương
Âu Thị Thanh HiệpNguyễn Lê Minh HằngĐinh Hoàng Linh Mai
Học phần: Công ty xuyên quốc gia - INE3008 3
Hà Nội – Tháng 5/2022
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, người ta có thể dễ dàng nhận thấy sự bùng nổ của cuộc cách mạng công nghệ, kỹ thuật thông tin đang diễn ra khắp nơi trên thế giới Với nhu cầu không ngừngnâng cao chất lượng sản phẩm và phát minh ra nhiều sản phẩm ngày càng tốt hơn, các công ty xuyên quốc gia lớn trong lĩnh vực điện tử tiêu dùng như LG, Sharp, Samsung,
… đều tung ra thị trường các dòng sản phẩm mới hàng năm, trong đó có dòng sản phẩm khác biệt, đáp ứng nhu cầu người dùng và giữ vị thế nhất định trong cuộc cạnh tranh thị trường Điều này giúp TNCs phát triển thương hiệu và tạo dựng được chỗ đứng trong tâm trí khách hàng Vì vậy, việc từng bước mở rộng thị trường là điều tất yếu
Với sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất và cuộc cách mạng công nghệ, hoạtđộng của các tập đoàn xuyên quốc gia đang và sẽ trở thành động lực chủ yếu thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa, tác động đến mọi lĩnh vực của đời sống và đời sống kinh tế xã hội trên phạm vi quốc tế Chúng là lực lượng chủ chốt trong truyền tải khoa học, kỹ thuật và công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế thế giới và là mẫu hình thực hiện kiểu tổ chức sản xuất hàng hoá hiện đại Vì vậy, TNCs đang thâm nhập mạnh mẽ vào tất cả các quốc gia, đặc biệt là những quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi như Việt NamSamsung là công ty điện tử lớn của Hàn Quốc, sau khi chiếm lĩnh thành công thị trường trong nước, tập đoàn tiếp tục hướng đến các thị trường phát triển, kém phát triển và kém phát triển khác trên thế giới như Hoa Kỳ, Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil Trong đó, thị trường mục tiêu tiếp theo của Samsung là Việt Nam - một thị trường rất triển vọng nhưng chưa được khai thác để phát triển ngành điện tử viễn thông
Để có thể thâm nhập thành công bất kỳ thị trường nước ngoài nào, các công ty xuyên quốc gia, đặc biệt là Tập đoàn điện tử Samsung, cần phải có chiến lược nhất định để hiểu rõ nơi mình muốn đầu tư, nghiên cứu kỹ các yếu tố chính trị, xã hội, khoa học, văn hóa truyền thống hay luật pháp Bởi vậy, với mong muốn giúp mọi người có cái nhìn rõ hơn về bí quyết thành công của Samsung tại Việt Nam, nhóm tác giả đã chọn
đề tài "Chiến lược thâm nhập thị trường của công ty xuyên quốc gia Samsung vào thị trường Việt Nam" qua phần nội dung lớn, bao gồm:
I. Cơ sở lý thuyết
II. Tiền đề cho sự thâm nhập của Samsung vào thị trường Việt Nam
III. Sự thâm nhập vào thị trường Việt Nam của Samsung
IV. Đánh giá quá trình thâm nhập vào thị trường Việt Nam của Samsung
Trang 3MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
MỤC LỤC 3
CƠ SỞ LÝ THUYẾT 4
1 Khái quát về thâm nhập thị trường của TNCs 4
2 Các hình thức thâm nhập thị trường của TNCs 4
TIỀN ĐỀ CHO SỰ THÂM NHẬP CỦA SAMSUNG VÀO THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM 7
3 Đôi nét về Samsung 7
4 Việt Nam – Thị trường tiềm năng của Samsung 7
4.1 Lý do xuất phát từ Samsung 8
4.2 Lý do xuất phát từ thị trường Việt Nam 8
CHIẾN LƯỢC THÂM NHẬP VÀO THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM CỦA SAMSUNG.11 5 Hoạt động đầu tư của Samsung tại thị trường Việt Nam 11
6 Thành công của Samsung tại thị trường Việt Nam 15
ĐÁNH GIÁ CHIẾN LƯỢC THÂM NHẬP VÀO THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM CỦA SAMSUNG 17
7 Chìa khóa cho sự thành công của Samsung tại Việt Nam 17
7.1 Thuận lợi từ thị trường Việt Nam 17
7.2 Lợi thế từ chính thương hiệu Samsung 18
8 Một số khó khăn của Samsung khi đầu tư vào thị trường Việt Nam 20
KẾT LUẬN 22
TÀI LIỆU THAM KHẢO 23
Trang 4CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1. Khái quát về thâm nhập thị trường của TNCs
Thâm nhập thị trường là chiến lược mà những công ty (doanh nghiệp) TNCs lớn sử dụng nhằm hướng tới mục tiêu chiếm lĩnh thị trường sản phẩm để thu lợi nhuận độc quyền
Do đặc điểm cấu thành riêng, TNCs không bao giờ giới hạn hoạt động của mình trên
cơ sở thị trường nội địa; bởi vậy họ hoàn toàn khác biệt với những công ty nội địa (những công ty giới hạn hoạt động của mình chỉ ở thị trường nội địa) Các TNCs đưa
ra quyết định dựa trên cơ sở vì lợi ích của công ty hơn là lợi ích quốc gia Thậm chí họsẵn sàng chuyển giao ngân quỹ và tạo ra công ăn việc làm tại nước ngoài (host
country) thay vì tại quốc gia nó ra đời (home country) nếu như nó tìm được lợi nhuận hấp dẫn hơn ở thị trường đó
2. Các hình thức thâm nhập thị trường của TNCs
Nhiều nghiên cứu cho thấy, nhằm khai thác tối ưu các nguồn lực để sản xuất sản phẩmđộc quyền mang tính quốc tế; vừa để thu lợi nhuận độc quyền, vừa nỗ lực giảm thiểu các đe dọa cạnh tranh do các đối thủ tạo ra, thì việc mở rộng thị trường ra nước ngoài
là mục tiêu hàng đầu của TNCs Do vậy, các TNCs liên tục thâm nhập vào các nền kinh tế tiềm năng trên thế giới để phát triển thị trường dưới nhiều hình thức
Quá trình thâm nhập thị trường của các TNCs thường thể hiện qua 1 trong 5 hình thức sau nhằm đánh dấu sự có mặt của TNCs tại thị trường hải ngoại: (1) xuất khẩu
(exporting); (2) bán giấy phép (licensing); (3) nhượng quyền kinh doanh (hay chuyển nhượng kèm theo bí quyết kinh doanh) (franchising); (4) liên doanh (joint venture); và(5) đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI - bao gồm: đầu tư mới (greenfield) và sát nhập &mua lại (M&A))
Có thể nói, để tiến hành quá trình thâm nhập thị trường, các TNCs có nhiều cách lựa chọn hình thức sở hữu, từ việc sở hữu 100% vốn cho đến việc mua cổ phần từ đa số đến thiểu số Với sự cạnh tranh quốc tế ngày càng mãnh liệt, rủi ro khi bước vào thị trường, sự phát triển sản phẩm ngày càng đa dạng, … nhiều công ty xem xét việc hợp tác hay liên minh quốc tế giữa các công ty như là một cứu cánh để giảm thiểu rủi ro.Tuy nhiên, trong phạm vi của bài báo cáo này, tác giả chỉ tiến hành nghiên cứu 3 hình thức chính mà các doanh nghiệp tiến hành để thâm nhập thị trường quốc tế theo Lall
và Streeten (1977) (theo thứ tự tăng dần của mức độ kiểm soát mà mức độ rủi ro) Đó là: xuất khẩu, nhượng quyền kinh doanh và đầu tư trực tiếp FDI Đây là 3 hình thức
mà TNCs đã và đang sử dụng như một công cụ hiệu quả trong việc thâm nhập thị trường, tạo nên những mạng lưới xuyên quốc gia phát triển vô cùng mạnh mẽ
Trang 5tư, được kiểm soát chặt chẽ bởi chủ đầu tư, sau đó xuất sang nước khác
Các TNCs sẽ chọn hình thức này
để thâm nhập thị trường nếu như
có các điều kiện sau:
+ Quy mô thị trường nước nhận đầu tư nhỏ
+ Nước nhận đầu tư có kỹ thuật lạc hậu, chưa đáp ứng được các điều kiện về công nghệ để có thể tiến hành nhượng quyền hay đầu
tư trực tiếp
+ Nước nhận đầu tư có độ rủi ro chính trị lớn, kinh tế bất ổn, chính sách thường xuyên thay đổi Khi
đó xuất khẩu là phương án an toànhơn cả
+ Tiềm lực của chủ đầu tư nhỏ
+ Chủ đầu tư cho bên nhận đầu tư nằm ở quốc gia khác các bí quyết thương mại, quyền kinh doanh dựa trên thương hiệu của chủ đầu tư+ Hàng hóa được sản xuất tại nước nhận đầu tư
+ Bên nước chủ đầu tư nắm quyền kiểm soát việc sản xuấtkinh doanh
+ Bên nước nhận đầu tư thông qua hợp đồng nhượng quyền ghi rõ quyền lợi, trách nhiệm của các bên có liên quan
Các TNCs sẽ chọn hình thức này
để thâm nhập thị trường nếu như
có các điều kiện sau:
+ Công nghệ đã được phổ biến rộng rãi
+ Nước nhận đầu tư là nước nhỏ+ Chủ đầu tư không thích rủi ro vàkhông có nhiều kinh nghiệm trên thị trường nước nhận đầu tư+ Lợi ích do nhượng quyền lớn+ Công nghệ đơn giản, không quá phức tạp, không có rủi ro cao về việc mất bản quyền
+ Chủ đầu tư một nước đầu
Một hãng sẽ thực hiện thâm nhập thị trường bằng hình thức này nếu:+ Phát sinh nhu cầu thị trường tiêuthụ
Trang 6tư một lượng vốn đủ lớn nhằm nắm toàn bộ hoặc một phần kiểm soát việc sản xuất hàng hóa tại một quốc gia khác
+ Hàng hóa được sản xuất tại nước nhận đầu tư, trong đó chủ đầu tư nắm quyền kiểm soát trực tiếp hoạt động sản xuất hàng hóa đó
+ Đang tìm kiếm sự hiệu quả trong sản xuất: sản xuất ở một nơi
có chi phí thấp hơn sản xuất tại nước chủ nhà
+ Có nhu cầu nguyên nhiên vật liệu: chi phí vận chuyển nguyên nhiên vật liệu không sẵn có ở nước chủ đầu tư từ nước ngoài đắt, chủ đầu tư sẽ tạo một doanh nghiệp, đơn vị sản xuất ngay tại nước co nguồn nguyên nhiên liệu dồi dào, điều này đặc biệt đúng trong trường hợp, nước nhận đầu
tư đồng thời là thị trường tiêu thụ hàng hóa cuối cùng
+ Có nhu cầu về thông tin và côngnghệ, mua bán sáp nhập, tiếp cận công nghệ hiện đại từ nước ngoài+ Yêu cầu cần phải đa dạng hóa
để giảm rủi ro+ Tạo lập chuỗi sản xuất hàng hóatại các địa điểm thuận lợi phù hợp+ Các tri thức công nghệ không thể chuyển giao
+ Bảo vệ tri thức công nghệ khỏi các đối thủ tiềm tàng
+ Bảo vệ thương hiệu, tên tuổi, nhãn hiệu
+ Tận dụng thương hiệu tên tuổi
để thu lợi nhuận từ việc sản xuất buôn bán tại nướcngoài
+ Tránh hạn ngạch nhập khẩu và thuế quan cao
+ Tận dụng chuyển giá, giảm thuế, tăng lợi nhuận
+ Hiệu ứng chuỗi MNCs thâm nhập cùng nhau, tạo điều kiện chonhau phát triển, hỗ trợ quá trình sản xuất cho nhau
Sau khi thâm nhập thị trường, mỗi tập đoàn sẽ có những chính sách, chiến lược riêng
để phát triển thương hiệu của mình tại thị trường thâm nhập
Trang 7TIỀN ĐỀ CHO SỰ THÂM NHẬP CỦA SAMSUNG VÀO
THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM
3. Đôi nét về Samsung
Tập đoàn Samsung là một tập đoàn đa quốc gia của Hàn Quốc có trụ sở chính đặt tại Samsung Town, Seoul với nhiều công ty con, hầu hết hoạt động dưới thương hiệu Samsung Đây là tập đoàn thương mại (chaebol) đa ngành lớn nhất Hàn Quốc
Samsung được sáng lập bởi Lee Byung-chul vào năm 1938 với khởi đầu là một công
ty buôn bán nhỏ Sau 3 thập kỷ phát triển, tập đoàn Samsung đa dạng hóa các ngành nghề bao gồm chế biến thực phẩm, dệt may, bảo hiểm, chứng khoán và bán lẻ
Samsung tham gia vào lĩnh vực công nghiệp điện tử vào cuối thập kỉ 60, xây dựng và công nghiệp đóng tàu vào giữa thập kỉ 70 Từ thập kỉ 90, Samsung mở rộng hoạt độngtrên quy mô toàn cầu, tập trung vào lĩnh vực điện tử, điện thoại di động và chất bán dẫn, đóng góp chủ yếu vào doanh thu của tập đoàn Tính đến năm 2019, Samsung có giá trị thương hiệu toàn cầu lớn thứ 5 thế giới
Những chi nhánh quan trọng của Samsung bao gồm Samsung Electronics (công ty điện tử lớn nhất thế giới về sản lượng điện thoại bán ra hằng năm- chiếm 20.3% thị phần vào quý 3 năm 2018), Samsung Heavy Industries (công ty đóng tàu lớn thứ 2 thếgiới đứng sau Hyundai Heavy Industry), Samsung Engineering và Samsung C&T (lần lượt là công ty xây dựng lớn thứ 13 và 36 thế giới)
Bên cạnh đó, một số công ty con quan trọng khác bao gồm Samsung Life Insurance (công ty bảo hiểm lớn thứ 14 thế giới), Samsung Everland (quản lý Everland Resort, công viên chủ đề lâu đời nhất Hàn Quốc), Samsung Techwin (công ty không gian vũ trụ, thiết bị giám sát, bảo vệ) và Cheil Worldwide (công ty quảng cáo lớn thứ 16 thế giới theo doanh thu năm 2011)
Samsung có tầm ảnh hưởng lớn trong phát triển kinh tế, chính trị, truyền thông, văn hóa ở Hàn Quốc, và là động lực thúc đẩy chính đằng sau "Kỳ tích sông Hàn" Tập đoàn này đóng góp 1/5 tổng kim ngạch xuất khẩu của Hàn Quốc Doanh thu chiếm 17% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) $1,082 tỷ đô la Mỹ của Hàn Quốc
Bắt đầu hoạt động từ năm 1996 với thị phần gần như bằng không, đến nay Samsung Electronics Việt Nam đã trở thành công ty điện tử hàng đầu ở Việt Nam Ông Je
Young Park, Tổng giám đốc SEV cho biết “Tại Samsung, chúng tôi đã có định hướng
rõ ràng và coi Việt Nam là một điểm đầu tư chiến lược Các chuyên gia đã có sự xem xét và đánh giá trên phạm vi toàn cầu và nhận thấy Việt Nam có những điều kiện thuận lợi, nên đã đưa ra quyết định chiến lược xây dựng nhà máy ở đây.”
Trang 84. Việt Nam – Thị trường tiềm năng của Samsung
4.1 Lý do xuất phát từ Samsung
Trong giai đoạn 1987-1995, Samsung nói chung và Samsung Electronics nói riêng có những bước chuyển mình bứt phá không chỉ trong nội địa mà còn vươn ra thế giới Lee Kun Hee- người kế nhiệm tập đoàn Samsung từ năm 1987 đã đưa ra nhiều quyết định táo bạo cơ cấu lại toàn bộ các hoạt động kinh doanh với tham vọng đưa SamsungElectronics trở thành một trong 5 công ty công nghệ hàng đầu thế giới Điều đó đã giúp Samsung có những bước tiến mạnh mẽ vào thị trường công nghệ toàn cầu
Những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, các công ty cũng đứng trước cơn bão về mua bán, sáp nhập, hợp tác cùng với đó là sự đổi mới công nghệ vô cùng khốc liệt Samsung đã lựa chọn đây là thời cơ để tập trung sản xuất các hoạt động kinh doanh cũng như mở rộng, thâm nhập vào thị trường quốc tế Trong giai đoạn này, Samsung Electronics tiến hành đẩy mạnh công tác nghiên cứu thị trường đầu tư, chuẩn bị các nguồn lực để tiến quân sang nhiễu vùng đất mới, thị trường mà công ty hướng tới không chỉ là nội địa hay một vài quốc gia nước ngoài nữa mà là hưởng tới thị trường toàn cầu thì năng lực nội tại của doanh nghiệp không thể đáp ứng được hết đủ SEC cũng đã tiến hành thành lập nhiều nhà máy sản xuất tại nhiều nơi trên thế giới như Bồ Đào Nha, Nhật Bản, Mỹ Hơn nữa khi thị trường công nghệ đang cạnh tranh gay gắt
cả về chất lượng và giá cá, người tiêu dùng có rất nhiều sự lựa chọn thì Samsung lại phải đứng trước cả hai bài toán khó là tăng chất lượng sản phẩm để giữ vững tôn chỉ
“chất lượng là trên hết" nhưng đồng thời giả bản sản phẩm cũng phải ở mức hợp lý nghĩa là chi phí sản xuất không được phép tăng mà thậm chí cắt giảm được sẽ tạo thành lợi thế Do đó Samsung Electronics cần tìm cho mình thị trường đầu tư mà tại
đô thị trường tiêu dùng nhiều tiềm năng để đảm bảo doanh thu cùng với đó cũng phải
là nơi mà tận dụng hiệu quả được các yếu tố đầu vào Sau khi nghiên cứu thị trường một cách kỹ lưỡng, năm 1995 Samsung Electronics quyết định lựa chọn Việt Nam là thị trường đầu tư mới và đến 1996 chính thức hoạt động
4.2 Lý do xuất phát từ thị trường Việt Nam
Từ năm 1986, Việt Nam tiến hành cải cách quyết định chuyển đổi từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Điều này đã làm thay đổi toàn diện nền kinh tế văn hóa xã hội của Việt Nam
GDP của Việt Nam tăng trung bình 3,9% trong giai đoạn 1986 – 1990, tăng gần gấp đôi so với giai đoạn trước đổi mới Đây là giai đoạn chuyển đổi cơ bản giữa cơ chế quản lý cũ sang cơ chế quản lý mới, thực hiện một bước quá trình đổi mới đời sống kinh tế xã hội và giải phóng sức lao động Tháng 12/1987, Luật Đầu tư nước ngoài vớinhiều khoản trụ đãi được công bố; đồng thời khuyến khích xuất khẩu đã làm cho môi trường đầu tư thông thoáng hơn, góp phần tăng năng lực sản xuất
Trang 9Giai đoạn 1991-1995 là giai đoạn tăng trưởng mạnh mẽ, đột phá của nền kinh tế Tốc
độ tăng trưởng kinh tế trung bình đạt 8.18% Cơ cấu kinh tế từng bước có sự chuyển dịch theo hướng công nghiệp và dịch vụ Công nghiệp tăng bình quân hằng năm 13,3% Một số ngành có mức tăng cao năm 1995 so với năm 1990, công nghiệp nhiênliệu (kể cả dấu, khí) gấp 3,2 lần, điện gấp 1,6 lần, vật liệu xây dựng gấp 2,7 lần, chế biến thực phẩm gấp 1,9 lần Các ngành dịch vụ năm 1995 tăng 80% so với năm 1990 (binh quân hàng năm tăng 12%) Giao thông vận tải có chuyển biển tiến bộ, vận tải hàng hóa tăng 62%, viễn thông phát triển nhanh, doanh thu bưu điện và doanh thu du lịch đểu gấp 10 lần; thị trường hàng hoá trong nước phát triển, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội về số lượng, chất lượng, chủng loại Lĩnh vực tài chính, tiễn tệ đạt tiến bộ đáng kể, nổi bật nhất là đã chặn được nạn lạm phát cao, từng bước đẩy lùi lạm phát Chi số giả hàng tiêu dùng và dịch vụ giảm từ 67,4% năm 1991 xuống còn 17,5% năm 1992: 5,2% năm 1993: 14,4"% năm 1994 và 12,7% năm 1995 Quy mô đầu từ phát triển toàn xã hội tăng khá Trong 5 năm, ước tính vốn đầu tư toàn xã hội khoảng 18 tỷ USD (theo mặt bằng giả 1995), trong đó phần của Nhà nước chiếm 43% (bao gồm cá đầu tư qua ngân sách, tín dụng Nhà nước và doanh nghiệp Nhà nước tự đầu tư), đầu tư của nhân dân chiếm trên 30%, đầu tư trực tiếp của nước ngoài chiếm 27% Tốc độ thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài trong 5 năm qua tăng bình quân hằng năm 50%; phần vốn được thực hiện đạt khoảng 1/3 tổng số vốn đăng ký theo dự án Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) tăng nhanh, đến cuối năm
1995, các dự án được cấp giấy phép đạt trên 19 tỷ USD vốn đăng ký Tỷ trọng đầu tư vào công nghiệp chiếm 40% tổng số vốn theo dự án (nếu kể cả dầu khí thì chiếm trên 60%), trong đó hơn 60% là đầu tư chiều sâu Địa bản đầu tư phân bố rộng trên hơn cácvùng lãnh thổ Hình thức đầu tư chủ yếu là xí nghiệp liên doanh, chiến trên 65% tổng
số vốn; xí nghiệp 100% vốn nước ngoài chiếm gần 18%, hợp đồng hợp tác kinh doanhchiếm gần 17% Nhà nước đã bổ sung, hoàn thiện từng bước khuôn khổ pháp lý cho đầu tư nước ngoài tạo ra một môi trường đầu tư thông thoáng, nhiều tiềm năng (theo Báo cáo tình hình phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 1991-2000- Tổng cục thống kê, 2000)
Từ đầu những năm 1990, Việt Nam đã chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, bình thường hóa quan hệ với Mỹ (1991); gia nhập ASEAN (1995), ký kết Hiệp định khung Việt Nam - EU (tháng 7/1995) Mối quan hệ hợp tác phát triển đã được khôi phục, khai thông và mở rộng với nhiều nước và các tổ chức tài chính quốc tế; cơ chế thu hút nguồn tài trợ phát triển song phương và đa phương đã được thiết lập Do sự tăng trưởng mạnh mẽ của nền kinh tế đời sống của người dân đã được cải thiện rất nhiều Số lượng hàng hóa tiêu dùng tăng lên nhanh chóng Sự tăng trưởng của các ngành dịch vụ cũng là sự minh chứng rõ nét cho điều này Nếu như trước năm 1986 điện là một khái niệm khá xa xi với phần lớn người dẫn thì đến đầu những năm 90 điện đã được đưa tới từng xã, từng làng, từng gia đình Cũng bởi vì lẽ đỏ nhu cầu về các mặt hàng điện tử ngày càng tăng cao Trong khi đó Việt Nam mới chỉ có các nhà
Trang 10máy sản xuất bóng đèn, quạt điện như: Công ty Điện cơ Thống Nhất, Công ty bỏng đến phích nước Rạng Đông , các sản phẩm như TV, tủ lạnh hầu hết là nhập khẩu nguyên chiếc từ Nhật Bản có giá thành khá cao bao gồm cả hàng mới và hàng đã qua
sử dụng Người Việt Nam phần lớn xuất thân từ nông nghiệp, tư duy nông nghiệp ảnh hưởng rất nhiều đến thói quen tiêu dùng Họ luôn mong muốn và có xu hướng ưa chuộng các hàng hóa có giá cả phù hợp nhưng chất lượng phải tốt đặc biệt là là độ bềntheo thời gian sử dụng
Từ những phân tích về kinh tế xã hội của Việt Nam trong giai đoạn 1986-1995 (trước khi Samsung thâm nhập vào Việt Nam), Samsung Electronics đã nhìn ra những tiềm năng của thị trưởng Việt Nam để đưa ra quyết định lựa chọn đây là quốc gia tiếp theo
mà Samsung tham nhập
Trang 11SỰ THÂM NHẬP VÀO THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM CỦA
SAMSUNG
5. Hoạt động đầu tư của Samsung tại thị trường Việt Nam
Năm 1996 Samsung chính thức bước chân vào thị trường Việt Nam bằng việc thành lập Công ty TNHH điện tử Samsung Vina (SAVINA) SAVINA là công ty liên doanh giữa Công ty cổ phần TIE (Việt Nam) với Công ty điện tử Samsung Electronics (Hàn Quốc) Như đã phân tích ở trên, Samsung lựa chọn thâm nhập thị trường Việt Nam bằng hình thức liên doanh bởi nhiều lý do như để giảm thiểu rủi ro khi thâm nhập một thị trường mới, những rủi ro về chính trị, tăng cơ hội thâm nhập thị trường nhưng có một lý do quan trọng hơn cả đó là do chính sách đầu tư của nước sở tại Thời điểm Samsung quyết định chọn Việt Nam là điểm đầu tư chính là thời điểm của làn sóng đầu tư thứ nhất trong lĩnh vực điện tử đổ vào Việt Nam Lúc đó, Việt Nam chuẩn bị tham gia Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) nên đã mở cửa kêu gọi đầu tư Chính sách của Việt Nam là thu hút nhà đầu tư nước ngoài nhưng phải thành lập liên doanh giữa doanh nghiệp nước ngoài và doanh nghiệp bản địa, tạo nền tảng cho nền công nghiệp trong nước bám vào để phát triển Chính sách chủ yếu là dùng hàng rào thuế quan hạn chế nhập khẩu, khuyến khích xuất khẩu Khi đó, các công ty nước ngoài muốn thâm nhập thị trường Việt Nam phải xây nhà máy sản xuất vì nếu chỉ hoạtđộng thương mại thì hàng rào thuế quan sẽ rất cao Các doanh nghiệp khi đó thành lậptrên nguyên tắc góp vốn theo hình thức 7/3, trong đó doanh nghiệp nước ngoài góp 70% vốn Với ngành điện tử, vốn góp của doanh nghiệp trong nước chủ yếu là đất hoặc một vài cơ sở sản xuất nho nhỏ có sẵn… Liên tục từ năm 1993-1995, hàng loạt công ty liên doanh giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp nước ngoài đến từ Nhật, Hàn Quốc được thành lập Các “ông lớn” của Nhật gồm Sony, Panasonic, JVC, Toshiba lần lượt lập liên doanh với doanh nghiệp nội địa như Viettronics Tân Bình, Viettronics Thủ Đức Phía Hàn Quốc, các “đại gia” gồm Samsung, LG, Daewoo cũng lần lượt có mặt và công ty Samsung Electronics cũng vào Việt Nam theo hình thức này
Năm 2008, Samsung chính thức nhận giấy phép đầu tư và bắt đầu khởi công xây dựngnhà máy sản xuất điện thoại di động Samsung Electronics Việt Nam (SEV) tại Bắc Ninh Đây là dự án đầu tiên trong đại kế hoạch đầu tư cho di động của Samsung tại Việt Nam, có vai trò quan trọng tạo tiền đề vững chắc cho sự mở rộng quy mô đầu tư của Samsung trong hành trình đưa Việt Nam trở thành cứ điểm sản xuất toàn cầu của tập đoàn
Sau 13 năm đầu, khởi đầu với mức đầu tư 670 triệu USD cho nhà máy SEV, hiện Samsung là nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất Việt Nam với tổng vốn đầu tư đã tăng gấp
26 lần, lên tới 17,5 tỷ USD Tính đến nay, sau 20 năm tập đoàn Samsung đã đầu tư 6
Trang 12dự án và 1 Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển (R&D)tại Việt Nam với tổng vốn đầu
tư đăng ký đạt 11,3 tỷ USD, trở thành nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam, chiếm 18% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước Tính đến hết năm 2021, tổng vốn đầu tư lũy kế của Samsung Việt Nam lên đến 18 tỷ USD
Đi vào hoạt động từ tháng 4/2009, Khu phức hợp Samsung Electronics Việt Nam (SEV) tại KCN Yên Phong 1, tỉnh Bắc Ninh với số vốn đầu tư 2,5 tỷ USD (2014) hiệnnay được đánh giá là một trong những nhà máy sản xuất điện thoại di động lớn nhất
và hiện đại nhất của Samsung trên toàn cầu Đến nay vốn thực hiện của Nhà máy đạt 95,6%; hằng năm cho doanh số xuất khẩu đạt hàng chục tỷ USD Tại KCN Yên Phong, Samsung tiếp tục đầu tư Dự án sản xuất các loại pin hiệu năng cao (của
Samsung SDI Co., Ltd) với tổng vốn đầu tư 0,123 tỷ USD, Nhà máy đi vào hoạt động
từ tháng 1/2010; vốn thực hiện của Nhà máy đạt 65% Không chỉ dừng lại ở đây, năm
2014 Samsung tiếp tục đầu tư Dự án sản xuất màn hình Display (SDV) tại KCN Yên Phong 1, tỉnh Bắc Ninh với tổng vốn đầu tư 1 tỷ USD, Nhà máy đã đi vào sản xuất từ tháng 3/2015, vốn thực hiện của Nhà máy đạt 35%
Ngoài ra, ngày 19/5, tập đoàn này chính thức khởi công xây dựng Khu phức hợp Điện
tử gia dụng Samsung (SEHC) tại Khu công nghệ cao TP.HCM (SHTP) Dự án có vốn đầu tư 1,4 tỷ USD, chính thức được cấp Giấy chứng nhận đầu tư từ tháng 10/2014 Mục tiêu của dự án là chuyên sản xuất, nghiên cứu và phát triển thiết bị điện tử gia dụng (tivi, tủ lạnh, máy lạnh, máy giặt, máy in), dự án đã được cấp Giấy chứng nhận đầu tư và hiện đang khẩn trương hoàn tất các thủ tục để xây dựng nhà máy
Vào tháng 7/2013 Samsung Electronics mua lại 20% vốn điều lệ Công ty liên doanh TNHH Điện tử Samsung Vina, là phần giá trị vốn góp thuộc sở hữu của Công ty cổ phần TIE Samsung Vina chính thức trở thành doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài Vậy là từ năm 1996 thâm nhập vào Việt Nam theo hình thức liên doanh thì đến năm
2013 Samsung Electronics kinh doanh tại Việt Nam hoàn toàn theo hình thức 100% vốn nước ngoài Việc chuyển đổi phương thức đầu tư này là hoàn toàn phù hợp với tình hình của nội tại doanh nghiệp cũng như tình hình kinh tế chính trị của nước sở tại.Thời gian đầu, khi Việt Nam mới mở cửa, do quy định pháp lý lúc bấy giờ, các nhà đầu tư nước ngoài đều vào Việt Nam theo hình thức liên doanh Nhưng khi khung pháp lý thay đổi, chính sách đầu tư không còn bị bó buộc bởi các rào cản, lần lượt các liên doanh đã được chuyển đổi thành doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài Bởi rõ ràngrằng các doanh nghiệp đối tác liên doanh với các doanh nghiệp nước ngoài có năng lực yếu thế, phần vốn góp trong doanh nghiệp liên doanh là rất ít chủ yếu là đất đai, nhà xưởng Khi liên doanh các vấn đề về phân chia lợi nhuận, thống nhất ý kiến chiến lược kinh doanh, xung đột bất cứ lúc nào cũng có thể xảy ra làm cản trở khả năng pháttriển của doanh nghiệp Đơn cử trong trường hợp của Samsung Vina hầu hết lợi nhuậnhàng năm TIE nhận được đều đến từ lợi nhuận được chia bởi liên doanh, trong khi đó